Trần Văn Tích – Thử bàn luận cùng ông Trần Lâm về cách đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông
23/11/2009 | 2:00 chiều | 51 Comments
Category: Lịch sử
Thẻ: Chính biến 11/11/1960 > Phan Lạc Giang Đông > Phan Lạc Tuyên
Nơi đoạn kết bài viết về “kiêu dân Công giáo” của mình, ông Trần Lâm đề cập đến thiên hồi ký ngắn của ông Phan Lạc Giang Đông, em ruột ông Phan Lạc Tuyên, người tham gia chính biến 11.11.1960 và sau đó cùng viên hạ sĩ quan tài xế đào thoát sang Cao Miên, để vợ con ở lại Việt Nam. Ông Trần Lâm viết: “Sau cuộc đảo chánh hụt năm 1960, tay chân của anh em Ngô Đình Diệm đã xâm phạm tính dục nhiều người vợ của những viên sĩ quan tham gia vào biến cố đó (…)”. Trong một điện thư riêng gửi cho tôi – có đồng gửi cho một vài người khác – ông Trần Lâm cũng nhắc đến thiên hồi ký này kèm lời bình luận, chắc ông chưa quên. Vốn cẩn thận và chu đáo ông Trần Lâm đã đưa lên mạng mấy trang hồi ký liên hệ, nhờ thế tôi mới có dịp lần đầu tiên làm quen với cây bút Phan Lạc Giang Đông (Nhìn lại biến cố 11/11/1960. Nhớ lại và suy nghĩ). Bài viết hôm nay tập trung vào việc bình luận những điều được ông Phan Lạc Giang Đông kể lại.
Trường hợp Phan Lạc Tuyên
Tác giả Phan Lạc Giang Đông không cho biết vào thời điểm xảy ra chính biến 11.11.1960 ông Phan Lạc Tuyên, anh cả của ông, mang cấp bậc gì trong quân đội. Tham khảo Việt sử khảo luận của cố luật sư Hoàng Cơ Thụy, Nhà xuất bản Nam Á (Sudasie), Paris, 2002, cuốn 5, đoạn 201, Cuộc đảo chính ngày 11-11-1960 của binh chủng nhảy dù và Liên minh dân chủ, từ trang 2816 đến trang 2872, được biết ông Phan Lạc Tuyên thuở bấy giờ mang cấp bậc đại uý.
Tác giả Phan Lạc Giang Đông cho biết: “Có lần anh (Phan Lạc Tuyên, TVT chú) được gọi vào trình diện Tổng thống Ngô Đình Diệm rất bất ngờ và sau lần gặp đó, anh chuẩn bị đi làm Tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương. Tôi nghe đâu công việc đang tiến hành.” Chúng ta không rõ lúc bấy giờ ông Phan Lạc Tuyên bao nhiêu tuổi nhưng tôi phỏng đoán ông chỉ chừng trên ba mươi dưới bốn mươi. Và tôi có nhận định sau: là người Bắc di cư (tức không phải dân Trung, đương nhiên), có thể không phải là Công giáo, chẳng là Cần lao, mới chỉ là đại uý, còn đang rất trẻ, ông Tuyên đã được Tổng thống Diệm lưu ý và có ý định đề bạt vào chức vụ cai trị một tỉnh. “Nhìn lại và suy nghĩ”, tôi dẫu là kẻ bàng quan, cũng mừng cho ông và cho gia đình, nhất là vợ con ông. Thế nhưng bỗng dưng ông Phan Lạc Tuyên tham gia đảo chính mà không hề cho đại gia đình và tiểu gia đình biết.
Như vậy, đọc ông Phan Lạc Giang Đông (và nếu thông tin ông đưa ra là đúng), tôi tìm thấy một dữ kiện chứng tỏ rằng Tổng thống Ngô Đình Diệm, ít nhất qua trường hợp đại uý Phan Lạc Tuyên, không phải chỉ đề cử quân nhân viên chức vào các chức vụ quan trọng theo ba tiêu chuẩn dân Trung, Công giáo, Cần lao.
Thảm kịch Bùi Thị Nga
Bà Bùi Thị Nga là phu nhân của đại uý Phan Lạc Tuyên. Sau khi chồng đào thoát sang Cao Miên, bà bị cơ quan an ninh quân đội bắt giữ và vào dịp đó, bị xâm phạm tiết hạnh.
Khi được phóng thích, bà về lại nhà chồng và ngang nhiên ăn nằm cùng một kẻ lạ mặt, “một người mặc thường phục, cao lớn và dáng là quân nhân, đi xe hơi đen, hoặc xe Jeep” (Phan Lạc Giang Đông, tlđd, tr. 214). Nhận định về thảm cảnh của chị dâu, tác giả Phan Lạc Giang Đông viết: “Chị Tuyên là người có nhan sắc, bởi vậy, chị đã bị nhiều kẻ lợi dụng, nhất là những kẻ có quyền lực, vả lại, trong hoàn cảnh kinh tế khốn quẫn đến cực cực (sic), toàn bộ gia đình bị cô lập, ngay cả cái đám họ hàng Phan Lạc đều xa lánh, thử hỏi, việc chị sa ngã cũng không đáng trách.” Như thế, theo nhân chứng là người em chồng, đoạn đời bất hạnh của bà Nga bắt đầu khi bà thất thân trong tù để rồi sau đó, bà sống phóng túng vì bị nhiều kẻ có quyền lực lợi dụng. Tiếp tục truy tầm những thành phần “chủ trương báo thù bỉ ổi” (chữ của đại tá Trần Ngọc Nhuận), chúng ta được ông Phan Lạc Giang Đông đưa đến gặp ông Vi Bằng năm 1988 (tr. 216). Ông Vi Bằng cho biết: “đã có những người ‘anh em văn nghệ’ của anh Tuyên, vì chị Tuyên là người có nhan sắc – nên họ đã lợi dụng và làm nhiều việc rất nhờm tởm; mà một trong những số đó là những V.Q., những tên vô liêm sỉ khác nữa.” Thử liệt kê theo ông Phan Lạc Giang Đông chúng ta có một gã mặc thường phục, chúng ta có một kẻ nào đó tên Đ., chúng ta có những kẻ có quyền lực, chúng ta có những người “anh em văn nghệ”, chúng ta có những V.Q., chúng ta có những tên vô liêm sỉ khác nữa. Nhưng tuyệt nhiên chúng ta không hề thấy những tên sĩ quan an ninh quân đội bị tố cáo đích danh, đích thân, đích thị, đích thực, đích xác. Trái lại, chúng ta gặp một danh sách cá nhân hoặc tập thể chung chung, lồng trong những cung cách dùng từ bí ẩn. Nhưng ông Trần Lâm không hề thấy cái mớ bòng bong đó. Ông khẳng định đó là những “tay chân của anh em Ngô Đình Diệm”.
