Carl Becker – Triết học sử quan của Marx (2)
31/10/2009 | 3:13 chiều | 72 Comments
Category: Tư tưởng
Thẻ: Carl Becker > Karl Marx > Triết học sử quan
Cao Hùng Lynh dịch
Người Tự do: Vậy thì tôi đồng ý với quan niệm về ý chí tự do này. Đối với tôi, rõ ràng là khi con người đạt được sự hiểu biết về những tác động định đoạt hành vi của anh ta, thì sự hiểu biết này trở thành một tác lực mới có khả năng làm cho anh ta hành động khác đi. Nhưng nếu chấp nhận nguyên lý này, tôi thấy có một điều kỳ lạ như sau: trước thời đại của Marx, có lẽ con người đã không có sự hiểu biết nào về sự thật rằng hành vi của anh ta bị định đoạt bởi mâu thuẫn giai cấp về kinh tế. Tôi tưởng rằng yếu tố về sự nhận thức này lẽ ra đã phải cải tạo những điều kiện định đoạt các biến động xã hội xảy ra từ thời đại của người Neanderthal cho đến nay rồi kia chứ. Tại sao yếu tố nhận thức này lại không hề có một tác động đáng kể nào từ xa xưa cho đến thời đại của Marx? Hẳn Marx phải là một nhân vật vĩ đại hơn những gì tôi nghĩ – một đấng Messiah nào đó, người mà chỉ bằng một hành động duy nhất đã ban tặng cho nhân loại một khám phá trọng đại để biến đổi triệt để các điều kiện định đoạt lịch sử con người. Tôi thấy điều này thật khó tin. Đáng lý ra phải nói như vầy: sự hiểu biết đã từng bước cải tạo các tác lực kinh tế từng định đoạt những biến động xã hội trong quá khứ, và trong tương lai sự hiểu biết xa hơn nữa, sự hiểu biết mà Marx không hề hay biết, sẽ tiếp tục cải tạo những tác lực này theo các cách thức mà Marx không thể mơ tưởng tới.
Nhưng đây chỉ là vấn đề thứ yếu. Chúng ta hãy giả sử rằng cho đến thời của Marx, con người hoàn toàn lệ thuộc một cách mù quáng vào mối xung đột giai cấp về kinh tế, và rằng hiện nay, nhờ vào Marx, họ đang bước trên con đường ý thức được sự thật vừa nói, đồng thời khi ý thức được nó, họ sẵn sàng cải tạo một cách sâu rộng các điều kiện sẽ định đoạt những biến động xã hội. Rồi sao nữa? À, đối với tôi, dường như là sự khám phá trọng đại này của Marx chính là cái làm cho ông ta không thể tiên đoán được đặc tính của cuộc cách mạng xã hội sắp tới. Nếu chúng ta không biết rằng các biến động xã hội đều bị định đoạt bởi sự mâu thuẫn giai cấp về kinh tế, thì cuộc cách mạng xã hội sắp tới có lẽ cũng sẽ bước theo con đường của các cuộc cách mạng trước đây, trong đó không hề xuất hiện một xã hội phi giai cấp nào cả. Nhưng bởi vì chúng ta hiện nay đã biết rằng các cuộc cách mạng xã hội trong quá khứ đều bị quy định bởi mâu thuẫn giai cấp, cho nên sự hiểu biết này, theo Marx, sẽ khiến cuộc cách mạng xã hội sắp tới đi theo một đường hướng khác, trong đó chúng ta có thể hy vọng, nhưng không thể chắc chắn, một xã hội phi giai cấp sẽ xuất hiện. Nói ngắn gọn, một khi Marx làm cho con người nhận thức được sự tác động của mối xung đột giai cấp về kinh tế trong quá khứ, thì đó cũng là lúc ông phá hủy chính các điều kiện có thể giúp ông tiên đoán bản chất của cuộc cách mạng xã hội tương lai. Nếu