Trần Văn Tích – Thử bàn luận cùng ông Trần Lâm về cách đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông
23/11/2009 | 2:00 chiều | 51 Comments
Category: Lịch sử
Thẻ: Chính biến 11/11/1960 > Phan Lạc Giang Đông > Phan Lạc Tuyên
Nơi đoạn kết bài viết về “kiêu dân Công giáo” của mình, ông Trần Lâm đề cập đến thiên hồi ký ngắn của ông Phan Lạc Giang Đông, em ruột ông Phan Lạc Tuyên, người tham gia chính biến 11.11.1960 và sau đó cùng viên hạ sĩ quan tài xế đào thoát sang Cao Miên, để vợ con ở lại Việt Nam. Ông Trần Lâm viết: “Sau cuộc đảo chánh hụt năm 1960, tay chân của anh em Ngô Đình Diệm đã xâm phạm tính dục nhiều người vợ của những viên sĩ quan tham gia vào biến cố đó (…)”. Trong một điện thư riêng gửi cho tôi – có đồng gửi cho một vài người khác – ông Trần Lâm cũng nhắc đến thiên hồi ký này kèm lời bình luận, chắc ông chưa quên. Vốn cẩn thận và chu đáo ông Trần Lâm đã đưa lên mạng mấy trang hồi ký liên hệ, nhờ thế tôi mới có dịp lần đầu tiên làm quen với cây bút Phan Lạc Giang Đông (Nhìn lại biến cố 11/11/1960. Nhớ lại và suy nghĩ). Bài viết hôm nay tập trung vào việc bình luận những điều được ông Phan Lạc Giang Đông kể lại.
Trường hợp Phan Lạc Tuyên
Tác giả Phan Lạc Giang Đông không cho biết vào thời điểm xảy ra chính biến 11.11.1960 ông Phan Lạc Tuyên, anh cả của ông, mang cấp bậc gì trong quân đội. Tham khảo Việt sử khảo luận của cố luật sư Hoàng Cơ Thụy, Nhà xuất bản Nam Á (Sudasie), Paris, 2002, cuốn 5, đoạn 201, Cuộc đảo chính ngày 11-11-1960 của binh chủng nhảy dù và Liên minh dân chủ, từ trang 2816 đến trang 2872, được biết ông Phan Lạc Tuyên thuở bấy giờ mang cấp bậc đại uý.
Tác giả Phan Lạc Giang Đông cho biết: “Có lần anh (Phan Lạc Tuyên, TVT chú) được gọi vào trình diện Tổng thống Ngô Đình Diệm rất bất ngờ và sau lần gặp đó, anh chuẩn bị đi làm Tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương. Tôi nghe đâu công việc đang tiến hành.” Chúng ta không rõ lúc bấy giờ ông Phan Lạc Tuyên bao nhiêu tuổi nhưng tôi phỏng đoán ông chỉ chừng trên ba mươi dưới bốn mươi. Và tôi có nhận định sau: là người Bắc di cư (tức không phải dân Trung, đương nhiên), có thể không phải là Công giáo, chẳng là Cần lao, mới chỉ là đại uý, còn đang rất trẻ, ông Tuyên đã được Tổng thống Diệm lưu ý và có ý định đề bạt vào chức vụ cai trị một tỉnh. “Nhìn lại và suy nghĩ”, tôi dẫu là kẻ bàng quan, cũng mừng cho ông và cho gia đình, nhất là vợ con ông. Thế nhưng bỗng dưng ông Phan Lạc Tuyên tham gia đảo chính mà không hề cho đại gia đình và tiểu gia đình biết.
Như vậy, đọc ông Phan Lạc Giang Đông (và nếu thông tin ông đưa ra là đúng), tôi tìm thấy một dữ kiện chứng tỏ rằng Tổng thống Ngô Đình Diệm, ít nhất qua trường hợp đại uý Phan Lạc Tuyên, không phải chỉ đề cử quân nhân viên chức vào các chức vụ quan trọng theo ba tiêu chuẩn dân Trung, Công giáo, Cần lao.
Thảm kịch Bùi Thị Nga
Bà Bùi Thị Nga là phu nhân của đại uý Phan Lạc Tuyên. Sau khi chồng đào thoát sang Cao Miên, bà bị cơ quan an ninh quân đội bắt giữ và vào dịp đó, bị xâm phạm tiết hạnh.
Khi được phóng thích, bà về lại nhà chồng và ngang nhiên ăn nằm cùng một kẻ lạ mặt, “một người mặc thường phục, cao lớn và dáng là quân nhân, đi xe hơi đen, hoặc xe Jeep” (Phan Lạc Giang Đông, tlđd, tr. 214). Nhận định về thảm cảnh của chị dâu, tác giả Phan Lạc Giang Đông viết: “Chị Tuyên là người có nhan sắc, bởi vậy, chị đã bị nhiều kẻ lợi dụng, nhất là những kẻ có quyền lực, vả lại, trong hoàn cảnh kinh tế khốn quẫn đến cực cực (sic), toàn bộ gia đình bị cô lập, ngay cả cái đám họ hàng Phan Lạc đều xa lánh, thử hỏi, việc chị sa ngã cũng không đáng trách.” Như thế, theo nhân chứng là người em chồng, đoạn đời bất hạnh của bà Nga bắt đầu khi bà thất thân trong tù để rồi sau đó, bà sống phóng túng vì bị nhiều kẻ có quyền lực lợi dụng. Tiếp tục truy tầm những thành phần “chủ trương báo thù bỉ ổi” (chữ của đại tá Trần Ngọc Nhuận), chúng ta được ông Phan Lạc Giang Đông đưa đến gặp ông Vi Bằng năm 1988 (tr. 216). Ông Vi Bằng cho biết: “đã có những người ‘anh em văn nghệ’ của anh Tuyên, vì chị Tuyên là người có nhan sắc – nên họ đã lợi dụng và làm nhiều việc rất nhờm tởm; mà một trong những số đó là những V.Q., những tên vô liêm sỉ khác nữa.” Thử liệt kê theo ông Phan Lạc Giang Đông chúng ta có một gã mặc thường phục, chúng ta có một kẻ nào đó tên Đ., chúng ta có những kẻ có quyền lực, chúng ta có những người “anh em văn nghệ”, chúng ta có những V.Q., chúng ta có những tên vô liêm sỉ khác nữa. Nhưng tuyệt nhiên chúng ta không hề thấy những tên sĩ quan an ninh quân đội bị tố cáo đích danh, đích thân, đích thị, đích thực, đích xác. Trái lại, chúng ta gặp một danh sách cá nhân hoặc tập thể chung chung, lồng trong những cung cách dùng từ bí ẩn. Nhưng ông Trần Lâm không hề thấy cái mớ bòng bong đó. Ông khẳng định đó là những “tay chân của anh em Ngô Đình Diệm”.
