Trần Văn Tích – Thử bàn luận cùng ông Trần Lâm về cách đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông
23/11/2009 | 2:00 chiều | 51 Comments
Category: Lịch sử
Thẻ: Chính biến 11/11/1960 > Phan Lạc Giang Đông > Phan Lạc Tuyên
Nơi đoạn kết bài viết về “kiêu dân Công giáo” của mình, ông Trần Lâm đề cập đến thiên hồi ký ngắn của ông Phan Lạc Giang Đông, em ruột ông Phan Lạc Tuyên, người tham gia chính biến 11.11.1960 và sau đó cùng viên hạ sĩ quan tài xế đào thoát sang Cao Miên, để vợ con ở lại Việt Nam. Ông Trần Lâm viết: “Sau cuộc đảo chánh hụt năm 1960, tay chân của anh em Ngô Đình Diệm đã xâm phạm tính dục nhiều người vợ của những viên sĩ quan tham gia vào biến cố đó (…)”. Trong một điện thư riêng gửi cho tôi – có đồng gửi cho một vài người khác – ông Trần Lâm cũng nhắc đến thiên hồi ký này kèm lời bình luận, chắc ông chưa quên. Vốn cẩn thận và chu đáo ông Trần Lâm đã đưa lên mạng mấy trang hồi ký liên hệ, nhờ thế tôi mới có dịp lần đầu tiên làm quen với cây bút Phan Lạc Giang Đông (Nhìn lại biến cố 11/11/1960. Nhớ lại và suy nghĩ). Bài viết hôm nay tập trung vào việc bình luận những điều được ông Phan Lạc Giang Đông kể lại.
Trường hợp Phan Lạc Tuyên
Tác giả Phan Lạc Giang Đông không cho biết vào thời điểm xảy ra chính biến 11.11.1960 ông Phan Lạc Tuyên, anh cả của ông, mang cấp bậc gì trong quân đội. Tham khảo Việt sử khảo luận của cố luật sư Hoàng Cơ Thụy, Nhà xuất bản Nam Á (Sudasie), Paris, 2002, cuốn 5, đoạn 201, Cuộc đảo chính ngày 11-11-1960 của binh chủng nhảy dù và Liên minh dân chủ, từ trang 2816 đến trang 2872, được biết ông Phan Lạc Tuyên thuở bấy giờ mang cấp bậc đại uý.
Tác giả Phan Lạc Giang Đông cho biết: “Có lần anh (Phan Lạc Tuyên, TVT chú) được gọi vào trình diện Tổng thống Ngô Đình Diệm rất bất ngờ và sau lần gặp đó, anh chuẩn bị đi làm Tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương. Tôi nghe đâu công việc đang tiến hành.” Chúng ta không rõ lúc bấy giờ ông Phan Lạc Tuyên bao nhiêu tuổi nhưng tôi phỏng đoán ông chỉ chừng trên ba mươi dưới bốn mươi. Và tôi có nhận định sau: là người Bắc di cư (tức không phải dân Trung, đương nhiên), có thể không phải là Công giáo, chẳng là Cần lao, mới chỉ là đại uý, còn đang rất trẻ, ông Tuyên đã được Tổng thống Diệm lưu ý và có ý định đề bạt vào chức vụ cai trị một tỉnh. “Nhìn lại và suy nghĩ”, tôi dẫu là kẻ bàng quan, cũng mừng cho ông và cho gia đình, nhất là vợ con ông. Thế nhưng bỗng dưng ông Phan Lạc Tuyên tham gia đảo chính mà không hề cho đại gia đình và tiểu gia đình biết.
Như vậy, đọc ông Phan Lạc Giang Đông (và nếu thông tin ông đưa ra là đúng), tôi tìm thấy một dữ kiện chứng tỏ rằng Tổng thống Ngô Đình Diệm, ít nhất qua trường hợp đại uý Phan Lạc Tuyên, không phải chỉ đề cử quân nhân viên chức vào các chức vụ quan trọng theo ba tiêu chuẩn dân Trung, Công giáo, Cần lao.
Thảm kịch Bùi Thị Nga
Bà Bùi Thị Nga là phu nhân của đại uý Phan Lạc Tuyên. Sau khi chồng đào thoát sang Cao Miên, bà bị cơ quan an ninh quân đội bắt giữ và vào dịp đó, bị xâm phạm tiết hạnh.