Các bà phu nhân khác
Những người lãnh đạo cuộc đảo chánh 11.11.1960 về phía quân sự là đại tá Nguyễn Chánh Thi, trung tá Nguyễn Triệu Hồng và trung tá Vương Văn Đông; về phía dân sự có luật sư Hoàng Cơ Thụy, được xem như “quân sư” của nhóm đảo chánh. Ngoài ra còn nhiều sĩ quan khác, chẳng hạn thiếu tá Phan Trọng Chinh, thiếu tá Phạm Văn Liễu v.v… Khi đảo chánh thất bại, một số sĩ quan như đại tá Thi, trung tá Đông, thiếu tá Liễu bắt trung tướng Thái Quang Hoàng làm con tin và dùng phi cơ Dakota C-47 trốn sang Cao Miên.
Vợ con của họ kẹt lại Việt Nam. Tôi chưa đuợc đọc tài liệu nào nói về “chủ trương báo thù bỉ ổi” đối với họ. Nếu ông Trần Lâm biết những tài liệu này, xin ông vui lòng chia sẻ kiến thức với tôi; tôi xin cám ơn trước.
Tướng Nguyễn Chánh Thi sang Cao Miên, được cộng sản đến thuyết phục theo họ, nhưng ông cương quyết từ chối. Có lúc họ còn hứa với ông là nếu ông đồng ý thì họ sẽ đem vợ con ông ra ngoại quốc. Nhưng ông chỉ trả lời vắn tắt là ông chưa có ý đi đâu cả và cũng không nghĩ gì về việc đem gia đình trốn khỏi Việt Nam (Nguyễn Chánh Thi – Việt Nam, một trời tâm sự, dẫn theo Hoàng Cơ Thụy, tlđd, tr. 2868). Phần luật sư Hoàng Cơ Thụy thì được CIA dùng bao bố ngụy trang thành “tín hàm” xách lên phi cơ nhà binh mang ra khỏi Việt Nam. Ngay trước đó ít hôm, luật sư Thụy liều lĩnh lén lút về thăm nhà thì chỉ gặp hai cô con gái và hai cậu con trai giữa, riêng bà luật sư thì dẫn hai con trai đầu và út lẩn trốn vào Chợ Lớn. Tôi không hề được nghe hay được đọc về những hành vi khủng bố, kỳ thị đối với bà luật sư cùng số con trai con gái đông đảo của ông bà. Họ tiếp tục cư ngụ trong ngôi biệt thự khang trang toạ lạc tại số 84 đường Bà Huyện Thanh Quan, ngay giữa thủ đô. Các con trai và con gái học hành đến nơi đến chốn, có người trở thành sĩ quan và hy sinh tại Hạ Lào. Xin ghi chú thêm là hai vợ chồng chúng tôi, trong cuộc sống lưu vong, đã có cơ may quen biết luật sư Hoàng Cơ Thụy và được ông nhận là nghĩa đệ nghĩa muội. Chúng tôi cũng từng được hân hạnh diện kiến ông bà trung tá Vương Văn Đông ở Paris trong một dịp sinh hoạt văn học.
Thế cho nên tôi vừa xót xa đau buồn vừa phẫn hận uất ức khi đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông để được nghe kể về cuộc sống hậu đảo chính của gia đình ông, nó cứ y như trong chế độ cộng sản. Nhưng tại sao lại chỉ có một mình gia đình ông lâm cảnh oan khiên nghiệt ngả, ít nhất theo như tôi được đọc, được nghe, được thấy? Vậy nên tôi xin lặp lại đây lời thỉnh cầu gửi ông Trần Lâm, mong ông nếu có những tài liệu khác liên quan đến sự kiện đau buồn tương tự mà nạn nhân không thuộc dòng họ Phan Lạc thì xin ông vui lòng cho tôi được tham khảo cùng.
Em ông Phan Lạc Tuyên không cho hay ông lãnh nhiệm vụ gì trong biến cố 11.11.1960. Tìm đỏ con mắt trong mấy chục trang giấy khổ lớn chữ nhỏ của cuốn Việt sử khảo luận mới thấy ông Tuyên xuất hiện qua một câu duy nhất nơi trang 2852: “Cho nên Thi (đại tá Nguyễn Chánh Thi, TVT chú) phái đại uý Phan Lạc Tuyên đi “mời” bác sĩ Phan Quang Đán đến và nói: (…)”. Không phải là lãnh đạo chính biến mà chỉ là cấp thừa hành, sao riêng một mình gia đình đại uý Phan Lạc Tuyên phải chịu cảnh oan trái như vậy?
Vào dưỡng trí viện Biên Hoà
Năm 1971, vì chứng bệnh tâm trí của bà Bùi Thị Nga càng ngày càng nặng nên ông cụ nhạc gia của bà và ông Phan Lạc Giang Đông đưa bà lên dưỡng trí viện Biên Hoà xin nhập viện nhưng bị từ chối. Phải làm đơn gửi đi gửi lại vài nơi khác, cuối cùng bà Nga mới được nhận điều trị tĩnh tại. Đọc hồi ký giữa các hàng chữ, tôi lại cảm thấy bàng bạc bầu khí quyển khủng bố, kỳ thị, cách biệt, ly gián bao trùm lên gia đình người thiếu phụ bất hạnh. Cảm giác này càng nặng nề, căng thẳng đến độ ngột ngạt, ngộp thở vì tôi biết rõ bộ máy công quyền y tế quốc gia. Khoảng cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 thế kỷ trước, giám đốc dưỡng trí viện Biên Hoà là bác sĩ Tô Dương Hiệp, con trai trưởng nhà văn Bình Nguyên Lộc. Bác sĩ thường trú dưỡng trí viện là bác sĩ Cao Văn Lê. Cả hai đều tốt nghiệp năm 1962, cùng khoá với tôi. Qua bảy năm ròng cùng học chung thầy chung lớp, chúng tôi biết nhau khá rõ. Tôi không thể hiểu nổi tại sao hai anh bạn đồng nghiệp đồng khoá này lại có thể từ chối không nhận một nữ bệnh nhân mắc bệnh tâm thần trầm trọng. (Bác sĩ Tô Dương Hiệp mất trước 1975 vì ung thư máu, bác sĩ Cao Văn Lê chết trong ngục tù cộng sản.)
Dưới chế độ quốc gia, khi một người dân đau ốm, họ có thể và có quyền đến khu khám ngoại chẩn của các bệnh viện thích nghi tại Sàigòn (Chợ Rẫy nếu là ngoại khoa và/hoặc nội khoa, Chợ Quán nếu là truyền nhiễm, Từ Dũ nếu là sản phụ khoa v.v…). Khám ngoại chẩn đôi khi do bác sĩ phụ trách nhưng thông thường thì do anh chị em sinh viên y khoa chúng tôi (năm thứ năm và năm thứ sáu) cáng đáng. Làm việc rất cực nhưng cũng rất vui, tối tăm mày mặt mà không biết mệt. Chúng tôi chỉ biết bệnh nhân, chúng tôi hoàn toàn không cần biết lý lịch, gốc gác. Trường hợp bệnh nhân mang theo được giấy giới thiệu nhập viện của một đàn anh đàn chị có phòng mạch tư thì alêhấp, yêu cầu y tá và hành chánh bố trí giường bệnh ngay. Chúng tôi chưa hề gặp trường hợp nào có chỉ thị của ai đó xía vô chuyện tiếp bệnh nhận bệnh và cũng không thể tưởng tượng được là có thể có chuyện “trên” yêu cầu này nọ.