Marx muốn tiên đoán chính xác bản chất của cuộc cách mạng xã hội sắp tới, có lẽ ông đã không nói cho chúng ta biết cái gì là cái tạo nên các cuộc cách mạng xã hội: bởi vì khi nói ra, bí mật đã bị tiết lộ, do đó không ai có thể tiên đoán được nó. Nhờ Marx, bí mật vĩ đại ấy đã bị tiết lộ, và sự hiểu biết này sẽ giúp chúng ta có thể hình thành cuộc cách mạng xã hội sắp tới khác với cái nó lẽ ra phải là. Triết học Marx trình bày cho các môn đồ một song đề mà họ hoặc là không nhận ra, hoặc là chối từ việc đối diện với nó. Song đề đó là đây: các biến động xã hội luôn luôn được quyết định bởi các điều kiện như nhau, trong đó chúng ta có thể đoan chắc rằng cuộc cách mạng xã hội sắp tới cũng giống với các cuộc cách mạng xã hội trước đó – nó sẽ biến đổi mối xung đột giai cấp hiện tại chỉ để tạo ra các điều kiện sẽ xuất hiện trong một cuộc cách mạng mới nào đó; mặt khác, sự hiểu biết về các điều kiện đã định đoạt các cuộc cách mạng xã hội trong quá khứ sẽ dẫn đến một tác lực mới trong các điều kiện sẽ định đoạt các cuộc cách mạng xã hội trong tương lai, mà trong trường hợp này, chúng ta không cách nào tiên đoán được bản chất của những cuộc cách mạng tương lai ấy. Triết học Marx không biện minh được cho sự quả quyết của người Cộng sản rằng giai cấp vô sản là giai cấp được chọn để thiết lập một xã hội phi giai cấp dựa trên sự sụp đổ của chế độ tư bản hiện nay. Nếu ông diễn dịch Marx dưới hình thức thuyết tất định máy móc, thì sự quả quyết nói trên của người Cộng sản là một ảo tưởng thuần túy; mặt khác, nếu ông diễn dịch Marx dưới hình thức ý chí tự do, thì sự quả quyết ấy chẳng khác gì một ước vọng huy hoàng. Đó là lý do tại sao tôi không thể coi triết học Marx như là một quy luật lịch sử.
Người Cộng sản: Được rồi. Giả sử, vì mục đích tranh luận, rằng sự quả quyết nói trên chỉ là một ước vọng huy hoàng. Chính ông đã nói rằng chế độ tư bản hiện nay cần phải bị thay đổi theo một cách thức nào đó để dung hợp hữu hiệu hơn quyền lợi của đa số dân chúng, tức giai cấp vô sản. Đó chính là điều mà người Cộng sản mong muốn. Vì ông đồng cảm với mục tiêu của họ, đồng thời tin rằng mục tiêu ấy sẽ được thực hiện bằng một biện pháp nào đó, vậy tại sao ông không gia nhập đảng Cộng sản để góp phần thực hiện ước vọng huy hoàng này?
Người Tự do: Tôi không gia nhập đảng Cộng sản, bởi vì tôi không tin vào các phương pháp mà họ đề ra để đạt được mục tiêu này, mặc dầu đồng cảm với ước vọng của họ trong việc tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho đại khối quần chúng. Theo như tôi hiểu, họ tuyên bố rằng không có gì thực sự có giá trị để thực hiện cho đến khi các điều kiện chín muồi cho việc áp dụng biện pháp cách mạng. Khi các điều kiện chín muồi xảy đến, căn cứ theo tấm gương của người Bolshevik ở Nga, họ tiến hành chiếm chính quyền, truất hữu giai cấp tư sản, đàn áp thô bạo sự bày tỏ mọi ý kiến bằng cách độc đoán đánh giá chúng là những ý kiến thù nghịch với lợi ích của giai cấp công nhân.