Khi được phóng thích, bà về lại nhà chồng và ngang nhiên ăn nằm cùng một kẻ lạ mặt, “một người mặc thường phục, cao lớn và dáng là quân nhân, đi xe hơi đen, hoặc xe Jeep” (Phan Lạc Giang Đông, tlđd, tr. 214). Nhận định về thảm cảnh của chị dâu, tác giả Phan Lạc Giang Đông viết: “Chị Tuyên là người có nhan sắc, bởi vậy, chị đã bị nhiều kẻ lợi dụng, nhất là những kẻ có quyền lực, vả lại, trong hoàn cảnh kinh tế khốn quẫn đến cực cực (sic), toàn bộ gia đình bị cô lập, ngay cả cái đám họ hàng Phan Lạc đều xa lánh, thử hỏi, việc chị sa ngã cũng không đáng trách.” Như thế, theo nhân chứng là người em chồng, đoạn đời bất hạnh của bà Nga bắt đầu khi bà thất thân trong tù để rồi sau đó, bà sống phóng túng vì bị nhiều kẻ có quyền lực lợi dụng. Tiếp tục truy tầm những thành phần “chủ trương báo thù bỉ ổi” (chữ của đại tá Trần Ngọc Nhuận), chúng ta được ông Phan Lạc Giang Đông đưa đến gặp ông Vi Bằng năm 1988 (tr. 216). Ông Vi Bằng cho biết: “đã có những người ‘anh em văn nghệ’ của anh Tuyên, vì chị Tuyên là người có nhan sắc – nên họ đã lợi dụng và làm nhiều việc rất nhờm tởm; mà một trong những số đó là những V.Q., những tên vô liêm sỉ khác nữa.” Thử liệt kê theo ông Phan Lạc Giang Đông chúng ta có một gã mặc thường phục, chúng ta có một kẻ nào đó tên Đ., chúng ta có những kẻ có quyền lực, chúng ta có những người “anh em văn nghệ”, chúng ta có những V.Q., chúng ta có những tên vô liêm sỉ khác nữa. Nhưng tuyệt nhiên chúng ta không hề thấy những tên sĩ quan an ninh quân đội bị tố cáo đích danh, đích thân, đích thị, đích thực, đích xác. Trái lại, chúng ta gặp một danh sách cá nhân hoặc tập thể chung chung, lồng trong những cung cách dùng từ bí ẩn. Nhưng ông Trần Lâm không hề thấy cái mớ bòng bong đó. Ông khẳng định đó là những “tay chân của anh em Ngô Đình Diệm”.
Các bà phu nhân khác
Những người lãnh đạo cuộc đảo chánh 11.11.1960 về phía quân sự là đại tá Nguyễn Chánh Thi, trung tá Nguyễn Triệu Hồng và trung tá Vương Văn Đông; về phía dân sự có luật sư Hoàng Cơ Thụy, được xem như “quân sư” của nhóm đảo chánh. Ngoài ra còn nhiều sĩ quan khác, chẳng hạn thiếu tá Phan Trọng Chinh, thiếu tá Phạm Văn Liễu v.v… Khi đảo chánh thất bại, một số sĩ quan như đại tá Thi, trung tá Đông, thiếu tá Liễu bắt trung tướng Thái Quang Hoàng làm con tin và dùng phi cơ Dakota C-47 trốn sang Cao Miên.
Vợ con của họ kẹt lại Việt Nam. Tôi chưa đuợc đọc tài liệu nào nói về “chủ trương báo thù bỉ ổi” đối với họ. Nếu ông Trần Lâm biết những tài liệu này, xin ông vui lòng chia sẻ kiến thức với tôi; tôi xin cám ơn trước.
Tướng Nguyễn Chánh Thi sang Cao Miên, được cộng sản đến thuyết phục theo họ, nhưng ông cương quyết từ chối. Có lúc họ còn hứa với ông là nếu ông đồng ý thì họ sẽ đem vợ con ông ra ngoại quốc. Nhưng ông chỉ trả lời vắn tắt là ông chưa có ý đi đâu cả và cũng không nghĩ gì về việc đem gia đình trốn khỏi Việt Nam (Nguyễn Chánh Thi – Việt Nam, một trời tâm sự, dẫn theo Hoàng Cơ Thụy, tlđd, tr. 2868). Phần luật sư Hoàng Cơ Thụy thì được CIA dùng bao bố ngụy trang thành “tín hàm” xách lên phi cơ nhà binh mang ra khỏi Việt Nam. Ngay trước đó ít hôm, luật sư Thụy liều lĩnh lén lút về thăm nhà thì chỉ gặp hai cô con gái và hai cậu con trai giữa, riêng bà luật sư thì dẫn hai con trai đầu và út lẩn trốn vào Chợ Lớn. Tôi không hề được nghe hay được đọc về những hành vi khủng bố, kỳ thị đối với bà luật sư cùng số con trai con gái đông đảo của ông bà. Họ tiếp tục cư ngụ trong ngôi biệt thự khang trang toạ lạc tại số 84 đường Bà Huyện Thanh Quan, ngay giữa thủ đô. Các con trai và con gái học hành đến nơi đến chốn, có người trở thành sĩ quan và hy sinh tại Hạ Lào. Xin ghi chú thêm là hai vợ chồng chúng tôi, trong cuộc sống lưu vong, đã có cơ may quen biết luật sư Hoàng Cơ Thụy và được ông nhận là nghĩa đệ nghĩa muội. Chúng tôi cũng từng được hân hạnh diện kiến ông bà trung tá Vương Văn Đông ở Paris trong một dịp sinh hoạt văn học.
