Đinh Bá Anh – Cảm động vì giải Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba
09/10/2010 | 4:58 chiều | 41 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Quan hệ Việt-Trung
Thẻ: Giải Nobel Hoà bình > Linh Bát Hiến chương > Lưu Hiểu Ba
Sáng nay (9.10.2010), khi bật máy tính để đọc tin, thấy hình Lưu Hiểu Ba trên trang nhất của VnExpress, tôi lặng người một hồi lâu. Thật không thể tin nổi: Hỡi thần Công lý, cuối cùng ngươi cũng tới thật rồi sao!
Giải Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba, tác giả chủ chốt của Hiến chương 08, người đang thụ án tù 11 năm ở Trung Quốc, không chỉ là niềm động viên lớn lao dành cho hàng triệu người đấu tranh cho tự do dân chủ ở đất nước khổng lồ này, mà còn là niềm khích lệ khó nói hết dành cho tất cả những ai còn giữ vững niềm tin vào sự thật và lẽ phải – những người không chỉ hành động vì lợi ích mà còn vì những giá trị mà họ tin là tốt đẹp cho cộng đồng, trong đó có quyền tự do ngôn luận và quyền tự do chính trị.
Trao giải cho Lưu Hiểu Ba, Ủy ban Nobel Hòa bình của Na Uy năm nay đã có một lựa chọn dũng cảm, bởi vì chúng ta hiểu rằng, họ phải đối diện với ai. Nhiều năm nay, chính quyền Trung Quốc chưa bao giờ ngừng thể hiện thái độ sắt đá, cũng như họ luôn sẵn sàng áp dụng những biện pháp hà khắc nhất với dân chúng bên trong và hung hãn nhất với thế giới bên ngoài. Ở đất nước khổng lồ này, hàng nghìn nhà bất đồng chính kiến đang phải chịu cảnh nhũng nhiễu của bộ máy công quyền: họ bị kì thị, bị sỉ nhục, bị tù đày – nhân danh “pháp luật” Trung Quốc. Chỉ vì họ dám đứng về phía lương tâm, chỉ vì họ dám nói lên tiếng nói vì quyền tự do và quyền con người.
Đối với tôi, một công dân nhỏ bé của đất nước Việt Nam nhỏ bé (dù không kém phần hà khắc), việc Lưu Hiểu Ba được trao giải Nobel là một sự kiện đẹp đẽ. Tôi đã đọc Hiến chương 08 do ông và những người cùng chí hướng với ông soạn thảo, và tôi đã luôn cảm phục lương tâm, viễn kiến và lòng dũng cảm của những con người này.
Tôi vẫn thường nhìn lên bản đồ: Trung Quốc luôn hiện ra như một lục địa mênh mông ở phương Bắc, còn Việt Nam, quê hương tôi, hiện ra như một dải lụa mảnh mềm mại ở phương Nam. Là người Việt Nam, dĩ nhiên tôi chưa bao giờ mất cảnh giác với mối đe dọa phương Bắc – lịch sử luôn là bài học đáng giá. Nhưng mặt khác, tôi chưa bao giờ chỉ nhìn Trung Quốc như một mối đe dọa, mà Trung Quốc còn là một trung tâm của các chuẩn mực và giá trị: tôi muốn nói tới các chuẩn mực và giá trị cao quý của văn hóa Trung Quốc, chứ không phải những chuẩn mực ngang ngược của chính quyền Trung Quốc hiện nay. Nói ngắn gọn: Trung Quốc còn có thể là cơ hội. Và, Trung Quốc còn là định mệnh, bởi vì, sự thật là, chúng ta chẳng có cách nào để hất cẳng anh hàng xóm đầy duyên nợ này ra khỏi quả địa cầu (cũng như người dân Mexico chẳng thể nằm mơ để sáng mai tỉnh dậy, nước Mỹ đáng ghét sẽ biến mất trên bản đồ thế giới).