Các bà phu nhân khác
Những người lãnh đạo cuộc đảo chánh 11.11.1960 về phía quân sự là đại tá Nguyễn Chánh Thi, trung tá Nguyễn Triệu Hồng và trung tá Vương Văn Đông; về phía dân sự có luật sư Hoàng Cơ Thụy, được xem như “quân sư” của nhóm đảo chánh. Ngoài ra còn nhiều sĩ quan khác, chẳng hạn thiếu tá Phan Trọng Chinh, thiếu tá Phạm Văn Liễu v.v… Khi đảo chánh thất bại, một số sĩ quan như đại tá Thi, trung tá Đông, thiếu tá Liễu bắt trung tướng Thái Quang Hoàng làm con tin và dùng phi cơ Dakota C-47 trốn sang Cao Miên.
Vợ con của họ kẹt lại Việt Nam. Tôi chưa đuợc đọc tài liệu nào nói về “chủ trương báo thù bỉ ổi” đối với họ. Nếu ông Trần Lâm biết những tài liệu này, xin ông vui lòng chia sẻ kiến thức với tôi; tôi xin cám ơn trước.
Tướng Nguyễn Chánh Thi sang Cao Miên, được cộng sản đến thuyết phục theo họ, nhưng ông cương quyết từ chối. Có lúc họ còn hứa với ông là nếu ông đồng ý thì họ sẽ đem vợ con ông ra ngoại quốc. Nhưng ông chỉ trả lời vắn tắt là ông chưa có ý đi đâu cả và cũng không nghĩ gì về việc đem gia đình trốn khỏi Việt Nam (Nguyễn Chánh Thi – Việt Nam, một trời tâm sự, dẫn theo Hoàng Cơ Thụy, tlđd, tr. 2868). Phần luật sư Hoàng Cơ Thụy thì được CIA dùng bao bố ngụy trang thành “tín hàm” xách lên phi cơ nhà binh mang ra khỏi Việt Nam. Ngay trước đó ít hôm, luật sư Thụy liều lĩnh lén lút về thăm nhà thì chỉ gặp hai cô con gái và hai cậu con trai giữa, riêng bà luật sư thì dẫn hai con trai đầu và út lẩn trốn vào Chợ Lớn. Tôi không hề được nghe hay được đọc về những hành vi khủng bố, kỳ thị đối với bà luật sư cùng số con trai con gái đông đảo của ông bà. Họ tiếp tục cư ngụ trong ngôi biệt thự khang trang toạ lạc tại số 84 đường Bà Huyện Thanh Quan, ngay giữa thủ đô. Các con trai và con gái học hành đến nơi đến chốn, có người trở thành sĩ quan và hy sinh tại Hạ Lào. Xin ghi chú thêm là hai vợ chồng chúng tôi, trong cuộc sống lưu vong, đã có cơ may quen biết luật sư Hoàng Cơ Thụy và được ông nhận là nghĩa đệ nghĩa muội. Chúng tôi cũng từng được hân hạnh diện kiến ông bà trung tá Vương Văn Đông ở Paris trong một dịp sinh hoạt văn học.
Thế cho nên tôi vừa xót xa đau buồn vừa phẫn hận uất ức khi đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông để được nghe kể về cuộc sống hậu đảo chính của gia đình ông, nó cứ y như trong chế độ cộng sản. Nhưng tại sao lại chỉ có một mình gia đình ông lâm cảnh oan khiên nghiệt ngả, ít nhất theo như tôi được đọc, được nghe, được thấy? Vậy nên tôi xin lặp lại đây lời thỉnh cầu gửi ông Trần Lâm, mong ông nếu có những tài liệu khác liên quan đến sự kiện đau buồn tương tự mà nạn nhân không thuộc dòng họ Phan Lạc thì xin ông vui lòng cho tôi được tham khảo cùng.
Em ông Phan Lạc Tuyên không cho hay ông lãnh nhiệm vụ gì trong biến cố 11.11.1960. Tìm đỏ con mắt trong mấy chục trang giấy khổ lớn chữ nhỏ của cuốn Việt sử khảo luận mới thấy ông Tuyên xuất hiện qua một câu duy nhất nơi trang 2852: “Cho nên Thi (đại tá Nguyễn Chánh Thi, TVT chú) phái đại uý Phan Lạc Tuyên đi “mời” bác sĩ Phan Quang Đán đến và nói: (…)”. Không phải là lãnh đạo chính biến mà chỉ là cấp thừa hành, sao riêng một mình gia đình đại uý Phan Lạc Tuyên phải chịu cảnh oan trái như vậy?
Vào dưỡng trí viện Biên Hoà
Năm 1971, vì chứng bệnh tâm trí của bà Bùi Thị Nga càng ngày càng nặng nên ông cụ nhạc gia của bà và ông Phan Lạc Giang Đông đưa bà lên dưỡng trí viện Biên Hoà xin nhập viện nhưng bị từ chối. Phải làm đơn gửi đi gửi lại vài nơi khác, cuối cùng bà Nga mới được nhận điều trị tĩnh tại. Đọc hồi ký giữa các hàng chữ, tôi lại cảm thấy bàng bạc bầu khí quyển khủng bố, kỳ thị, cách biệt, ly gián bao trùm lên gia đình người thiếu phụ bất hạnh. Cảm giác này càng nặng nề, căng thẳng đến độ ngột ngạt, ngộp thở vì tôi biết rõ bộ máy công quyền y tế quốc gia. Khoảng cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 thế kỷ trước, giám đốc dưỡng trí viện Biên Hoà là bác sĩ Tô Dương Hiệp, con trai trưởng nhà văn Bình Nguyên Lộc. Bác sĩ thường trú dưỡng trí viện là bác sĩ Cao Văn Lê. Cả hai đều tốt nghiệp năm 1962, cùng khoá với tôi. Qua bảy năm ròng cùng học chung thầy chung lớp, chúng tôi biết nhau khá rõ. Tôi không thể hiểu nổi tại sao hai anh bạn đồng nghiệp đồng khoá này lại có thể từ chối không nhận một nữ bệnh nhân mắc bệnh tâm thần trầm trọng. (Bác sĩ Tô Dương Hiệp mất trước 1975 vì ung thư máu, bác sĩ Cao Văn Lê chết trong ngục tù cộng sản.)