Tôi không tin vào việc coi võ lực và đàn áp như là phương tiện chủ yếu mang lại đời sống tốt đẹp hơn. Tôi cũng không phải là một người yêu chuộng hòa bình thụ động. Có thể không có chính quyền nào tốt cả, và mọi chính quyền, suy cho cùng, đều dựa trên võ lực. Nhưng tôi tin rằng trắc nghiệm cần thiết về một xã hội văn minh nằm ở chỗ mức độ tin cậy vào sự tranh luận tự do và sự đồng thuận có tính cách tự nguyện mà cơ quan công quyền và luật pháp đạt tới. Việc viện đến võ lực nhằm đạt được sự đồng thuận đôi lúc có thể là hành động cần thiết để ngăn xã hội sa vào tình trạng hỗn loạn thực sự; nhưng việc dùng võ lực thay thế cho thuyết phục chính là sự thú nhận về tình trạng bất lực. Tôi không tin vào khả năng dẹp bỏ sự đàn áp bằng cách đàn áp những kẻ áp bức. Tôi không tin vào tính bất khả sai lầm của bất cứ người nào, hoặc bất cứ nhóm người nào, hoặc bất cứ học thuyết hay giáo thuyết của bất cứ người hoặc nhóm người nào, trừ phi chúng có thể đứng vững trước sự thử thách của việc phê phán và phân tích một cách tự do. Tôi đồng ý với Pascal rằng “suy tư làm nên phẩm hạnh của con người”; do vậy, tôi tin rằng tất cả những thành tựu vĩ đại và có giá trị lâu dài của nền văn minh đều thâu được từ sự hoạt động tự do của trí óc, cái đối lập với, hoặc không liên quan gì tới, việc áp chế cảm xúc của quần chúng và mưu toan dùng quyền uy để cưỡng tạo sự tuân phục trong hành vi và ý kiến. Tôi không tin rằng đã có, hoặc sẽ có, một nền văn minh cao tại bất cứ quốc gia nào, mà trong đó con người bị giới hạn việc diễn tả tư tưởng bởi cơ quan công quyền. Chế độ độc tài là một chế độ già cỗi như sự già cỗi của xã hội Âu châu; và dẫu chế độ độc tài ấy có mang tên Stalin, Mussolini hay Hiler, thì nó không bao giờ trở thành điều gì mới mẻ và đáng được ngưỡng mộ bằng cách che dấu nó dưới lớp áo ý thức hệ mới lạ và huyền ảo. Tôi nhìn nhận nó như một khả thể, theo đó nền văn minh cơ giới, hiện đại và phức tạp của chúng ta có thể nhầm lẫn khi cho rằng một nền độc tài sẽ thay thế chế độ hiện tại; nhưng tôi từ chối góp phần vào việc làm cho nó xảy ra.
Đó là lý do tại sao tôi không gia nhập đảng Cộng sản. Tôi tin rằng những đổi thay sâu rộng trong hệ thống kinh tế và kỹ nghệ của chúng ta là cần thiết; nhưng tôi tin rằng chúng có thể, và tôi hy vọng chúng sẽ, được thực hiện tại đất nước này mà không cần đến một cuộc cách mạng bạo lực, không cần đến một chế độ chuyên chế, không cần đến việc xóa bỏ niềm tin truyền thống của chúng ta vào sự thảo luận tự do và sự tự do phê phán cơ quan công quyền, phê phán các biện pháp mà nó đưa ra để giải quyết các căn bệnh xã hội. Và theo triết học Marx, như ông dẫn giải, không có gì là bất hợp lý khi tôi chọn lập trường này. Theo như ông nói, vì rằng Marx đã làm cho chúng ta ý thức được tác lực của mâu thuẫn giai cấp về kinh tế trong quá khứ, cho nên chính sự ý thức ấy sẽ khiến chúng ta có thể làm chủ và cải tạo mối xung đột giai cấp trong tương lai. Tôi đồng ý. Nhưng tại sao nhất thiết phải cho rằng sự hiểu biết mà Marx mang đến cho chúng ta lại là vật sở hữu duy nhất của giai cấp vô sản? Suy cho cùng, người tư sản cũng có chút thông minh nào đó chứ. Họ có thể đọc Marx, hoặc ít nhất, đọc Sidney Hook. Họ có thể quan sát điều đã xảy ra ở Nga, ở Ý, ở Đức. Họ cũng có thể hiểu rằng chế độ tư bản cạnh tranh đang đi trên con đường tự hủy. Học thuyết Marx nói với tôi rằng nhà tư bản, giống như người vô sản, đều bị tác động bởi quyền lợi giai cấp về kinh tế của họ; học thuyết ấy không nói với tôi rằng họ, cũng chẳng khác gì người vô sản, mãi mãi phải chịu sự tác động của một ảo tưởng mù quáng liên quan đến cái mà quyền lợi ấy là. Cho đến nay, quyền lợi của giai cấp tư sản rõ ràng không phải là việc đại khối quần chúng sẽ tồn tại mà không cần đến phương tiện mua sắm hàng hóa mà giai cấp tư sản đã sản xuất ra để bán. Vẫn có khả năng rằng hệ thống tư bản tại đất nước này, khi bị lệ thuộc vào áp lực của nhu cầu kinh tế và sức mạnh của tình trạng bất mãn nơi công chúng, sẽ có thể, bằng một tiến trình hòa bình hợp lý, được chuyển đổi thành một hệ thống kinh tế kế hoạch và hợp tác nào đó – chứ không phải là một xã hội không tưởng – nhưng ít nhất đó phải là một hệ thống có thể hoạt động tốt đẹp. Và một hệ thống có thể hoạt động tốt đẹp mà có khả năng bảo tồn giá trị tự do truyền thống của chúng ta đối với quyền thảo luận và phê phán sẽ, theo tôi, cao đẹp hơn bất cứ hệ thống nào được thiết lập bằng các hành động đàn áp theo kiểu chế độ Cộng sản của Nga, chế độ Phát-xít của Ý, hay chế độ Quốc xã của Đức.