Nghĩa là, tôi xin được nói ra điều này bất chấp làn sóng chống (chính quyền) Trung Quốc đang dâng cao ở Việt Nam hiện nay: cá nhân tôi có một sự đồng cảm với người dân Trung Quốc, lớn hơn với bất kì người dân nước ngoài nào. Đồng cảm, bởi lẽ, như người ta nói: đồng bệnh tương lân. Người dân hai nước đều có một quá khứ tủi nhục với phương Tây, đều trải qua những kinh nghiệm cay đắng với chủ nghĩa toàn trị. Trung Quốc và Việt Nam trong những thập kỉ qua đều có những bước tiến vượt bậc về kinh tế, và vị thế của hai nước trên trường quốc tế cũng ngày càng trở nên quan trọng. Không nghi ngờ gì, những thành tựu này đang giúp cho người dân hai nước ngày càng lấy lại được niềm tự tin và niềm tự hào chính đáng của mình. Đấy cũng là thành công không thể phủ nhận của hai đảng cầm quyền ở Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng mặt khác, cả hai nước đều đang đứng trước những vấn đề nan giải: nạn tham nhũng tràn lan do sự cấu kết của chính trị độc quyền với chủ nghĩa tư bản rừng rú, nền tư pháp bị lũng đoạn và trở thành công cụ đàn áp của chính quyền với các nhà bất đồng chính kiến, nền giáo dục suy đồi do bị áp đặt các mục tiêu chính trị cứng nhắc thay vì hướng tới chân thiện mỹ, và tất cả những vấn đề này chưa bao giờ được thảo luận công khai và công bằng do sự thiếu vắng triệt để các cơ quan báo chí độc lập.
Nếu chúng ta đọc Hiến chương 08 của Lưu Hiểu Ba và các đồng sự của ông, nếu chúng ta đọc những bài viết của Hà Sĩ Phu, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định…, chúng ta đều thấy rằng, hầu hết các nhà bất đồng chính kiến của Trung Quốc và Việt Nam đều không có ý định “lật đổ chính quyền” (hay thậm chí “chống tổ quốc”, “phản dân hại nước”…) như hệ thống luật pháp của hai nước tìm mọi cách cáo buộc họ. Phải, họ đều yêu cầu xóa bỏ nền chính trị một đảng cầm quyền, đòi tư pháp và báo chí độc lập. Nhưng như thế thì có gì quá đáng lắm không? Chẳng phải quyền tự do tư tưởng (tự do báo chí), quyền tự do lựa chọn (tự do chính trị), quyền bình đẳng trước pháp luật (hệ thống tư pháp độc lập) là những giá trị căn bản mà hiến pháp cả hai nước đều thừa nhận hay sao?
Giờ đây truyền thông chính thống Trung Quốc đang trút giận lên đầu Na Uy. Việc trao giải Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba đang được diễn giải như một âm mưu thâm độc của phương Tây chống lại Trung Quốc. Tất nhiên, trong lịch sử không thiếu những âm mưu của phương Tây chống lại Trung Quốc. Thế kỉ 19 và thế kỉ 20, phương Tây đã xâu xé Trung Quốc không thương tiếc. Phương Tây đã mừng rơn khi Mao Trạch Đông hô hào “Đại nhảy vọt” và “Cách mạng Văn hóa”, đưa đất nước tỉ dân này trở về thời mông muội. Phương Tây sẽ còn mừng hơn nữa nếu Trung Quốc cứ mãi giậm chân tại chỗ như một đất nước kém phát triển. Nói ngắn gọn: phương Tây (trong bản chất của nó) chỉ muốn thấy Trung Quốc lụn bại.
Nhưng bên cạnh bộ mặt đáng ghét đó, phương Tây còn có một bộ mặt khác: nó còn là một thực thể nhân văn phát triển cao. Không nghi ngờ gì, bên cạnh khoa học, phương Tây còn là cái nôi phát kiến ra các giá trị của các xã hội hiện đại: những giá trị về tự do, dân chủ, nhân quyền. Các xã hội khác ngoài phương Tây đều tìm cách tiếp nhận những giá trị này với mức độ thành công khác nhau. Ở Đông Á (vùng ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa), ta thấy Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, và bây giờ là Trung Quốc và Việt Nam, đều lần lượt đi con đường này. Càng chủ động đi sớm bao nhiêu thì càng thành công bấy nhiêu. Nghĩa là trên con đường hiện đại hóa, các xã hội Đông Á đều phải trải qua quá trình từ bỏ dần những cơ chế độc đoán, chuyên quyền, để chuyển sang cơ chế dân chủ. Những gì mà Lưu Hiểu Ba và các nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc và Việt Nam đang đòi hỏi thực chất cũng không khác gì những điều mà các nhà hoạt động dân chủ Hàn Quốc, Đài Loan đã đòi cho đất nước họ. Rõ ràng, những đòi hỏi chính đáng này không thể bị coi là “âm mưu lật đổ chính quyền”.
