Nguyễn Trang Nhung – Dân trí bao nhiêu cho Dân chủ?
10/11/2009 | 8:00 sáng | 127 Comments
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: DÂN CHỦ
1. Bài viết này chỉ ra những lý lẽ và phân tích nhằm tìm giải đáp cho câu hỏi được nêu trong tựa đề. Với bài viết này, tôi hi vọng sẽ tháo gỡ được hoàn toàn (hoặc phần lớn) băn khoăn của không ít người về mối liên hệ giữa Dân chủ và Dân trí.
Nhiều người cho rằng để có dân chủ cần có dân trí cao, hoặc ít ra là không thấp. Theo đó, dân trí phải đạt đến một trình độ nào đấy là điều kiện cần cho dân chủ. Tuy nhiên, không mấy ai chỉ ra được trình độ nào đấy cụ thể ra sao.
Dân trí được định nghĩa là trình độ hiểu biết của người dân, nói chung [1]. Ở một nước như Việt Nam, đa số người dân sống bằng nông nghiệp, lại ít có điều kiện tiếp cận với tri thức, nên trình độ hiểu biết nói chung – hay dân trí – là tương đối thấp.
Tôi không có ý muốn bàn cãi với những ai phản đối nhận định trên, bởi đó không phải là một trong những điều mà bài viết này hướng tới. Thay vào đó, tôi muốn chúng ta cùng đi đến một khẳng định rằng: Dân trí thấp vẫn có thể có dân chủ.
2. Cuộc bầu cử tại Ấn Độ vào tháng 5 vừa qua đã cho thấy rõ nét về quyền làm chủ của người dân nước này. Mặc dù đa số người dân Ấn Độ sống trong đói nghèo, và bởi thế, không có hoặc ít có điều kiện học hành, nhưng họ vẫn có thể sử dụng hiệu quả lá phiếu.
Trong một bài viết về cuộc bầu cử, Hồng Nga của BBC Việt ngữ đã mô tả một cụ bà 53 tuổi tên là Nila Devi, một nông dân ở làng Chhiattar, bang Bihar nghèo nhất nhì̀ Ấn Độ̣: “Giống như đa phần phụ nữ ở độ tuổi trung niên trong làng, bà Nila không biết chữ và chỉ nhận biết các đảng chính trị theo màu cờ sắc áo. Nhưng bà biết phải bầu cho ai.”[2]
Bài viết dẫn lời nhận xét của một nhà phân tích chính trị địa phương: “Cho dù nghèo đói, người dân ở đây nhận thức rõ ràng về dân chủ.”, và “Dân nghèo ở đây hiểu rằng quyền bầu cử là rất quan trọng, vì thông qua lá phiếu, họ có thể thay đổi cuộc đời.”[3]
Có thể nói, cuộc bầu cử tại Ấn Độ nói riêng và nền dân chủ Ấn Độ nói chung là minh chứng không thể chối cãi cho thực tế rằng: Dân chủ là hoàn toàn có thể ở một nước có mặt bằng dân trí thấp.
3. Nếu hình dung trình độ hiểu biết của một người như một chiếc tủ thì chiếc tủ ấy có nhiều ngăn. Mỗi ngăn của chiếc tủ chứa đựng những hiểu biết về một lĩnh vực nào đấy. Ngăn rỗng thì hiểu biết về một lĩnh vực bằng không, ngăn đầy thì hiểu biết về lĩnh vực ấy trọn vẹn. Trình độ hiểu biết của một người có thể được đánh giá là cao hay thấp, tùy thuộc vào việc chiếc tủ của người đó có các ngăn đầy, không rỗng không đầy, hoặc rỗng ra sao.
Hiểu biết về dân chủ có thể được đặt trong một ngăn. Ngăn này có thể rỗng ngay cả với người có nhiều hiểu biết, chẳng hạn những người có nhiều bằng cấp về các lĩnh vực chuyên môn nhưng lại không có khái niệm gì về dân chủ. Chiếc tủ của cụ bà Nila Devi trong minh họa kể trên có hầu hết các ngăn là rỗng, nhưng ngăn này thì không.
Thay chiếc tủ trình độ hiểu biết của mỗi cá nhân bằng chiếc tủ dân trí của người dân một nước. Ở góc độ dân trí, chỉ cần xem xét ngăn chứa hiểu biết về dân chủ, mà không cần xem xét các ngăn khác hoặc toàn bộ chiếc tủ, để biết người dân nước này có thể làm chủ hay chưa.
Hình dung đơn giản trên đây nhằm cho thấy rằng, để có dân chủ thì vấn đề không phải là dân trí cao hay thấp, mà là hiểu biết của người dân về dân chủ có đầy đủ hay không. Hiểu biết này chỉ là một phần nhỏ của dân trí. Không thể nói dân trí chung chung như một điều kiện cần cho dân chủ.
4. Dân chủ là một quá trình mà ở giai đoạn đầu, để hình thành một định chế với những yếu tố nền tảng đảm bảo cho việc người dân làm chủ thì không đòi hỏi dân trí cao. Song rõ ràng, trong bất cứ giai đoạn nào của dân chủ, dân trí càng cao thì việc thực thi dân chủ càng hữu hiệu. Trở lại hình ảnh về chiếc tủ dân trí, nếu các ngăn về các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, pháp luật,… càng đầy, thì khả năng người dân làm chủ một cách hiệu quả các lĩnh vực này – thông qua việc tác động và (gián tiếp) tạo nên các chính sách Nhà nước về các lĩnh vực, càng lớn.
Đến đây, có thể có ý kiến cho rằng: Cần một nền dân chủ có chất lượng cao ngay từ khi nó mới ra đời, và do đó, chỉ nên có dân chủ khi dân trí đã cao. Điều này tuy có vẻ đúng, nhưng thực tế là sai lầm. Bởi thứ nhất, đợi đến khi dân trí đã cao mới thực thi dân chủ thì sẽ không nhanh tiến bộ bằng thực thi dân chủ sớm khi có thể, và hệ quả là, thứ hai, không nhất thiết cần một nền dân chủ ngay từ đầu đã có chất lượng cao.
