talawas blog

Chuyên mục:

Carl Becker – Triết học sử quan của Marx (2)

31/10/2009 | 3:13 chiều | 72 Comments

Tác giả: Cao Hùng Lynh

Category: Tư tưởng
Thẻ: > >

Cao Hùng Lynh dịch

Người Tự do: Vậy thì tôi đồng ý với quan niệm về ý chí tự do này. Đối với tôi, rõ ràng là khi con người đạt được sự hiểu biết về những tác động định đoạt hành vi của anh ta, thì sự hiểu biết này trở thành một tác lực mới có khả năng làm cho anh ta hành động khác đi. Nhưng nếu chấp nhận nguyên lý này, tôi thấy có một điều kỳ lạ như sau: trước thời đại của Marx, có lẽ con người đã không có sự hiểu biết nào về sự thật rằng hành vi của anh ta bị định đoạt bởi mâu thuẫn giai cấp về kinh tế. Tôi tưởng rằng yếu tố về sự nhận thức này lẽ ra đã phải cải tạo những điều kiện định đoạt các biến động xã hội xảy ra từ thời đại của người Neanderthal cho đến nay rồi kia chứ. Tại sao yếu tố nhận thức này lại không hề có một tác động đáng kể nào từ xa xưa cho đến thời đại của Marx? Hẳn Marx phải là một nhân vật vĩ đại hơn những gì tôi nghĩ – một đấng Messiah nào đó, người mà chỉ bằng một hành động duy nhất đã ban tặng cho nhân loại một khám phá trọng đại để biến đổi triệt để các điều kiện định đoạt lịch sử con người. Tôi thấy điều này thật khó tin. Đáng lý ra phải nói như vầy: sự hiểu biết đã từng bước cải tạo các tác lực kinh tế từng định đoạt những biến động xã hội trong quá khứ, và trong tương lai sự hiểu biết xa hơn nữa, sự hiểu biết mà Marx không hề hay biết, sẽ tiếp tục cải tạo những tác lực này theo các cách thức mà Marx không thể mơ tưởng tới.

Nhưng đây chỉ là vấn đề thứ yếu. Chúng ta hãy giả sử rằng cho đến thời của Marx, con người hoàn toàn lệ thuộc một cách mù quáng vào mối xung đột giai cấp về kinh tế, và rằng hiện nay, nhờ vào Marx, họ đang bước trên con đường ý thức được sự thật vừa nói, đồng thời khi ý thức được nó, họ sẵn sàng cải tạo một cách sâu rộng các điều kiện sẽ định đoạt những biến động xã hội. Rồi sao nữa? À, đối với tôi, dường như là sự khám phá trọng đại này của Marx chính là cái làm cho ông ta không thể tiên đoán được đặc tính của cuộc cách mạng xã hội sắp tới. Nếu chúng ta không biết rằng các biến động xã hội đều bị định đoạt bởi sự mâu thuẫn giai cấp về kinh tế, thì cuộc cách mạng xã hội sắp tới có lẽ cũng sẽ bước theo con đường của các cuộc cách mạng trước đây, trong đó không hề xuất hiện một xã hội phi giai cấp nào cả. Nhưng bởi vì chúng ta hiện nay đã biết rằng các cuộc cách mạng xã hội trong quá khứ đều bị quy định bởi mâu thuẫn giai cấp, cho nên sự hiểu biết này, theo Marx, sẽ khiến cuộc cách mạng xã hội sắp tới đi theo một đường hướng khác, trong đó chúng ta có thể hy vọng, nhưng không thể chắc chắn, một xã hội phi giai cấp sẽ xuất hiện. Nói ngắn gọn, một khi Marx làm cho con người nhận thức được sự tác động của mối xung đột giai cấp về kinh tế trong quá khứ, thì đó cũng là lúc ông phá hủy chính các điều kiện có thể giúp ông tiên đoán bản chất của cuộc cách mạng xã hội tương lai. Nếu Marx muốn tiên đoán chính xác bản chất của cuộc cách mạng xã hội sắp tới, có lẽ ông đã không nói cho chúng ta biết cái gì là cái tạo nên các cuộc cách mạng xã hội: bởi vì khi nói ra, bí mật đã bị tiết lộ, do đó không ai có thể tiên đoán được nó. Nhờ Marx, bí mật vĩ đại ấy đã bị tiết lộ, và sự hiểu biết này sẽ giúp chúng ta có thể hình thành cuộc cách mạng xã hội sắp tới khác với cái nó lẽ ra phải là. Triết học Marx trình bày cho các môn đồ một song đề mà họ hoặc là không nhận ra, hoặc là chối từ việc đối diện với nó. Song đề đó là đây: các biến động xã hội luôn luôn được quyết định bởi các điều kiện như nhau, trong đó chúng ta có thể đoan chắc rằng cuộc cách mạng xã hội sắp tới cũng giống với các cuộc cách mạng xã hội trước đó – nó sẽ biến đổi mối xung đột giai cấp hiện tại chỉ để tạo ra các điều kiện sẽ xuất hiện trong một cuộc cách mạng mới nào đó; mặt khác, sự hiểu biết về các điều kiện đã định đoạt các cuộc cách mạng xã hội trong quá khứ sẽ dẫn đến một tác lực mới trong các điều kiện sẽ định đoạt các cuộc cách mạng xã hội trong tương lai, mà trong trường hợp này, chúng ta không cách nào tiên đoán được bản chất của những cuộc cách mạng tương lai ấy. Triết học Marx không biện minh được cho sự quả quyết của người Cộng sản rằng giai cấp vô sản là giai cấp được chọn để thiết lập một xã hội phi giai cấp dựa trên sự sụp đổ của chế độ tư bản hiện nay. Nếu ông diễn dịch Marx dưới hình thức thuyết tất định máy móc, thì sự quả quyết nói trên của người Cộng sản là một ảo tưởng thuần túy; mặt khác, nếu ông diễn dịch Marx dưới hình thức ý chí tự do, thì sự quả quyết ấy chẳng khác gì một ước vọng huy hoàng. Đó là lý do tại sao tôi không thể coi triết học Marx như là một quy luật lịch sử.

Người Cộng sản: Được rồi. Giả sử, vì mục đích tranh luận, rằng sự quả quyết nói trên chỉ là một ước vọng huy hoàng. Chính ông đã nói rằng chế độ tư bản hiện nay cần phải bị thay đổi theo một cách thức nào đó để dung hợp hữu hiệu hơn quyền lợi của đa số dân chúng, tức giai cấp vô sản. Đó chính là điều mà người Cộng sản mong muốn. Vì ông đồng cảm với mục tiêu của họ, đồng thời tin rằng mục tiêu ấy sẽ được thực hiện bằng một biện pháp nào đó, vậy tại sao ông không gia nhập đảng Cộng sản để góp phần thực hiện ước vọng huy hoàng này?

Người Tự do: Tôi không gia nhập đảng Cộng sản, bởi vì tôi không tin vào các phương pháp mà họ đề ra để đạt được mục tiêu này, mặc dầu đồng cảm với ước vọng của họ trong việc tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho đại khối quần chúng. Theo như tôi hiểu, họ tuyên bố rằng không có gì thực sự có giá trị để thực hiện cho đến khi các điều kiện chín muồi cho việc áp dụng biện pháp cách mạng. Khi các điều kiện chín muồi xảy đến, căn cứ theo tấm gương của người Bolshevik ở Nga, họ tiến hành chiếm chính quyền, truất hữu giai cấp tư sản, đàn áp thô bạo sự bày tỏ mọi ý kiến bằng cách độc đoán đánh giá chúng là những ý kiến thù nghịch với lợi ích của giai cấp công nhân.