Chúng ta tự hỏi, việc trao giải Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba có phải là một âm mưu của Na Uy, thậm chí của phương Tây chống lại Trung Quốc hay không? Na Uy thì chắc chắn là không rồi. Bởi vì đất nước nhỏ bé này được lợi lộc gì khi chống Trung Quốc? (Các nhà chính trị Na Uy đã phải vội vã giải thích, giải thưởng là quyết định của Ủy ban Nobel độc lập, chứ không liên quan gì tới chính quyền Na Uy!) Còn phương Tây nói chung thì sao? Tôi không nghĩ rằng phần đông các nhà chính trị phương Tây thực lòng muốn Lưu Hiểu Ba được trao giải: họ vẫn thích đi đêm với Hồ Cẩm Đào hơn, vì trên thực tế, Hồ Cẩm Đào mới là người kí các hợp đồng đầu tư bạc tỉ chứ không phải Lưu Hiểu Ba, người đang ở tù và không biết bao giờ mới có ngày về.
Lưu Hiểu Ba đang ở trong tù. Có lẽ ông còn chưa biết tin về giải Nobel Hòa bình được trao cho ông. Là một nhà hoạt động chính trị, có lẽ ông cũng không có nhiều ảo tưởng vào “lòng tốt” của phương Tây, nhưng chắc chắn ông có niềm tin vào những điều tốt đẹp của con người (trong đó có những điều tốt đẹp của phương Tây). Mong rằng một ngày kia, lý tưởng cao đẹp của ông sẽ được đền đáp bằng thành quả ở quê hương ông. Là một người Việt Nam, một kẻ đồng bệnh tương lân với những người dân quê hương ông, tôi thành thực mong ngày đó sẽ sớm đến. Bởi nếu Trung Quốc trở thành một xã hội dân chủ hòa bình, như lý tưởng của ông, thì đó cũng là điều tốt đẹp nhất cho Việt Nam vậy.
© 2010 Đinh Bá Anh
© 2010 talawas
Bình luận
41 Comments (bài “Đinh Bá Anh – Cảm động vì giải Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba”)
« Trang trước 1 2 3
“Và vô số những ông khác đã từng dùng vô số những từ khác kém “hòa nhã” hơn rất nhiều. Vậy nên tôi xin các vị hãy dừng việc mỉa mai “cách ăn nói” của người khác và tập trung vào nội dung. OK?” (Trích lời Trịnh Hữu Tuệ)
Tôi ủng hộ ý kiến này của ông Tuệ! Cần phải tập trung vào nội dung khi tham gia diễn đàn tranh luận một vấn đề gì. Có như thế mới không loãng và không bị lãng xẹt!
Đọc lại những ý kiến ở đây tôi thấy có chuyện này hơi kỳ cục. Trịnh Hữu Tuệ viết: “Còn về việc tôi dùng từ “ấu trĩ,” tôi xin nói như sau: Từ này hoàn toàn nằm trong khuôn khổ những đối thoại trên diễn đàn talawas. Bản thân ông Hoàng Ngọc-Tuấn đã từng gọi Ngô Tự Lập là “ăn cướp”, gọi Trịnh Lữ là “quái trạng văn hóa”, so sánh Nguyễn Hữu Liêm với “súc vật trong sở thú”, v.v… Và vô số những ông khác đã từng dùng vô số những từ khác kém “hòa nhã” hơn rất nhiều. Vậy nên tôi xin các vị hãy dừng việc mỉa mai “cách ăn nói” của người khác và tập trung vào nội dung. OK?”
Well, let’s set the record straight. Chuyện gì có thì nói, không thì thôi. Ông Tuệ nói vậy là nói ngoa rồi. Những ông nào khác dùng những từ nào kém “hoà nhã” trong những bài nào thì tôi không nhớ nhưng mấy bài viết sóng gió của ông HNT thì chắc là không ít người còn nhớ. Tôi đọc kỹ lại chỉ thấy ông HNT gọi ông Ngô Tự Lập là “đạo văn” với “đoạt văn” nhưng không thấy có chỗ nào gọi là “ăn cướp”. Ông HNT cũng không gọi cá nhân ông Trịnh Lữ là “quái trạng văn hóa” mà gọi cái tình trạng sinh hoạt văn hóa vô trách nhiệm trong đó có ông Lữ tham gia là “quái trạng văn hóa”. Ông HNT cũng không gọi ông Nguyễn Hữu Liêm là “súc vật trong sở thú” mà có viết một ý kiến dưới bài “Nơi giữa đại hội Việt kiều: một nỗi bình an” của ông Liêm. Ý kiến đó giống như một ngụ ngôn không nêu tên ai ra cả: http://www.talawas.org/?p=14276&cpage=1#comment-8513
Lẽ nào vì muốn trả đũa giùm cho ba ông Lập-Lữ-Liêm mà bây giờ ông Tuệ phải nói những chuyện ngoa nguýt “vô cùng ấu trĩ” như vậy? (Chữ “vô cùng ấu trĩ” là của ông, chắc ông không ngại nhận lại!)