Dưới chế độ quốc gia, khi một người dân đau ốm, họ có thể và có quyền đến khu khám ngoại chẩn của các bệnh viện thích nghi tại Sàigòn (Chợ Rẫy nếu là ngoại khoa và/hoặc nội khoa, Chợ Quán nếu là truyền nhiễm, Từ Dũ nếu là sản phụ khoa v.v…). Khám ngoại chẩn đôi khi do bác sĩ phụ trách nhưng thông thường thì do anh chị em sinh viên y khoa chúng tôi (năm thứ năm và năm thứ sáu) cáng đáng. Làm việc rất cực nhưng cũng rất vui, tối tăm mày mặt mà không biết mệt. Chúng tôi chỉ biết bệnh nhân, chúng tôi hoàn toàn không cần biết lý lịch, gốc gác. Trường hợp bệnh nhân mang theo được giấy giới thiệu nhập viện của một đàn anh đàn chị có phòng mạch tư thì alêhấp, yêu cầu y tá và hành chánh bố trí giường bệnh ngay. Chúng tôi chưa hề gặp trường hợp nào có chỉ thị của ai đó xía vô chuyện tiếp bệnh nhận bệnh và cũng không thể tưởng tượng được là có thể có chuyện “trên” yêu cầu này nọ.
Ông thân sinh nhị vị Phan Lạc Tuyên – Phan Lạc Giang Đông là một nhân sĩ, một thức giả. Bản thân ông Phan Lạc Giang Đông là một nhà văn quảng giao. Tại sao không ai nghĩ đến chuyện đưa bà Bùi Thị Nga đến khám bệnh tại một phòng mạch tư và xin giấy giới thiệu vào dưỡng trí viện Biên Hoà? Thay vì làm vậy, cụ Phan Lạc senior lại mấy lần viết đơn gửi dưỡng trí viện và các nơi khác.
Cháu Phan Quốc Hưng
Cháu Phan Quốc Hưng là con út nhị vị Phan Lạc Tuyên – Bùi Thị Nga khi mẹ cháu bị an ninh quân đội câu thúc thân thể. Cháu lên sáu tuổi và cùng đi tù với mẹ. Tác giả Phan Lạc Giang Đông cho rằng chất căm hờn đã thấm vào dòng máu của cháu. Phần ông Trần Lâm thì coi đây là một tội ác trời không dung đất không tha.
Tôi nhìn vấn đề có khác. Đối với đứa bé sáu tuổi, vũ trụ chủ yếu chỉ qui vào hai người: cha và mẹ. Nay bỗng nhiên một nửa vũ trụ biến mất, nó chỉ còn lại nửa kia là mẹ. Nó cần mẹ hơn bao giờ hết và nó muốn gần mẹ hơn bao giờ hết. Nó muốn được mẹ bón cơm cho ăn, nó muốn cùng mẹ tỉ tê trò chuyện, nó muốn ngủ vùi trong suối tóc của mẹ, nó muốn sờ tí mẹ. Nó cần mẹ bế bồng, vuốt ve, thay áo, mặc quần, tắm rửa, chải tóc, thoa gãi. Càng bé càng thường xuyên lo sợ mất mẹ mỗi khi không nghe tiếng nói của mẹ trong một thời gian ngắn. Tóm lại, bố mẹ đi vắng lâu ngày gây cho trẻ cảm giác mất an toàn. Do đó tâm lý học không ngần ngại dùng khái niệm dyade để mô tả mối quan hệ chặt chẽ mẹ-con. Ở các quốc gia Tây phương ngày nay, có lẽ cháu bé sáu tuổi không phải đi tù cùng mẹ. Nhưng năm 1960 ở miền nam nước Việt, tôi nghĩ giải pháp cho phép bà mẹ khốn khổ mang theo đứa con út thân thương vào nhà tạm giam là một giải pháp nhân đạo. Nhìn sự việc một cách nhân bản như vậy, tôi không nghĩ rằng có ai đó đã kể cho đứa bé đáng thương là nó đang đi tù vì chắc chẳng ai đành đoạn hành hạ nó thêm một bước như thế, nhất là một khi nó chưa cần vận dụng trí khôn để hiểu nghĩa chữ “tù”.
Hoa Sơn luận kiếm
Ông Trần Lâm xuất hiện trên talawas lần này là lần thứ ba, nhưng chỉ qua hai đề tài: đại úy “ma” Scott và “kiêu dân Công giáo”. Cả hai đề tài đều cùng thuộc vào công trình biên soạn luận văn tốt nghiệp đại học của ông. Ông nuôi hoài bão sẽ đạt được vào năm 2013 “thành quả hàn lâm” mà ông Cao Huy Thuần từng đạt được vào cuối thập niên 60 của thế kỷ 20. Từ đây đến đó, ông phải lo luyện võ ôn văn nhằm có đủ tư cách lên đỉnh Hoa Sơn luận kiếm với quần hùng. Khi anh theo học đại học hay tốt nghiệp đại học thì quả là anh có thể được gọi hay được xem là académiste, Akademiker mà trong cả hai ngôn ngữ Pháp, Đức chữ này cũng hàm nghĩa hàn lâm. Tôi không thật chắc trong Anh ngữ có như thế không. Nhưng tự xem luận văn tốt nghiệp đại học của mình là một thành quả hàn lâm thì tôi nghĩ dường như có điều ra làm sao ấy. Tôi e chính bản thân ông Cao Huy Thuần cũng chẳng muốn sử dùng tính từ hàn lâm cho cái thèse của mình. Tôi cũng thấy là lạ khi ông Trần Lâm mệnh danh công việc trình luận văn tốt nghiệp là chuyện Hoa Sơn luận kiếm với quần hùng. Ai sẽ là Tây Độc, ai sẽ là Đông Tà trong ngày trọng đại vào năm 2013 sắp tới? Tôi vốn thuộc thành phần “Tây học”, hiểu theo nghĩa đen; vì thế tôi đoán chắc quá trình biên soạn luận án và thủ tục bảo vệ luận án ở các quốc gia thuộc hệ ngôn ngữ Anh-Mỹ hẳn hoàn toàn khác với sự hiểu biết của cá nhân tôi.
Lời chót
Qua những dòng này tôi chỉ muốn đọc mấy trang hồi ký của ông Phan Lạc Giang Đông theo cách riêng tư và khi cần thì thử so sánh với cách đọc của tác giả “Kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm”. Người đọc bắt buộc phải và nhất định đã bắt sóng tác phẩm như một thực thể nghệ thuật theo cảm thụ và tâm cảnh chủ quan, nhưng cần tránh diễn dịch, suy luận theo định kiến, thiên kiến. Nhìn chung, theo tôi, hồi ký Phan Lạc Giang Đông cung cấp những dữ kiện có thể đáng tin. Tuy nhiên đôi chỗ các dữ kiện dẫu đáng tin mà lại bất thường.