Có thể thấy nhiều quốc gia có nền dân chủ khá sớm khi trình độ dân trí không cao, chẳng hạn như Thụy Điển. Một thế kỷ trước đây, Thụy Điển vẫn chỉ là “một nước nông canh lạc hậu, với đại đa số dân chúng sống trong những điều kiện rất nghèo khổ”[4]. Cũng khoảng thời gian ấy, năm 1921 đã diễn ra cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên. Nền dân chủ Thụy Điển từ đó hình thành và dần trở nên bền vững. Đến nay, thành công của nền dân chủ Thụy Điển có thể được dễ dàng nhận thấy qua “những yếu tố dân chủ mạnh mẽ không chỉ trong chính trị quốc gia, vùng miền và địa phương, mà còn ở cả nhà trường, nơi làm việc, trong các tổ chức quyền lợi và các khu vực khác của xã hội”[5].
Chắc chắn rằng, nếu nền dân chủ Thụy Điển chỉ xuất hiện khi dân trí đã cao, thì ngày nay chúng ta đã không có cơ hội được chứng kiến sự thành công của nền dân chủ này đến như thế!
Tán thành việc đợi cho dân trí cao rồi mới thực thi dân chủ tương tự như tán thành việc tích lũy lý thuyết thành đống rồi mới đem ra thực hành, trong khi nếu vừa học vừa hành thì sẽ sớm hưởng được ích lợi từ việc lý thuyết và thực hành bổ trợ cho nhau.
Cũng như thực hành tác động trở lại (qua việc củng cố và có thể làm gia tăng) lý thuyết, dân chủ giúp cho dân trí phát triển. Thực hành dân chủ là cách tốt nhất để người dân kiểm nghiệm lý thuyết về quyền làm chủ quốc gia, đồng thời, kinh nghiệm làm chủ quốc gia có thể giúp người dân đạt được những tri thức mới. Thêm vào đó, xã hội dân chủ cho phép các quyền tự do, mà với các quyền này, người dân có được không gian rộng mở cho sự phát triển cá nhân, trong đó có sự hoàn thiện tri thức. Chẳng hạn, thông qua báo chí tự do và bàn thảo công khai về các vấn đề thời sự, người dân có thể mau chóng thu được những hiểu biết cần thiết trong các lĩnh vực mà mình quan tâm.
5. Kết lại, toàn bộ lý lẽ và phân tích đã nêu có thể được tóm gọn qua ba điểm chính: 1) Dân trí thấp vẫn có thể có dân chủ. Để có dân chủ thì người dân cần hiểu biết về dân chủ, trong đó có quyền làm chủ của mình, hiểu biết này là một phần của dân trí; 2) Dân trí càng được nâng cao thì dân chủ càng được thực thi hữu hiệu, và ngược lại, dân chủ càng được thực thi hữu hiệu thì dân trí càng được nâng cao; 3) Thực thi dân chủ sớm khi có thể thì tốt hơn là đợi đến khi dân trí đã cao.
Cần lưu ý rằng, trong điểm đầu tiên, hiểu biết của người dân về dân chủ chỉ là một điều kiện cần (mà không phải toàn bộ điều kiện) cho dân chủ. Xét từ phía người dân, chỉ riêng hiểu biết này thôi là chưa đủ cho việc người dân thực hiện quyền làm chủ của mình.
Nếu có hiểu biết về quyền làm chủ nhưng không có ý thức thực hiện quyền này thì có nghĩa người dân đã tự tước đi cơ hội được làm chủ đất nước. Cho nên, chỉ khi hiểu biết về quyền được song hành với ý thức thực hiện quyền, thì mới có hi vọng rằng người dân sẽ trở thành chủ nhân đích thực.
Tại Việt Nam, hiểu biết về dân chủ lẫn ý thức thực hiện quyền làm chủ của người dân còn hạn chế, vì vậy, để tiến tới dân chủ, hai yếu tố này phải được nâng cao. Việc nâng cao cả hai yếu tố sẽ diễn ra rất chậm chạp nếu thiếu đi những điều kiện tác kích. Những điều kiện ấy có thể được tạo ra từ phía chính quyền bằng cách mở rộng dần không gian sinh hoạt dân sự và chính trị cho người dân, để người dân tham gia ngày càng sâu vào việc điều hành xã hội[6]. Bên cạnh đó, chính quyền cần có những đột phá trong việc cải tổ hệ thống chính trị hiện tại để đạt đến một thể chế dân chủ hiệu quả trong tương lai.
© 2009 Nguyễn Trang Nhung
© 2009 talawas blog
[1] Theo Từ điển tiếng Việt – Nxb Đà Nẵng.
[2] Đói nghèo và Dân chủ – Hồng Nga, BBC Việt Ngữ
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/05/090511_trainblog3.shtml
[3] Như trên.
[4] Thụy Điển & Người Thụy Điển – Claes Britton và Viện Thụy Điển.
[5] Như trên.
[6] Ví dụ, mở rộng dần bầu cử dân chủ cấp cơ sở để tiến dần tới bầu cử dân chủ cấp quốc gia.
Bình luận
127 Comments (bài “Nguyễn Trang Nhung – Dân trí bao nhiêu cho Dân chủ?”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 … 9 Trang sau »
Ông Lê Quốc Trinh,
“Không có ý thức cá nhân làm căn bản từ khởi đầu, lấy đâu ra ý thức tập thể xã hội, hở ông Dũng ?”
Điều này đúng, nhưng xã hội lại là tập hợp của rất rất nhiều cá nhân; thế nên không thể đem cái Ý THỨC CÁ NHÂN của mình hoặc của ai đó, của nhóm thiểu số “tiến bộ” nào đó để đánh giá hiện trạng DÂN CHỦ trong xã hội.