Thế cho nên tôi vừa xót xa đau buồn vừa phẫn hận uất ức khi đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông để được nghe kể về cuộc sống hậu đảo chính của gia đình ông, nó cứ y như trong chế độ cộng sản. Nhưng tại sao lại chỉ có một mình gia đình ông lâm cảnh oan khiên nghiệt ngả, ít nhất theo như tôi được đọc, được nghe, được thấy? Vậy nên tôi xin lặp lại đây lời thỉnh cầu gửi ông Trần Lâm, mong ông nếu có những tài liệu khác liên quan đến sự kiện đau buồn tương tự mà nạn nhân không thuộc dòng họ Phan Lạc thì xin ông vui lòng cho tôi được tham khảo cùng.
Em ông Phan Lạc Tuyên không cho hay ông lãnh nhiệm vụ gì trong biến cố 11.11.1960. Tìm đỏ con mắt trong mấy chục trang giấy khổ lớn chữ nhỏ của cuốn Việt sử khảo luận mới thấy ông Tuyên xuất hiện qua một câu duy nhất nơi trang 2852: “Cho nên Thi (đại tá Nguyễn Chánh Thi, TVT chú) phái đại uý Phan Lạc Tuyên đi “mời” bác sĩ Phan Quang Đán đến và nói: (…)”. Không phải là lãnh đạo chính biến mà chỉ là cấp thừa hành, sao riêng một mình gia đình đại uý Phan Lạc Tuyên phải chịu cảnh oan trái như vậy?
Vào dưỡng trí viện Biên Hoà
Năm 1971, vì chứng bệnh tâm trí của bà Bùi Thị Nga càng ngày càng nặng nên ông cụ nhạc gia của bà và ông Phan Lạc Giang Đông đưa bà lên dưỡng trí viện Biên Hoà xin nhập viện nhưng bị từ chối. Phải làm đơn gửi đi gửi lại vài nơi khác, cuối cùng bà Nga mới được nhận điều trị tĩnh tại. Đọc hồi ký giữa các hàng chữ, tôi lại cảm thấy bàng bạc bầu khí quyển khủng bố, kỳ thị, cách biệt, ly gián bao trùm lên gia đình người thiếu phụ bất hạnh. Cảm giác này càng nặng nề, căng thẳng đến độ ngột ngạt, ngộp thở vì tôi biết rõ bộ máy công quyền y tế quốc gia. Khoảng cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 thế kỷ trước, giám đốc dưỡng trí viện Biên Hoà là bác sĩ Tô Dương Hiệp, con trai trưởng nhà văn Bình Nguyên Lộc. Bác sĩ thường trú dưỡng trí viện là bác sĩ Cao Văn Lê. Cả hai đều tốt nghiệp năm 1962, cùng khoá với tôi. Qua bảy năm ròng cùng học chung thầy chung lớp, chúng tôi biết nhau khá rõ. Tôi không thể hiểu nổi tại sao hai anh bạn đồng nghiệp đồng khoá này lại có thể từ chối không nhận một nữ bệnh nhân mắc bệnh tâm thần trầm trọng. (Bác sĩ Tô Dương Hiệp mất trước 1975 vì ung thư máu, bác sĩ Cao Văn Lê chết trong ngục tù cộng sản.)