Trong số những người từng sống qua các giai đoạn tao loạn của miền Nam trước đây có rất nhiều người hiện còn tại thế. Tôi ước ao sẽ có sự tiếp tay của những chứng nhân các vụ bạo hành tính dục hàng loạt, các vụ hiếp dâm cưỡng dâm tập thể xảy ra sau ngày 11.11.1960 theo “chủ trương báo thù bỉ ổi” qua những “tay chân của anh em Ngô Đình Diệm” nhằm cung cấp thêm tài liệu cho công trình nghiên cứu của ông Trần Lâm. Tất nhiên là những chứng nhân đáng tin cậy. Phải chăng các danh tính Chính Đạo, Nguyễn Mạnh Quang, Phạm Xuân Tích, Nguyễn Kiên Hùng; những tác giả chủ biên hay cộng tác nhằm hoàn thành “Nhìn lại biến cố 11/11/1960” mà thành quả trí tuệ không được ông Trần Lâm đưa lên mạng có thể là những chứng nhân quan trọng đầu tiên?
Bình luận
51 Comments (bài “Trần Văn Tích – Thử bàn luận cùng ông Trần Lâm về cách đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông”)
« Trang trước 1 2 3 4 Trang sau »
Ông Nam Phan viết:
“Không tin ông cứ xem những phản hồi của ông Hoà Nguyễn, hễ cứ có Hoành Linh Đỗ Mậu là diễn đàn im lặng như tờ”
Tôi dẫn chứng sử liệu từ sách của các ông Lê Xuân Khoa, Trần Văn Đôn, bà Ellen J.Hammer, sau cùng của Đỗ Mậu ở những sự kiện không thể chối cãi, vì Đỗ Mậu ghi theo tin tức báo chí thời đó, thí dụ chuyện nhóm Công giáo gây áp lực vào thời TT Phan Huy Quát, và Nguyễn Cao Kỳ lúc mới lên làm thủ tướng đã chia tài sản tịch thu của gia đình ông Diệm lên tới 160 triệu đồng cho dân và lính nghèo. Tôi còn dẫn chứng cả vài điều Lữ Giang viết gần đây (thí dụ về số tiền 10 triệu mỹ kim ông Diệm gửi một linh mục dòng Chúa Cứu Thế ở Sàigòn, và tôi biết Lữ Giang ghi lại theo hồi ký tôi có đọc của một trung tá đã chỉ huy lực lượng phòng vệ dinh Gia Long lúc đảo chính 1963 xảy ra).
Ai thấy sử liệu từ bất cứ nguồn nào được dẫn mà không đúng thì cứ phản biện bằng chứng cứ. Đừng gây nghi ngờ là vì của sách Đỗ Mậu nên không khả tín.
Tôi đã đọc sách của Đoàn Thêm, Nguyễn Chánh Thi, nhưng không có sẵn sách để ghi lại. Sách ông Trần Lâm dẫn chứng của Trần Ngọc Nhuận, thượng nghị sĩ và là công giáo, và của Phan Lạc Giang Đông kể về chuyện gia đình, tôi đều chưa đọc. Tôi thấy những người phản bác ông Trần Lâm đều có lý lẽ rất yếu, chỉ dựa cớ những người viết tài liệu đó không đáng tin, chứ không thể bác bỏ dứt khoát nội dung sách họ kể các chuyện liên hệ.
Nhiều chuyện xảy ra trong thời ông Diệm đến nay nhiều người vẫn còn tranh cãi hay gây hỏa mù để làm mất sư khả tín. Thí dụ, ngày Phật Đản năm đó (8-5-1963), ở đài phát thanh Huế có vụ nổ làm chết 8 người đang có mặt để phản đối chính quyền Huế không cho phát thanh chương trình Phật Đản theo thông lệ hàng năm (nhất là lại vào lúc có lệnh cấm treo cờ Phật giáo ở Huế trong ngày lễ này). Lúc đó thiếu tá Đặng Sĩ, Phó tỉnh trưởng Huế đã có mặt tại chỗ với một đại đội địa phương quân đi trên thiết vận xa. Vụ nổ này được kể lại gồm có hai phần: hai tiếng nổ đầu tiên cho là do chất nổ Plastic (bộc phá) gây ra, và 15 quả lựu đạn tiếp theo do lính ông Đặng Sĩ ném vào đám đông, sau khi ông Sĩ bắn ba tiếng súng lệnh. Chính quyền thời đó và nhiều “sử gia” bênh vực cho chế độ ông Diệm nhìn nhận lính ở Huế đã ném 15 lựu đạn MK-3, không phải lựu đạn cay, nhưng là lựu đạn của quân đội dùng tạo ra tiếng nổ để báo động, cho là không gây chết người. Còn chất nổ plastic lúc đầu đổ cho do Việt Cộng gây ra, nhưng về sau khi có nghi vấn là VC lúc đó không thể có chất nổ mạnh như vậy, thì họ đổ cho CIA làm vậy để gây kích động chống ông Diệm. Nói thêm, ông Đặng Sĩ là Công giáo, sau này vào thời TT Nguyễn Khánh bị xử tù chung thân.
Tác giả J. Hammer là người thân với gia đình ông Diệm theo nhiều ngưòi biết, khi kể lại đoạn trên có thêm là 7 năm sau (1970), một tờ báo Công giáo tìm hiểu lại vụ này, và cho là “ông Ngô Đình Cẩn tin rằng vụ nổ đã do Hoa kỳ làm ra để gây khó cho ông Diệm” (bản sách Việt dịch của Hammer trang 111, ghi rõ là do những người cộng sự ông Cẩn kể lại, vì lúc đó ông Cẩn đã chết). Cũng theo Hammer, tờ báo trên cho là có một đại uý Mỹ tên Scott đã từ Đà Nẵng tới Huế hôm trước ngày Phật Đản, và vài năm sau làm cố vấn ở miền đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó, trong một cuộc nói chuyện (sách không ghi ở đâu, và nói với ai), ông Scott thú nhận người châm ngòi nổ chính là ông. Nhưng bà Hammer ghi lại rõ trong sách: “tác giả không thể chứng minh bài báo này đúng hay sai”. Dù vậy ai theo dõi báo chí Việt ngữ ở Mỹ có thể biết gần đây, những người bênh vực cho chế độ ông Diệm dựa vào mẩu tin trên báo đó, xác nhận Scott là nhân vật có thật, hiện còn sống ở Mỹ, và họ đưa tin ông ấy hứa ra trình diện trước cộng đồng người Việt tại Mỹ, như là nhân chứng cho vụ nổ nói ở trên. Rốt cuộc không ai thấy ông Scott xuất hiện. Nhưng mục đích của họ đã đạt được: vụ nổ đó hình như do Mỹ gây ra. Không là điều chắc chắn, nhưng cũng gây được sự nghi ngờ trong lòng người, và cách làm này hình như được (tâm lý chiến) gọi là kỹ thuật tuyên truyền xám (làm cho không phân biệt trắng với đen).