Vì nếu làm vậy thì chính nó đã đi ngược lại cái gọi là “tiếng nói của mỗi người đều quan trọng ngang nhau, khi cầm lá phiếu bầu cử thì ông bác sĩ, anh kỹ sư, Ngài Giám Đốc công ty lớn, hết thảy đều quan trọng như nhau.” rồi đó thôi.
Nhưng ông thấy đấy, trong Talawas này nói chung và trong Thread này nói riêng lại hầu hết là những vị cứ mang cái “dân chủ” của mình hay ở đâu đó về rồi “phán” ầm ầm về dân chủ trong xã hội Việt Nam. Họ lấy tư cách gì mà cho rằng người dân trong nước là ngu, dốt đến nỗi không ý thức được cái “dân chủ” của họ ? Đó là bình đẳng, là tôn trọng khác biệt, tôn trọng người khác đó sao ?
Ông Nguyễn Hùng,
1. “Khái niệm mà Anh Dũng nghĩ đến thực sự không phải là ý nghĩa dân chủ mà tác giả bài viết này nhắm đến”
Tôi không hiểu bằng cách nào mà chưa biết “khái niệm dân chủ” nhưng lại có thể phân tích “ý nghĩa dân chủ” – cũng như chưa biết cô gái X là ai, cao thấp, trắng đen,…thế nào mà đã ngồi “bình loạn” cô ấy xấu hay đẹp ?
2. “điều đó chỉ có trong sự diễn dịch của các nhà lý thuyết CS hiện nay, để hòng bám vào cái lý thuyết đã xa lắm rồi với sự tiến hóa của nhân loại.”
Ô hay, “các nhà lý thuyết CS hiện nay” thì cũng là con người, là công dân. Vậy thì họ hòng gì và bám vào đâu là chuyện bình thường.
3. “Không ai bám vào một cái gì đó mơ hồ như anh nghĩ, mà hiện nay dân chủ là một xu thế tất yếu của cuộc sống loài người tiến bộ”.
Lại theo cái lý lẽ của ông lần trước thì “nhân loại” cũng chưa thống nhất được “dân chủ là…” đâu. Mỗi người có cảm nhận, quan điểm riêng cơ mà. Những cảm nhận, quan điểm cá nhân đó hoàn toàn có thể khác biệt, mâu thuẫn nhau; vậy thì chẳng có cái gì gọi là “xu thế tất yếu” cả.
Ông Nguyễn Hùng chỉ biết được chính xác cảm nhận, quan điểm của bản thân ông mà thôi; ông không thể nói thay tiếng nói của cả nhân loại.
Nhân khi đang tham khảo về nền dân chủ Ấn Độ và đọc được một đoạn hay trong bài viết: “Ấn Độ và Mỹ đã chọn Dân chủ” của tác giả Ngô Nhân Dụng, tôi trích ra đây đoạn đó, để chúng ta cùng tham khảo và bàn luận thêm:
“Cuộc bỏ phiếu đầu tiên ở Ấn Ðộ diễn ra năm 1951 và 1952, sau khi đã thông qua một bản hiến pháp dân chủ. Các sử gia còn ghi lại sự ngạc nhiên của các nhà quan sát chính trị khi họ thấy những người dân Ấn nghèo nàn, mù chữ tham dự tích cực vào diễn trình dân chủ này. Bài học rút được là: Khi chúng ta tin tưởng vào người dân, họ sẽ trưởng thành, thiết tha với quyền bầy tỏ ý kiến bằng lá phiếu.
Một nữ ký giả Mỹ tới Ấn Ðộ quan sát và chụp hình cuộc bỏ phiếu đầu tiên ở Himachal Pradesh đã kinh ngạc trước sự tận tâm của các công chức, những người vẫn được huấn luyện ý thức rằng bộ máy hành chánh phải đứng ngoài các hoạt động chính trị đảng phái. Một công chức địa phương đã đi bộ 6 ngày mới lên tới huyện dự khóa huấn luyện tổ chức phòng phiếu như thế nào. Một công chức khác khá giả hơn, cưỡi trên lưng con lừa tới dự họp sau 4 ngày di chuyển. Sau khi dự khóa huấn luyện đó, họ trở về làng mình đem theo những bao bố đựng hộp đựng phiếu, các lá phiếu in sẵn, bảng hiệu của các đảng tranh cử, và danh sách các ứng cử viên. Ðến ngày bỏ phiếu, cô nhà báo Mỹ đã tới làng Bhuti trên sườn núi. Tại đó, phòng đầu phiếu là một ngôi trường với một lớp học, chỉ có một cửa ra vào. Theo luật bầu cử thì các cử tri phải vào bằng một cửa và sau khi làm bổn phận công dân phải đi ra bằng cửa khác. Các nhân viên phòng đầu phiếu phải bắc ghế cho các cử tri già bước lên trèo qua cửa sổ khi đi ra. Ðó là những bước chân đầu tiên dẫn tới nền dân chủ Ấn Ðộ. Nhờ lòng thành tín của giới lãnh đạo chính trị từ lúc ban đầu, người dân đã tin tưởng vào thể chế tự do dân chủ trong hơn nửa thế kỷ qua. Tại hai quốc gia Mỹ và Ấn Ðộ, không phải chỉ có Washington và Nehru chọn con đường dân chủ. Trong giai đoạn thành lập thể chế quốc gia sau khi độc lập, cả Mỹ lẫn Ấn Ðộ đều có những nhà trí thức hiểu biết và tin tưởng vào dân chủ.”
Nguồn: http://thongtinberlin.de/diendan/andovamydachondanchu.htm
@Cafedenda
Giá như Càedenda không có phản hồi trước (http://www.talawas.org/?p=12978&cpage=1#comment-7740) mà phản hồi ngay bằng phản hồi vừa rồi thì tôi rất mừng được trả lời bạn. Tôi xin miễn trả lời, chỉ có một lời nhỏ, hai phản hồi của bạn “đá” nhau đấy.