Ông thân sinh nhị vị Phan Lạc Tuyên – Phan Lạc Giang Đông là một nhân sĩ, một thức giả. Bản thân ông Phan Lạc Giang Đông là một nhà văn quảng giao. Tại sao không ai nghĩ đến chuyện đưa bà Bùi Thị Nga đến khám bệnh tại một phòng mạch tư và xin giấy giới thiệu vào dưỡng trí viện Biên Hoà? Thay vì làm vậy, cụ Phan Lạc senior lại mấy lần viết đơn gửi dưỡng trí viện và các nơi khác.
Cháu Phan Quốc Hưng
Cháu Phan Quốc Hưng là con út nhị vị Phan Lạc Tuyên – Bùi Thị Nga khi mẹ cháu bị an ninh quân đội câu thúc thân thể. Cháu lên sáu tuổi và cùng đi tù với mẹ. Tác giả Phan Lạc Giang Đông cho rằng chất căm hờn đã thấm vào dòng máu của cháu. Phần ông Trần Lâm thì coi đây là một tội ác trời không dung đất không tha.
Tôi nhìn vấn đề có khác. Đối với đứa bé sáu tuổi, vũ trụ chủ yếu chỉ qui vào hai người: cha và mẹ. Nay bỗng nhiên một nửa vũ trụ biến mất, nó chỉ còn lại nửa kia là mẹ. Nó cần mẹ hơn bao giờ hết và nó muốn gần mẹ hơn bao giờ hết. Nó muốn được mẹ bón cơm cho ăn, nó muốn cùng mẹ tỉ tê trò chuyện, nó muốn ngủ vùi trong suối tóc của mẹ, nó muốn sờ tí mẹ. Nó cần mẹ bế bồng, vuốt ve, thay áo, mặc quần, tắm rửa, chải tóc, thoa gãi. Càng bé càng thường xuyên lo sợ mất mẹ mỗi khi không nghe tiếng nói của mẹ trong một thời gian ngắn. Tóm lại, bố mẹ đi vắng lâu ngày gây cho trẻ cảm giác mất an toàn. Do đó tâm lý học không ngần ngại dùng khái niệm dyade để mô tả mối quan hệ chặt chẽ mẹ-con. Ở các quốc gia Tây phương ngày nay, có lẽ cháu bé sáu tuổi không phải đi tù cùng mẹ. Nhưng năm 1960 ở miền nam nước Việt, tôi nghĩ giải pháp cho phép bà mẹ khốn khổ mang theo đứa con út thân thương vào nhà tạm giam là một giải pháp nhân đạo. Nhìn sự việc một cách nhân bản như vậy, tôi không nghĩ rằng có ai đó đã kể cho đứa bé đáng thương là nó đang đi tù vì chắc chẳng ai đành đoạn hành hạ nó thêm một bước như thế, nhất là một khi nó chưa cần vận dụng trí khôn để hiểu nghĩa chữ “tù”.
Hoa Sơn luận kiếm
Ông Trần Lâm xuất hiện trên talawas lần này là lần thứ ba, nhưng chỉ qua hai đề tài: đại úy “ma” Scott và “kiêu dân Công giáo”. Cả hai đề tài đều cùng thuộc vào công trình biên soạn luận văn tốt nghiệp đại học của ông. Ông nuôi hoài bão sẽ đạt được vào năm 2013 “thành quả hàn lâm” mà ông Cao Huy Thuần từng đạt được vào cuối thập niên 60 của thế kỷ 20. Từ đây đến đó, ông phải lo luyện võ ôn văn nhằm có đủ tư cách lên đỉnh Hoa Sơn luận kiếm với quần hùng. Khi anh theo học đại học hay tốt nghiệp đại học thì quả là anh có thể được gọi hay được xem là académiste, Akademiker mà trong cả hai ngôn ngữ Pháp, Đức chữ này cũng hàm nghĩa hàn lâm. Tôi không thật chắc trong Anh ngữ có như thế không. Nhưng tự xem luận văn tốt nghiệp đại học của mình là một thành quả hàn lâm thì tôi nghĩ dường như có điều ra làm sao ấy. Tôi e chính bản thân ông Cao Huy Thuần cũng chẳng muốn sử dùng tính từ hàn lâm cho cái thèse của mình. Tôi cũng thấy là lạ khi ông Trần Lâm mệnh danh công việc trình luận văn tốt nghiệp là chuyện Hoa Sơn luận kiếm với quần hùng. Ai sẽ là Tây Độc, ai sẽ là Đông Tà trong ngày trọng đại vào năm 2013 sắp tới? Tôi vốn thuộc thành phần “Tây học”, hiểu theo nghĩa đen; vì thế tôi đoán chắc quá trình biên soạn luận án và thủ tục bảo vệ luận án ở các quốc gia thuộc hệ ngôn ngữ Anh-Mỹ hẳn hoàn toàn khác với sự hiểu biết của cá nhân tôi.
Lời chót
Qua những dòng này tôi chỉ muốn đọc mấy trang hồi ký của ông Phan Lạc Giang Đông theo cách riêng tư và khi cần thì thử so sánh với cách đọc của tác giả “Kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm”. Người đọc bắt buộc phải và nhất định đã bắt sóng tác phẩm như một thực thể nghệ thuật theo cảm thụ và tâm cảnh chủ quan, nhưng cần tránh diễn dịch, suy luận theo định kiến, thiên kiến. Nhìn chung, theo tôi, hồi ký Phan Lạc Giang Đông cung cấp những dữ kiện có thể đáng tin. Tuy nhiên đôi chỗ các dữ kiện dẫu đáng tin mà lại bất thường.
Trong số những người từng sống qua các giai đoạn tao loạn của miền Nam trước đây có rất nhiều người hiện còn tại thế. Tôi ước ao sẽ có sự tiếp tay của những chứng nhân các vụ bạo hành tính dục hàng loạt, các vụ hiếp dâm cưỡng dâm tập thể xảy ra sau ngày 11.11.1960 theo “chủ trương báo thù bỉ ổi” qua những “tay chân của anh em Ngô Đình Diệm” nhằm cung cấp thêm tài liệu cho công trình nghiên cứu của ông Trần Lâm. Tất nhiên là những chứng nhân đáng tin cậy. Phải chăng các danh tính Chính Đạo, Nguyễn Mạnh Quang, Phạm Xuân Tích, Nguyễn Kiên Hùng; những tác giả chủ biên hay cộng tác nhằm hoàn thành “Nhìn lại biến cố 11/11/1960” mà thành quả trí tuệ không được ông Trần Lâm đưa lên mạng có thể là những chứng nhân quan trọng đầu tiên?