Người Cộng sản: Một hệ thống có thể hoạt động tốt đẹp. Điều này hiển nhiên cũng mù mờ như cái xã hội lý tưởng của Marx trong tương lai mà ông vừa chế giễu. Rõ ràng, một hệ thống có thể hoạt động tốt đẹp là cái mà ông thích hơn, so với cái mà ông không thích như nhà nước Cộng sản Nga, chẳng hạn.
Người Tự do: Đúng vậy. Nhưng ông phải cho phép tôi thích một hệ thống hoạt động tốt đẹp mà tôi thích, hơn một hệ thống hoạt động tốt đẹp mà tôi không thích chứ. Ông hầu như không thể trông mong tôi trở thành người Cộng sản cho tới khi nào tôi được thuyết phục rằng chế độ cộng sản đáng chuộng hơn chế độ mà tôi đang sống.
Người Cộng sản: Nhưng ông đã thừa nhận rằng cái “hệ thống hoạt động tốt đẹp” mà ông hy vọng sẽ được thiết lập có thể không thiết lập được – nghĩa là hệ thống hiện nay có thể bị kết thúc bằng một chế độ độc tài. Điều tôi nghĩ đến sau đây là một kết quả có nhiều khả năng xảy ra hơn. Có lẽ rốt cuộc giai cấp tư sản, khi phải đối diện với sức mạnh ngày càng tăng của giai cấp vô sản, sẽ dùng đến võ lực, như nó đã từng dùng ở Ý và Đức. Khi đó, nếu phải chọn lựa giữa việc ủng hộ một nền chuyên chế của giai cấp vô sản và một nền độc tài của giai cấp tư sản, ông sẽ làm gì? Điều gì sẽ xảy đến cho tự do ngôn luận và hành động thuyết phục kẻ khác? Ông đồng cảm với các mục tiêu của người Cộng sản, mà đến khi đó ông vẫn không gia nhập hàng ngũ của họ sao? Tại sao phải đợi đến khi đó? Tại sao ngay bây giở, không đứng về phe chắc chắn sẽ chiến thắng, bởi vì phe đó đồng hành với xu hướng ưu thắng của các lực lượng xã hội?
Người Tự do: Tôi không hề thừa nhận rằng chủ nghĩa Cộng sản tất yếu đồng hành với xu hướng ưu thắng của các lực lượng xã hội. Tôi thấy rằng khi nó phù hợp với lập luận của ông, thì ông, cũng như hầu hết những người Cộng sản, đều viện đến một học thuyết tất định có tính chất định mệnh, cái khiến cho cuộc cách mạng cộng sản trở nên tất yếu phải xảy ra, bất chấp người ta làm gì đối với nó; nhưng khi lập luận của ông đòi hỏi phải có một học thuyết khác, ông liền thừa nhận rằng cuộc cách mạng xã hội ấy có thể được dẫn dắt và làm chủ bởi các mục đích có ý thức của con người. Ông cần phải thực sự chấp nhận một học thuyết này, hoặc một học thuyết khác, và hãy trung thành với cái mình chọn lựa. Nhưng chẳng sao cả. Cứ chấp nhận một hoặc cả hai học thuyết, nếu ông thích thế. Trong mỗi trường hợp, tôi đều không thấy bất cứ lý do hợp lý nào để đứng chung với người Cộng sản. Nếu cuộc cách mạng cộng sản là điều không thể tránh khỏi, bất chấp người ta làm gì đối với nó, vậy tại sao phải làm gì? Tại sao phải đứng về phe nó, khi mà ông đã biết trước rằng nó sẽ tất thắng? Nhưng nếu cuộc cách mạng cộng sản không phải là điều không thể tránh khỏi, vậy thì người vô sản có thể làm cái gì đó để thúc giục nó xảy ra, và tương tự như vậy, người tư sản cũng có thể làm cái gì đó để trì hoãn nó. Và trong trường hợp này, tại sao tôi phải gia nhập hàng ngũ của người Cộng sản? Tôi là một giáo sư; và người Cộng sản không bao giờ ngưng nói với tôi rằng giáo sư là một tầng lớp ủng hộ chế độ tư bản, bởi ông ta làm như vậy là vì quyền lợi