Gửi chú Trương Nhân Tuấn (cháu gọi như vậy vì đã biết đến chú cùng tuổi tác của chú, còn cháu nay 27 tuổi),
Phân tích của chú sự khác nhau giữa Khai dân trí xưa và nay rất hay và hữu ích! Cảm ơn chú về phản hồi này. Về vấn đề trí thức VN hiện nay, cháu cũng có cùng suy nghĩ . Mong là trí thức VN sẽ sớm có những biến chuyển tích cực.
Gửi bạn V. Quốc Uy,
Ý nghĩ về sự chắt lọc và xử lý một bài toán “tối ưu hóa” như vậy khá thú vị. Xin cảm ơn bạn và sẽ tiếp tục bàn sâu hơn về bài toán này!
Xin cảm ơn bạn Nguyễn Đình Đăng đã cho một diễn giải cụ thể và sáng rõ hơn về Dân chủ, so với định nghĩa mà tôi đã đưa ra.
Cũng cảm ơn bạn XichLo đã chỉ ra Dân chủ với những đặc trưng của nó, dẫn từ tài liệu What is Democracy? của Hoa Kỳ. Đây là một tài liệu rất hay. Mong là bạn Anh Dũng sẽ tìm thấy trong tài liệu này nhiều điều thú vị!
Cảm ơn bạn Cafedenda đã giúp tôi phản hồi comment của bạn Hưng Quốc. Tôi không biết cụ thể nội dung comment này do tôi không thể xem được các comment từ những trang trước (chẳng hạn, đang ở trang comment 3, nhấn vào trang comment 1, 2 thì không chuyển sang được các trang comment đó). Không rõ có phải vì tôi vào talawas từ web proxy (do đang ở VN) hay không.
Tôi chắt lọc các ý kiến của tác giả Nguyễn Trang Nhung và các độc giả mà thu hoạch được nhiều gợi ý rất hay. Xin viết thêm:
– Có thể ví Dân chủ như một đỉnh cao cần chiếm lĩnh. Muốn vươn đến đỉnh phải có một cái nền làm chỗ đứng, làm điểm tựa, làm bàn đạp.
Hãy tạm lấy Dân chủ làm mục tiêu (vì mục tiêu cuối cùng là Tự do kia). Trực tiếp nhất với mục tiêu Dân chủ thì chỉ cần cái nền hẹp là Ý THỨC DÂN CHỦ và quyết tâm giành Dân chủ thôi (là đủ), không cần quá rộng, nhưng Ý thức dân chủ lại đứng trên cái nền rộng hơn là DÂN TRÍ, Dân trí lại đứng trên cái nền rộng hơn nữa là VĂN HÓA.
– Ở đây cần xử lý một bài toán “tối ưu hóa”:
Cần xây nền, vì không có nền thì không thể vươn đến đỉnh, nhưng mất quá nhiều công xây các nền tảng cho hoàn chỉnh, cho thật bài bản, cho thật rộng, mà không tranh thủ cơ hội chiếm mục tiêu thì sẽ rất chậm và thật lãng phí.
Trái lại nếu chỉ ham vươn lên chiếm mục tiêu mà không có nền thì hoặc không thành công, hoặc thành công rồi lại đổ.
Vậy nền tảng cần có trước, nhưng đừng quên thành quả DÂN CHỦ và cái nền DÂN TRÍ có tác động tương hỗ (chứ không phải quan hệ một chiều), có khi đạt đỉnh rồi cái đỉnh lại trở về củng cố thêm cho cái nền (như quan hệ nhân quả “bật tường” liên tục giữa con gà và quả trứng vậy).
Xử lý tương quan này thế nào để đạt kết quả nhanh chóng nhất, vững bền nhất, có ích lợi nhất chính là lĩnh vực “nghệ thuật” mà ta phải giành cho các nhà chính trị chuyên nghiệp thôi, thiết kế nền để tạo thời cơ rồi tận dụng thời cơ để có đột biến mà đạt mục đích, và bí quyết này nằm kín trong đầu của họ, dễ gì họ nói ra?. Ta chỉ có thể nhận thức với nhau đôi điều có tính nguyên lý, phải không ạ?.
Cái khó là đây như một ván cờ, phải xem đối thủ (chống Dân chủ) đi nước cờ nào mà người “dân chủ” nghĩ nước đi tiếp, đâu có thể tự đặt một chương trình để đi từ đầu đến cuối như kiểu chơi cờ một bên?
Dẫu có nguyên lý nhưng Thực tiễn vẫn luôn bất ngờ.
Mong được nghe thêm các cao kiến để nhận thức được thêm sáng tỏ.
Ở đây có bài giải thích “Dân Chủ là gì?”
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_whatisdemocracy.html
Trong đó tác giả liệt kê những điểm phải có:
1-Quyền tối cao của nhân dân.
2-Chính phủ được thành lập dựa trên sự nhất trí của người dân.
3-Nguyên tắc đa số.
4-Các quyền thiểu số.
5-Đảm bảo các quyền cơ bản của con người.
6-Bầu cử tự do và công bằng.
7-Bình đẳng trước pháp luật.
8-Thực hiện đúng luật.
9-Hiến pháp đặt ra các giới hạn quyền lực của chính phủ.
10-Đa nguyên về chính trị, kinh tế và xã hội.
11-Thúc đẩy các giá trị của dung hòa, thực dụng, hợp tác và thỏa hiệp
Nói qua một chút về «dân trí».
Tôi đồng ý (phần lớn) với Trang Nhung trên vấn đề «dân trí». Tôi nghĩ sẽ là gượng ép nếu xem «dân trí» như là một điều kiện ắt có (hay đôi khi là điều kiện đủ) để Việt Nam có được dân chủ như nhiều người trên đây, mà bạn Nguyễn Tâm Bảo (khi đưa trường hợp Đài Loan và Đại Hàn) là một thí dụ!
Trong bài của Trang Nhung (và các góp ý) cho thấy có vài trường hợp (Hoa Kỳ và Ấn Độ) «dân trí» không là điều kiện (cần hay đủ) để thành hình một xã hội dân chủ. Phẩm chất các xã hội dân chủ này cần nói thêm nhiều điều. Không thể nói hết ở góp ý ngắn này.