Tôi không tin vào việc coi võ lực và đàn áp như là phương tiện chủ yếu mang lại đời sống  tốt đẹp hơn. Tôi cũng không phải là một người yêu chuộng hòa bình thụ động. Có thể không có chính quyền nào tốt cả, và mọi chính quyền, suy cho cùng, đều dựa trên võ lực. Nhưng tôi tin rằng trắc nghiệm cần thiết về một xã hội văn minh nằm ở chỗ mức độ tin cậy vào sự tranh luận tự do và sự đồng thuận có tính cách tự nguyện mà cơ quan công quyền và luật pháp đạt tới. Việc viện đến võ lực nhằm đạt được sự đồng thuận đôi lúc có thể là hành động cần thiết để ngăn xã hội sa vào tình trạng hỗn loạn thực sự; nhưng việc dùng võ lực thay thế cho thuyết phục chính là sự thú nhận về tình trạng bất lực. Tôi không tin vào khả năng dẹp bỏ sự đàn áp bằng cách đàn áp những kẻ áp bức. Tôi không tin vào tính bất khả sai lầm của bất cứ người nào, hoặc bất cứ nhóm người nào, hoặc bất cứ học thuyết hay giáo thuyết của bất cứ người hoặc nhóm người nào, trừ phi chúng có thể đứng vững trước sự thử thách của việc phê phán và phân tích một cách tự do. Tôi đồng ý với Pascal rằng “suy tư làm nên phẩm hạnh của con người”; do vậy, tôi tin rằng tất cả những thành tựu vĩ đại và có giá trị lâu dài của nền văn minh đều thâu được từ sự hoạt động tự do của trí óc, cái đối lập với, hoặc không liên quan gì tới, việc áp chế cảm xúc của quần chúng và mưu toan dùng quyền uy để cưỡng tạo sự tuân phục trong hành vi và ý kiến. Tôi không tin rằng đã có, hoặc sẽ có, một nền văn minh cao tại bất cứ quốc gia nào, mà trong đó con người bị giới hạn việc diễn tả tư tưởng bởi cơ quan công quyền. Chế độ độc tài là một chế độ già cỗi như sự già cỗi của xã hội Âu châu; và dẫu chế độ độc tài ấy có mang tên Stalin, Mussolini hay Hiler, thì nó không bao giờ trở thành điều gì mới mẻ và đáng được ngưỡng mộ bằng cách che dấu nó dưới lớp áo ý thức hệ mới lạ và huyền ảo. Tôi nhìn nhận nó như một khả thể, theo đó nền văn minh cơ giới, hiện đại và phức tạp của chúng ta có thể nhầm lẫn khi cho rằng một nền độc tài sẽ thay thế chế độ hiện tại; nhưng tôi từ chối góp phần vào việc làm cho nó xảy ra.

Đó là lý do tại sao tôi không gia nhập đảng Cộng sản. Tôi tin rằng những đổi thay sâu rộng trong hệ thống kinh tế và kỹ nghệ của chúng ta là cần thiết; nhưng tôi tin rằng chúng có thể, và tôi hy vọng chúng sẽ, được thực hiện tại đất nước này mà không cần đến một cuộc cách mạng bạo lực, không cần đến một chế độ chuyên chế, không cần đến việc xóa bỏ niềm tin truyền thống của chúng ta vào sự thảo luận tự do và sự tự do phê phán cơ quan công quyền, phê phán các biện pháp mà nó đưa ra để giải quyết các căn bệnh xã hội. Và theo triết học Marx, như ông dẫn giải, không có gì là bất hợp lý khi tôi chọn lập trường này. Theo như ông nói, vì rằng Marx đã làm cho chúng ta ý thức được tác lực của mâu thuẫn giai cấp về kinh tế trong quá khứ, cho nên chính sự ý thức ấy sẽ khiến chúng ta có thể làm chủ và cải tạo mối xung đột giai cấp trong tương lai. Tôi đồng ý. Nhưng tại sao nhất thiết phải cho rằng sự hiểu biết mà Marx mang đến cho chúng ta lại là vật sở hữu duy nhất của giai cấp vô sản? Suy cho cùng, người tư sản cũng có chút thông minh nào đó chứ. Họ có thể đọc Marx, hoặc ít nhất, đọc Sidney Hook. Họ có thể quan sát điều đã xảy ra ở Nga, ở Ý, ở Đức. Họ cũng có thể hiểu rằng chế độ tư bản cạnh tranh đang đi trên con đường tự hủy. Học thuyết Marx nói với tôi rằng nhà tư bản, giống như người vô sản, đều bị tác động bởi quyền lợi giai cấp về kinh tế của họ; học thuyết ấy không nói với tôi rằng họ, cũng chẳng khác gì người vô sản, mãi mãi phải chịu sự tác động của một ảo tưởng mù quáng liên quan đến cái mà quyền lợi ấy là. Cho đến nay, quyền lợi của giai cấp tư sản rõ ràng không phải là việc đại khối quần chúng sẽ tồn tại mà không cần đến phương tiện mua sắm hàng hóa mà giai cấp tư sản đã sản xuất ra để bán. Vẫn có khả năng rằng hệ thống tư bản tại đất nước này, khi bị lệ thuộc vào áp lực của nhu cầu kinh tế và sức mạnh của tình trạng bất mãn nơi công chúng, sẽ có thể, bằng một tiến trình hòa bình hợp lý, được chuyển đổi thành một hệ thống kinh tế kế hoạch và hợp tác nào đó – chứ không phải là một xã hội không tưởng – nhưng ít nhất đó phải là một hệ thống có thể hoạt động tốt đẹp. Và một hệ thống có thể hoạt động tốt đẹp mà có khả năng bảo tồn giá trị tự do truyền thống của chúng ta đối với quyền thảo luận và phê phán sẽ, theo tôi, cao đẹp hơn bất cứ hệ thống nào được thiết lập bằng các hành động đàn áp theo kiểu chế độ Cộng sản của Nga, chế độ Phát-xít của Ý, hay chế độ Quốc xã của Đức.

Người Cộng sản: Một hệ thống có thể hoạt động tốt đẹp. Điều này hiển nhiên cũng mù mờ như cái xã hội lý tưởng của Marx trong tương lai mà ông vừa chế giễu. Rõ ràng, một hệ thống có thể hoạt động tốt đẹp là cái mà ông thích hơn, so với cái mà ông không thích như nhà nước Cộng sản Nga, chẳng hạn.

Người Tự do: Đúng vậy. Nhưng ông phải cho phép tôi thích một hệ thống hoạt động tốt đẹp mà tôi thích, hơn một hệ thống hoạt động tốt đẹp mà tôi không thích chứ. Ông hầu như không thể trông mong tôi trở thành người Cộng sản cho tới khi nào tôi được thuyết phục rằng chế độ cộng sản đáng chuộng hơn chế độ mà tôi đang sống.

Người Cộng sản: Nhưng ông đã thừa nhận rằng cái “hệ thống hoạt động tốt đẹp” mà ông hy vọng sẽ được thiết lập có thể không thiết lập được – nghĩa là hệ thống hiện nay có thể bị kết thúc bằng một chế độ độc tài. Điều tôi nghĩ đến sau đây là một kết quả có nhiều khả năng xảy ra hơn. Có lẽ rốt cuộc giai cấp tư sản, khi phải đối diện với sức mạnh ngày càng tăng của giai cấp vô sản, sẽ dùng đến võ lực, như nó đã từng dùng ở Ý và Đức. Khi đó, nếu phải chọn lựa giữa việc ủng hộ một nền chuyên chế của giai cấp vô sản và một nền độc tài của giai cấp tư sản,  ông sẽ làm gì? Điều gì sẽ xảy đến cho tự do ngôn luận và hành động thuyết phục kẻ khác? Ông đồng cảm với các mục tiêu của người Cộng sản, mà đến khi đó ông vẫn không gia nhập hàng ngũ của họ sao? Tại sao phải đợi đến khi đó? Tại sao ngay bây giở, không đứng về phe chắc chắn sẽ chiến thắng, bởi vì phe đó đồng hành với xu hướng ưu thắng của các lực lượng xã hội?

Người Tự do: Tôi không hề thừa nhận rằng chủ nghĩa Cộng sản tất yếu đồng hành với xu hướng ưu thắng của các lực lượng xã hội. Tôi thấy rằng khi nó phù hợp với lập luận của ông, thì ông, cũng như hầu hết những người Cộng sản, đều viện đến một học thuyết tất định có tính chất định mệnh, cái khiến cho cuộc cách mạng cộng sản trở nên tất yếu phải xảy ra, bất chấp người ta làm gì đối với nó; nhưng khi lập luận của ông đòi hỏi phải có một học thuyết khác, ông liền thừa nhận rằng cuộc cách mạng xã hội ấy có thể được dẫn dắt và làm chủ bởi các mục đích có ý thức của con người. Ông cần phải thực sự chấp nhận một học thuyết này, hoặc một học thuyết khác, và hãy trung thành với cái mình chọn lựa. Nhưng chẳng sao cả. Cứ chấp nhận một hoặc cả hai học thuyết, nếu ông thích thế. Trong mỗi trường hợp, tôi đều không thấy bất cứ lý do hợp lý nào để đứng chung với người Cộng sản. Nếu cuộc cách mạng cộng sản là điều không thể tránh khỏi, bất chấp người ta làm gì đối với nó, vậy tại sao phải làm gì? Tại sao phải đứng về phe nó, khi mà ông đã biết trước rằng nó sẽ tất thắng? Nhưng nếu cuộc cách mạng cộng sản không phải là điều không thể tránh khỏi, vậy thì người vô sản có thể làm cái gì đó để thúc giục nó xảy ra, và tương tự như vậy, người tư sản cũng có thể làm cái gì đó để trì hoãn nó. Và trong trường hợp này, tại sao tôi phải gia nhập hàng ngũ của người Cộng sản? Tôi là một giáo sư; và người Cộng sản không bao giờ ngưng nói với tôi rằng giáo sư là một tầng lớp ủng hộ chế độ tư bản, bởi ông ta làm như vậy là vì quyền lợi của chính ông ta. Giả dụ tôi sẽ là người Mác-xít đủ tốt để chấp nhận một học thuyết nói rằng mọi hành động của con người đều bị thúc đẩy bởi quyền lợi kinh tế của giai cấp họ. Vậy khi đó, nếu các quyền lợi kinh tế của tôi đều gắn chặt với chế độ tư bản, và nếu tôi có thể làm gì đó để trì hoãn cuộc cách mạng cộng sản, thì tôi sẽ là, theo Marx, một tên ngu ngốc nhân văn chủ nghĩa đáng thương, kẻ đã từ bỏ giai cấp của mình để phục vụ cho một cuộc cách mạng mà, nếu thành công, sẽ đàn áp tôi một cách không thương xót. Một mặt, triết học Marx dạy tôi rằng cuộc cách mạng cộng sản là điều tất yếu xảy ra, và trong trường hợp này, tôi đành cam chịu; mặt khác, triết học Marx cũng dạy tôi rằng cuộc cách mạng cộng sản ấy có thể được thúc đẩy hoặc bị trì hoãn bởi những nỗ lực có ý thức của con người, trong trường hợp này, tôi sẽ gắn bó với giai cấp của mình để làm bất cứ cái gì có thể trì hoãn nó. Trong mỗi trường hợp nói trên, tôi vui mừng vì biết rằng hành vi của tôi đều được đặt trên nền tảng vững chắc của triết học sử quan của Marx.