Dưới chế độ quốc gia, khi một người dân đau ốm, họ có thể và có quyền đến khu khám ngoại chẩn của các bệnh viện thích nghi tại Sàigòn (Chợ Rẫy nếu là ngoại khoa và/hoặc nội khoa, Chợ Quán nếu là truyền nhiễm, Từ Dũ nếu là sản phụ khoa v.v…). Khám ngoại chẩn đôi khi do bác sĩ phụ trách nhưng thông thường thì do anh chị em sinh viên y khoa chúng tôi (năm thứ năm và năm thứ sáu) cáng đáng. Làm việc rất cực nhưng cũng rất vui, tối tăm mày mặt mà không biết mệt. Chúng tôi chỉ biết bệnh nhân, chúng tôi hoàn toàn không cần biết lý lịch, gốc gác. Trường hợp bệnh nhân mang theo được giấy giới thiệu nhập viện của một đàn anh đàn chị có phòng mạch tư thì alêhấp, yêu cầu y tá và hành chánh bố trí giường bệnh ngay. Chúng tôi chưa hề gặp trường hợp nào có chỉ thị của ai đó xía vô chuyện tiếp bệnh nhận bệnh và cũng không thể tưởng tượng được là có thể có chuyện “trên” yêu cầu này nọ.
Ông thân sinh nhị vị Phan Lạc Tuyên – Phan Lạc Giang Đông là một nhân sĩ, một thức giả. Bản thân ông Phan Lạc Giang Đông là một nhà văn quảng giao. Tại sao không ai nghĩ đến chuyện đưa bà Bùi Thị Nga đến khám bệnh tại một phòng mạch tư và xin giấy giới thiệu vào dưỡng trí viện Biên Hoà? Thay vì làm vậy, cụ Phan Lạc senior lại mấy lần viết đơn gửi dưỡng trí viện và các nơi khác.
Cháu Phan Quốc Hưng
Cháu Phan Quốc Hưng là con út nhị vị Phan Lạc Tuyên – Bùi Thị Nga khi mẹ cháu bị an ninh quân đội câu thúc thân thể. Cháu lên sáu tuổi và cùng đi tù với mẹ. Tác giả Phan Lạc Giang Đông cho rằng chất căm hờn đã thấm vào dòng máu của cháu. Phần ông Trần Lâm thì coi đây là một tội ác trời không dung đất không tha.
Tôi nhìn vấn đề có khác. Đối với đứa bé sáu tuổi, vũ trụ chủ yếu chỉ qui vào hai người: cha và mẹ. Nay bỗng nhiên một nửa vũ trụ biến mất, nó chỉ còn lại nửa kia là mẹ. Nó cần mẹ hơn bao giờ hết và nó muốn gần mẹ hơn bao giờ hết. Nó muốn được mẹ bón cơm cho ăn, nó muốn cùng mẹ tỉ tê trò chuyện, nó muốn ngủ vùi trong suối tóc của mẹ, nó muốn sờ tí mẹ. Nó cần mẹ bế bồng, vuốt ve, thay áo, mặc quần, tắm rửa, chải tóc, thoa gãi. Càng bé càng thường xuyên lo sợ mất mẹ mỗi khi không nghe tiếng nói của mẹ trong một thời gian ngắn. Tóm lại, bố mẹ đi vắng lâu ngày gây cho trẻ cảm giác mất an toàn. Do đó tâm lý học không ngần ngại dùng khái niệm dyade để mô tả mối quan hệ chặt chẽ mẹ-con. Ở các quốc gia Tây phương ngày nay, có lẽ cháu bé sáu tuổi không phải đi tù cùng mẹ. Nhưng năm 1960 ở miền nam nước Việt, tôi nghĩ giải pháp cho phép bà mẹ khốn khổ mang theo đứa con út thân thương vào nhà tạm giam là một giải pháp nhân đạo. Nhìn sự việc một cách nhân bản như vậy, tôi không nghĩ rằng có ai đó đã kể cho đứa bé đáng thương là nó đang đi tù vì chắc chẳng ai đành đoạn hành hạ nó thêm một bước như thế, nhất là một khi nó chưa cần vận dụng trí khôn để hiểu nghĩa chữ “tù”.