Chính trong sách của mình, bà Hammmer cho biết Colby (trưởng CIA ở VN), tướng Harkins (tư lệnh Mỹ tại VN)), cả đại sứ Mỹ Nolting lúc đó đều có cảm tình và bênh vực cho ông Diệm, và họ đều chống lại ý muốn lật đổ hay thay đổ chế độ ông Diệm, khác với bộ ngoại giao Mỹ chủ trương. Cuộc đảo chính đã xảy ra khi cả ba ông trên đều rời khỏi VN. Cho nên khó tin CIA trước đó có dính líu với vụ nổ ở Huế (cho là để gây rối ông Diệm bằng tạo ra cái chết của 8 người vô tội, trong đó có trẻ con).
Nói đơn giản, lịch sử cần được trình bày khách quan, trung thực, không nên để thiên kiến, chủ quan làm mờ lương tri, sự phán đoán.
Trần Ngọc Nhuận, ông là ai?
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng vui mừng trước sự tán thành của BS Tích đối với việc tôi đã chọn hai sử gia Tạ Chí Đại Trường và Nguyễn Thế Anh để làm khởi điểm trong nỗ lực tìm hiểu của tôi. (Tôi không đề cập đến SG Trần Gia Phụng, vì tôi không có trích ông ta trong bài do tôi viết.
Và tôi cũng xin cảm tạ BS Tích và PNN về những nghi vấn mà 2 ĐG này đã nêu ra. Những nghi vấn đó tạo cơ hội cho tôi nói rõ hơn tại sao tôi lại cho rằng Trần Ngọc Nhuận là một nhân chứng đáng tin, khi ông tường thuật về chính sách trả thù của chế độ Ngô Đình Diệm:
1) Ông ta nói rõ tình bạn giữa ông và Phan Lạc Tuyên, không che dấu bạn đọc điều đó. Theo nhận xét của tôi, việc này làm cho sự khả tín của ông tăng lên chứ không giảm xuống.
Nhưng quan trọng hơn là những dữ kiện sau đây về Trần Ngọc Nhuận:
2) Ông (rất có thể) là một tín đồ Công giáo, gốc Quảng Bình. Ông nói rõ sinh ra ở Quảng Bình, không nói tôn giáo.
Nhưng nơi trang 202 trong cuốn “Đời Quân Ngũ”, ông cho biết:
“Gia đình tôi và bên gia đình Thủ Tướng Ngô Đình Diệm có chỗ thâm giao từ thời ông nội tôi và cụ Ngô Đình Khả. Cả hai vị đều cùng đi tu với nhau ở Penang, Mã Lai và lúc về nước ra ngoài đời cùng làm quan một thời. Thủ tướng Diệm lúc mới về chấp chánh vào tháng 7-1954, lại chọn chú ruột của tôi là Trần Ngọc Liên làm Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng coi như cánh tay mặt của cụ.”
Xem:
http://www.scribd.com/doc/23252688/TranNgocNhuan
3) Ông là Thượng Nghị Sĩ trong liên danh Nguyễn Gia Hiến. Ở trang 377 trong cuốn “Ngàn Năm Soi Mặt”, Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu đã viết như sau về Nguyễn Gia Hiến:
“Ngay đến Linh Mục Hoàng Quỳnh, người chủ trương hòa đồng tôn giáo để chống Cộng, cũng bị nhóm Đại Đoàn Kết của Nguyễn Gia Hiến loại bỏ vì ‘đã già, mềm yếu với Phật giáo,’ không còn xứng đáng cầm đầu các ủy ban ‘hành động’ Ki-tô.”
Xem:
http://www.scribd.com/doc/23252766/NguyenGiaHien
Việc chính ở đây không phải là câu hỏi Vũ Ngự Chiêu viết đúng hay sai về Nguyễn Gia Hiến và nhóm Đại Đoàn Kết.
Việc chính: Trần Ngọc Nhuận nhất định không phải là người có liên hệ hay cảm tình với Giao Điểm, Giao Liên hay Giao Dịch gì đó.
Và đây cũng chính là lý do tại sao tôi lặp đi lặp lại việc Trần Ngọc Nhuận là Thượng Nghị Sĩ trong liên danh Nguyễn Gia Hiến.
4) Cuốn “Đời Quân Ngũ” của ông được Luật Sư Nguyễn Văn Chức viết Lời Giới Thiệu.
Xem:
http://www.scribd.com/doc/23252824/NguyenVanChuc
Nguyễn Văn Chức vốn là một Thượng Nghị Sĩ Công giáo, là tác giả cuốn “Việt Nam Chính Sử” – được viết để “đáp lễ” cuốn hồi ký khét tiếng của Đỗ Mậu – và, last but not least, là người được Lê Trọng Văn ưu ái dành cho một chương trong cuốn sách đả kích một số cây bút Công giáo.
Vậy, nếu chúng ta được phép chấp nhận giả thuyết ông Chức có đọc bản thảo của cuốn sách ông giới thiệu, thì chúng ta có thể nhận định rằng vị luật sư và chính trị gia CG này đã không thấy vấn đề gì trong lời tố cáo của Trần Ngọc Nhuận về chính sách trả thù nói trên của chế độ Ngô Đình Diệm.
Tất cả những yếu tố đó đã khiến tôi tin rằng Trần Ngọc Nhuận là một nhân chứng khả tín. Tôi thật tình không thể nghĩ ra tại sao một người với cái background như Trần Ngọc Nhuận lại có thể đưa ra “lời buộc tội chắc nịch” như thế này đối với chế độ Ngô Đình Diệm, nếu thật sự không có chính sách trả thù nói trên.
Tuy nhiên tôi đã thiếu sót, khi chỉ nhấn mạnh việc Trần Ngọc Nhuận là TNS trong liên danh Nguyễn Gia Hiến. Tôi lầm tưởng rằng bao nhiêu đó là đủ.