Ông phải hiểu đây là những chọn lựa được mở ra một cách hợp lý cho tôi căn cứ trên giả định rằng tôi chấp nhận triết học sử quan của Marx. Nhưng đời sống lại không đơn giản như logic. Trong logic học, ông có thể đưa cho tôi xem những chọn lựa rõ ràng, dứt khoát. Ông có thể hỏi liệu tôi sẽ “chọn” việc ủng hộ nền độc tài vô sản hay nền độc tài tư sản, như thể hai phe tranh đấu này đang bày binh bố trận trên chiến trường và tôi được yêu cầu phải bước ra để chọn một phe. Trong cuộc sống thực tế, dường như tôi chưa gặp phải những lựa chọn giản đơn hay đầy tính sắp xếp kịch tính như thế.  Khi bỏ phiếu cho ông Roosevelt (nếu tôi có bỏ phiếu cho ông ta – bây giờ tôi không nhớ chắc điều đó), tôi đã thực hiện một sự chọn lựa, mà không hề biết chắc (cũng như ông Roosevelt vậy) điều gì sẽ xảy đến sau đó. Giờ đây, tôi đang “ủng hộ” chánh quyền Roosevelt, và có khả năng đến năm 1936, tôi sẽ bỏ phiếu để ông Roosevelt tái đắc cử. Điều này lẽ nào lại có nghĩa rằng tôi đang “chọn lựa” ủng hộ một chế độ Phát-xít hơn là một chế độ cộng sản? Những người cộng sản triệt để, khi biết điều tôi đang làm, liền nói: Giải pháp Mới (The New Deal) rõ ràng là một dạng biện pháp Phát-xít kiểu Mỹ. Nhưng tôi đủ chất phác để không ý thức được mình đã thực hiện một chọn lựa giữa cộng sản và phát-xít. Và tôi rất hạnh phúc khi điều đó thực sự là như vậy. Tôi không thích bị đặt trước một sự lựa chọn rạch ròi giữa một bên là độc tài vô sản và một bên là độc tài tư sản. Tôi thiên về cách nói: “Sự nguyền rũa dành cho cả hai phía!” Tôi nhận thấy Mussolini cũng đáng kinh tởm như Stalin; và Hitler còn hơn thế nữa.

Người Cộng sản: Mọi thứ ông nói đều rất hay, nhưng dù sao thì một cuộc cách mạng thực sự là một điều không thể không xảy ra. Rất nhiều người Nga có thể bảo đảm với ông rằng sự chọn lựa mà ông không thích đã được đặt ra cho họ một cách rạch ròi và đầy kịch tính. Nếu nó cũng được đặt ra một cách tương tự tại đất nước này, dẫu ông có căm ghét nó đến đâu đi nữa, thì dường như đối với tôi, ông cũng sẽ phải chọn phe này hoặc phe kia.

Người Tự do: Không nhất thiết phải như vậy. Vẫn còn có một khả năng khác.

Người Cộng sản: Khả năng đó là gì?

Người Tự do: Tôi vẫn có thể từ chối việc gia nhập cả phe này lẫn phe kia. Tôi sẽ nhất mực tin vào sự phù phiếm của hành động bày tỏ niềm tin của mình vào những phẩm tính cao đẹp của sự thuyết phục.

Người Cộng sản: Ông có thể sẽ nhận lãnh những hậu quả nghiêm trọng vì điều này. Ông có thể bị đàn áp

Người Tự do: Đúng vậy. Nhưng tôi sẽ chấp nhận các hậu quả đó. Tôi sẽ chọn việc bị đàn áp, còn hơn là ủng hộ cái mà tôi phản đối. Nói tóm lại, tôi có thể, giống như việc lùi về nơi trú ẩn cuối cùng nào đó để lánh khỏi những hành động xuẩn động, trở thành người Thiên Chúa giáo và làm theo câu châm ngôn: thà chịu đựng điều ác, chứ không thể làm điều ác.

Người Cộng sản: Ông đang dựa vào một loại chủ nghĩa lý tưởng còn huyễn hoặc hơn cả Marx, và tôi nhận thấy rằng điều đó chẳng đưa ông đi đến đâu cả.

Người Tự do: Tôi đoan chắc không phải như thế. Nhưng, như tôi đã nói, tôi là giáo sư, và giáo sư, theo một câu cách ngôn của người Đức, là “người phải biết nghĩ khác”: nếu ông ta không được phép ngôn luận tự do, thì khi đó ông ta mới không thể đi đến đâu.

Nguồn: The World of Ideas: Essays for Study, Michael W. Alssid và William Kenney biên soạn, Holt, Rinehart and Winston, Inc. xuất bản, 1964.

Bình luận

72 Comments (bài “Carl Becker – Triết học sử quan của Marx (2)”)

  1. Anh Dũng viết:

    Ông binhnguyenbinh,

    1 “Vừa rồi tôi lại thấy ông có phản ứng quyết liệt với nhận xét của tôi: “đọc hiểu chụp giật”. Tôi nghĩ trong trao đổi hay tranh luận học thuật người ta ít dùng những ngôn từ loại này.”

    Đúng, nhưng ông binhnguyenbinh không trao đổi hay tranh luận HỌC THUẬT, mà ông chỉ “thể hiện một cách tự nhiên tính cách người: niềm tin xen lẫn nghi hoặc.”

    Ông có quyền phát biểu “cảm nghĩ”, nhưng ông lại khoác cho nó cái áo HỌC THUẬT hay KHOA HỌC (cho oai) thì thật sai lầm và lố bịch. HỌC THUẬT hay KHOA HỌC không có chỗ cho niềm tin hoặc nghi ngờ. Vậy thì tôi bảo ông đọc hiểu “chụp giật” là hoàn toàn thỏa đáng.

    2. “thì xóa bỏ tư hữu vẫn có thể hiểu là một quá trình chứ không phải là một hành động tức thời.”

    Không phải là VẪN CÓ THỂ HIỂU (một cách nói nước đôi) mà chính xác thì xóa bỏ “tư hữu TLSX” được thực hiện dần dần. Nhưng ở đây, ông binhnguyenbinh một lần nữa cố tình bỏ đi phần “TLSX” cực kỳ quan trọng. CNCS không xóa bỏ mọi loại tư hữu, nó chỉ xóa bỏ TƯ HỮU TLSX.

    3. “Trên thực tế Lenin đã thực hiện xóa bỏ tư hữu ngay từ khi cách mạng tháng 10 thành công, chưa cần chờ đến CNXH, nói gì đến CNCS.”

    Ông binhnguyenbinh còn ấu trĩ đến nỗi không phân biệt nổi K.Marx và V.I.Lenin. Ông phê phán CNCS của K.Marx, vậy nhưng ông lại dẫn ra hành vi của V.I.Lenin để làm bằng chứng. Cái này gọi là: muốn kết tội A nhưng lại căn cứ vào hành vi của B. Đó rõ ràng là vu khống cho A. Ở đây, ông binhnguyenbinh vu khống cho CNCS của K.Marx bằng cách căn cứ vào hành vi của những người mà K.Marx chưa từng biết đến.

    Cách làm việc “KHOA HỌC, HỌC THUẬT” đó của ông binhnguyenbinh quả thực khiến tôi “giật mình”!