Hoa Sơn luận kiếm
Ông Trần Lâm xuất hiện trên talawas lần này là lần thứ ba, nhưng chỉ qua hai đề tài: đại úy “ma” Scott và “kiêu dân Công giáo”. Cả hai đề tài đều cùng thuộc vào công trình biên soạn luận văn tốt nghiệp đại học của ông. Ông nuôi hoài bão sẽ đạt được vào năm 2013 “thành quả hàn lâm” mà ông Cao Huy Thuần từng đạt được vào cuối thập niên 60 của thế kỷ 20. Từ đây đến đó, ông phải lo luyện võ ôn văn nhằm có đủ tư cách lên đỉnh Hoa Sơn luận kiếm với quần hùng. Khi anh theo học đại học hay tốt nghiệp đại học thì quả là anh có thể được gọi hay được xem là académiste, Akademiker mà trong cả hai ngôn ngữ Pháp, Đức chữ này cũng hàm nghĩa hàn lâm. Tôi không thật chắc trong Anh ngữ có như thế không. Nhưng tự xem luận văn tốt nghiệp đại học của mình là một thành quả hàn lâm thì tôi nghĩ dường như có điều ra làm sao ấy. Tôi e chính bản thân ông Cao Huy Thuần cũng chẳng muốn sử dùng tính từ hàn lâm cho cái thèse của mình. Tôi cũng thấy là lạ khi ông Trần Lâm mệnh danh công việc trình luận văn tốt nghiệp là chuyện Hoa Sơn luận kiếm với quần hùng. Ai sẽ là Tây Độc, ai sẽ là Đông Tà trong ngày trọng đại vào năm 2013 sắp tới? Tôi vốn thuộc thành phần “Tây học”, hiểu theo nghĩa đen; vì thế tôi đoán chắc quá trình biên soạn luận án và thủ tục bảo vệ luận án ở các quốc gia thuộc hệ ngôn ngữ Anh-Mỹ hẳn hoàn toàn khác với sự hiểu biết của cá nhân tôi.
Lời chót
Qua những dòng này tôi chỉ muốn đọc mấy trang hồi ký của ông Phan Lạc Giang Đông theo cách riêng tư và khi cần thì thử so sánh với cách đọc của tác giả “Kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm”. Người đọc bắt buộc phải và nhất định đã bắt sóng tác phẩm như một thực thể nghệ thuật theo cảm thụ và tâm cảnh chủ quan, nhưng cần tránh diễn dịch, suy luận theo định kiến, thiên kiến. Nhìn chung, theo tôi, hồi ký Phan Lạc Giang Đông cung cấp những dữ kiện có thể đáng tin. Tuy nhiên đôi chỗ các dữ kiện dẫu đáng tin mà lại bất thường.
Trong số những người từng sống qua các giai đoạn tao loạn của miền Nam trước đây có rất nhiều người hiện còn tại thế. Tôi ước ao sẽ có sự tiếp tay của những chứng nhân các vụ bạo hành tính dục hàng loạt, các vụ hiếp dâm cưỡng dâm tập thể xảy ra sau ngày 11.11.1960 theo “chủ trương báo thù bỉ ổi” qua những “tay chân của anh em Ngô Đình Diệm” nhằm cung cấp thêm tài liệu cho công trình nghiên cứu của ông Trần Lâm. Tất nhiên là những chứng nhân đáng tin cậy. Phải chăng các danh tính Chính Đạo, Nguyễn Mạnh Quang, Phạm Xuân Tích, Nguyễn Kiên Hùng; những tác giả chủ biên hay cộng tác nhằm hoàn thành “Nhìn lại biến cố 11/11/1960” mà thành quả trí tuệ không được ông Trần Lâm đưa lên mạng có thể là những chứng nhân quan trọng đầu tiên?
Bình luận
51 Comments (bài “Trần Văn Tích – Thử bàn luận cùng ông Trần Lâm về cách đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông”)
« Trang trước 1 2 3 4
Lời lời thành thực.
“Cái “của quý” này được “sử gia” X viết vào lúc 12:58 sáng ngày 30/11/09 để “giảng” về sử cho độc giả PNN (bài chủ “Thử bàn luận cùng ông Trần Lâm về…” tác giả: Trần Văn Tích)… :
“Ông Diệm còn đưa Phạm Ngọc Thảo, một Công Giáo do Giám mục Thục giới thiệu và bảo đảm, từ chiến khu Việt minh về, trông coi xây dựng Ấp Chiến lược với mục đích nắm dân vệ, địa phương quân, các quận trưởng, tỉnh trưởng để làm đối trọng chống lại quân đội mà ông Diệm nghi ngờ lòng trung thành sau đảo chính 1960.”