Tôi có tiên liệu những nghi vấn do BS Tích và PNN đưa ra, nên tôi chỉ dám nói đến hồi ký của Phan Lạc Giang Đông, sau khi đã cân nhắc những yếu tố nêu trên. BS Tích và PNN có thể cho đó là chưa đũ, nhưng không thể nói rằng tôi, vì thành kiến với chế độ Ngô Đình Diệm, đã nhắm mắt tin một lời tố cáo rất khả nghi.
Đôi lời riêng với ĐG PNN:
a/ PNN: “Tôi đọc nơi trang 306 trong cuốn “Đời Quân Ngũ”, tác giả biết không phải chủ truơng của ông Diêm và ông Nhu.”
———–
Xem Endnote số 16 trong bài do tôi viết.
b/ PNN: “Không chính thức tham gia, thì làm sao biết tường tận câu chuyện mà xác nhận đó là 100% ?”
————
Xem phản hồi trước của tôi:
“Ông không tham gia vào biến cố này, nhưng trọng tâm của những gì ông kể lại cũng không phải là cuộc đảo chánh đó. Trọng tâm là hậu quả mà thân nhân của những kẻ tham gia phải gánh chịu sau khi cuộc binh biến nói trên bị thất bại.”
c/ PNN: “Người khả tín đáng đáng lẽ phải tố cáo anh em ông Diệm đó là ông NC Thi thì không đả động .”
——————
Tôi cũng không hiểu tại sao NCThi không nói đến việc này. Nhưng dù ông ta có nói đến đi nữa thì cũng không đáng tin bằng Trần Ngọc Nhuận và Phan Lạc Giang Đông. Lý do: Thi ở Cao Miên, Nhuận và Đông ở VN.
Riêng trường hợp Trần Ngọc Nhuận: Chính vì ông không tham gia, nên chứng từ của ông về hậu quả của cuộc binh biến 1960 mới đáng tin.
Để khỏi lời qua tiếng lại, tôi nghĩ ông Trần Lâm không cần phải đưa ra tài liệu loại một, loại hai, thượng hạng, ngoại hạng gì hết, chỉ cần dẫn “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” cuả ông Đội, là độc giả trong, ngoài nước im thin thít, không ai dám phản đối. Không tin ông cứ xem những phản hồi của ông Hoà Nguyễn, hễ cứ có Hoành Linh Đỗ Mậu là diễn đàn im lặng như tờ! Nếu chưa đủ, xin ông dặm thêm tí “Đệ Nhất Phu Nhân” của ngài Hoàng Trọng Miên nữa là vừa đủ mặn mòi cho nồi súp “chế độ Ngô Đình” của ông.
Cũng thì nhân quả …
“4. Sách “Đời Quân Ngũ” ra trước, và sách cuả ông Phan Lạc Giang Đông ra sau, khi viết thì viết chung với nhóm Giao Điểm, một nhóm với chủ truơng đánh phá anh em ông Diệm va ông Nhu rất nặng .
6. Cách bôi xấu anh em ông Diệm Nhu của Giao Điểm thì khỏi nói ai cũng thấy, khỏi bàn .” (pnn)
Trong số các “sử gia” công phá chế độ Ngô Đình Diệm dữ dội đao búa nhất đồng thời cũng kiên trì không kém trong việc “vạch trần tội ác” của Giáo Hội Vatican một cách hung tợn không kém phải kể đến Nguyễn Mạnh Quang, tác giả Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư và một mớ viết lách hổ lốn khác, ông này thường được Trần Chung Ngọc (Giao Điểm) trích dẫn và nhắc đến với danh xưng long trọng “Giáo sư sử học Nguyễn Mạnh Quang”, như tôi đã sơ lược đề cập đến trong một PH trước dưới tiểu đề “Về nhân vật ấy”, lập trường của ông Trần Lâm với vị “Giáo sư sử học” hung hãn nọ tôi nhận thấy gần như hai giọt nước. Hôm trước nhân nhắc đến mấy câu đồng dao về nạn “kiêu tăng”, ông TL có nói lại là sở dĩ có nạn “kiêu tăng” vì trước đó có nạn “kiêu dân” và cho nó một tương quan nhân quả khiến tôi cũng có ý nghĩ rằng vì có những “sử gia” như Nguyễn Mạnh Quang, người viết như Trần Lâm nên mới có những Nguyễn Văn Chức viết “Việt Nam Chính Sử”, Lữ Giang với vô số những viết lách khác v.v… Tôi coi cả hai hiện tượng ấy đều là những bất hạnh cho văn học nói chung, sử học nói riêng, rất không đáng mong ước.
Sau ngày 11.11.1960 ông Trần Ngọc Nhuận vì “có tình bạn với Phan Lạc Tuyên nên cũng bị theo dõi“. (Đời quân ngũ, tr.306). Như vậy, ông Nhuận không thể hoàn toàn khách quan khi cung cấp các dữ kiện liên quan đến biến cố liên hệ vì hai lý do : 1) ông là bạn của cặp nạn nhân Phan Lạc Tuyên-Bùi Thị Nga, 2) do đó ông bị theo dõi.
Ông Trần Lâm cho rằng ông Nhuận là chứng nhân quan trọng. Tuy nhiên rất tiếc là chứng nhân quan trọng này lại cung cấp những bằng chứng quá mơ hồ :
– “tất cả các phu nhân sĩ quan thuộc phe đảo chánh đều bị bắt giữ“ (tlđd, tr.305) : có đúng là bị bắt giữ không hay chỉ bị điều tra, thẩm vấn?
– “họ đã bị cho thuốc kích thích hoặc đầy đọa thể xác để cuối cùng phải thất tiết với chồng“ (tlđd, tr.306). Họ là ai, tất cả vấn đề nằm ở điểm này. Nếu rất nhiều người lâm vào hoàn cảnh oan khiên mà chúng ta không được nghe một lời tố cáo nào khác ngoài lời của ông Nhuận thì thật quá bất thường, nhất là khi những lời tố cáo đó chỉ cần chờ đợi có lối ba năm (lời tố cáo của ông Phan Lạc Giang Đông rất mơ hồ, khác hẳn lời buộc tội chắc nịch của ông Nhuận).
Thôi tôi đành nói thật với ông Trần Lâm : tôi nghi ngờ động cơ đưa ông Nhuận đến vai trò công tố viện. Và xin có lời khuyên ông Trần Lâm như sau : những nhà sử học đồng hương với chúng ta như Nguyễn Thế Anh, Tạ Chí Đại Trường, Trần Gia Phụng là những cây bút có uy vọng; đọc họ chúng ta tương đối có thể yên tâm. Nhưng khi đọc hồi ký, nhất là hồi ký của người mình(!) thì nên đọc với critical spirit. Vạn nhất người đọc lại còn có sẵn thành kiến, định kiến, thiên kiến thì ô hô, ai tai.