Có thể một số chính khách phương Tây thở phào nhẹ nhõm khi Trung Quốc phát động “Đại Nhảy Vọt” và “Cách Mạng Văn Hóa”, nhưng chắc chắn rằng cái thở phào đó sẽ bị thay thế bằng nỗi âu lo khi Trung Quốc tiếp tục chìm sâu trong vũng lầy kinh khiếp đó. Hãy thử Trung Quốc trở thành một quốc gia thất bại và tan rã, và những làn sóng người từ cái khối một tỷ dân này nháo nhào tỏa đi khắp thế giới để tự cứu lấy mình mà không một ai có thể cản nổi. Đó sẽ là một gánh nặng khủng khiếp cho thế giới, đặc biệt là cho phương Tây, trong lúc đang phải đối đầu kịch liệt nhất với Liên Xô. Nó có thể khiến cân bằng quyền lực thế giới lúc đó đổ ụp và phương Tây và thế giới rơi vào thế hết sức bất lợi.
Cứ lấy một ví dụ ở quy mô nhỏ hơn là Việt Nam để thấy. Làn sóng vượt biên liên tục trong suốt 15 năm đã khiến phương Tây, dù có nhân đạo cách mấy, cũng phải mệt mỏi. Chính vì vậy mà công cuộc cải cách ở Trung Quốc đã được phương Tây hồ hởi đón nhận và hỗ trợ – bên cạnh các lợi ích kinh tế của việc sử dụng khối nhân công rẻ mạt, vì như vậy Trung Quốc sẽ trở lại thành một quốc gia bình thường – dù vẫn chịu nạn độc tài.
Napoleon mưốn TQ ngủ yên trong cái mộng mị về trung tâm vũ trụ. Có thể nói ngược lại, chính cái giấc mơ được sống lại đời sống bình thường của dân chúng Trung Hoa sau những trải nghiệm khủng khiếp do những giấc mơ điên rồ của vị hoàng đế mới gây ra đã khiến Trung Quốc tỉnh giấc, và dứt khoát tiến về phía trước. Tình hình Trung Quốc lúc đó đòi hỏi bất cứ một bước tiến nào cũng tốt hơn dẫm chân tại chỗ. Đất nước Trung Hoa đã tự đánh thức lấy mình sau khi oằn người rên xiết dưới cơn ác mộng. Từ một cái thở phào trong vài cái nhìn chiến thuật ngắn hạn của một số chính khách phương Tây mà cho rằng phương Tây cũng có một phần lỗi trong các cuộc phóng tay giết chóc đó có vẻ là một cú trượt dài của ý tưởng.
Ông Trịnh Hữu Tuệ : “Tôi thấy tiền giả định này vô cùng ấu trĩ (extremely naive), bất kể người Mexico có thực sự ghét Mỹ hay không. Tôi đã gặp khá nhiều sinh viên Trung Quốc vừa nghĩ Mỹ là hiểm họa cho Trung Quốc vừa muốn tìm việc tại Mỹ sau khi học xong, và tôi hoàn toàn hiểu được họ. Nhưng có lẽ ông Tuấn, và một số độc giả khác, không chia sẻ điều này. Không sao cả.”
Ở đây rõ ràng là ông Tuệ ngụy biện và tự mâu thuẫn. Ông nói nếu ông Tuấn và một số độc giả khác không chia sẻ nhận xét của ông thì “không sao cả”, nhưng thế thì tại sao ông lại đánh giá họ là “vô cùng ấu trĩ”?
Trong tranh luận về bản dịch Tratatus ông Trịnh Hữu Tuệ chứng tỏ sự tinh tế trong từ ngữ chừng nào thì ở đây ông làm ngược lại chừng nấy. Từ “naive” không có nghĩa là “ấu trĩ”, mà có những nghĩa khác, tùy ngữ cảnh như: thơ ngây, hồn nhiên, vô tư, trong sạch, không phạm tội, không can dự. “Extremely naive” trong tiếng Anh có thể là “vô cùng ngây thơ”, “cực kỳ vô tư”… chứ không thể là “vô cùng ấu trĩ”. Trình độ của ông Tuệ dư sức biết điều này nhưng ông đã cố tình dùng từ “vô cùng ấu trĩ” để làm gì vậy?