  2. binhnguyendinh viết:

    Thưa ông DTL,

    Nếu ông nói rằng: “Trong comment trước tôi viết “hiểu rõ các thuật ngữ, khái niệm” là viết một cách tương đối thôi” thì tôi thấy ít nhất có một sự đồng cảm từ phía ông. Tôi cho rằng điều này có ý nghĩa lớn lao.

    Từ trước đến nay rất có nhiều phê phán Marx, suy cho cùng, đó là sự thể hiện một cách tự nhiên tính cách người: niềm tin xen lẫn nghi hoặc. Người ta có thể rất mực tin vào Chúa Trời, nhưng ngay sau đó lại nghi ngờ về sự tồn tại của Chúa. Điều này không tránh khỏi đối với mọi thiên tài từ trước đến nay, Marx cũng không phải là ngoại lệ. Tôi cho rằng đó là một biểu hiện của nhu cầu con người – nhu cầu về tư duy, về tính thích khám phá, để làm gì? – để thích nghi với đời sống hiện thực luôn thay đổi, thế thôi.

    Với những người muốn bảo vệ niềm tin, hãy chứng minh rằng sự phê phán hoặc là thiếu cơ sở, hoặc thiếu chặt chẽ, nhưng cũng bằng cơ sở và sự chặt chẽ. Tôi xin ghi nhận. Cuối cùng thì tôi cũng mượn ý thơ của nhà thơ vĩ đại thành Phlorence làm phương châm:
    Segui il tuo corso, e lascia dir le genti!” – “Đường ta ta cứ đi, ai nói gì cũng mặc!”

    Thưa ông Anh Dũng,

    Vừa rồi tôi lại thấy ông có phản ứng quyết liệt với nhận xét của tôi: “đọc hiểu chụp giật”. Tôi nghĩ trong trao đổi hay tranh luận học thuật người ta ít dùng những ngôn từ loại này.

    Cho dù ông có trích dẫn nhiều hơn nữa ý của Marx hay Engels thì hai mệnh đề mà tôi muốn so sánh cũng không có gì thay đổi. Marx cho rằng CNCS không phải là một hiện trạng, mà là một quá trình (chính xác là quá trình thực thụ), thì xóa bỏ tư hữu vẫn có thể hiểu là một quá trình chứ không phải là một hành động tức thời. Trên thực tế Lenin đã thực hiện xóa bỏ tư hữu ngay từ khi cách mạng tháng 10 thành công, chưa cần chờ đến CNXH, nói gì đến CNCS.

    Vậy ông Anh Dũng không nên giật mình một cách thái quá chỉ vì một câu nói của những người phản biện.

  3. Anh Dũng viết:

    Ông Phú Thư,

    “dùng ngũ giác để nhận biết vật chất rồi quyết định ý thức.”

    Cái “ngũ giác” của ông mà không là “vật chất”, không được cấu tạo bởi các thành phần hóa học à? Những thứ ông cho vào dạ dày để ông sống (rồi mới nhận biết được) mà không là vật chất à?

    “Mấy cái “muốn” là mấy cái thứ “lục dục”, đâu có thuộc vào lý trí của con người phải không ông Anh Dũng?”

    Cái “muốn” là cảm tính, lý trí là “lý tính”. Con người có cả cảm tính và lý tính. Câu hỏi của ông là vô nghĩa vì chẳng có từ ngữ chỉ quan hệ nào là “thuộc vào” cả, mà chỉ có “thuộc về” hoặc “phụ thuộc vào”.

    “Cái “muốn” nó chủ quan và không phụ thuộc lý trí của con người”, ông cho nó SAI nhưng chính ông vừa mới chứng minh rằng câu ấy ĐÚNG.”

    Tôi bảo rằng SAI với cái nghĩa rằng nó không phải là một sự “lộn ngược” quan điểm của tôi như ông tuyên bố (muốn) trước đó: “Tôi lại lộn ngược câu nói khác của ông…”

    Ông “muốn” lộn ngược, nhưng tôi đã vạch trần ra rằng chẳng có sự lộn ngược nào ở đây cả.

    “Ông nói về cái lý khách quan, tôi nói về cái muốn chủ quan, lộn ngược nhau như thế không có nghĩa rằng tôi sai như ông muốn”

    “Lộn ngược” quan điểm nghĩa là đưa ra một quan điểm khác có tính chất bác bỏ, phủ định. Ông chỉ đơn thuần là đưa ra một quan điểm về một vấn đề khác chứ chẳng có gì là “lộn ngược” quan điểm của tôi. Nhưng chẳng phải trước đó ông đã tuyên bố là muốn lộn ngược quan điểm của tôi hay sao?

    Chẳng hạn: tôi bảo “con trai da thô”, ông bảo “con gái da mịn”. Nếu xét riêng quan điểm của ông thì nó đúng, nhưng nếu xét trong mối quan hệ với quan điểm của tôi thì nó chẳng có gì là “lộn ngược” như ông tuyên bố (muốn) cả. Từ “SAI” của tôi là mang ý nghĩa đó.

    Tôi vẫn đang chờ ông đưa ra bằng chứng về cái gọi là “chính quyền lộn ngược CNCS” đấy.

  4. Anh Dũng viết:

    Ông Tri Ngộ,

    Cái ấu trĩ của ông là ở chỗ: ông cứ oang oang ca ngợi đạo Phật, ầm ầm chê bai CNCS nhưng ông không biết rằng hai cái đó có rất nhiều điểm tương đồng. Đến nỗi, cái ông ca ngợi đạo Phật thì trong CNCS cũng có, cái ông chê bai CNCS thì trong đạo Phật cũng có.

    1. “Chữ cầu đây CÓ THỂ hiểu là…” Ông Tri Ngộ thích chơi chữ nhưng lại không biết mình đang chơi chữ gì, ông vẫn còn lưỡng lự “có thể” với từ ngữ của mình nhưng ông cứ ào ào gõ phím, rồi ông lại trách người khác “độc đoán” khi họ không hiểu theo cái “có thể” đó của ông.

    2. Đoạn cắt nghĩa sau đó của ông chỉ chứng minh rằng đạo Phật không có gì cao siêu, thoát tục so với các đạo, các học thuyết cải tạo xã hội khác – trong đó có CNCS. Rốt cuộc thì cũng phải xắn tay vào HÀNH ĐỘNG chứ gì, phải có LÀM mới có ĂN chứ gì.

    3. “Những tăng ni sinh này phải giữ giới luật (10 giới cho 5 năm năm đầu) và họ sống rất tri túc chứ không phải nhịn ăn nhịn tiêu xài như ông Anh Dũng rêu rao.”

    Ngược lại, ngay từ đầu tôi đã khẳng định rằng những người theo đạo Phật cũng không thoát được cái quy định “đời sống quyết định ý thức”. Tôi đã viết rõ ràng thế này cơ mà: “Ấy thế mà có người mặc dù KHÔNG THỂ nhịn ăn, nhịn uống, nhịn tiêu, nhịn xài Internet… mà cứ đi rao giảng về “chấm dứt mọi vọng tưởng, phiền não và khổ đau”.

    Còn cái “tri túc” không có giá trị gì ở đây, người theo đạo Phật vẫn không thoát ra được quy luật “đời sống quyết định ý thức” mà K.Marx đã nêu đâu. Đoạn cắt nghĩa tiếp theo của ông thuần túy chỉ là “quảng cáo”.

    4. “Có những nhà anh hùng như Nguyễn Thái Học đã không để vật chất (sợ chết, muốn sống) để đổi ý thức tức là khát vọng đem lại độc lập cho xứ sở VN và ông vẫn anh dũng hô to hai tiếng vạn tuế Việt Nam trước họng súng sắp sửa đưa ông lìa cái vật chất đã nung náu khát vọng và lòng quả cảm của ông.”

    Ông hiểu SAI về từ “quyết định” của K.Marx trong “đời sống quyết định ý thức”. Quyết định không có nghĩa là chỉ tạo ra một thứ ý thức ” ham sống sợ chết”. Chẳng hạn, vì “đời sống” quá nghèo khổ, quá bất công, quá éo le nên nhiều người đã có “ý thức” tự vẫn.

    5. “Thành ra ông Marx muốn có vô sản (chia đều vật chất để công bằng hoá xã hội) nhưng ông không hiểu được tâm lý con người, nhất là con người CSVN đã sống quá lâu trong nghèo khổ ép bức. Ông Marx đã thất bại nặng nề vì không biết rõ tâm lý con người là thế, không ai không có nhu cầu sống (mà sống thì phải có vật chất và tư hữu tối thiểu).”

    Cái đoạn “dưới tầm phê phán” này của ông Tri Ngộ thật là hài hước.