Bình luận
51 Comments (bài “Trần Văn Tích – Thử bàn luận cùng ông Trần Lâm về cách đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông”)
1 2 3 4 Trang sau »
@ PNN
Xin được trả lời như sau.
1/ Nếu bàn về vai trò của Phật giáo trong lịch sử VN mà chỉ muốn nói đến giai đoạn 1000 năm Bắc thuộc thì có lẽ hơi thiếu sót. Sao lại không đề cập đến vai trò của tôn giáo này và tín đồ của nó trong việc giữ nền độc lập cho và nới rộng bờ cõi của nước Đại Việt trong giai đoạn sau đó? Nhưng muốn làm việc này một cách tường tận thì ít nhất phải biết đọc chữ Hán và chữ Nôm, hai loại chữ tôi không bao giờ được học. Do đó nên phải nhường việc này cho người khác.
2/ Ngoài lời dẫn nhập, phần ghi lại diễn tiến biến cố 1960 và phụ bản do người chủ biên Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu viết, cuốn “Nhìn Lại Biến Cố 11/11/1960” còn có 4 bài viết khác nhau, hoàn toàn độc lập với nhau:
a/ Nguyễn Mạnh Quang viết về Nguyễn Chánh Thi,
b/ Phạm Xuân Tích tường thuật cuộc phỏng vấn ông đã tiến hành với Vương Văn Đông,
c/ Nguyễn Kiên Hùng – một sĩ quan TQLC đã tham gia vào cuộc đảo chánh nói trên – trả lời phỏng vấn của nguyệt san “Quốc Dân”
và, cuối cùng,
d/ Phan Lạc Giang Đông kể lại những gì đã xảy ra cho gia đình ông sau khi cuộc đảo chánh 11/1960 thất bại.
Bài viết của NMQuang là tài liệu hạng hai.
Phan Lạc Giang Đông không tham gia vào cuộc đảo chánh 11/1960, nhưng trọng tâm của hồi ký ông viết cũng không phải là cuộc đảo chánh này, mà những gì đã xảy ra cho gia đình ông sau khi nó thất bại.
Do đó, hồi ký của PLGĐông là sử liệu hạng nhất.
Tôi tin những gì PLGĐông viết, vì nó đã được Trần Ngọc Nhuận – một sĩ quan tình báo QLVNCH và Thượng nghị sĩ trong liên danh Nguyễn Gia Hiến – xác nhận ở những điểm quan trọng nhất.
Sự khả tín của Phan Lạc Giang Đông là việc tối quan trọng đối với tôi, vì tôi đã tham khảo và dựa vào bài mà ông là tác giả.
Còn việc của ông Hào hay ông Quang nào đó không phải là việc tôi phải bận tâm đến, vì tôi không dùng những gì do ông ấy viết.
3/ Chính sách trả thù của chế độ Ngô Đình Diệm đối với thân nhân nhóm sĩ quan tham gia cuộc đảo chánh 1960 chỉ được tiến hành tại Miền Nam sau khi Nguyễn Chánh Thi đã rời khỏi vùng đất này. Vậy, chứng từ của Trần Ngọc Nhuận và Phan Lạc Giang Đông, hai người có mặt tại Miền Nam khi chính sách nói trên được thi hành, là hai chứng từ tương đối đáng tin nhất. Do đó nên tôi đã dựa vào chúng.
4/ Chính vì lúc nào cũng hướng đến một Việt Nam mới trong một tương lai hậu CS, nên tôi đã cố gắng tìm hiểu lịch sử chế độ Ngô Đình Diệm và chia sẻ những gì tôi biết được với bạn đọc bốn phương. Tôi không muốn thấy dân tộc Việt Nam rơi vào cảnh tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa sau khi đã thoát khỏi chế độ thiểu số trị của người CS. (Tôi có hứa với ĐG 1mitee một bài phân tích tương quan giữa đa số và thiểu số dưới thể chế dân chủ pháp trị, vậy không nên vội chất vấn tôi khi tôi đang làm điều đó.)
Tôi rất đắn đo khi phải viết về chuyện cá nhân, nhất là ông Phan Lạc Giang Đông đã ra người thiên cổ. Nếu như ông ấy còn sống, tôi không ngại gì trong việc nhắc lại chuyện xưa, luôn thể nhắc ông ấy cả thời điểm lẫn nơi chốn mà tôi là người nghe được từ miệng ông Phan Lạc “Em”, cả về chuyện “trách nhiệm má hồng” lẫn chuyện “không thể chấp nhận được” giữa anh chồng và em dâu(?)mà ông Phùng nghe “loáng thoáng”. Sự thật ra sao chỉ có họ biết với nhau. Còn chuyện viết lách tôi không đánh giá cao những gì ông em viết.
Tôi xin cám ơn nhị vị pnn và Phùng Tường Vân đã cung cấp thông tin về ông Nguyễn Mạnh Quang mà lần đầu tiên tôi được biết đến danh tính qua tài liệu do ông Trần Lâm đưa lên mạng kèm theo bài viết của mình. Cá nhân tôi xem thông tin của nhị vị rất quí giá cho sự tìm học của tôi.
PNN viết:
“Theo sách này, thì Phan Lạc Giang Đông không phải là nhân vật tham gia trong nhóm ĐẢO CHÍNH, và các tác giả trong cuốn sách này lại càng không phải”.
Tôi tình cờ gặp biết anh Phan Lạc Giang Đông một lần vào cuối thời ông Thiệu, sau chế độ ông Diệm trên 10 năm, khi anh đi chung với một ngươì bạn tôi ngoài phố. Điều tôi còn nhớ trong lần gặp rất ngắn đó là anh Giang Đông dáng người tầm thước, vững chắc, không thấy cười, và nói năng rất chân chất để tin được anh ấy không bịa hay thêu dệt chuyện, dù là anh làm thơ, viết văn. Thường người ta (hay người VN) giấu kín những thứ không vui, không tốt hay xấu trong gia đình mình, nhưng có lẽ vì chân chất quá, anh ấy mới kể lại hết chuyện đau buốn của nguời chị dâu. Còn nỗi oán hận chế độ ông Diệm thì chắc không còn ở anh ấy vì qua đã quá lâu.
Cuốn “A Death in November: America in Vietnam, 1963” của Ellen J. Hammmer, có lần tôi giới thiệu, có lẽ là sử liệu đáng tin về những biến cố vào cuối thời ông Diệm (Việt dịch: “Bàn tay Hoa kỳ- Cái chết ông Diệm”, năm 1992, in ở Mỹ). Tác giả là người có nhiều cảm tình với chế độ hay gia đình ông Diệm, theo nhận xét của nhiều nhà phê bình Mỹ, và độc giả tinh ý cũng nhận thấy thế khi đọc quyển sách này. Nhiều tác giả khi viết lại giai đoạn lịch sử đó thường trích dẫn sách trên, như Đỗ Mậu, Lữ Giang, Lê Xuân Khoa, và mỗi người sử dụng một phần sử liệu để rút ra nhận xét đôi khi khác nhau theo dụng ý riêng.