của chính ông ta. Giả dụ tôi sẽ là người Mác-xít đủ tốt để chấp nhận một học thuyết nói rằng mọi hành động của con người đều bị thúc đẩy bởi quyền lợi kinh tế của giai cấp họ. Vậy khi đó, nếu các quyền lợi kinh tế của tôi đều gắn chặt với chế độ tư bản, và nếu tôi có thể làm gì đó để trì hoãn cuộc cách mạng cộng sản, thì tôi sẽ là, theo Marx, một tên ngu ngốc nhân văn chủ nghĩa đáng thương, kẻ đã từ bỏ giai cấp của mình để phục vụ cho một cuộc cách mạng mà, nếu thành công, sẽ đàn áp tôi một cách không thương xót. Một mặt, triết học Marx dạy tôi rằng cuộc cách mạng cộng sản là điều tất yếu xảy ra, và trong trường hợp này, tôi đành cam chịu; mặt khác, triết học Marx cũng dạy tôi rằng cuộc cách mạng cộng sản ấy có thể được thúc đẩy hoặc bị trì hoãn bởi những nỗ lực có ý thức của con người, trong trường hợp này, tôi sẽ gắn bó với giai cấp của mình để làm bất cứ cái gì có thể trì hoãn nó. Trong mỗi trường hợp nói trên, tôi vui mừng vì biết rằng hành vi của tôi đều được đặt trên nền tảng vững chắc của triết học sử quan của Marx.
Ông phải hiểu đây là những chọn lựa được mở ra một cách hợp lý cho tôi căn cứ trên giả định rằng tôi chấp nhận triết học sử quan của Marx. Nhưng đời sống lại không đơn giản như logic. Trong logic học, ông có thể đưa cho tôi xem những chọn lựa rõ ràng, dứt khoát. Ông có thể hỏi liệu tôi sẽ “chọn” việc ủng hộ nền độc tài vô sản hay nền độc tài tư sản, như thể hai phe tranh đấu này đang bày binh bố trận trên chiến trường và tôi được yêu cầu phải bước ra để chọn một phe. Trong cuộc sống thực tế, dường như tôi chưa gặp phải những lựa chọn giản đơn hay đầy tính sắp xếp kịch tính như thế. Khi bỏ phiếu cho ông Roosevelt (nếu tôi có bỏ phiếu cho ông ta – bây giờ tôi không nhớ chắc điều đó), tôi đã thực hiện một sự chọn lựa, mà không hề biết chắc (cũng như ông Roosevelt vậy) điều gì sẽ xảy đến sau đó. Giờ đây, tôi đang “ủng hộ” chánh quyền Roosevelt, và có khả năng đến năm 1936, tôi sẽ bỏ phiếu để ông Roosevelt tái đắc cử. Điều này lẽ nào lại có nghĩa rằng tôi đang “chọn lựa” ủng hộ một chế độ Phát-xít hơn là một chế độ cộng sản? Những người cộng sản triệt để, khi biết điều tôi đang làm, liền nói: Giải pháp Mới (The New Deal) rõ ràng là một dạng biện pháp Phát-xít kiểu Mỹ. Nhưng tôi đủ chất phác để không ý thức được mình đã thực hiện một chọn lựa giữa cộng sản và phát-xít. Và tôi rất hạnh phúc khi điều đó thực sự là như vậy. Tôi không thích bị đặt trước một sự lựa chọn rạch ròi giữa một bên là độc tài vô sản và một bên là độc tài tư sản. Tôi thiên về cách nói: “Sự nguyền rũa dành cho cả hai phía!” Tôi nhận thấy Mussolini cũng đáng kinh tởm như Stalin; và Hitler còn hơn thế nữa.
Người Cộng sản: Mọi thứ ông nói đều rất hay, nhưng dù sao thì một cuộc cách mạng thực sự là một điều không thể không xảy ra. Rất nhiều người Nga có thể bảo đảm với ông rằng sự chọn lựa mà ông không thích đã được đặt ra cho họ một cách rạch ròi và đầy kịch tính. Nếu nó cũng được đặt ra một cách tương tự tại đất nước này, dẫu ông có căm ghét nó đến đâu đi nữa, thì dường như đối với tôi, ông cũng sẽ phải chọn phe này hoặc phe kia.