    VÔ SẢN không phải là CÀO BẰNG, CHIA ĐỀU vật chất; VÔ SẢN chỉ đơn thuần là xóa bỏ TƯ HỮU TLSX. Còn việc phân phối lợi ích vật chất trong xã hội cộng sản là “hưởng theo NHU CẦU”.

    CNCS không xóa bỏ tất cả các loại TƯ HỮU, cũng không xóa bỏ nhu cầu vật chất. CNCS chỉ xóa bỏ loại tư hữu đặc thù tạo ra CNTB – đó là TƯ HỮU TLSX (để nô dịch người khác). Cái đích của CNCS là “hưởng theo NHU CẦU”, thế mà ông Tri Ngộ lại ngang nhiên bảo rằng K.Marx không hiểu tâm lý con người.

    6. “đùng một cái bọn nó, những đảng viên CSVN (trứng khôn hơn vịt), lại muốn tư sản”

    Chỉ có những người chẳng biết gì về CNCS mới dùng từ “đùng một cái” ở đây. VÔ SẢN là mục đích, còn phương tiện (quá trình quá độ) thì không thể xóa bỏ ngay lập tức CNTB.

    “Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không?

    Không, không thể được, cũng y như không thể làm cho LLSX hiện có tăng ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu. Cho nên, cuộc cách mạng của GCVS đang có tất cả những triệu chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào đã tạo nên được một khối lượng TLSX cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu.”
    (F.Engels – Những nguyên lý của CNCS – 11/1847)

    “… không thể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ những giai đoạn đó. Nhưng có thể rút ngắn và làm dịu bớt được những cơn đau đẻ…”
    (K.Marx – Lời nói đầu cho “Tư bản luận-I”).

    Tóm lại, ông Tri Ngộ càng ào ào gõ phím thì càng lộ rõ cái sự ấu trĩ đến mức chẳng hiểu gì về CNCS. Vậy mà ông cứ thích chê bai CNCS. Hành động đó là sự phủ định gay gắt đối với đạo Phật, là một sự tự mâu thuẫn, tự vạch trần của ông Tri Ngộ.

  5. Phú Thư viết:

    Ông Anh Dũng,

    “Vật chất quyết định ý thức”; dùng ngũ giác để nhận biết vật chất rồi quyết định ý thức. Mấy cái “muốn” là mấy cái thứ “lục dục”, đâu có thuộc vào lý trí của con người phải không ông Anh Dũng? Về cái phần này, ông Tri Ngộ đã giảng ít nhiều cho ông rồi đó. Biết thêm chút chút kiến thức triết lý khác cũng đỡ lắm chứ ông Anh Dũng nhẩy?

    Tôi đã nói: ”Cái “muốn” nó chủ quan và không phụ thuộc lý trí của con người”, ông cho nó SAI nhưng chính ông vừa mới chứng minh rằng câu ấy ĐÚNG. Ông nói về cái lý khách quan, tôi nói về cái muốn chủ quan, lộn ngược nhau như thế không có nghĩa rằng tôi sai như ông muốn (thấy), nếu như ông dùng cái trí thay vì nhãn quan của mình để suy xét. Và chính ông cũng vừa mới chứng minh câu “vật chất quyết định ý thức” là đúng đấy chứ.

  6. Tri Ngộ viết:

    Ông Anh Dũng này dai hơn đỉa, ông lại bám vào từ ngữ tôi dùng để phản hồi. Ông có một cái hiểu thật độc đoán :
    1. ông cho mong cầu là tương đương với mơ mộng, tức là trong đầu ông nó có nghĩa là mơ ước (wish) mà chữ cầu tiếng Việt thì nó nhiều nghĩa hơn ông tưởng. Chữ cầu đây có thể hiểu là điều khát khao, ước vọng (aspire). Điều khát vọng dẫn dắt mình hành động. Tôi có khát vọng học kỹ sư nên tôi để nhiều thì giờ học toán và trau dồi vật lý lúc học trung học (là một thí dụ tại sao khát vọng đưa đến hành động). Và ngày nay nhờ vào vốn liếng căn bản về toán và vật lý, tôi đã có đủ khả năng và học thành kỹ sư. Người có tâm tu đạo cũng thế, nhờ vào bạn bè Thầy Cô (còn được gọi là 4 chúng) giúp, sự sống có chánh niệm năm này qua năm khác giúp người tu (còn được gọi là sa di (samenara) hoặc sa di ni như trong trường hợp các tăng ni sinh Bát Nhã) đạt được khát vọng của mình. Những tăng ni sinh này phải giữ giới luật (10 giới cho 5 năm năm đầu) và họ sống rất tri túc chứ không phải nhịn ăn nhịn tiêu xài như ông Anh Dũng rêu rao. Nếu không có thân thể khoẻ mạnh thì rất khó tu tâm, vì tâm và thân gắn bó. Thân thể còn được ví như đền thờ tâm linh. Vì vậy nhịn cho chết và tu khổ hạnh không được đức Phật “rêu rao” như ông nói. Đức Phật uống sữa thấy ngon, khi ngắm phong cảnh mặt trời lặn ở Vasali Ngài thất đẹp. Chính Ngài còn nói với Sariputra là được tiếp xúc với những cái đẹp lành mạnh là điều may mắn và mình phải biết trân quý những biểu hiện (manifestations) tốt lành đó đang nuôi dưỡng cả thân lẫn tâm. Đức Phật không khuyên con người tu khổ hạnh.
    2. Đời sống quyết định ý thức : phần này thì ông Anh Dũng có lý nhưng không đúng hoàn toàn. Có những nhà anh hùng như Nguyễn Thái Học đã không để vật chất (sợ chết, muốn sống) để đổi ý thức tức là khát vọng đem lại độc lập cho xứ sở VN và ông vẫn anh dũng hô to hai tiếng vạn tuế Việt Nam trước họng súng sắp sửa đưa ông lìa cái vật chất đã nung náu khát vọng và lòng quả cảm của ông. Tuy nhiên cho những đảng viên CSVN ngày nay, đời sống vật chất đã hoàn toàn quyết định ý thức của họ một cách quá đáng. Ý thức đó sau khi tiếp xúc với vật chất (tiếp xúc qua 6 giác quan, 6 giác quan đó là gì ông Anh-Dũng ?) đã dấy lên những khát vọng tham lam vơ vét rất là ghê gớm và những đảng viên này đã học cách sống (hành động) tham nhũng mà Marx chắc nếu nhìn được cũng phải xoay mình xoành xoạch trong mồ chôn. Những đảng viên CSVN này giàu sụ. Thành ra ông Marx muốn có vô sản (chia đều vật chất để công bằng hoá xã hội) nhưng ông không hiểu được tâm lý con người, nhất là con người CSVN đã sống quá lâu trong nghèo khổ ép bức. Ông Marx đã thất bại nặng nề vì không biết rõ tâm lý con người là thế, không ai không có nhu cầu sống (mà sống thì phải có vật chất và tư hữu tối thiểu).
    Và ông Marx đã chủ trương vô sản, đùng một cái bọn nó, những đảng viên CSVN (trứng khôn hơn vịt), lại muốn tư sản (kinh tế thị trường chỉ là một chiêu bài để che mắt thế gian). Có thể vì vậy mà ông Phú Thư mới nói đây là CNCS lộn ngược. Tức là làm giàu và có hạnh phúc trước, trước khi đi đến chia đều (vô sản) để công bằng hoá xã hội. Và tôi mong cầu (=wish, kỳ này chính là mơ mộng) những đảng viên CSVN có lý. Wishful thinking. Cười thoải mái trong sự trân trọng người đọc.