Nhiều người quan niệm rằng «dân trí» có quan hệ «hữu cơ» với «chính trị». Nói theo quan hệ «nhân quả» của nhà Phật thì gieo nhân «nhân trí», tức «khai dân trí» hôm nay thì sẽ được quả «dân chủ ở Việt Nam» ngày mai. Tức là, nếu VN muốn có dân chủ thì việc cần thiết phải làm là «khai dân trí».
Hành động hô hào «khai dân trí» là một hành động chính trị, quan hệ «khai dân trí» – «dân chủ» là quan hệ chính trị – chính trị, một hành động chính trị nhắm về một mục tiêu chính trị.
Tôi thấy quan niệm này không mấy ổn, vì hiểu sai Phan Châu Trinh, ít ra ở hai điểm.
1/ Về mục tiêu: việc hô hào «khai dân trí» nguyên thủy của cụ Phan Châu Trinh, là một quyết định hoàn toàn có mục tiêu văn hóa, trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt.
Xã hội Việt Nam thời cụ Phan Châu Trinh là một xã hội phong kiến. Văn hóa bốn ngàn năm là phải có ít ra 3800 năm được xây dựng trên nền tảng nho phong. Người có học (kẻ sĩ) chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong xã hội, trong đại đa số dân chúng mù chữ. Thực chất cái học (nền giáo dục) của Việt Nam khi đó là từ chương, trọng hình thức, kiến thức giới hạn trong một phạm vi vạch sẵn (của nho giáo). Mục tiêu cái học (nền giáo dục) này chủ yếu là đào tạo «quan văn» để phục vụ cho ông vua. Thành phần đi học (kẻ sĩ) nếu không thành công trong quan trường (tức thi rớt) thì về quê làm thầy đồ, thầy thuốc, thầy cúng… Cũng là thầy, chỉ đứng sau vua, quân sư phụ mà, nhưng chủ yếu là bám lấy gấu quần vợ mà sống. Pháp vào Việt Nam, trong tình trạng văn hóa nước nhà như vậy, đặt nền móng «bảo hộ», áp đặt luôn nền văn hóa mới. Người ta nghĩ gì về nền văn hóa mới này? GS Hoàng Tụy, một trí thức lớn của VN hôm nay, phát biểu như sau: «Cái phần thực dân trong nền giáo dục ấy chỉ là cái vỏ ngoài do bọn thực dân áp đặt ở thuộc địa mà cũng chỉ có tác dụng rất hạn chế, còn cái phần nhân văn, cái phần văn hóa cơ bản, cái phần thật sự là tinh túy trong triết lý giáo dục của nó thời đó thì ai tiếp thu được đều tốt cho họ, cho đất nước họ, cho nhân dân họ, không cứ là cho người Pháp, cho nước Pháp. Có lẽ chính vì nhìn thấy điều ấy mà Phan Chu Trinh đã sáng suốt đề ra: hưng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh».
Hưng dân trí hay khai dân trí? Có lẽ ít người nói «hưng dân trí», mà nói là «khai dân trí» khi nói đến cụ Phan Châu Trinh. Nhưng không nói cụ Tụy nói sai hay đúng ở đây, mà nói về vấn đề «dân trí».
Theo mục tiêu của cụ Phan Châu Trinh, «khai dân trí» được thể hiện qua đường lối của Đông Kinh Nghĩa Thục. Đó là: 1) dạy chữ Quốc ngữ; 2) dịch sang Quốc ngữ và truyền bá “tân thư” với tư tưởng dân quyền, dân chủ; dùng sách vở văn, sử, địa dân tộc và soạn lại sách vở Trung Hoa cho phù hợp; 3) sửa đổi phép thi, bước đầu là bỏ thi văn bát cổ, chỉ thi sách luận; 4) khuyến khích người tài năng trong trí thức Nho học cũ, đặc biệt về các môn thực học, người giỏi về các khoa thực học phải được đánh giá cao hơn tiến sĩ Nho học; 5) chấn hưng công nghiệp, khuyến khích sáng chế và phát minh, thưởng và công nhận tác quyền cho người phát minh; 6) mở mang báo chí, “về đường tư tưởng không có luật pháp ngăn cấm”. (trích từ bài «Dân khí ươn hèn chỉ có thể “văn minh” về hình thức» của Vũ Thế Khôi).
Như thế mục tiêu «khai dân trí» của cụ Phan Châu Trinh, là một mục tiêu văn hóa: thay đổi, từ nền tảng, cái học, tức văn hóa của VN. (Trong khi việc hô hào khai dân trí ngày này là để có dân chủ).
2/ Về thực hành:
Điểm không ổn khác là ở thời cụ Phan Châu Trinh, việc «khai dân trí» là nương theo đà Tây học hóa cái học cũ, được khởi xướng từ phía nhà cầm quyền. Việc «khai dân trí» được thực hiện từ trên xuống. Việc này thành công dễ dàng, cái học văn nho đã bị mất hẳn, đương nhiên phần lớn là do phong trào hô hào tân học, bắt nguồn từ Đông Kinh Nghĩa Thục, nhưng chủ yếu là do sự hỗ trợ từ phía nhà cầm quyền. Nếu không do phía nhà cầm quyền khởi xướng (và Cụ Phan Châu Trinh, trong một chừng mực, nương theo) thì vấn đề «khai dân trí» chưa chắc sẽ tới đâu. Trong khi ngày hôm nay, việc hô hào «khai dân trí» được khỏi xướng từ một vài trí thức, tức khởi từ bên dưới. Việc này không thể thành công nếu không có phía chính quyền tiếp tay.