@ Phùng Tường Vân
PTV: “Trong Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Hòa trước sau không có một liên danh nào là liên danh Nguyễn Gia Hiến cũng như không có một thượng nghị sĩ nào là Thượng Nghị Sĩ Trần Ngọc Nhuận !”
1/ Mời bạn đọc bốn phương so sánh lời nói của PTV với những gì Đoàn Thêm đã viết ở trang 209 trong cuốn “1967: Việc Từng Ngày” do Xuân Thu xuất bản lại tại California năm 1989:
“18-9-67: Hội đồng Tuyển cử Trung ương tuyên bố kế quả bầu cử Thượng nghị viện. Trúng cử: các liên danh Trần Văn Đôn (…), Nguyễn Văn Huyền (…), Nguyễn Gia Hiến (…), Huỳnh Văn Cao (…), Trần Văn Lắm (…), Nguyễn Ngọc Kỷ (…).”
2/ Việc Trần Ngọc Nhuận từng làm Thượng nghị sĩ VNCH được ông ta ghi lại tại trang 449 và những trang sau đó trong cuốn “Đời Quân Ngũ”, do Xuân Thu xuất bản năm 1992. Cuốn sách này được LS Nguyễn Văn Chức viết lời giới thiệu.
LS Chức: “Tác giả ký ức ‘Đời Quân Ngũ’ còn là một Thượng Nghị Sĩ.”
3/ Hôm nay, sau giờ làm việc, tôi sẽ tranh thủ thời gian phóng ảnh và đưa lên mạng những trang sách liên quan đến vấn đề này để mọi người cùng đọc và kiểm chứng.
Sự nhầm lẫn của tôi
“Trong Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Hòa trước sau không có một liên danh nào là liên danh Nguyễn Gia Hiến cũng như không có một thượng nghị sĩ nào là Thượng Nghị Sĩ Trần Ngọc Nhuận.” (PTV)
Trên đây hoàn toàn là một sự nhầm lẫn của tôi, thực ra trong Thượng Nghị Viện I (3 năm đầu) có liên danh Đại Đoàn Kết do ông Nguyễn Gia Hiến là thụ-ủy và trong liên danh ấy ông Trần Ngọc Nhuận là một thượng-nghị-sĩ thành viên.
Tôi xin lỗi ông Trần Lâm cùng liệt vị độc giả về sự nhầm lẫn ây.
1. Tôi đọc nơi trang 306 trong cuốn “Đời Quân Ngũ”, tác giả biết không phải chủ truơng của ông Diêm và ông Nhu.
2. Tác giả là bạn của ông Phan Lạc Tuyên, và ông Phan Lạc Tuyen sau đảo chánh thì chạy theo Cộng sản, nên bị an ninh để ý .
3. Không chính thức tham gia, thì làm sao biết tường tận câu chuyện mà xác nhận đó là 100% ?
4. Sách “Đời Quân Ngũ” ra trước, và sách cuả ông Phan Lạc Giang Đông ra sau, khi viết thì viết chung với nhóm Giao Điểm, một nhóm với chủ truơng đánh phá anh em ông Diệm va ông Nhu rất nặng .
5. Người khả tín đáng đáng lẽ phải tố cáo anh em ông Diệm đó là ông NC Thi thì không đả động .
6. Cách bôi xấu anh em ông Diệm Nhu của Giao Điểm thì khỏi nói ai cũng thấy, khỏi bàn .
Kết luận, bác Trần Lâm kết luận với lý luận rất buồi cười . Bác Trần Lâm rao giảng nào là tài liệu hạng nhất hạng nhình nhưng khi kết luận thì dựa vào tài liệu hạng mấy để kết luận về anh em ông Diệm ?
“Trần Ngọc Nhuận là người đáng tin, vì ông không những là một sĩ quan tình báo trong QLVNCH mà sau này còn là một Thượng nghị sĩ trong liên danh Nguyễn Gia Hiến.” (TL)
Trong Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Hòa trước sau không có một liên danh nào là liên danh Nguyễn Gia Hiến cũng như không có một thượng nghị sĩ nào là Thượng Nghị Sĩ Trần Ngọc Nhuận !
@PNN
1/ Trần Ngọc Nhuận có thể được xem như là nhân chứng quan trọng nhất về chính sách trả thù mà chế độ Ngô Đình Diệm đã áp dụng đối với thân nhân của các sĩ quan tham gia vào cuộc đảo chánh 11/1960.
Ông không tham gia vào biến cố này, nhưng trọng tâm của những gì ông kể lại cũng không phải là cuộc đảo chánh đó. Trọng tâm là hậu quả mà thân nhân của những kẻ tham gia phải gánh chịu sau khi cuộc binh biến nói trên bị thất bại.
Trần Ngọc Nhuận là người đáng tin, vì ông không những là một sĩ quan tình báo trong QLVNCH mà sau này còn là một Thượng nghị sĩ trong liên danh Nguyễn Gia Hiến. Nếu không có chứng từ của Trần Ngọc Nhuận, tôi sẽ không bao giờ dám nói đến chứng từ của Phan Lạc Giang Đông.
Và nếu ĐG PNN có đọc những gì tôi viết, thì ĐG này phải biết tôi đã phóng ảnh và đưa lên mạng những trang sách có liên quan đến chính sách trả thù nói trên trong cuốn hồi ký “Đời Quân Ngũ” của Trần Ngọc Nhuận, không cần phải yêu cầu tôi làm điều đó một lần nữa.
2/ PNN: “Vậy là ông Thi đi ra qua Cao Miên sau khi đảo chánh hay ở lại VN sau khi đảo chánh?”
Nếu ĐG PNN có đọc bài viết của BS Tích thì ĐG này không cần đưa ra câu hỏi trên, vì BS Tích đã cho biết điều nhiều người biết:
“Khi đảo chánh thất bại, một số sĩ quan như đại tá Thi, trung tá Đông, thiếu tá Liễu bắt trung tướng Thái Quang Hoàng làm con tin và dùng phi cơ Dakota C-47 trốn sang Cao Miên.”
3/ Tôi đọc “cọp” hồi ký của Nguyễn Chánh Thi cách đây trên 20 năm về trước. Lúc đó còn là một học sinh trung học, nên không có tiền mua sách. Sau này khi có thể mua thì không mua được nữa. Theo trí nhớ của tôi, NCThi không có nói đến việc thân nhân đàn em bị trả thù. Điều này cũng hợp lý, vì lúc chính sách trả thù được thi hành, ông đang ở Cao Miên.