Cái đề tài này kéo dài cũng hơi bị lâu rồi, đáng lẽ được lời giải đáp quý hóa của ông bạn thì nên coi như “tri túc” và cho qua, nhưng về tác giả Trần Lâm, tôi mong được có thêm đôi lời cùng ông. Những tín liệu mà gần đây tôi được cung cấp về cuộc đời của ông ấy, tôi đã đưa sơ sơ vào hai phản hồi “Những hệ lụy làm khốn khổ lịch sử” và “Sự trùng hợp kỳ lạ”, tôi cũng đã thưa có những dữ kiện liên quan đến cuộc đời, niềm đau… của người khác mà không những người tự trọng không bao giờ được phép đụng đến mà còn phải có một cái gì như thương xót để thông cảm và kính trọng, tôi mong đem cái approach ấy để nói chuyện với tác giả họ Trần, mong ông đem sở học, sự làm việc nghiêm túc vốn là sở trường của ông cho những gì bớt gai góc hơn là những gì ông theo đuổi bấy lâu với một lòng căm hờn dĩ vãng thì ích lợi cho đời biết mấy! Chẳng hơn là được bênh vực bằng những “sử gia” X, hay Y này nọ bằng những “sử liệu” như trên thì “đau khổ thiệt tình” và đấy mới đúng là “Yêu nhau thì lại bằng mười ‘hại’ nhau” đấy ông Trần Lâm ạ. Đó cũng là ý nghĩa cái tiểu đề tôi đặt cho phản hồi này: Lời lời thành thực vậy.
Hai ông Phùng Tường Vân và Nam Phan chắc hẳn biết về Phạm Ngọc Thảo, nhưng xin nhắc sơ lại.
Phạm Ngọc Thảo con một gia đình Công giáo giàu có ở miền Tây Nam bộ, là bà con với Phạm Ngọc Thuần giữ một chức vụ quan trọng ở miền Bắc. Thảo đi theo VM kháng chiến, nhưng ở lại miền Nam, được Giám mục Ngô Đình Thục giới thiệu và bảo đảm để được Ngô Đình Diệm cho mang lon Trung tá (một điều rất không bình thường), và cho Thảo làm tỉnh trưởng Kiến Hòa (theo yêu cầu của Thảo để trị an tại “quê hương đồng khởi” này). Sau đó, Phạm Ngọc Thảo được Ngô Đình Nhu cho làm Thanh tra công trình xây dựng Ấp Chiến lược mà Nhu rất tự hào là sáng kiến riêng của mình. Các Tỉnh trưởng và Quận trưởng trực tiếp phụ trách xây dựng Ấp Chiến lược, và nhờ đi thanh tra nên Thảo theo dõi, vận động và nắm được một số viên chức ở quân đoàn 3 và 4 (tức quanh Sài Gòn và miền Tây). Khi tìm đến gặp Đỗ Mậu trước ngày đảo chính 1-11-63, Thảo cho biết đã kết nạp được một số Bảo An, là lính địa phương thuộc thẩm quyền điều động của tỉnh trưởng (theo “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” của Đỗ Mậu, trang 614-615). Sau này, khi cùng với Lâm Văn Phát làm đảo chính chống Nguyễn Khánh, Thảo cũng điều động được một thành phần Bảo An tham dự. Bảo An trên danh nghĩa thuộc Bộ Nội vụ, nên không nằm trong hệ thống chỉ huy của Bộ Tổng Tham mưu quân đội VNCH (Lực lượng Đặc biệt của ông Nhu cũng nằm ngoài hệ thống chỉ huy quân đội). Vì vậy, Nhu lợi dụng hai lực lượng này để chống lại âm muu đảo chính từ phía quân đội mà anh em ông lo ngại. Trong lúc xảy ra vụ Phật giáo tranh đấu, ông Nhu (hay ông Diệm cũng thế) bổ một người Huế Công giáo là thiếu tá Nguyễn Đức Xích làm tỉnh trưởng Gia Định bao quanh Sài Gòn, để chỉ huy lực lượng Bảo An chừng vài tiểu đoàn, có xe thiết giáp. Sau đảo chính, thiếu tá Xích bị thay thế bởi trung tá Huỳnh Văn Tồn (Đại Việt, tham gia đảo chính). Không rõ lính Bảo An ở Gia Định bị quân đảo chính khống chế như thế nào. Phạm Ngọc Thảo có mặt tại dinh Gia Long sáng 2-11-63, trước cả Nguyễn Văn Thiệu là người trực tiếp chỉ huy lực lượng tấn công vào dinh đó.
Sau khi các chùa bị tấn công ngày 20-8, vào cuối tháng 9-63, các tướng sau này sẽ đảo chính như Trần Văn Đôn, trình ông Diệm bản đề nghị cải tổ gồm nhiều điều, mà điều 3 là:
“Lực lượng bán quân sự (Bảo An, Dân vệ, Công dân chiến đấu) đặt dưới quyền chỉ huy quân đội để thống nhất chỉ huy” (sách “Việt Nam Nhân Chứng” của Trần Văn Đôn, trang 182).