Do đó, tóm lại, áp dụng lý thuyết của cụ Phan Châu Trinh một cách máy móc vào thời đại hôm nay là cố gắng gọt chân cho vừa giày. Thực chất nền văn hóa của VN hôm nay không cần phải thay đổi từ nền tảng (từ nho học qua tây học), mà chỉ cần cắt bỏ một vài tiết có ảnh hưởng chính trị trong giáo dục (và văn hóa). Chương trình giáo dục VN xem ra không khác các chương trình giáo dục nước ngoài. Khác chăng là «phẩm chất» của người lãnh đạo và người làm giáo dục. Muốn cắt bỏ các ảnh hưởng chính trị này ra khỏi giáo dục (và văn hóa) thì phải có một thay đổi về chính trị. Tức là một vấn đề chính trị. (Mà muốn có thắng lợi về chính trị thì không thể làm «kiến nghị»).
Trí thức VN «né» các vấn đề chính trị, do sợ liên lụy, sợ mất vị trí an nhàn, ăn trên ngồi trước. Trong khi đó trí thức là lương tâm của xã hội. Trí thức có vai trò hướng dẫn xã hội. Ở các nước, kể cả Ấn Độ, trí thức đều đóng vai trò của mình. Ở Việt Nam, trí thức không đóng được vai trò của mình, có lẽ do VN chưa thật sự có tầng lớp trí thức, hay là trí thức VN cần phải «chấn trí thức khí». Ở đây thay chữ «dân» bằng chữ «trí thức» trong vế thứ hai của chủ trương Phan Châu Trinh «chấn dân khí». Có người nói trí thức VN «hèn». Có người còn ví khốc liệt hơn, vì hèn mà trí thức xuống bùn đen: «những dương vật buồn thiu». Chắc là đúng thôi!
Về ý kiến của bạn Nguyễn Tâm Bảo, khi đưa thí dụ của Đài Loan và Đại Hàn, cho rằng khi dân trí cao thì sẽ có một nền dân chủ tốt hơn. Thực tế thấy thì đúng đó.
Vấn đề là làm thế nào để có dân trí cao cho dân VN hiện nay? Khai dân trí phải là một quyết định chính trị của nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền không muốn, thì anh làm gì? Viết báo, viết blog, viết trên talawas? Bao nhiêu người đọc? Ảnh hưởng bao nhiêu so với bộ máy tuyên truyền (đồ sộ) gồm hàng ngàn tờ báo (theo lề phải), hàng trăm đài phát thanh, truyền hình, lại còn hỗ trợ thêm một đội ngũ công an văn hóa? Không nghe bên chị Hồ Thu Hồng (blogger Beo) nói hay sao? Theo chị này thì mỗi nhà báo có tiếng là phải dựa lưng vô một ông TW. (Không có thì ngã thôi!) Lại có vụ nhà báo (kiêm blogger) nổi tiếng nọ, khi đi uống cà phê với «một người», sau đó phải về làm báo cáo cho CA. Trí thức như vậy thì chừng nào mới khai được dân trí? Mà có cần thiết không, nếu hiểu «khai dân trí» theo chủ trương của cụ Phan Châu Trinh (ở thời của cụ)?
Riêng về tình hình Đài Loan và Đại Hàn, cũng nên nói rõ hơn về hai nước này, nó rất có thể là kiểu mẫu lý tưởng cho VN theo, xin anh Nguyễn Tâm Bảo, nếu được thì nói thêm.
Xin mạn phép tác giả Nguyễn Trang Nhung để có đôi lời với ông Hưng Quốc:
Ông Hưng Quốc không đồng ý sự chia ngăn về dân trí của tác giả Nguyễn Trang Nhung, và phê bình của ông HQuốc có vẻ đúng, nhưng có thể ông HQuốc đã hiểu không đúng cái khái niệm mà tác giả NTNhung đưa ra.
Ở đây tác giả NTNhung viết rất rõ ràng: “Ở góc độ dân trí, chỉ cần xem xét ngăn chứa hiểu biết về dân chủ, mà không cần xem xét các ngăn khác hoặc toàn bộ chiếc tủ, để biết người dân nước này có thể làm chủ hay chưa.”
Và tác giả NTNhung khẳng định : “…để có dân chủ thì vấn đề không phải là dân trí cao hay thấp, mà là hiểu biết của người dân về dân chủ có đầy đủ hay không. Hiểu biết này chỉ là một phần nhỏ của dân trí. Không thể nói dân trí chung chung như một điều kiện cần cho dân chủ.” Khác với ý mà ông HQuốc diễn giải: “không thể gọi “anh A “dân trí hóa học” cao nhưng “dân trí dân chủ” thấp”…hay đại loại như vậy.” Tác giả NTNhung không phân định “dân trí hóa học”, hay “dân trí dân chủ”, mà là sự hiểu biết về hóa học, và sự hiểu biết về dân chủ.
Phê bình sự phân định của tác giả NTNhung, nhưng ông HQuốc lại “phân loại” dân chủ theo hàng hóa. “Hàng Tàu”, “Nhật, Mỹ…” và “hàng nhái, hàng dỏm…” Lập luận như vậy là không công bằng.
Tiếp tục, ông Hưng Quốc nhìn nhận đầy vẻ tự tôn rằng “…cần phải có “con mắt tinh đời” nữa. Dân trí cao thì mua được “hàng tốt”, dân trí lùn thì vớ phải “hàng giả, hàng nhái” là chuyện cầm chắc.” Lập luận này là thiếu tôn trọng sự hiểu biết của người khác, chỉ có ta là “đỉnh cao”, và có thể xem lập luận này là “thiếu dân chủ”.
Cuối cùng ông Hưng Quốc còn “chua” thêm rằng: “…bài viết đã giải quyết vấn đề “dân chủ cho dân trí thấp”, “dân trí” theo cách hiểu của tác giả. Nó gần như là “giải quyết máy tính xách tay cho học sinh tiểu học miền ngược”. Kiểu lập luận này đã xem nhẹ, và thậm chí tước đoạt cái quyền lợi được hưởng của người khác. Nếu không nói là rất coi thường người khác.
Những lập luận theo kiểu không công bằng, thiếu dân chủ, đầy vẻ tự tôn, mang tính tước đoạt, rất xem thường người khác… kể trên, luôn được giới lãnh đạo chóp bu “có nhiều dân trí hơn người khác” sử dụng, để minh họa, biện luận cho đường lối, sách lược “đúng đắn, phù hợp và không thể thay thế” của các chế độ độc tài, độc đảng.