  7. DTL viết:

    Thưa ông Tôn Văn,
    Tôi hoàn toàn mù tịt về triết lý nhà Phật, và câu của Bùi Văn Nam Sơn chỉ là ẩn dụ về chuyện đọc nguyên tác mà thôi, rất cám ơn ông đã trao đổi.
    Trên talawas bộ mới này tôi chỉ có vài comment tủn mủn vụn vặt, thật chẳng bõ công ông tìm kiếm. Thôi thì cũng xin gửi tới ông một vài đường link, để lúc nào rảnh rỗi ông có thể ghé qua:
    http://www.talawas.org/?p=3102
    http://www.talawas.org/?p=3091
    http://www.talawas.org/?p=7891

    Thưa ông Hòa Nguyễn,
    Trên diễn đàn talawas tôi chỉ thấy nhan nhản ý kiến phê phán, công kích Marx,chứ chưa thấy ai ca tụng rằng CN Marx là vô địch, là tuyệt đối đúng đắn, là này là nọ. Những người thực sự đọc Marx “đến nơi đến chốn” lại càng ít làm cái trò ca tụng đó hơn ai hết! Bất quá họ chỉ phản bác lại những phê phán vô lối quá đáng mà thôi.
    Nói chung, để ca tụng hay phê phán một tư tưởng, học thuyết nào đó thì đều cần nghiên cứu nó một cách nghiêm túc, và việc nghiên cứu này trước hết phải dựa trên việc đọc nguyên tác. Riêng với triết học thì chỉ đọc một, hai tác phẩm riêng lẻ vẫn chưa đủ, mà cần đọc một cách hệ thống tất cả các văn bản của triết gia. Đó là ý tôi muốn nói. Các nhà thông diễn học như Schleiermacher, Dilthay còn đòi hỏi cao hơn thế nữa kia: phải nghiên cứu tất tần tật mọi thứ liên quan đến tác giả, để thậm chí có thể “hiểu tác giả và tác phẩm hơn chính bản thân tác giả”! Quan trọng gì đâu việc đọc/học Marx ở Nga, Tàu hay Việt Nam!
    Còn câu hỏi của ông về việc đảng viên ĐCS VN có đọc Marx hay không, thì tôi phỏng đoán là 99,99% trong số họ chưa đọc Marx, và họ cũng chẳng tin vào CN Marx. 99,99% không hẳn là nói ngoa, nó có nghĩa là trong 3 triệu đảng viên thì có tới 300 người đọc Marx “đến nơi đến chốn”, theo tôi tỷ lệ như thế là đã khá rộng rãi. Như Marx từng viết, không thể chỉ dựa vào lời ai đó nói về chính mình để nhận định về người đó, đừng nên lấy việc ĐCS VN tuyên bố lấy CN Mác-Lenin làm nền tảng tư tưởng mà cho rằng đảng viên ĐCS VN thực sự tin, thực sự đọc, thực sự làm theo Marx.

    Thưa ông Bình Nguyên Định,
    Những ai đã đọc Marx nghiêm túc có lẽ đều thấy rằng rất khó để tuyên bố mình đã hiểu thấu đáo Marx, kể cả những khái niệm căn bản nhất. Chí ít, để hiểu phép biện chứng của Marx thì trước hết phải hiểu Hegel, mà mấy ai dám nói là mình nắm vững Hegel! Trong comment trước tôi viết “hiểu rõ các thuật ngữ, khái niệm” là viết một cách tương đối thôi. Tức là, người đọc biết rõ thuật ngữ, khái niệm nào đó được Marx trình bày ở đâu, khi đang bàn về vấn đề gì, rồi được triển khai, phát triển ra sao v.v… Ví dụ, trong một comment của mình, tôi có chỉ ra là vấn đề “giá trị” được Marx đưa ngay vào chương đầu tiên của quyển 1 bộ Tư bản, nhưng không dừng ở đó mà tiếp tục triển khai trong các quyển tiếp theo, và phải đọc đến cuối bộ Tư bản, kèm thêm một loạt bản thảo, trước tác khác của Marx và Engels thì mới gọi là nắm được lý thuyết giá trị của Marx.
    Nhưng việc chưa hiểu thấu đáo Marx, hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí hiểu sai, ngay cả khi đã đọc “đến nơi đến chốn” thì khác rất xa với việc không đọc mà cứ tưởng biết, và dĩ nhiên không thể là lý do biện hộ cho việc không đọc, không hiểu mà đã vội phê phán.
    Hàng tỷ người có thể tin vào phương trình E = mc2 của Einstein mà không cần hiểu, không cần đọc Einstein. Nhưng nếu muốn phê phán phương trình đó thì chắc chắn phải đọc, phải hiểu Einstein thật thấu đáo. Marx viết bộ Tư bản dĩ nhiên để cho người khác đọc, và sẵn sàng “hoan nghênh mọi nhận xét của một sự phê phán khoa học. Còn đối với những thiên kiến của cái gọi là công luận mà tôi không bao giờ nhượng bộ, thì tôi vẫn lấy những lời sau đây của nhà thơ vĩ đại thành Phlorence làm phương châm:
    Segui il tuo corso, e lascia dir le genti!” – “Đường ta ta cứ đi, ai nói gì cũng mặc!”
    (Câu cuối cùng của Lời tựa cho lần xuất bản thứ nhất, quyển 1 bộ Tư bản).

  8. binhnguyendinh viết:

    Tôi đã nói trong cmt đầu rằng marxism là một mối hành hạ dai dẳng, hoặc như nhà nghiên cứu Phan Huy Đường nói nôm na là: “Ông cụ này chết dai hơn đỉa”. Cứ mỗi lần có ai nhắc đến tên Marx là tiếp theo đó nổ ra tranh cãi gay gắt. Tôi tự hỏi, không lẽ Marx viết Tư bản luận chỉ cho riêng mình? Có ai băn khoăn một vấn đề gì đó thì có thể ông lại bảo: “ANH không đáng được trả lời, nhưng anh có thể cung cấp các tư liệu rất tốt cho ai muốn nghiên cứu TÔI.” Và: “ANH có thể tự tin phê phán những điều mình hoàn toàn không hiểu như thế nào”???.

    Tôi thấy DTL phát biểu thế này không được ổn lắm: “Đọc đến nơi đến chốn, tức là phải đọc toàn bộ các trước tác, các bản thảo, thư từ v.v… của Marx-Engels, để từ đó nắm được tư tưởng của các ông một cách hệ thống, thấy được sự hình thành, phát triển của nó, hiểu rõ từng thuật ngữ, từng khái niệm trong hệ thống của họ. Ít nhất phải làm thế đã, rồi phê phán gì thì hãy phê phán. Chưa làm thế mà đã dám lớn tiếng kết luận Marx sai lầm chỗ này, thiếu sót chỗ nọ, hạn chế chỗ kia, vân vân, có đáng gọi là “khoa học, nghiêm túc” không?”

    Tôi hình dung rằng trong bàn luận tư tưởng Marx ông DTL đặt ra một luật lệ rất khắc khe: muốn phát biểu thì phải đọc hết ba tập Tư bản luận và cả tuyển tập Marx-Engels (bao gồm các thư từ, trao đổi) cho các vị tham dự nghe qua, không được ngắt lại giữa chừng mà nhận xét “chủ quan”. Luật chơi này gây khó cho người quá, nó giống như kiểu cả vú lấp miệng em vậy.

    Ông DTL khuyên rằng phải hiểu rõ từng thuật ngữ, từng khái niệm của Marx, nhưng tôi nghi ngại lời khuyên này thực tâm. Ông đọc Marx nhiều, nắm bắt tư tưởng vững, nhưng tôi nghĩ chính ông cũng khó thực hiện điều mà ông khuyên người khác. Trước đây tôi cũng cố làm như ông khuyên, sau này đọc Phan Huy Đường mới thấy mình dại, vì các tác phẩm của Marx đều được trình bày theo tư duy biện chứng, chứ không phải tư duy hình thức. Nôm na: không phải A là B, mà là A có mối quan hệ với B; tất cả các thứ trong đó đều có dây mơ rễ má với nhau, không được tánh riêng chúng ra xem xét được, phải xem chúng trong cái tổng thể của Tư bản luận. Đúng là không được ngắt Marx giữa chừng, phải đọc hết cái đã!

    Tôi cũng chẳng dại gì mà đi phê phán Marx trong từng câu chữ hay khái niệm. Tôi phải hê thống hóa tư tưởng ấy vì biết rằng nó phải có điểm xuất phát và điểm kết thúc. Và tôi đã thấy điểm xuất phát ấy có điều không ổn, ít ai để ý và dễ bị lấp khuất, đó là vấn đề thuộc tính tự do của con người. Điều này tôi đã trình bày sơ qua trong các cmt trước. Và tôi cũng đã nói ngay rằng vì nhận định sai lầm của Marx về bản chất con người nên dẫn đến sai lầm về CNCS. Marx đã đi theo lo gich đó.

    Tôi xem việc này là trò chơi trí tuệ, không đụng chạm đến chính trị hay xã hội. Phê phán của tôi dựa trên tinh thần đó, nên việc chụp mũ chống cộng hay gì gì đó là không cần thiết. Nếu những luận cứ của tôi thiếu chặt chẽ hay thiếu cơ sở, xin cứ cho biết, tôi rất thành thật cảm ơn và tiếp thu đúng mực.

    Nhân tiện cho tôi nợ Anh Dũng vấn đề tư hữu và tư hữu sản xuất đến lần sau.

  9. Anh Dũng viết:

    Ông Tri Ngộ,

    “Đức Phật ngược lại đặt hết lý thuyết của Ngài vào một nếp sống cầu tịch (có nghĩa là nếp sống mong cầu chấm dứt mọi vọng tưởng, phiền não và khổ đau).”

    Ông nhớ rằng “cầu” và “mong cầu” tức là mơ mộng. Đã thế lại còn “đặt hết LÝ THUYẾT” vào cái mơ mộng đó, nên “phương pháp Phật dạy” là phương pháp “cầu, mong cầu, mơ mộng”.