Không nhất thiết phải tránh dùng từ kém hòa nhã trong tranh luận, nhưng khi dùng thì phải có lý lẽ để dùng. Ví dụ khi nói một ai là “dốt nát”thì phải đủ lý lẽ để chứng minh cái “dốt nát” của người đó.
Trong trường hợp này ông Tuệ gọi ông Tuấn và sau đó là một số độc giả là “vô cùng ấu trĩ” chỉ vì họ có sự quan sát khác với ông Tuệ về chuyện Mexico-Mỹ. Rõ ràng ông Tuệ dùng từ này vì cảm giác cay cú gì đó chứ không phải để tranh luận đúng sai. Đã vậy ông Tuệ lại còn răn độc giả: “tôi xin các vị hãy dừng việc mỉa mai “cách ăn nói” của người khác và tập trung vào nội dung. OK?”
Trước giờ tôi vẫn nể trọng ông Tuệ nhưng nay tôi thật sự thất vọng (really disappointed).
Chào những ai đang theo dõi bài này,
PH trước tôi viết cho tác giả Đinh Bá Anh quá vội, quá dài dòng. Bây giờ đọc lại thấy không cần thiết. Vậy, xin phép được rút PH đó lại. Nếu kỹ thuật không cho phép, xin được coi như chưa viết.
Trân trọng cám ơn.
[…] 2010 Đinh Bá Anh © 2010 talawas […]
THTuệ bảo: “Nó cũng tương tự như câu hỏi tại sao người nghèo ghét người giàu nhưng vẫn muốn giàu, hay tại sao nông dân ghét người thành thị nhưng vẫn muốn lên thành phố sống“. Rồi ông Tuệ lại cứ tiếp tục phán: “Tôi đã gặp khá nhiều sinh viên Trung Quốc vừa nghĩ Mỹ là hiểm họa cho Trung Quốc vừa muốn tìm việc tại Mỹ sau khi học xong, và tôi hoàn toàn hiểu được họ” có lẽ chỉ để cố bảo vệ cái cơ hội tranh cãi với HN-Tuấn về chuyện ông Tuấn không đồng ý với cách so sánh giữa TQ-VN và Mỹ-Mexico của ĐBA nhằm để “xử” ông Tuấn với những từ rất chói tai gai mắt như “ấu trĩ”. Theo tôi, bên cạnh cách “xử” của ông Tuệ có phần quá thiếu tự trọng, ông còn tự để lòi ra cách suy nghĩ và biện luận quá khá nông cạn! Này nhé:
– Người nghèo chả ghét người giàu! Họ ghét những người giàu vì thiếu lương thiện, vì vô tâm. Họ mặc cảm là nghèo và luôn muốn được vượt nghèo, khi có người giàu tới làm quen họ đón nhận ngay, nếu ai có mặc cảm nghèo thì mất thêm chút thời gian để vượt qua. Vì vậy, ông Tuệ chưa thấy gốc của vấn đề.
– Tôi làm việc ở ĐBSCL bao nhiêu năm với nông dân, tôi chưa hề thấy ai ghét dân thành thị cả! Không hiểu ông Tuệ này lấy thông tin này ở đâu ra!
– Không biết ông Tuệ hiểu gì khi một số sinh viên Trung Quốc du học tại Mỹ cho Mỹ là hiểm hoạ? Vì họ bị đầu độc bởi bao nhiêu năm nhồi sọ bởi ĐCSTQ là Mỹ đã “đì đọa” TQ? Hay họ cho rằng Mỹ xâm lấn TQ? Rồi nếu họ cho Mỹ là hiểm hoạ thì chắc họ muốn ở lại Mỹ làm việc để “lật đổ” những hiểm hoạ này chăng? Hay họ muốn thoát ra cuộc sống man rợ của TQ hiện nay? Tôi cho biết nhé: Hiện có rất nhiều sinh viên TQ du học ở Mỹ và các nước tự do khác đang lên án nhà nước TQ qua nhiều hoạt động bảo vệ nhân quyền khác nhau đó!
Ông Tuệ nên dừng lại và suy nghĩ cho chín chắn hơn đi nhé.