Dân chủ là gì?
_________________
Từ “Dân Chủ” (Democracy) có gốc từ 2 từ Hy Lạp là “demos” (δῆμος) có nghĩa là nhân dân và “kratos” (κράτος) có nghĩa là quyền lực. Dân Chủ là hệ thống chính trị trong đó nhân dân thực hiện quyền lực thông qua nhà nước gồm các đại diện do họ bầu ra. Hai nguyên tắc cơ bản của dân chủ là “bình đẳng” và “tự do”. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và có cơ hội như nhau để nắm và thực thi quyền lực. Quyền tự do cá nhân của mọi công dân được bảo đảm bằng hiến pháp. Dân Chủ là phương tiện, là cách để nhà nước đảm bảo Tự Do cho nhân dân. Tự Do là mục đích cuối cùng.
Chính vì vậy mà nền Dân Chủ thực sự phải là Dân Chủ Tự Do (liberal democracy) trong đó Dân Chủ là phương tiện, Tự Do là mục đích.
Không nên nhầm lẫn khái niệm Dân Chủ với “ý kiến của số đông”, bởi nếu không được hiến pháp bảo vệ hoặc dưới chế độ của một nhà nước vô trách nhiệm, các quyền tự do cá nhân sẽ dễ dàng bị thể chế độc tài của số đông đàn áp.
Một trong những điểm cơ bản đảm bảo cho nền dân chủ là phải có tranh đua bầu cử một cách công bầng và tự do. Các quyền tự do biểu hiện, tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền tối thượng để công dân được thông tin đầy đủ và có thể tự chọn ra những đại diện xứng đáng cho quyền lợi cá nhân của mình.
Thực sự mà nói một nhà nước cho dù được dân bầu, nhưng không đảm bảo các quyền tự do cao nhất của con người là Tự Do Biểu Hiện và Tự Do Ngôn Luận (bao gồm tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập đảng đối lập) thì chưa thể được coi là một nhà nước dân chủ vì chưa bảo đảm được Tự Do cho người dân. Nhà nước như vậy mới ở mức “do dân” (bầu lên) nhưng chưa “vì dân”.
Gửi bạn Tâm Bảo: Cảm ơn bạn về link tới bài viết, tôi sẽ xem và sẽ phản hồi sớm khi có thể.
Gửi bạn Dạ Hương: Cảm ơn bạn về đoạn trích lời phát biểu của Thomas Jefferson. Lời phát biểu rất hay và tôi rất thích cái ý nghĩ của vị tổng thống này rằng “giải pháp không phải là tước bỏ quyền của dân mà chính là nâng cao dân trí.” Có thể nói nước Mỹ rất may mắn vì trong thời kỳ đầu của nền dân chủ của nó, nó đã có những người lãnh đạo không những tài giỏi mà có cả tấm lòng vĩ đại.
Về khái niệm Dân chủ, xin trả lời bạn Anh Dũng và những ai quan tâm tới khái niệm này như sau:
Như tôi đã nói thì việc không đưa ra định nghĩa cho khái niệm này là một thiếu sót của bài viết. Nên sau đây tôi sẽ trình bày đôi chút về khái niệm.
1. Dân chủ [tính từ], hiểu một cách nôm na là (tính chất của một thể chế chính trị mà ở đó) dân làm chủ.
2. Dân chủ [danh từ] là một hình thức của một thể chế chính trị mà ở đó, dân làm chủ. Cụ thể là người dân có quyền lực chính trị tối thượng mà với quyền lực này, họ có thể trao cho hoặc thu hồi từ một chính quyền cai trị, thông qua các cuộc bầu cử tự do, công bằng và công khai.
Ở đây, chúng ta xem xét nghĩa 2.
Nghĩa 2 là một định nghĩa phổ thông cho từ Dân chủ [danh từ]. Với định nghĩa này, người ta có thể phân ra hai loại: Dân chủ tự do và Dân chủ phi tự do.
Khi nói đến Dân chủ phi tự do thì người ta vẫn coi đó không phải là Dân chủ đích thực. Cho nên, Dân chủ được định nghĩa như vậy còn hạn chế, nên cũng có định nghĩa hoàn chỉnh hơn: vẫn với nghĩa 2, song bao hàm đặc điểm là thể chế đó đảm bảo các quyền tự do cho người dân. Định nghĩa hoàn chỉnh này chính là định nghĩa mà tôi muốn nói tới trong bài viết.
Hi vọng là với comment này, bạn Anh Dũng sẽ cảm thấy hài lòng hay ít ra là không còn nhiều thắc mắc về khái niệm.
P/S: Tôi xin dẫn thêm định nghĩa về Dân chủ (mà theo tôi còn hạn chế) trong từ điển của Nxb Đà Nẵng:
[danh từ] chế độ dân chủ hoặc quyền dân chủ [nói tắt]
[tính từ] 1. có tính chất của chế độ dân chủ, toàn dân có quyền tham dự việc nước hoặc tự do phát biểu ý kiến về việc nước, 2. [phương thức công tác] tôn trọng quyền tự do dân chủ, không quan liêu độc đoán
Ông Anh Dũng thân mến,
Ông đã trả lời tôi như sau:
…”Còn phần diễn giải “DÂN CHỦ là ý thức thật sự khi mọi cá nhân đều thấy mối quan hệ nhân sự trong xã hội là cần thiết…” thì theo đó: DÂN CHỦ đơn thuần là Ý THỨC CÁ NHÂN. Nó không thể được áp dụng vào việc mô tả một hiện trạng xã hội, một thể chế nhất định.