Ông Diệm hứa sẽ cứu xét bản đề nghị trên, nhưng không thi hành dù ông Đôn có nhắc lại. Nếu tinh ý nhận xét, có thể ông Đôn muốn vô hiệu hóa lực lượng Bảo An của tỉnh Gia Định trước khi đảo chính (xảy ra chỉ hơn một tháng sau đó) bằng cách nắm quyền chỉ huy lực lượng này, nhưng ông Nhu có tiếng rất đa nghi, và mưu mô, đã không chịu.
Trong cuốn “Việt Nam 1945-1995”, ông Lê Xuân Khoa cho biết Phạm Ngọc Thảo hoạt động cho cộng sản từ lâu, nhưng là “người thân tín của Giám mục Ngô Đình Thục” (trang 460). Gần đây nhiều báo viết Thảo được công nhận là liệt sĩ của chế độ hiện nay.
Tôi đã tránh không dám nêu tên người, nhưng bác Phùng đã “thiệt tình” thì tôi cũng ráng đáp lại.
Cái món “quý” này được “sử gia” Hoà nguyễn viết vào lúc 12:58 sáng ngày 30/11/09 để “giảng” về sử cho độc giả PNN (bài chủ “Thử bàn luận cùng ông Trần Lâm về cách đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông, tác giả bác Trần Văn Tích). Chính xác như sau:
“Ông Diệm còn đưa Phạm Ngọc Thảo, một Công Giáo do Giám mục Thục giới thiệu và bảo đảm, từ chiến khu Việt minh về, trông coi xây dựng Ấp Chiến lược với mục đích nắm dân vệ, địa phương quân, các quận trưởng, tỉnh trưởng để làm đối trọng chống lại quân đội mà ông Diệm nghi ngờ lòng trung thành sau đảo chính 1960.”
Đấy, như vậy mà bác định “gài độ” để tôi phải “giao lưu” thì có khác gì: “yêu nhau một, hại nhau mười”!
Thưa,xin cho hỏi…
… “Giao cho một anh Tá nào đó về “trông coi xây dựng” Ấp Chiến Lược, VỚI MỤC ĐÍCH nắm dân vệ, địa phương quân, các Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng để làm đối trọng CHỐNG LẠI Quân Đội mà ông Diệm đã nghi ngờ…” (Nam Phan)
Đây là câu hỏi “thiệt tình” của tôi, ông bạn nhặt cái “của quý” này ở đâu ra vậy ?
Xin nói thêm về Dụ số 10.
Dụ số 10 sở dĩ được ban hành vào thời thủ tường Trần Văn Hữu (Bảo Đại cho thành lập ngày 6-5-1950), vì lúc đó Việt Nam với danh nghĩa một quốc gia thống nhất cần có luật lệ quy dịnh các tổ chức tôn giáo áp dụng chung cho cả ba miền Nam Trung Bắc. Trước đó, ở Nam kỳ theo chế độ thuộc địa của Pháp các tôn giáo, trừ Thiên Chúa giáo, phải theo quy chế hiệp hội cũa luật nước Pháp, còn ở Trung kỳ và Bắc kỳ là phần đất bảo hộ theo luật riêng của triều đình Huế, không biết thế nào.
Xin nói thêm, việc treo cờ tôn giáo là do chính phủ Ngô Đình Diệm quy định.
Góp ý này dựa vào quyển “Việt Nam Phật Giáo sữ luận III” của Nguyễn Lang, ngoài ra cũng có tham khảo quyển “Đạo Phật và dòng sử Việt” của Đức Nhuận. Tác giả Đức Nhuận viết chi tiết hơn, và tác giả Nguyễn lang viết vắn tắt, có tinh tóm lược.
Theo Việt Nam Phật Giáo sữ luận III, trang 314:
“Đạo Dụ số 10 do do thực dân Pháp ép Bảo Đại ký năm 1950 là một trong những biện pháp họ đặt ra để kiểm soát các hội Phật giáo trong nước.
Đạo Dụ số 10 đặt các tổ chức tôn giáo vào thể chế các hiệp hội thông thường. Điều 7 của đạo Dụ nói rằng chính quyền ” có quyền bác khướt đi không cho lập hội mà không nói rõ lý do”, và giấy phép lập hội đã được cấp cũng có thể bãi đi, nếu chính quyền xét rằng vì “lẽ trị an” cần phải làm như vậy. Điều thứ 12 cho phép bất cứ nhân viên nào của hành pháp và tư pháp cũng có quyền xét hỏi và kiểm soát cơ sở, hồ sơ và nội tình của các tôn giáo. Cấp lãnh đạo các tôn giáo, theo đạo luật này, cũng phải được đại hội đồng bầu cử. Tuy nhiên các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô không bị đặt vào trong thể chế các hiệp hội. Điều thứ 44 của đạo Dụ nói rằng một chế độ đặt biệt cho các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô” sẽ được quy định và ban hành.”