Anh Đinh Bá Anh:
1. Tôi xin nói với anh rằng về mặt chính trị, tôi phân biệt lãnh đạo và thường dân. Vì lẽ đó mà tôi đã có ý kiến khi anh nói xa nói gần rằng “phương Tây” có một phần lỗi trong “Cách mạng Văn hóa” và “Đại nhảy vọt”. Anh đưa hồi ký Kissinger và “một số nhân vật lớn” ra làm dẫn chứng. Xin thưa, anh không nên mất thời giờ giới thiệu với tôi hồi ký của “các nhân vật lớn”. Tôi không quan tâm đến những gì “các nhân vật lớn” viết trong hồi ký. “Các nhân vật lớn” có lớn đến đâu cũng không thể đại diện cho nhân dân. Nói chung, làm lãnh đạo là muốn vị trí chóp bu. Nhưng như tôi đã nói trong nhận xét trước: ở phương Tây, vấn đề không phải là muốn hay không muốn, không phải cứ muốn mà được, dù có là nguyên thủ quốc gia đi chăng nữa. Đó là điều khác nhau cơ bản giữa dân chủ và độc tài.
Anh cho rằng Ủy ban Nobel Hòa bình đã “dũng cảm” khi trao giải cho Lưu Hiểu Ba. Tôi thì thấy “dũng cảm” cũng không hoàn toàn đúng: vì thực ra họ có nỗi sợ nào phải vượt qua đâu mà gọi “dũng cảm”. Trung Quốc nổi giận thì có ảnh hưởng gì tới một tổ chức độc lập như họ. Cách đây mười năm, Nobel Văn chương được trao cho nhà văn đối kháng Cao Hành Kiện, Trung Quốc cũng nổi giận lôi đình mà có động đến được cái lông chân nào của Viện Hàn lâm Thụy Điển. Bởi lẽ đó, tôi cho rằng về Nobel Hòa bình năm nay, điều đáng nói là “con mắt tinh đời” của Ủy ban trao giải: biết trao đúng người đúng việc – ngoài việc ủng hộ các nhà hoạt động dân chủ quốc tế mà Lưu Hiểu Ba là đại diện xuất sắc, Ủy ban Nobel còn đánh động cho nhân loại biết rằng đằng sau cái vẻ hào nhoáng của con rồng lớn nhất châu Á, Trung Quốc là một đất nước thiếu dân chủ, thiếu nhân quyền nghiêm trọng.
2. Về “những bước tiến vượt bậc về kinh tế của Trung Quốc và Việt Nam” và các con số mà anh đưa ra, tôi xin có ý kiến lại với anh như thế này: tôi ít tin vào các con số. Bởi nếu tin vào các “vượt chỉ tiêu”, “vượt kế hoạch”, “bội thu”, “được mùa”… mà truyền thông chính thống thêu dệt mỗi ngày, thì kinh tế Việt Nam lên nhanh hơn cả diều gặp gió.
a. Về phía Trung Quốc, xin được hỏi anh câu này: Nếu cuộc sống ở Trung Quốc thật sự tốt đẹp (như những con số mà anh đưa ra), tại sao hàng triệu người dân Trung Hoa vẫn tiếp tục tìm cách nhập cư trái phép vào Hoa Kỳ, Tây Âu, Đông Âu, Trung Á, Đông Á… thậm chí cả vào châu Phi, nơi người bản xứ cũng đang tìm cách rời bỏ?
Anh có vẻ tin vào các con số, vậy anh có biết: để có được sân vận động Quốc gia Bắc kinh rất tân kỳ ấy, bao nhiêu nông dân đã rời quê bỏ quán, ăn cơm hộp, ngủ giường tầng, vác gạch gánh cát mười mấy tiếng mỗi ngày, trong bao nhiêu năm? Để cung cấp đầy đủ tiện nghi cho cái olympic rất oách năm 2008, bao nhiêu người dân thủ đô Bắc Kinh và các vùng lân cận phải nhịn điện nhịn nước ngay giữa mùa hè?