Người Tự do: Không nhất thiết phải như vậy. Vẫn còn có một khả năng khác.
Người Cộng sản: Khả năng đó là gì?
Người Tự do: Tôi vẫn có thể từ chối việc gia nhập cả phe này lẫn phe kia. Tôi sẽ nhất mực tin vào sự phù phiếm của hành động bày tỏ niềm tin của mình vào những phẩm tính cao đẹp của sự thuyết phục.
Người Cộng sản: Ông có thể sẽ nhận lãnh những hậu quả nghiêm trọng vì điều này. Ông có thể bị đàn áp
Người Tự do: Đúng vậy. Nhưng tôi sẽ chấp nhận các hậu quả đó. Tôi sẽ chọn việc bị đàn áp, còn hơn là ủng hộ cái mà tôi phản đối. Nói tóm lại, tôi có thể, giống như việc lùi về nơi trú ẩn cuối cùng nào đó để lánh khỏi những hành động xuẩn động, trở thành người Thiên Chúa giáo và làm theo câu châm ngôn: thà chịu đựng điều ác, chứ không thể làm điều ác.
Người Cộng sản: Ông đang dựa vào một loại chủ nghĩa lý tưởng còn huyễn hoặc hơn cả Marx, và tôi nhận thấy rằng điều đó chẳng đưa ông đi đến đâu cả.
Người Tự do: Tôi đoan chắc không phải như thế. Nhưng, như tôi đã nói, tôi là giáo sư, và giáo sư, theo một câu cách ngôn của người Đức, là “người phải biết nghĩ khác”: nếu ông ta không được phép ngôn luận tự do, thì khi đó ông ta mới không thể đi đến đâu.
Nguồn: The World of Ideas: Essays for Study, Michael W. Alssid và William Kenney biên soạn, Holt, Rinehart and Winston, Inc. xuất bản, 1964.
Tôi không biết nhiều về CNCS vì tôi chưa được thực sự sống với chủ nghĩa này, về lý thuyết tôi cũng chỉ đọc sách như mọi người thôi. Có điều tôi nhận thấy vài điều :
1. Cuộc cách mạng tháng 10 ở Nga là dối trá. Cuộc cách mạng thật sự ở Nga xảy ra vào tháng 02 do chính nông dân lãnh đạo (khác với lời tiên đoán của Marx). Lê Nin đã khôn ngoan lợi thế nước đục thả câu và làm vụ cướp chính quyền vào tháng 10.
2. Cuộc cách mạng tháng 10 ở VN cũng là dối trá. Nó chỉ là một cuộc cướp chính quyền do Việt Minh lãnh đạo, chả thấy người dân nổi dậy khắp nơi như cuộc cách mạng tháng 02 của Nga. Dân mù tịt, Đảng tuyên bố : đây là cuộc cách mạng của toàn dân !
3. Nhà cầm quyền (hay cướp quyền) CSVN xử dụng thủ thuật “đi nói dối cha về nhà nói dối chú” đến mức bỉ ổi tối đa. Nào là chuyện Lê Văn Tám, nào là các tác phẩm của DTHương nói lên những dối trá trắng trợn này, nào là chuyện của Vũ Thư Hiên Đêm Giữa Ban Ngày nói lên những thủ đoạn đê hèn của DCSVN, nào là Hồi Ký của nhạc sĩ Tô Hải, và gần đây nhất là cái ăn không nói có của BNGVN qua bà Nguyễn Phương Nga và những bài viết trên tờ Công An Nhân Dân về vụ Bát Nhã.
4. Tham nhũng trong các xã hội theo CNCS ăn vào gốc rễ của hệ thống hành chánh cầm quyền. Quyền lực luôn đi đôi với tham nhũng. Lương của các cán bộ thì thấp mà sao ai cũng có nhà cao cửa rộng. Con cái thi nhau đi du học ở Âu Mỹ, tậu nhà tậu cửa rầm rộ ở Hoa-Kỳ. Bố Mẹ đi thăm con xoành xoạch mỗi năm, lấy tiền đâu ra mà lắm thế.
5. Xã hội tha hoá gây ra bởi nghèo khổ và chính sách ru ngủ của nhà nước. Anh có tiền ăn chơi thì tha hồ, không ai cấm. Những vũ trường to lớn ở Sài Gòn và Hà Nội, những quán bia mọc lên như nấm, những cô gái ăn sương nhan nhản đầy đường về đêm là những dấu hiệu cho việc tha hoá này.