Ơ hay! Không có ý thức cá nhân làm căn bản từ khởi đầu, lấy đâu ra ý thức tập thể xã hội, hở ông Dũng? Nếu tôi không thấy chị quét rác đầu đường quan trọng ra sao, thì ngõ hẻm nhà tôi đã bị đống rác hôi thối bịt kín lối đi từ lâu? Nhà tôi bị trộm leo vào, nếu không có mấy chú cảnh sát can thiệp thì tôi bị khoắng hết sạch… hàng trăm tầng lớp xã hội đó thay phiên đóng góp chung để làm tươi đẹp cuộc sống. Bó buộc tôi phải cần đến họ và họ cũng cần đến tay nghề của tôi vậy. Do đó tiếng nói của mỗi người đều quan trọng ngang nhau, khi cầm lá phiếu bầu cử thì ông bác sĩ, anh kỹ sư, Ngài Giám Đốc công ty lớn, hết thảy đều quan trọng như nhau. Thể chế dân chủ là thế, chỉ có thể chế độc tài Đảng trị chuyên chính thì người dân không đáng đồng xu. Bởi vậy mà dân tộc VN đã bị kiềm hãm trong u mê tăm tối suốt nửa thế kỷ nay, người đại diện dân tộc được Đảng đề cử chỉ để làm vui lòng ông bạn láng giềng hay ông đại sứ Mỹ mà thôi.
Bây giờ tôi mới thấm thía những bài học Công Dân Giáo Dục hồi còn chính thể VNCH, ngày xưa nghe nói đến Tam Quyền biệt lập (Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp), nào có hiểu chi đâu, buồn ngủ muốn chết, qua bên Bắc Mỹ mới hiểu thấm thía thể chế dân chủ pháp trị quan trọng dường nào. Dân Chủ là mỗi người dân tự làm chủ vận mạng mình thông qua lá phiếu, cho nên ý thức cá nhân rất ư quan trọng, nào phải chuyện đùa, hở ông Anh Dũng! Cái lý thuyết này ông cho là tuyên truyền cũ rích, nhưng tôi thì nghĩ ngược lại.
Chào thân ái,
Vấn đề DÂN TRÍ và DÂN CHỦ tuy không mới mẻ gì nhưng vẫn không tránh khỏi những nhầm lẫn đã rất cũ và không uyển chuyển theo thực tế, nên quả thực nói lại vẫn là cần thiết.
Xin phép trích lại thiển ý của tôi đã một lần post lên talawas như sau:
“… vì có chữ “TRÍ ” nên nhiều người hiểu trí ấy chỉ là trí tuệ, từ đó quy thành nhận thức, thành lý trí, thành học vấn, thành bằng cấp.
Không phải thế. Chữ “TRÍ” trong thuật ngữ dân trí còn bao gồm cả “DÂN CHÍ”, còn bao gồm rất nhiều yếu tố tinh thần lâu bền cũng như nhất thời của một cộng đồng dân tộc như: truyền thống, đạo lý, bản tính, lề thói, ứng xử, tâm lý, hoài niệm, ước nguyện, sở thích, trào lưu, mốt… Tóm lại, đó là TỔNG THỂ NHỮNG YẾU TỐ để giải thích tại sao trước một biến cố như thế dân tộc ấy lại phản ứng như thế, lại diễn biến như thế chứ không phản ứng cách khác …
Những yếu tố phức tạp ấy của dân trí không chỉ hình thành do học hành, do dạy dỗ trong nhà trường hay trong sách vở mà quan trọng hơn hết là trong thực tiễn xã hội (thực tiễn sản xuất, thực tiễn cạnh tranh, thực tiễn đấu tranh…). ..
… Những cuộc biểu tình đòi ruộng đất của dân oan, đòi điều kiện sống của công nhân, đòi nhà thờ chùa chiền của tôn giáo, biểu tình chống thất thoát lãnh thổ – biên cương… đều là những trường học để nâng cao dân trí. Nói đến dân trí mà lại khuyên không nên “cọ xát” như thế, chưa nên đấu tranh gì cả, cứ chờ cho dân trí cao rồi mọi điều tốt đẹp tự khắc sẽ đến, phải thiết kế xong văn hoá dân chủ (biết thế nào là xong ?) rồi hãy nghĩ đến chính trị dân chủ là sự phân cách phi thực tế.
Bởi dân trí là quan trọng nên nếu bên này TẬP TRUNG SỨC LỰC ĐỂ NÂNG CAO DÂN TRÍ VÀ ĐEM DÂN TRÍ VÀO ĐẤU (đồng thời dùng đấu tranh để rèn luyện dân trí), thì bên kia cứ VIN CỚ DÂN TRÍ THẤP nhưng tiếp tục ngu dân, để rốt cuộc chẳng thay đổi gì tốt đẹp cả. Nói dân trí mà coi nhẹ đấu tranh, là dân trí suông, dân trí không phải cái chỉ ngồi mà học được.
(Vũ Quốc Uy – Ý kiến ngắn-talawas-21/2/2008-Hết trích)
Gần đây đã có nhiều ý kiến cho thấy quan hệ giữa DÂN CHỦ và TỰ DO, cũng liên quan đến vấn đề ta đang thảo luận: -Tự do mới là mục đích, Dân chủ chỉ là phương tiện.
– Dân chủ đích thực thì cũng thống nhất với Tự do, song Dân chủ có thể bị các nhà Chính trị làm giả, nên phải cảnh giác với trạng thái “DÂN CHỦ không TỰ DO”. Cần một nền tảng Dân trí cao mới khỏi sa vào bẫy chính trị nguy hiểm này. – Nước nào có khả năng dùng “bạo lực cách mạng” để thanh toán một thể chế độc tài, thực hành Dân chủ thì có thể thực hiện trong điền kiện Dân trí chưa cao (vì có thể hình thành được một tổ chức chính trị tiên tiến đủ khả năng tập hợp quần chúng), nhưng ở đâu không có khả năng đột biến cách mạng này, buộc phải đi dần từ một Xã hội Dân sự vững mạnh, thì DÂN TRÍ mới thực sự là nền tảng cực kỳ quan trọng. Chỉ trên nền tảng Dân trí cao ấy mới phát sinh được những đột biến, và đột biến ấy mới chân chính và vững chắc.
Mấy lời thô thiển xin cùng góp bàn.
VQU kính thư