Nhân đây cũng xin nhắc lại Olympic Mạc-tư-khoa năm 1980. Ngay giữa “chiến tranh lạnh”, giới lãnh đạo Liên xô đã nhân sự kiên này tìm cách khoa trương đất nước, chủ yếu là với phương Tây: xây một khách sạn khổng lồ và hoàn toàn cách biệt để đón khách quốc tế. Ngồi ở Paris, New York mà xem ti-vi thì thấy oách lắm, gấu bông Mi-sa, bong bóng, hoa hồng, thanh nam, tú nữ… Mười năm sau, Liên-Xô tan rã, phương Tây mới té ngửa ra rằng đằng sau bộ áo giáp “Cosmos” và “Bom nguyên tử”, bên trong của người hùng phe XHCN hóa ra thê thảm, xương sườn lép kẹp, quần đùi đồng phục cả nước…
b. Về phía Việt Nam, tôi cho rằng anh lạc quan thái quá. Từ vài năm nay, hình ảnh Việt Nam quả có trở nên gần gũi hơn với các nước láng giềng, nhưng hình như luôn gắn liền với các cô dâu Việt rẻ mạt ở Hàn Quốc, các công nhân Việt đánh bạc và ăn cắp ở Ma-lai-xi-a, các gái điếm Việt hoành hành ở Sinh-ga-po, các ô-sin Việt bùng phát ở Đài Bắc…
Anh nói: “Người Việt Nam dần lấy lại niềm tự tin: từ chỗ không dám nghĩ rằng mình có thể làm được việc gì, giờ đây người Việt Nam tin rằng, họ cũng có thể làm được việc, không thua kém người nước ngoài”. Anh Đinh Bá Anh ạ, tôi sợ rằng anh đang phát ngôn hộ người Việt Nam những điều mà họ không nghĩ.
3. “Thành công của đảng cầm quyền? Có một lý thuyết cho rằng, thành công là ở nhân dân, còn đảng cầm quyền chỉ cản trở. Nếu đảng cầm quyền không cản trở, thậm chí không có đảng cầm quyền, nhân dân còn thành công hơn.” (Đinh Bá Anh)
Xin hỏi, lý thuyết này là về đảng cầm quyền ở các nước dân chủ, hay đảng cầm quyền ở Việt Nam? Vì đó là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
Anh nói: “Cứ cho là lý thuyết này đúng, thì câu nói của tôi cũng không vì thế mà sai. Bởi vì trong trường hợp này, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn thành công ở chỗ: nó cản trở ít hơn so với trước đây. Từ chỗ cản trở nhiều tới chỗ cản trở ít, chẳng phải là một thành công không thể phủ nhận hay sao?”
Lý luận này của anh vượt quá xa logic của tôi: Có thể nào vừa đứng về phía những người đối kháng, lại vừa ca ngợi thành công của đảng cầm quyền?
Cuối cùng, tôi muốn nói với anh rằng tôi chia sẻ với anh sự cảm động trước giải Nobel Hòa bình được trao cho Lưu Hiểu Ba. Nhưng đáng tiếc, tôi không thể có cùng quan điểm với anh về hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Anh có niềm tin vào thành công của họ, mong anh chân cứng đá mềm. Về phía tôi, xin được chấm dứt cuộc tranh luận ở đây.
@Trịnh Hữu Tuệ
Tiền giả định của THT bỏ sót một chi tiết rất quan trọng mà theo tôi là lý do làm HNT phải lên tiếng: “đến độ muốn nó chết tiệt đi”.
Tiền giả định rằng “người ta không thể vừa ghét một quốc gia vừa muốn sống tại đó” có thể là “ấu trĩ”, song tiền giả định rằng “người ta không thể vừa ghét một quốc gia đến độ muốn nó chết tiệt đi (biến mất trên bản đồ thế giới) vừa muốn sống tại đó” thì không. Nếu THT muốn bảo rằng tiền giả định đó là “hết sức ấu trĩ” thì ông nên đưa ra những thí dụ về những trường hợp “ghét đễn nỗi muốn nó chết tiệt” song vẫn có lý do để “muốn sống ở đó”. Riêng tôi, tôi không nghĩ ra được thí dụ nào. Tôi không nghĩ là những sinh viên Trung Quốc trong thí dụ của THT ghét Mỹ đến độ muốn Mỹ biến mất trên bản đồ thế giới.
THT có quyền phê bình HNT là “hết sức ấu trĩ”, song các độc giả của Talawas cũng có quyền phê bình “cách ăn nói” của ông như đã từng phê bình cách ăn nói của HNT hay những người khác.
Ông Hoàng Ngọc-Tuấn nói “bài viết của Đinh Bá Anh có những đoạn chưa mạch lạc, chưa thuyết phục, thậm chí có thể gây nghi vấn trong lập luận.” Tôi rất tò mò không hiểu sao ông lại nói như vậy. Tôi thấy văn của Đinh Bá Anh quá mạch lạc. Mạch lạc hơn nhiều văn của ông Tuấn. Và trong chừng mực ta có thể dùng từ “lập luận” để mô tả những gì anh nói, tôi chẳng thấy có gì đáng “nghi vấn” ở đây cả.