6. Phải làm đĩ để nuôi trôn : nhà cầm quyền CSVN thúc đẩy việc đi lao động quốc tế, thúc đẩy các nước tư bản đầu tư ở VN (Đài Loan, Tân Gia Ba, Hồng Kông, TQ, Nam Hàn, Nhật là những nước có hãng xưởng nhiều nhất ở VN). Đùng một cái, CS trở thành nô lệ cho Tư Bản. Cười ra nước mắt.
7. Trên phương diện lý thuyết, CNCS của Lê Nin nhắm đánh vào 2 khao khát của con người – ham muốn cao cả đối với sự công bằng, và thèm khát thấp hèn đối với sự trả thù. CSVN dùng cả hai thủ đoạn tàn bạo nhất trong lịch sử loài người trong việc thực hành chủ nghĩa này : chính sách cải cách ruộng đất (từ năm 1945 đến năm 1956 ở Bắc Việt) và hàng trăm trại cải tạo (sau 1975) là hai thí dụ điển hình cho việc thực thi công bằng và sự trả thù, cả hai cùng đẫm máu dân Việt.
Thuyết lịch sử của Hegel là duy thần nếu xét về bản chất. Để thuyết lịch sử của Hegel đứng vững, bắt buộc tồn tại một đấng tối cao tuyệt đối như một điều kiện cần và đủ. Nếu không, những quân bài sẽ rơi lả tả, và những biện hộ cho bạo lực hoàn toàn không có cơ sở. Một thứ thuyết thiên tử của Tây. Khốn nỗi, muốn thiên tử tồn tại, ta cần có Thiên. Đem Thiên đi chỗ khác, tử không còn chỗ dựa hóa ra lại là người trần mắt thịt à. Ông Marx nhà ta nói là lộn ngược Hegel lại, thật ra chỉ đem râu ông nọ cắm cằm bà kia. Ông loại bỏ khái niệm Thượng Đế, đem vào một thuyết vừa không khoa học lẫn không biện chứng, phần lớn dựa trên những phát kiến khoa học sặc mùi thực dân để làm thứ keo gắn lại thuyết lịch sử. Nói thẳng ra Marx đang biện hộ cho mê tín dị đoan bằng cái-gọi-là khoa học thì đúng hơn. Một trong những kết luận thuyết lịch sử của Hegel là mọi việc đã đang và sẽ xảy ra đều là ý Thượng Đế, và những nhân vật lịch sử đã đang và sẽ “thế thiên hành đạo”, và vì vậy mọi bạo lực đều có thể biện giải được. Duy vật biện chứng nhét vô đâu khi những gì xảy ra trong quá khứ hoàn toàn không bảo đảm sự trùng lặp trong tương lai. Không có Thượng Đế làm bào chữa cho bạo lực, chính những người tạo ra bạo lực sẽ phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình. Marx, hay thay, lại giữ nguyên phần bạo lực của thuyết lịch sử, nói thẳng ra là lập một thứ tôn giáo độc quyền mới. Cũng phải thôi, Hegel bao giờ cũng xem mình là một triết gia công giáo, chưa bao giờ thoát ra khỏi tư tưởng chính thống của nhà thờ. Marx dù có trồng chuối cây cột Hegel kiểu nào đi chăng nữa, nhìn quanh quẩn cũng lại thấy cây cột Hegel sừng sững.
Nói chủ nghĩa CS không đàn áp là vô lý. Cụm từ “Dictatorship of Proletariat” dịch đúng là “Nền độc tài của vô sản”. Và đây là bản chất chứ không phải một thứ công cụ lúc thích thì xài, không thích thì thôi. Cụm từ “Độc tài” đã bao gồm đàn áp. Như vậy cái nghịch lý là do chính Marx tạo ra, tức là thay nền độc tài của tư bản bằng một nền độc tài khác và hy vọng nền độc tài này sẽ tạo nên dân chủ. Xin lỗi cho cười 1 phát. Hahahahaha!