    Phương pháp “cầu, mong cầu, mơ mộng” này quả thực được những tay cờ bạc, lô đề, cá độ, bịp bợm sử dụng thường xuyên.

    “Marx thất bại nặng nề vì Marx đã không chú trọng đến tâm lý (khoa học) con người.”

    Đây là một trong những nhận xét hài hước và ấu trĩ nhất về K.Marx.

    Ngược lại nhận xét đó, K.Marx là một trong số những người nghiên cứu và phân tích tâm lý sâu sắc nhất. Có điều là, K.Marx nhận ra rằng tâm lý con người bị chi phối hoàn toàn bởi đời sống vật chất ( đời sống quyết định ý thức ). Cứ nhìn xem tuyệt đại đa số nhân loại hiện nay bị phụ thuộc vào vật chất thế nào thì rõ. Ngay cả chùa chiền, áo cà sa, tràng hạt, mõ chuông, “hòm công đức”,…của nhà Phật cũng là 100% vật chất.

    Âý thế mà có người mặc dù không thể nhịn ăn, nhịn uống, nhịn tiêu, nhịn xài Internet,…mà cứ đi rao giảng về “chấm dứt mọi vọng tưởng, phiền não và khổ đau”.

  10. Anh Dũng viết:

    Ông Phú Thư,

    Tôi viết hai câu: “Cái “lý” không phải cứ “muốn” là được. Cái “lý” nó khách quan và không phụ thuộc ý chí của con người.”

    Ông viết hai câu: “Không phải cứ “muốn” là có “lý” được. Cái “muốn” nó chủ quan và không phụ thuộc lý trí của con người.”

    Câu đầu của tôi và câu đầu của ông là tương đồng về nội dung. Câu thứ hai của tôi dùng hai đối tượng tách rời nhau: “khách quan” ( ngoài con người ) và “con người”; còn câu thứ hai của ông dùng chung một đối tượng: “chủ quan” ( của con người ) và “của con người”.

    Do đó, câu thứ hai của ông là SAI. Tổng hợp hai câu lại thì hóa ra ông đang mơ ngủ.

    “Chính quyền cộng sản muốn lấy CNCS làm kim chỉ Nam nhưng lại đảo ngược CNCS để mà tồn tại, ấy cũng là cái muốn vô lý.”

    Cái luận điệu này của ông đã được lặp đi lặp lại nhiều lần. Tôi đã đề nghị ông đưa ra bằng chứng để chứng minh nhưng ông không đưa ra bằng chứng nào. Vậy tới thời điểm này thì đó vẫn là luận điệu bịa đặt. Vì thế, phần còn lại của ông là vô nghĩa.

  11. Hoà Nguyễn viết:

    DTL viết: “rất nhiều người nhảy ra phê phán CN Marx trong khi chưa buồn đọc Marx-Engels đến nơi đến chốn dù chỉ một lần.”

    Xin hỏi ông DTL:

    Thế nhưng người bênh vực Marx, tin theo học thuyết của Marx, như hàng triệu đảng viên Cộng sản VN có đọc hết các tác phẩm của Marx-Engels ít ra một lần không? Vậy mà họ đã đi truyền bá chủ nghĩa này cho nhiều người khác, hay ít ra đã lên tiếng về Marx. Tôi muốn nói chuyện đọc hiểu đúng từ nguyên tác. Rất có thể ngay các ông Hồ Chí Minh và Lê Duẩn cũng không đọc hiểu hết các tác phẩm của Marx, vì đòi hỏi phải có một khả năng trí thức về triết học ở bậc đại học. Cho nên khi nghe ông Lữ Phương nói gì về Marx tôi nghi ngại lắm, và không dám tin ở nhà Marxist tự nhận là tự học đó. Nói cho cùng, hoạ may chỉ Lenine và Mao Trạch Đông có thể tự cho họ đọc hiểu được Marx (và hàng trăm triệu người cho mình hiểu Marx qua Lenine, Mao).

    Nhưng giả thử bây giờ có người muốn hiểu Marx thì học ở đâu: ở Nga, TQ hay VN? Đã có người cho chủ nghĩa Marx bị xuyên tạc hay hiểu sai lạc tại những nước đó, cho nên ở những nơi đó đã xây dựng cái gọi là CNCS biến dạng, và chứng tỏ đã thất bại. Do vậy cũng có người nói chỉ nên học hiểu Marx từ các đại học ở Pháp, Anh, Đức hay Mỹ thôi, vì sẽ được giải thích về Marx đúng đắn hơn.

  12. Tri Ngộ viết:

    Marx thất bại nặng nề vì Marx đã không chú trọng đến tâm lý (khoa học) con người.
    Đức Phật ngược lại đặt hết lý thuyết của Ngài vào một nếp sống cầu tịch (có nghĩa là nếp sống mong cầu chấm dứt mọi vọng tưởng, phiền não và khổ đau). Người sống theo phương pháp Phật dạy có thể nếm được an lạc và thảnh thơi ngay trong đời này và họ luôn cố gắng học hỏi để phát triển thiện tâm, thương yêu mọi người mọi loài.
    Người học Marx, nhất là các đại đệ tử như Lenin, Mao, Hố Chí Minh, đã thất bại trong đường hướng thực thi việc đem hạnh phúc cho dân, vì Marx không dạy họ làm cách nào để phát triển tâm thương yêu đồng loại. Họ đã trở thành những con người nguy hiểm nhất cho chính đồng loại họ (đồng loại mà họ muốn mang đến hạnh phúc), vì chính họ không đủ tư cách để được gọi là đảng viên có tư cách và đạo đức, vì Marx có bao giờ nghĩ đến chuyện này đâu. Những người theo họ (các đại đệ tử Hồ & Mao) về sau cố thêu dệt những huyền thoại về đời sống gương mẫu và đạo đức của Bác Hồ hoặc của chủ tịch Mao nhưng bây giờ qua thật nhiều tác phẩm đã được xuất bản, chúng ta biết được là phần lớn những huyền thoại đó đều là giả dối.

  13. Tôn Văn viết:

    1. Tiếc rằng ông DTL chỉ cho phép đọc ông trong phản hồi thứ 47 06/11/2009 lúc 12:24 chiều trong chuyên mục này. Tôi có thói quen là trước khi trao đổi rất muốn tìm đọc càng nhiều càng tốt người đối thoại. talawas blog không còn công cụ tìm kiếm như phiên bản cũ và dần dần tôi cũng tự thích hợp mà nghĩ khi cần có thể lướt hết toàn bộ để thấy cái cần tìm; đó là giải pháp mà bản thân tôi cũng chưa làm bao giờ vì quá tốn thời gian. Tôi cũng vào Google để tìm „DTL“ nhưng cũng không mang lại được gì như ý muốn. Vậy phản hồi sau đây là đáp lại thịnh tình ông đã trao đổi cùng tôi.
    Gọi là thịnh tình vì ý kiến của ông mang phong thái tương đối phù hợp lời học giả Đào Duy Anh (mà tôi kính ngưỡng): „… cứ từ từ trao đổi với nhau“. Trao đổi của ông gồm những ý sau:
    – Cách đọc gíao lý của Phật;
    – Cách tìm hiểu CN Marx.
    Tôi sẽ cố gắng đi theo những chủ điểm đó và sẽ không theo hướng „leo thang ngôn ngữ“ – nghĩa là bám theo các từ có tính „xem thường“ hay „dạy dỗ“ nhau là cách nhanh nhất cùng đưa nhau đến „dưới tầm tranh luận“ (áp dụng biến cải lời ông dẫn của Hegel).
    2. Giáo lý Bút-đa (Buddha – Bụt, phiên âm theo Tàu là „Phật-đà“, „Phù-đồ“) gồm 3 phần (tam Tạng): Kinh, Luật và Luận. Kinh là nội dung giáo lý, Luật là những quy định khi thực hành giáo lý và Luận là những điều giải luận của các học giả trường phái Bụt (cũng gọi là các Tổ) khi xiển dương giáo pháp. Bản thân Kinh là một tổng thể nên người tìm hiểu tất nhiên phải đọc càng nhiều, càng sâu càng có sự hiểu thấu đáo. Đạo Bụt nằm trong kho tàng văn hóa của nhân loại là một giáo lý lớn đã được tiếp thu, chuyển hóa và thấm nhuần vào văn hóa Việt. Có 2 cách tiếp cận giáo lý: người ngoài đạo tìm hiểu giáo lý thì cần tìm hiểu mọi khía cạnh, người trong đạo thì ngoài tìm hiểu giáo lý, phải thực hành theo luật để chuyển hóa giáo lý thành đời sống. Không tìm hiểu đủ kỹ và nhất là để tồn tại trong tư duy những giáo điều khô cứng sẽ có những hành sử bất bao dung, kỳ thị thiếu tính nhân văn và góp phần vào việc tiếp tục làm băng hoại đạo đức cũng như sự phát triển của cộng đồng.
    3. Học thuyết Marx cũng không nằm ngoài con đường „lập-diễn-ứng thuyết“ như trên. Tôi đọc Marx trên tinh thần người tìm hiểu. Nghĩa là tiếp thu những bài học về Marx trên ghế nhà trường phổ thông và đại học; và khi cần thiết cũng tham khảo thêm nguyên văn để hiểu cho rõ ý nghĩa câu chữ. Như vậy cũng có thể coi là vừa đủ cho một người „ngoại đạo“. Tôi đồng ý với ông DTL: „Đọc đến nơi đến chốn, tức là phải đọc toàn bộ các trước tác, các bản thảo, thư từ v.v… của Marx-Engels, để từ đó nắm được tư tưởng của các ông một cách hệ thống, thấy được sự hình thành, phát triển của nó, hiểu rõ từng thuật ngữ, từng khái niệm trong hệ thống của họ. Ít nhất phải làm thế đã, rồi phê phán gì thì hãy phê phán.“ Nếu cần và được phép bổ sung thì chỉ muốn tiếp thêm: „Và ít nhất cũng phải làm thế đã, rồi ứng dụng gì thì hãy ứng dụng “.
    Trái tim người trí thức (nói chung chứ không riêng trường hợp nào, để khỏi … lăn tăn) luôn yêu thương, kính trọng cuộc đời và công sức làm việc của Karl Marx, nhưng tư duy người trí thức cần trăn trở làm sao hiểu và làm cho đúng để những lý thuyết Marx đưa ra có thể mang lại an bình và hạnh phúc cho nhân quần chứ không phải những khổ đau nhân loại tự hành hạ lẩn nhau.
    Trân trọng.