Theo sách dẫn trên, những người trực tiếp đảo chính ông Diệm năm 1963 như PNN nhấn mạnh, họ chống đối ông Diệm theo cách khác với những người tranh đấu cho Phật giáo, những đảng viên Đại Việt, Việt Quốc (ở miền Trung), có khi vì thù hận cá nhân (như Đại Việt đã bị tàn sát), nhưng cũng có khi vì mục đích chống cộng. Lý do sau (chống cộng) không mới, nhưng nhiều người không nhận thấy. Tướng Dương Văn Minh có thể ghét anh em ông Diệm vì chính sách “vắt chanh bỏ vỏ”, nhưng tướng Trần Văn Đôn và Trần Thiện Khiêm lúc đó biết rõ anh em ông Diệm đang tìm cách liên lạc với miền Bắc, tiến tới hiệp thương (để dụ miền Bắc đừng gây chiến), muốn biến miền Nam thành trung lập sau khi thấy Lào đã trung lập (1962) và Miên cũng vậy, muốn xa cách dần Mỹ vì chính sách khác nhau, và vì Mỹ gây áp lực đòi cải tổ chính phủ, hành chính, đòi giải quyết vấn đề Phật giáo đang bị thế giới chú mục vào, gây tiếng xấu lây cho cả Mỹ (LHQ cử phái đoàn đến VN điều tra, các nước theo Phật giáo ở châu Á và Ấn Độ đều chỉ trích vụ Phật giáo). Mỹ ủng hộ cuộc đảo chính, dù Mỹ không tổ chức, để nhằm loại ông Nhu đã tấn công chùa chiền (ông Nhu rất chống Mỹ, hay không tin Mỹ, có lẽ do ảnh hưởng văn hoá Pháp quá sâu đậm), và lúc đầu Mỹ còn có ý giữ lại ông Diệm.
Đại tá Thi chỉ có thể nói chuyện vợ con bị cướp mất ở chỗ riêng tư với Trung tướng Trần Văn Đôn là sĩ quan cấp cao hơn, có thể quen biết nhau, chứ không thể viết ra trong hồi ký sau này, hiểu được là vì vấn đề sĩ diện.
Góp ý này trong bài của ông Trần Văn Tích, nên tôi xin nói thêm với ông Tích chuyện bên lề. Tôi có biết anh Tô Hòa Dương, con nhà văn Bình Nguyên Lộc, là em bác sĩ Tô Dương Hiệp. Anh Dương (gầy, để râu mũi) dạy toán trung học.
Về nhân vật ấy.
“Trong cuốn “Nhìn lại biến cố 11/11/1960″, do Chánh Đạo (Vũ Ngự Chiêu) chủ biên, có bài của ông Nguyễn Mạnh Quang, một cây bút chủ lực của Giao Điểm,” (pnn)
Thông Tin bổ túc:
Nguyễn Mạnh Quang, thường được Trần Chung Ngọc của Nhóm Giao Điểm gọi là “Giáo Sư Sử Học Nguyễn Mạnh Quang”, riêng về việc “phê phán” chế độ Ngô Đình Diệm ông ta đã viết và cho xuất bản “Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hoà Toàn Thư”, ông ta cũng có một thái độ phê phán Vatican cực kỳ quyết liệt, hung dữ. Nói chung, lập trường đối với chế độ Ngô Đình Diệm và Vatican (tôi gọi thế cho gọn, mong đừng ai bắt bẻ) rất gần gũi với lập trường của ông Trần Lâm mà độc giả gặp trên talawas. Tôi chỉ cung cấp những thông tin bổ túc chứ tuyệt nhiên không có ý tham dự vào câu chuyện ở đây.
Trong cuốn “Nhìn lại biến cố 11/11/1960”, do Chánh Đạo (Vũ Ngự Chiêu) chủ biên, có bài của ông Nguyễn Mạnh Quang, một cây bút chủ lực của Giao Điểm, phê phán CG và anh em ông Diệm rất hăng say và chuyên nghiệp. Chính vì thế, tôi không lấy lạ gì khi bác Trần Lâm có luận điệu tìm và vạch ra các lỗi lầm rất bé của anh em ông Diệm, mặc dù các lỗi lầm này đôi khi hơi tếu, điển hình là bài viết ông Trần Lâm cho đăng ở talawas.
Ông Trần Lâm trích dẫn đông tây để chỉ trích phía CG; tuy nhiên, tôi đang chờ ông Trần Lâm nghiên cứu thêm trong 1000 năm bị Tàu đô hộ thì Phật giáo đóng vai trò gì mà để bị cai trị đến 1000 năm vậy?
Theo bài viết, chính quyền Đệ Nhất Cộng hòa dung túng cho nhân viên an ninh hãm hại các bà vợ của các quân nhân tham gia đảo chánh; tôi thắc mắc là không biết trong hồi ký ông TT Thi có kể chuyện này không vậy? ông ta là nhân vật quan trọng thì khi viết hồi ký phải nói chứ?
Bác Trần Lâm giải nghĩa thế nào là tài liệu hạng hai tài liệu hạng nhất. Vậy theo định nghĩa của bác, cuốn Biến cố 11/11/1963 đúng là tài liệu hạng hai rồi phải không bác? Theo sách này, thì Phan Lạc Giang Đông không phải là nhân vât tham gia trong nhóm ĐẢO CHÍNH, và các các giả trong cuốn sách này lại càng không phải.
Một vài tài liệu khác trích ra từ sách Pháp, tiếc rằng tôi sinh ra sau 75 nên chẳng có cơ hội học thêm tiếng Tây. Thời chúng tôi phải học tiếng Nga, và tiếng Anh sau này.
Kết luận, các chú bác khác ráng chờ thêm nhiều bài phê phán CGVN và chính quyền đệ nhất CH, vì từ đây đến 2013 không xa lắm. Đến đây, tôi, một kẻ hậu bối mới hiểu tại sao có ngày 30 tháng 4, tại sao dân Việt lẹt đẹt đi sau thiên hạ, và càng hiểu tại sao lại bị Tàu đô hộ 1000 năm. Dân Việt có tính tình rất cục bộ và thiếu thông minh, tối ngày vạch lá tìm các con sâu bé ti để lấy làm hãnh diện.
Chúc các bác thật vui.
Để cho bạn đọc bốn phương có thể đối chiếu và phê phán những lời phát biểu về sự trả thù nói trên của chế độ Ngô Đình Diệm một cách thuận tiện, tôi xin trích đăng 3 đoạn của 3 người đã lên tiếng về vụ này theo thứ tự thời gian: Trần Ngọc Nhuận, tôi và Trần Văn Tích.