(Ghi chú riêng của tôi: Có lẽ Thiên Chúa giáo ở trên là chỉ Công giáo, và Gia Tô muốn nói đạo Cơ Đốc tức Tin Lành)
Phật giáo tranh đấu nhằm bãi bỏ Dụ số 10 sau vụ thảm sát ở đài phát thanh Huế tối hôm 8-5-1963 mà bắt đầu từ sự phản kháng lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày lễ Phật Đản cũng hôm đó.
Theo sách dẫn trang 346:
Ngày 10-5-1963, các vị lãnh đạo Phật giáo họp tại chùa Từ Đàm gửi lên TT Ngô Đình Diệm 5 nguyện vọng, trong đó nguyện vọng thừ 2 là :
” Yêu cầu Phât giào phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giao Thiên Chúa giáo”
Ngày 15-5-63,tại chùa Từ Đàm, một bản Phụ Đính tuyên ngôn 10-5-1963 được công bố, giải thích rõ nguyện vọng thứ 2 nêu trên :
“Về Đạo Dụ số 10, bản Phụ Đính đề nghị chính quyền rút tất cả các tôn giáo ra khỏi phạm vi ràng buộc của đạo Dụ này, và ban hành môt chế độ đặc biệt cho tất cả các tôn giáo, trong đó có Phật giáo và Gia Tô giáo”.
Trang 367 :
Sau khi TT Quảng Đức tự thiêu ngày 11-6-63, chính quyền nhượng bộ, ký bản Thông Cáo chung giữa Uỷ ban Liên Bộ chính quyền và Ủy ban Liên phái Phật giáo ngày 16-6-63, trong đó điều 2 ghi:
” Tách hiệp hội có tính cách tôn giáo ra khỏi Dụ số 10, và lập một quy chế hợp với tính cách đặc biệt về nhu cầu sinh hoạt của những Hiệp hội, Tôn giáo ấy.” (chép nguyên văn từ Thông cáo chung trang 376)
Nhưng Thông Cáo chung này không được chính quyền thi hành. Ngày 26-6, cố vấn Ngô Đình Nhu họp Phong trào Thanh niện Cộng hòa cho rằng :”Nội dung cũng như hình thức Bản Thông Cáo chung không phù hợp với chủ trương của Thanh niên Cộng hòa, trái với luật lệ hiện hành. (trang 367)
Ngày 11-7-63, Ủy ban Liên bộ gửi cho Ũy ban Liên phái một thư cho biết rằng kết quả điều tra của bộ Nội Vụ thì vụ thảm sát ở Huế ngày 7-5-63 là do Cộng sản gây ra.
Từ đó, phía Phật giaó biểu tình đòi thực thi Thông Cáo chung hai bên đã ký, phía chính quyền đàn áp và bắt giữ tăng ni, sinh viên, học sinh. Phật giáo lại đòi ngừng phong toả các chùa, phóng thích tất cả người bị bắt giữ, và chấm dứt mọi hành động đàn áp, khủng bố, phỉ báng và xuyên tạc (trang 398). Đêm 20-8-1963, Lực lượng Đặc biệt tấn công các chùa lớn trên lãnh thổ miền Nam có liên quan đến cuộc tranh đấu của Phật giáo. Số tăng ni bị bắt lên đến 1400 vị theo tài liệu của chính quyền (trang 406) Chính quyền còn cho bắt giữ khoảng 2000 người tại nhà riêng, như Vũ Hoàng Chương, và nhiều giáo sư, luật sư, sinh viên ở Sài Gòn, Huế (trang 407).
Ngày 1-1-1963 quân đội đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Sau đó Giáo hội Việt Nam Thống nhất được thành lập
Thôi đi độc giả pnn ạ, khi mà người ta đã nhặt những thứ rác rưởi như thế này để làm dữ kiện: “Giao cho một anh Tá nào đó về “trông coi xây dựng” Ấp Chiến Lược, VỚI MỤC ĐÍCH nắm dân vệ, địa phương quân, các Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng để làm đối trọng CHỐNG LẠI Quân Đội mà ông Diệm đã nghi ngờ…” thì họ đã sốt nặng đến mức mê sảng rồi, liệu ông còn muốn tiếp tục nữa chăng?