  14. DTL viết:

    Hy vọng là ông Tôn Văn ý thức được rằng thu hoạch của ông ở đây là thu hoạch từ việc đọc văn bản của Carl Becker nói về CN Marx ((mà ông Anh Dũng gọi là “tự biên tự diễn”), chứ không phải thu hoạch từ việc đọc trực tiếp Marx, Engels một cách nghiêm túc.
    Nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn khuyên “muốn hiểu giáo lý của Phật thì nên đến thẳng với Phật, chứ đừng thông qua các vị Bồ Tát” để nói lên tầm quan trọng của việc đọc trực tiếp nguyên tác. Điều này dường như ai cũng đồng ý. Nhưng có điều buồn cười là rất nhiều người nhảy ra phê phán CN Marx trong khi chưa buồn đọc Marx-Engels đến nơi đến chốn dù chỉ một lần.
    Đọc đến nơi đến chốn, tức là phải đọc toàn bộ các trước tác, các bản thảo, thư từ v.v… của Marx-Engels, để từ đó nắm được tư tưởng của các ông một cách hệ thống, thấy được sự hình thành, phát triển của nó, hiểu rõ từng thuật ngữ, từng khái niệm trong hệ thống của họ. Ít nhất phải làm thế đã, rồi phê phán gì thì hãy phê phán. Chưa làm thế mà đã dám lớn tiếng kết luận Marx sai lầm chỗ này, thiếu sót chỗ nọ, hạn chế chỗ kia, vân vân, có đáng gọi là “khoa học, nghiêm túc” không?
    Bài của Carl Becker, tuy chưa đến mức ngớ ngẩn lố bịch như bài tự biên tự diễn này (http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=11531&rb=0103) nhưng dù sao cũng không nên coi là cơ sở đáng tin cậy để từ đó rút ra kết luận nào đó về CN Marx. Dẫu vậy, với những ai đã đọc Marx một cách nghiêm túc thì có thể tham khảo những bài viết kiểu này để biết thêm các cách hiểu khác về CN Marx – dù cách hiểu đó đúng hay sai.
    Theo nhận xét của cá nhân người viết, thì hầu hết những ý kiến công kích CN Marx xuất hiện trên diễn đàn talawas này đều cho thấy tác giả của chúng chưa bao giờ làm cái việc “đọc đến nơi đến chốn” nói trên. Do đó, những ý kiến của họ, nói theo kiểu Hegel là “dưới tầm phê phán”, còn nói theo kiểu Marx là “chúng không đáng được trả lời, nhưng có thể cung cấp các tư liệu rất tốt cho ai muốn nghiên cứu đề tài “Người ta có thể tự tin phê phán những điều mình hoàn toàn không hiểu như thế nào””!

  15. Tôn Văn viết:

    Thu hoạch 2: Bốc phệ marxist

    1. Vấn đề của bài viết được nêu lên từ đầu là: trong khi „Người Cộng sản – NCS“ xác quyết „sự phát triển xã hội – … là kết quả của một cuộc xung đột giai cấp không thể tránh khỏi“ (mục đích sử quan marxist) thì đối tác (Người Tự do – NTD) phản bác một cách khéo léo là „nhưng cái đã xảy ra thực sự lại là một vấn đề luôn luôn đang nằm trong tình trạng tranh cãi“. Cái được thừa nhận là: „… học thuyết Mác-xít, khi giải thích lịch sử một ngàn năm vừa qua của Âu châu, là một học thuyết đã làm điều này một cách sáng tỏ nhất“, vấn đề còn cần tranh cãi là nó có giá trị để hướng dẫn công cuộc kiến tạo tương lai? Thực tế Marx chỉ „giải thích lịch sử một ngàn năm vừa qua của Âu châu“ cũng cho thấy hạn chế của Marxismus. Ta thử xem phương pháp luận để đạt tới mục đích của sử quan marxist.

    2. Từ công trình nghiên cứu đồ sộ của mình để „giải thích lịch sử một ngàn năm vừa qua của Âu châu“, Marx lập ra mô hình phát triển xã hội loài người với động lực là „cuộc xung đột giai cấp không thể tránh khỏi“. Đây thực sự là điều ngộ nhận tệ hại. Ngày nay người ta nhìn nhận rõ hơn: „… tài sản tư nhân giữ thế thượng phong thì những tính chất tương tự như thế sẽ xuất hiện. Những tính chất như thế đã hình thành ở Tây Âu – vào cuối thời Trung cổ trong những nước bán khai bỗng xuất hiện những thành phố tự do, nơi thương nghiệp và thủ công nghiệp phát triển rất nhanh. Vì họ đã có truyền thống của nền văn minh cổ đại. Sau đó là cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh, bắt đầu thời kì công nghiệp hóa, tức là một dòng chảy liên tục của sáng kiến, sáng chế.“ (http://bauxitevn.net/c/16259.html) – Nghĩa là giòng chảy tri thức, giòng chảy tư duy sáng tạo là động lực phát triển của cái gọi là „xã hội loài người“.

    3. Bốc phệ marxist

    Giá trị một lý thuyết, một tư tưởng được kiểm chứng bằng việc đem nó ra giải thích và thực hành kiến tạo hiện thực. Do Marx rút ra kết luận sai nên việc ông giải thích quá khứ và những người theo ông áp dụng vào việc kiến tạo tương lai đã đem lại nhiều sai sót. Một xã hội gọi là „cộng sản chủ nghĩa“ với đặc điểm là con người „làm theo năng lực, hưởng thụ theo nhu cầu mong muốn / đòi hỏi“ chỉ có thể có được trong điều kiện giống như thời nguyên thủy sơ khai: Con người thưa thớt, tài nguyên thiên nhiên bao la, cứ săn bắt hái lượm đem về dùng. Một ngày nào đó, khi con người vươn ra vũ trụ để làm chủ nguồn tài nguyên bao la và hy vọng không có một loài người (hoặc ngợm) khác cạnh tranh thì chủ nghĩa cộng sản rất có khả năng thành hiện thực.

    Công cụ ngoại suy của Marx là một phương pháp khoa học; vấn đề là phải dựa trên cơ sở đúng đắn khách quan. Khi không đủ thông số, các phép ngoại suy thường dẫn đến nghiệm sai. Phương đông dựa trên cơ sở dịch lý đã tạo ra khoa gọi là „bốc phệ – bói toán“. Đi vào cuộc sống, các ông thày bói do không nắm hết cơ sở dịch lý và mục đích chỉ là nhằm kiếm „đồng tiền bát gạo“ nên đã đưa ra những phán đoán, lời khuyên không đúng cho các thân chủ; kết quả là người dân không mấy tin vào bốc phệ. Phiên bản ngôn ngữ hiện thời cho khoa này là BỐC PHÉT mà nhiều khi biến tướng thành PHÉT LÁC, NÓI PHÉT,… Thực chất ý nghĩa của nó chỉ là không có niềm tin chứ không phải là lời chửi mắng đơn giản. Marx đã „bốc phệ – bói“ một quẻ sai vì ông nhìn lầm bản chất hiện thực.

1 2 3 4 5
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>