Trần Ngọc Nhuận, cựu sĩ quan tình báo QLVNCH và cựu TNS liên danh Nguyễn Gia Hiến:
“Thân nhân, vợ con của các Sĩ quan cầm đầu đảo chánh được các cơ quan an ninh chiếu cố đặc biệt. Tất cả các phu nhân sĩ quan thuộc phe đảo chánh đều bị bắt giữ ngoại trừ trường hợp vợ của Trung Tá Đông có quốc tịch Pháp được Tòa Đại Sứ Pháp che chở và vợ của Thiếu Tá Lợi trốn được sang Cao Miên với chồng.
Một chính sách cực kỳ thâm độc và tàn ác đã được các nhân viên an ninh áp dụng cho các bà vợ vô tội này.
Họ bị bao vây kinh tế như trường hợp chị Phan Lạc Tuyên mà tôi đã có dịp viết trong phần đầu và trong bài ‘Những anh hùng không tên tuổi’. (Xin xem phụ lục)
Dã man nhất là họ đã trở nên nạn nhân của những cuộc trả thù bỉ ổi. Họ đã bị cho thuốc kích thích hoặc đầy, đọa thể xác để cuối cùng phải thất tiết với chồng và, mấy năm sau, không còn được xum họp hạnh phúc với chồng con nữa.
Tôi viết lên mấy dòng này để bào chữa cho các bà chị, các bà vợ bạn bè đã bị tủi nhục mà không được ai hiểu cho hoàn cảnh bị xô đẩy và bắt buộc của họ.”
Trần Lâm:
“Sau cuộc đảo chánh hụt năm 1960, tay chân của anh em Ngô Đình Diệm đã xâm phạm tính dục nhiều người vợ của những viên sĩ quan tham gia vào biến cố đó và, ít nhất là trong trường hợp của Phan Lạc Tuyên, đã bao vây kinh tế cha mẹ, khiến cho con cái họ bị thất học.”
Trần Văn Tích:
“Tôi có đọc các trang thuộc công trình biên soạn của đại tá Trần Ngọc Nhuận do ông Trần Lâm đưa lên mạng nhưng cũng không tìm được bằng chứng về những vụ hiếp dâm tập thể, cưỡng bức hàng loạt mà tội phạm là các sĩ quan an ninh quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Không rõ ông Trần Lâm – và quí độc giả talawas – có nhận thấy khiá cạnh đáng tiếc này không : khi có người tố cáo chuyện xâm phạm tính dục tập thể thì chẳng những các sĩ quan liên hệ bị lên án mà một số phụ nữ bị xem là nạn nhân cũng bị xúc phạm danh dự.Như thế phải chăng vô hình trung đã có sự gây thương tổn đến thanh danh gia đình các sĩ quan, các chính trị gia đào thoát được ra nước ngoài và những vị kẹt lại – để rồi sẽ bị tuyên án – trong khi trong thực tế chúng ta không tìm ra được bằng chứng nào cụ thể cả?”
Tôi căn cứ vào TNNhuận và PLGĐông để viết những gì tôi viết, vì chứng từ của 2 vị cựu sĩ quan QLVNCH này đã tăng bổ cho nhau.
BS Tích thì hình như còn e dè.
Vậy, quyền phán xét tối hậu phải được trao cho bạn đọc bốn phương của DĐ talawas.
Ông Phùng Tường Vân viết:
“Trách nhiệm Má hồng!”
Về câu nói của Nguyễn Chánh Thi “người ta đã cướp mất vợ của tôi”, cứ cho là ông Thi sử dụng ngôn từ đúng theo ý ông ấy nghĩ. Cướp là hành vi chiếm đoạt thô bạo, thường bằng bạo lực, đôi khi dùng cả vũ khí. Cho nên đây không phải là tự nguyện của “má hồng”.
Ông Vân: “tôi nói rằng: Đây là trách nhiệm má hồng, không phải trách nhiệm lịch sử. Cái gì cũng đổ lên đầu lịch sử thì lịch sử… bỏ mẹ!”
Nếu luật sư mà biện hộ kiểu này thì chỉ chết bị cáo.
Lịch sử là tích hợp những sự thật đã xảy ra, không phải cứ đổ dấy hay tạo chuyện không có thật mà thành lịch sử. Chính vì vậy mà nhiều vấn đề cần cần được làm sáng tỏ một cách cẩn trọng, không phải trốn chạy, che giấu sự thật bằng lời nói vu vơ, lấp lửng, chỉ cốt gây nghi ngờ, để cho “chưa chắc là đúng”, mà không soi sáng được những gì thuộc lịch sử.
Về trường hợp anh em nhà Phan Lạc (2)
“Bà Bùi Thị Nga là phu nhân của đại uý Phan Lạc Tuyên. Sau khi chồng đào thoát sang Cao Miên, bà bị cơ quan an ninh quân đội bắt giữ và vào dịp đó, bị xâm phạm tiết hạnh.
Khi được phóng thích, bà về lại nhà chồng và ngang nhiên ăn nằm cùng một kẻ lạ mặt, “một người mặc thường phục, cao lớn và dáng là quân nhân, đi xe hơi đen, hoặc xe Jeep” (Phan Lạc Giang Đông, tlđd, ” (Trích lại theo TVT)
Đề cập đến những vấn đề nghiêm trọng đến như vậy mà hoàn toàn tin cậy vào những “sử liệu” bá vơ đến như thế thì tôi cho là một thái độ cực kỳ khinh xuất, vô trách nhiệm đến mức hàm hồ lăng mạ; riêng về trường hợp hai anh em nhà Phan Lạc, như tôi đã phát biểu trong một phản hồi trước, nay xin được nhắc lại, có thêm một vài hàng, đã rất đắn đo trước đây không muốn viết: Sau 30/4/1975 người anh (PLT) trở về như một huân thần của chế độ mới thì người em (PLGĐ) là một thi sĩ “Tại ngục vịnh thiền”, tôi có được nghe loáng thoáng chuyện này, chuyện khác trong tương quan giữa hai người… Và suy đi nghĩ lại tôi thấy thật thương cảm cho những phận má hồng, ở đâu và mọi thời họ thường vừa là những “mắt bão” vừa là những nạn nhân, tả tơi trong những cơn giông bão đã thổi qua trên đất nước ta trong suốt nửa thế kỷ qua.
Trước hết, tôi xin lỗi ông Trần Lâm vì đã tưởng nhầm chuyện Hoa Sơn luận kiếm là thủ tục trình luận án tốt nghiệp đại học của ông. Tôi không có tính cãi chày cãi cối nên chỉ xin nói thêm là ông Trần Lâm mấy lần nhắc đến niên đại 2013 đồng thời ông nêu cái thèse của ông Cao Huy Thuần nên tôi, do liên hội, suy đoán nhầm lẫn là ông cũng đang soạn thèse. Vậy tôi xin nhắc lại lời xin lỗi và mong ông Trần Lâm vui lòng nhận lời xin lỗi của tôi.