Do đó, khi viết về chính sách trả thù này tôi đã dựa vào Trần Ngọc Nhuận và Phan Lạc Giang Đông, 2 người có mặt tại Miền Nam khi chính sách nói trên được áp dụng.
4/ Vì bề bộn công việc cuối năm, tôi không có thời gian để phóng ảnh và đưa lên mạng gần nguyên cuốn “Nhìn Lại…” Những thành viên talawas nào có thể làm việc này thì nên ra tay giúp bạn đọc bốn phương có thêm tư liệu để tham khảo.
Kính ông Phùng Tường Vân,
Tôi không nhớ vì lý do gì mà tôi không có mặt hôm tang lễ anh bạn Tô Dương Hiệp. Nhưng ông đã đốt hương thì tôi cũng xin châm thêm hương.
Khi được biết chẩn đoán chính xác về chứng bệnh hiểm nghèo của anh Hiệp, các đàn anh của chúng tôi trên Bộ Y Tế chủ trương vận động nhằm đưa anh Hiệp sang Pháp điều trị vì anh ấy còn quá trẻ mà mất đi thì rất thiệt thòi cho ngành y tế. Tuy nhiên độ đó thủ tục xuất ngoại chính thức rất nhiêu khê mà bệnh thì tiến triển quá nhanh nên anh Hiệp không xuất ngoại kịp.
Khi được tin anh Hiệp mất, khoá chúng tôi có liên lạc với nhau và có đề cử người tham gia phúng điếu. Trước khi đưa anh Hiệp vào lòng đất, tôi có dịp gặp ông Bình Nguyên Lộc tại toà soạn Bách Khoa. Ông hỏi tôi : anh học y, anh có biết là sau khi chết, một số bộ phận trong cơ thể vẫn hoạt động không? Tôi trả lời ú ớ nên ông bảo : khi chết rồi, râu vẫn tiếp tục mọc dài ra. Tôi chỉ biết dạ dạ. Rồi thân phụ anh Hiệp chuyển qua ban lời khen tôi đã đứng ra hô hào anh chị em đồng khoá quyên góp tiền bạc giúp chị Hiệp. Số hiện kim này sau đó được trao lại tận tay cho quả phụ anh Hiệp. Đó cũng là dịp để chúng tôi xúc tiến chuyện họp khoá hằng năm, được mấy lần thì mất nước.
Xin ghi chú thêm (theo chỗ tôi biết) : bạn Tô Dương Hiệp yên nghỉ tại nghĩa trang dưỡng trí viện Biên Hoà. Đây là một tập tục đặc biệt của dưỡng trí viện : từ vị bác sĩ giám đốc đầu tiên đến y tá, bệnh nhân, lao công, nhân viên hành chánh v.v..
ai từng phục vụ và điều trị tại dưõng trí viện
mà từ trần khi đang phục vụ hoặc khi đang điều trị thì đều được mai táng cạnh nhau (trừ trường hợp những ai không muốn như vậy). Tôi suy đoán – chỉ suy đoán thôi – có lẽ bà Bùi Thị Nga cũng đang yên nghỉ cùng chỗ với bạn Tô Dương Hiệp.
Những hệ lụy làm khốn khổ lịch sử.
“Tôi xin cám ơn nhị vị… đã cung cấp thông tin về ông Nguyễn Mạnh Quang mà lần đầu tiên tôi được biết đến danh tính qua tài liệu do ông Trần Lâm đưa lên mạng kèm theo bài viết của mình. Cá nhân tôi xem thông tin của nhị vị rất quí giá cho sự tìm học của tôi. (TVT)
Tác giả Nguyễn Mạnh Quang là một người có những ân oán cá nhân rất sâu nặng in hằn lên suốt cuộc đời của ông đối với chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng tấn thảm kịch thực sự của cuộc đòi ông thì lại thực sự xẩy ra khi quân đội Hoa Kỳ có mặt đông đảo ở Việt Nam, nếu vì những mục đích học thuật thuần tuý khi đi “tìm tác giả” người nghiên cứu không thể nào bỏ qua những “những hệ lụy làm khốn khổ lịch sử” ấy và những ai quan tâm chắc chắn sẽ hoan nghênh mục đích “tìm học” ấy của ông Trần Văn Tích.
Tô Dương Hiệp, “đốt lò hương cũ”
“Nhân ông nhắc đến anh Tô Hoà Dương em ruột bác sĩ Tô Dương Hiệp, tôi xin thưa cùng ông là anh ấy không phải là người xa lạ đối với tôi.
Nhân ông Trần Văn Tích nhắc đến Tô Dương Hiệp tôi không rõ Trần quân có đi dự tang lễ của anh ấy không nhỉ, sở dĩ có câu hỏi tưởng như hoàn toàn irrelevant này là bởi vì nếu có chắc ông chưa quên những lời ông Bình Nguyên Lộc ứng khẩu khóc TDH buổi trưa hôm ấy: có cái thống thiết của một người cha mất con nhưng thấp thoáng cũng có cái humor của một người trí giả trước mọi nỗi phù ảo của cuộc đời.
Bác Trần Lâm:
1. Câu thứ 2, bác có thể nào úp lên các tài liệu từ A đến C và ông Trần Ngọc Nhuận hay không, để rộng đường cho các độc giả biết thêm.
2. Ông Trần Ngọc Nhuận này có tham gia nhóm đảo chánh hay không?
3. Người trực tiếp và đóng vai trò quan trọng của nhóm đảo chánh là ông Nguyễn Chánh Thi có nhắc đến trong hồi ký về chuyện gia đình đàn em bị hãm hại hay không?
4. Bác nói: “Chính sách trả thù của chế độ Ngô Đình Diệm đối với thân nhân nhóm sĩ quan tham gia cuộc đảo chánh 1960 chỉ được tiến hành tại Miền Nam sau khi Nguyễn Chánh Thi đã rời khỏi vùng đất này. Vậy, chứng từ của Trần Ngọc Nhuận và Phan Lạc Giang Đông, hai người có mặt tại Miền Nam khi chính sách nói trên được thi hành, là hai chứng từ tương đối đáng tin nhất. Do đó nên tôi đã dựa vào chúng.”
Vậy là ông Thi đi ra qua Cao Miên sau khi đảo chánh hay ở lại VN sau khi đảo chánh?
Xin ông vui lòng trả lời những câu hỏi của tôi. Cám ơn.
Thưa ông Hoà Nguyễn,
Nhân ông nhắc đến anh Tô Hoà Dương em ruột bác sĩ Tô Dương Hiệp, tôi xin thưa cùng ông là anh ấy không phải là người xa lạ đối với tôi.
Kính