Nếu ông Tuấn có thể viết thêm vài dòng biện minh cho những tuyên bố của mình, tôi sẽ đọc chúng một cách cẩn thận và hăng hái.
Bài viết của Đinh Bá Anh có những đoạn chưa mạch lạc, chưa thuyết phục, thậm chí có thể gây nghi vấn trong lập luận. Tuy nhiên, về tổng quan, tôi thấy anh rất can đảm khi viết bài này. Đọc bài viết của anh, tôi tâm đắc với những đoạn sau:
Sáng nay (9.10.2010), khi bật máy tính để đọc tin, thấy hình Lưu Hiểu Ba trên trang nhất của VnExpress, tôi lặng người một hồi lâu. Thật không thể tin nổi: Hỡi thần Công lý, cuối cùng ngươi cũng tới thật rồi sao!
Giải Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba, tác giả chủ chốt của Hiến chương 08, người đang thụ án tù 11 năm ở Trung Quốc, không chỉ là niềm động viên lớn lao dành cho hàng triệu người đấu tranh cho tự do dân chủ ở đất nước khổng lồ này, mà còn là niềm khích lệ khó nói hết dành cho tất cả những ai còn giữ vững niềm tin vào sự thật và lẽ phải – những người không chỉ hành động vì lợi ích mà còn vì những giá trị mà họ tin là tốt đẹp cho cộng đồng, trong đó có quyền tự do ngôn luận và quyền tự do chính trị.
Trao giải cho Lưu Hiểu Ba, Ủy ban Nobel Hòa bình của Na Uy năm nay đã có một lựa chọn dũng cảm, bởi vì chúng ta hiểu rằng, họ phải đối diện với ai. Nhiều năm nay, chính quyền Trung Quốc chưa bao giờ ngừng thể hiện thái độ sắt đá, cũng như họ luôn sẵn sàng áp dụng những biện pháp hà khắc nhất với dân chúng bên trong và hung hãn nhất với thế giới bên ngoài. Ở đất nước khổng lồ này, hàng nghìn nhà bất đồng chính kiến đang phải chịu cảnh nhũng nhiễu của bộ máy công quyền: họ bị kì thị, bị sỉ nhục, bị tù đày – nhân danh “pháp luật” Trung Quốc. Chỉ vì họ dám đứng về phía lương tâm, chỉ vì họ dám nói lên tiếng nói vì quyền tự do và quyền con người.
Đối với tôi, một công dân nhỏ bé của đất nước Việt Nam nhỏ bé (dù không kém phần hà khắc), việc Lưu Hiểu Ba được trao giải Nobel là một sự kiện đẹp đẽ. Tôi đã đọc Hiến chương 08 do ông và những người cùng chí hướng với ông soạn thảo, và tôi đã luôn cảm phục lương tâm, viễn kiến và lòng dũng cảm của những con người này.
[…]
Nếu chúng ta đọc Hiến chương 08 của Lưu Hiểu Ba và các đồng sự của ông, nếu chúng ta đọc những bài viết của Hà Sĩ Phu, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định…, chúng ta đều thấy rằng, hầu hết các nhà bất đồng chính kiến của Trung Quốc và Việt Nam đều không có ý định “lật đổ chính quyền” (hay thậm chí “chống tổ quốc”, “phản dân hại nước”…) như hệ thống luật pháp của hai nước tìm mọi cách cáo buộc họ. Phải, họ đều yêu cầu xóa bỏ nền chính trị một đảng cầm quyền, đòi tư pháp và báo chí độc lập. Nhưng như thế thì có gì quá đáng lắm không? Chẳng phải quyền tự do tư tưởng (tự do báo chí), quyền tự do lựa chọn (tự do chính trị), quyền bình đẳng trước pháp luật (hệ thống tư pháp độc lập) là những giá trị căn bản mà hiến pháp cả hai nước đều thừa nhận hay sao?
[…]
Những gì mà Lưu Hiểu Ba và các nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc và Việt Nam đang đòi hỏi thực chất cũng không khác gì những điều mà các nhà hoạt động dân chủ Hàn Quốc, Đài Loan đã đòi cho đất nước họ. Rõ ràng, những đòi hỏi chính đáng này không thể bị coi là “âm mưu lật đổ chính quyền”.
Cảm ơn Đinh Bá Anh, một người trí thức đang sống tại Việt Nam, đã nói lên những điều này.