Tôi có đọc các trang thuộc công trình biên soạn của đại tá Trần Ngọc Nhuận do ông Trần Lâm đưa lên mạng nhưng cũng không tìm được bằng chứng về những vụ hiếp dâm tập thể, cưỡng bức hàng loạt mà tội phạm là các sĩ quan an ninh quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Không rõ ông Trần Lâm – và quí độc giả talawas – có nhận thấy khiá cạnh đáng tiếc này không : khi có người tố cáo chuyện xâm phạm tính dục tập thể thì chẳng những các sĩ quan liên hệ bị lên án mà một số phụ nữ bị xem là nạn nhân cũng bị xúc phạm danh dự. Như thế phải chăng vô hình trung đã có sự gây thương tổn đến thanh danh gia đình các sĩ quan, các chính trị gia đào thoát được ra nước ngoài và những vị kẹt lại – để rồi sẽ bị tuyên án – trong khi trong thực tế chúng ta không tìm ra được bằng chứng nào cụ thể cả?
Riêng chuyện phu nhân đại tá Nguyễn Chánh Thi ôm cầm thuyền khác – nếu quả đúng như vậy – thì rõ ràng không phải do hậu quả của những vụ hiếp dâm tập thể.
Trách nhiệm Má hồng!
“Tôi không lấy vợ anh, chuyện vợ con anh là chuyện riêng của anh sao tôi biết được…”
Bạn tôi, năm ấy cấp bậc Đại úy nhảy dù, lưu vong Nam Vang được chừng hơn một năm thì chị ấy gặp người tìm được “Lá Diêu Bông”! Vậy thì trong trường hợp này có lẽ ông Tạ Chí Đại Trường cũng đồng ý với tôi mà nói rằng: Đây là trách nhiệm má hồng, không phải trách nhiệm lịch sử. Cái gì cũng đổ lên đầu lịch sử thì lịch sử… bỏ mẹ!
Ông Trần Văn Tích viết: “Không phải là lãnh đạo chính biến mà chỉ là cấp thừa hành, sao riêng một mình gia đình đại uý Phan Lạc Tuyên phải chịu cảnh oan trái như vậy?”
Trong “Việt Nam Nhân Chứng”, ông Trần Văn Đôn kể lại tướng Nguyễn Khánh và đại tá Nguyễn Chánh Thi từ Huế vào Sài Gòn tham gia chỉnh lý ngày 30-1-1964 để loại các tướng đã đảo chính ông Diệm là Đôn, Kim, Xuân, Đính. Sáng hôm sau tướng Đôn khi bị giữ tại bộ Tổng tham mưu đã gặp ông Thi. Hai người nói chuyện với nhau, xin chép lại nguyên văn hai câu (trang 282):
“Đại tá Thi đến gặp tôi (tức tướng Đôn), giọng hằn học:
– Ông biết khi tôi ở Nam Vang về người ta đã cướp mất vợ của tôi tại sao ông còn đày tôi đi xa nữa?
– Tôi không lấy vợ anh, chuyện vợ con anh là chuyện riêng của anh sao tôi biết được…”
Như vậy, ông Thi cũng bị cướp mất vợ, nhưng chi tiết như thế nào thì cả hai ông không nói thêm, mà bàn qua chuyện tại sao ông Thi được cho đi ra Huế, trái với ý ông muốn.
Phần II
D/ TVT: “Ông Trần Lâm xuất hiện trên talawas lần này là lần thứ ba, nhưng chỉ qua hai đề tài: đại úy “ma” Scott và “kiêu dân Công giáo”. Cả hai đề tài đều cùng thuộc vào công trình biên soạn luận văn tốt nghiệp đại học của ông.”
—————————
Tôi không hiểu BS Tích lấy ở đâu ra lời phát biểu ở trên, vì tôi chưa bao giờ tuyến bố rằng những gì tôi viết trên Talawas “cùng thuộc vào công trình biên soạn luận văn tốt nghiệp đại học của” tôi.
Tháng 9 vừa qua,, BĐ USing có đùa với tôi như sau trên diễn đàn talawas:
“Chắc bác Trần Lâm đang bận bịu việc nghiên cứu Việt học cận đại bên trời Tây. Xin thỉnh bác vào cho một vài ý kiến về bài viết của bác Trần Chung Ngọc. Trân trọng cảm ơn hai bác họ Trần trước.”
Tôi trả lời:
“Để tránh mọi sự hiểu lầm: tôi không phải là một nghiên cứu sinh “Việt học cận đại”. Tôi chỉ có nỗi đam mê riêng tư với chế độ Ngô Đình Diệm mà thôi. Có thể nói nó là sở thích chính của tôi. Có người thích nuôi cá cảnh, có người thích trồng cây bonsai, còn tôi thích tìm hiểu về chế độ Diệm, một thú vui tương đối rẻ tiền: một cuốn sách tiếng Việt tốn khoảng 20-25 USD, một quyển sách do nhà xuất bản của một đại học Hoa Kỳ xuất bản tốn khoảng 30-35 USD, tương đương với một chai Remy Martin VSOP.”
Do đó hoàn toàn không có chuyện tôi “tự xem luận văn tốt nghiệp đại học của mình là một thành quả hàn lâm”, như BS Tích đã viết.
D/ Đây là những gì chính tôi đã viết khi trao đổi với anh Lê Quốc Trinh:
“Nếu ông muốn đọc một công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh, hy vọng đạt được tiêu chuẩn hàn lâm của phương Tây thì ông phải chờ đến năm 2013, năm mà tôi hy vọng có thể công bố kết quả của việc tìm hiểu của tôi để kỷ niệm 50 năm ngày nhà Ngô sụp đổ.”
Hoàn toàn không có một chữ nào về luận văn đại học v.v… Việc tôi làm là việc tìm hiểu hoàn toàn tự túc của một amateur, nhưng tư cách amateur cũng không cho phép tôi nói bậy, phát ngôn vô căn cứ hay không hợp lý. Đó là lý do tại sao tôi viết như đã viết ở trên.
E/ Và chính tôi có chép những dòng chữ như sau về CHT và hàn lâm tính trong khi trao đổi với BS Tích về tính cách khách quan trong việc tìm hiểu lịch sử:
“Xin có 1 góp ý với cụ T. về vấn đề khách quan trong nghiên cứu. Bất cứ nhà nghiên cứu nào cũng có một số tiên niệm hoặc lý do chủ quan khi tìm hiểu về một vấn đề. Nhưng nhà NC đó phải chứng tỏ khả năng của mình bằng cách khách quan hóa kết quả của công trình NC để cho đối phương – ví dụ như ban giám khảo luận án, phê bình gia của các tạp chí chuyên môn – biết được những yếu tố chủ quan đó nhưng không thể nào bắt bẻ được. Nhu cầu KQH này khiến các nhà NC phải đi tìm bằng chứng, lý luận v.v… để làm nền tảng cho các khẳng định của mình, tránh việc phát ngôn vô căn cứ và vô hiệu hóa được phần nào những yếu tố chủ quan mà ai cũng có. Ví dụ điển hình nhất là luận án tiến sĩ quốc gia của Cao Huy Thuần. Ai cũng biết ông CHT là một Phật tử thân Cộng, nhưng trong luận án nói trên ông đã có thể khách quan hóa những nhận định của ông về vai trò của các giáo sĩ (Công giáo) trong chính sách thực dân của Pháp tại VN bằng vô số tài liệu nguyên bản lấy từ văn khố Pháp, nên những đối thủ (VN) của ông chỉ có thể moi lý lịch ông ra để đã kích thay vì tấn công một cách hữu hiệu những khẳng định được khách quan hóa của ông trong luận án đó.
Tôi không ưa ông CHT, nhưng tôi hy vọng năm 2013 sẽ đạt được thành quả hàn lâm mà ông đã được vào cuối thập niên 60 của thế kỷ 20.”
Vậy, thành quả hàn lâm mà tôi muốn đạt được là sự khách quan hóa ((bằng sự cung cấp chứng liệu và lý giải) những nhận định của tôi để giảm đến mức tối thiểu những yếu tố chủ quan trong những gì tôi viết khiến chúng có thể đứng vững trước sự phê bình của công luận như CHT đã làm.
Ở đây, cũng hoàn toàn không có một lời nào về việc trình luận văn đại học v.v…
Chính CHT đã cho chúng ta có một khái niệm về kỹ thuật hàn lâm hóa hay khách quan hóa của một sử gia chuyên nghiệp. Đây là những gì ông đã viết, khi cuốn luận án của ông được Council on Southeast Asia Studies of Yale University xuất bản trong Lạc Việt series do GS Huỳnh Sanh Thông làm chủ biên:
“My aim in this work has been to reproduce as thoroughly as possible the relevant historical documents found in various French archives and then to analyze and synthesize them for the reader.”
Tôi không nghĩ rằng có ai đó lại chê trách việc tôi mong muốn áp dụng một cách thành công kỹ thuật nói trên trong việc tìm hiểu về chế độ Ngô Đình Diệm.
Tóm lại: việc trình luận văn đại học v.v… mà BS Tích nói đến là một chuyện vô căn cứ.
G/ Nếu tôi có thể duy trì phẩm chất của những bài viết mới về đề tài này trong tương lai, khiến cho BBT talawas hài lòng về chúng, thì đỉnh Hoa Sơn 2013 sẽ không phải nơi nào khác hơn là diễn đàn này.
@ Trần Văn Tích, Phần I
Trước hết, tôi cảm tạ việc BS Tích đã bỏ ra thời gian để đọc và góp ý với những gì do tôi viết.
Xin được hồi đáp như sau:
A/ TVT: “Vợ con của họ kẹt lại Việt Nam. Tôi chưa đuợc đọc tài liệu nào nói về “chủ trương báo thù bỉ ổi” đối với họ. Nếu ông Trần Lâm biết những tài liệu này, xin ông vui lòng chia sẻ kiến thức với tôi; tôi xin cám ơn trước.”
“Vậy nên tôi xin lặp lại đây lời thỉnh cầu gửi ông Trần Lâm, mong ông nếu có những tài liệu khác liên quan đến sự kiện đau buồn tương tự mà nạn nhân không thuộc dòng họ Phan Lạc thì xin ông vui lòng cho tôi được tham khảo cùng.”
———-
Tôi đã làm chuyện này rồi. Ngay trong bài viết, tôi có ghi rõ, phóng ảnh và đưa lên mạng một số trang sách có liên quan đến việc này trong cuốn “Đời Quân Ngũ” của Trần Ngọc Nhuận. Trong đó, vị sĩ quan tình báo họ Trần đã tường thuật về chính sách trả thù đối với những người vợ của các vị sĩ quan khác, ngoài dòng họ Phan Lạc. Nếu không có lời xác nhận của TNNhuận – sau này là Thượng Nghị Sĩ trong liên danh Nguyễn Gia Hiến – thì tôi sẽ không dám dùng hồi ký của PLGĐông. Tôi chỉ dám đề cập đến việc động trời này, vì những gì PLGĐông viết về trường hợp cụ thể của gia đình ông đã được TNNhuận xác nhận trong một nhận định tổng quát về chính sách trả thù nói trên.
B/ TVT: “Nhưng tuyệt nhiên chúng ta không hề thấy những tên sĩ quan an ninh quân đội bị tố cáo đích danh, đích thân, đích thị, đích thực, đích xác. Trái lại, chúng ta gặp một danh sách cá nhân hoặc tập thể chung chung, lồng trong những cung cách dùng từ bí ẩn. Nhưng ông Trần Lâm không hề thấy cái mớ bòng bong đó. Ông khẳng định đó là những “tay chân của anh em Ngô Đình Diệm”.”
—————
Xem sách của Trần Ngọc Nhuận. TNN đã ghi rõ việc làm của nhân viên an ninh của chế độ Ngô Đình Diệm đối với những người phụ nữ vô tội. Vì những trang sách nói trên đã được đưa lên mạng, BS Tích chỉ cần trở lại bài tôi viết sẽ có thể đọc được những gì Đại tá Nhuận đã viết, tôi khỏi phải đánh máy mất công. Chính BS Tích có viết ở đầu bài sau khi đã đọc hồi ký của PLGĐông:
“Bà Bùi Thị Nga là phu nhân của đại uý Phan Lạc Tuyên. Sau khi chồng đào thoát sang Cao Miên, bà bị cơ quan an ninh quân đội bắt giữ và vào dịp đó, bị xâm phạm tiết hạnh.”
C/ Nếu BS Tích muốn đọc toàn bộ cuốn sách về Biến cố 1960 do Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu làm chủ biên, thì có thể vào trang nhà của tiệm sách Tự Lực để mua. Tôi đã mua quyển sách này ở đó. Tôi thường mua sách để ủng hộ tác giả. Do đó tôi không thể (và cũng không có thời gian để) phóng ảnh toàn bộ quyển sách nói trên rồi đưa lên mạng.
Còn một phần.
Về trường hợp anh em nhà Phan Lạc
Ký giả Lô Răng Phan Lạc Phúc và Nhà văn Phan Lạc Tiếp đều là những thân nhân gần gũi của hai anh em ông Phan Lạc Tuyên và Phan Lạc Giang Đông, tôi nghĩ hai vị ấy nếu muốn làm sáng một góc khuất tăm tối của lịch sử ấy thì không còn gì quý giá và khả tín hơn, sở dĩ tôi thưa như vậy vì được biết hai vị này đều là những nhà báo, nhà văn có một nhân cách không ai dị nghị và hiện vẫn còn minh mẫn, sáng suốt. Ông PL Giang Đông thì nay đã ra người thiên cổ sau nhiều năm bị cộng sản giam giữ (Trại “kiên giam” 25A Xuân Phước, Phú Yên). Tôi cũng có được nghe loáng thoáng chuyện này, chuyện khác trong mối tương quan giữa hai anh em ông Phan Lạc Tuyên và Phan Lạc Giang Đông sau 30/4/1975 khi người anh trở về như một huân thần của chế độ mới và người em là một thi sĩ “Tại ngục vịnh thiền”.