Tôi công nhận Marx nhìn ra cái nghịch lý của tư bản, tất nhiên không bằng phương pháp khoa học, mà chỉ là sự quan sát. Marx cố làm ra vẻ mình đi tới kết luận này bằng tư duy khoa học, nhưng với giới học giả bây giờ chỉ đem tới những trận cười thoải mái. Tuy nhiên, phải công nhận nhận định về cái nghịch lý của tư bản Marx nhìn ra đầu tiên, và chính cái nghịch lý này đã dẫn tư bản tới khủng hoảng này tới khủng hoảng khác. Cách giải quyết của Marx lại rất đáng làm mồi câu sấu. Có một sự đồng ý trong giới học giả ngoài này là tư bản cần phải có một cách quản lý mới hoặc chuyển hóa nhưng không cần thay thế. Mà nếu có cần thay thế đi chăng nữa, chủ nghĩa CS hoàn toàn không giúp ích được gì.
Bây giờ câu hỏi dành cho dân Marxists, Marxism nào là Marxism nào, Phê bình tư bản hay chủ nghĩa CS và những kiến thức khá hổ lốn về kinh tế? Dân Tây bên này chỉ còn giữ lại phần phê bình tư bản và gọi đó là Marxism. Giới biết thì gọi đây là 1/4 Marxism, vì nó chiếm đúng 1/4. 3/4 còn lại thì có nhiều kiểu chối bay chối biến mà ông Lữ Giang là 1.
Còn dụng ý tốt của Marx, cho con xin! Nghe giống kiểu “nhân thân tốt” gần đây. Ai dám nói những trò đó không bắt đầu từ Marxism. Vả lại trước Marx còn biết bao nhiêu người cũng dụng ý tốt. Hay chắc tại hồi xưa chưa có luật bản quyền. Người ta chỉ biết tới người làm ra cái máy bay đầu tiên bay được, còn bao nhiêu dụng ý làm cái máy biết bay ai mà đếm cho xuể.
Trở lại cái “nền độc tài vô sản”, có ai để ý xem cái tính vô sản của mấy nhà nước (chắc chắn) độc tài còn bao nhiêu, hay nó tạo ra những chế độ phong kiến (chỉ có bộ vest là) mới? Có nên ngạc nhiên không khi thuyết lịch sử hiện nguyên con. Và cũng có nên ngạc nhiên không khi tới châu Á, nó lại tồn tại tới bây giờ.
Marx phê bình về sự khốn cùng của triết học, nhưng qua Hegel, ông chứng minh mình là kế thừa trực tiếp của sự khốn cùng đó. Ngành tri thức học đã khuyến cáo biết bao nhiêu lần là có một khoảng cách khá xa giữa thực tế và triết học. Đơn giản vì cá nhân không thể giải quyết được toàn bộ thế giới, chỉ một vấn đề cụ thể nào đó thì được. Marxism là bằng chứng cụ thể của kháng cáo đó.
Nhưng phải công nhận ảnh hưởng của Marx. Những năm 60-70, gọi là thời post-philosophy theo nghĩa xét lại vì hệ quả của Marxism đã vượt qua sự tưởng tượng của con người sau khi đọc Solzhenitsyn. Vấn đề tri thức bị đặt lên bàn mổ và kết quả tới giờ không lấy gì làm lạc quan. Câu kết luận của nhóm kiến tạo: Tất cả chúng ta đều mù. Nhưng mù mà nhận thức được mình mù còn gỡ gạc đôi chút. Những người lúc nào cũng bô bô “đỉnh cao trí tuệ” mới hết thuốc chữa.
K.Marx mất mười lăm năm để viết Tư bản luận tập một, còn lại là bản thảo mà sau đó được F.Engels soạn thảo lại để hoàn thành hai tập tiếp theo. Không thể tưởng tượng được Marx đã bị 15 năm đó hành hạ như thế nào (ông đã từng tự thú trong thư gởi Joseph Arnold Weydemeyer). Điều đó không phải vì đời sống vật chất thiếu thốn của ông, mà vì ông đã quá thủy chung với phép biện chứng của Hegel. Nhưng quả thật sự hành hạ này dai dẳng đối với chúng ta tận ngày hôm nay và không biết còn kéo dài bao lâu nữa. Những người Marxist vẫn ra sức bảo vệ lý thuyết của mình vì một niềm tin khắc khoải về một xã hội công bằng, bất chấp các điều kiện tự nhiên khách quan. Sự hành hạ này giống như của Marx từng chịu đựng. Còn những người phê phán chủ nghĩa Marx thì cố loại tư tưởng này ra khỏi tâm lý xã hội, cho dù công cuộc thực nghiệm CNCS đã sụp đổ cách đây hơn một thập kỷ. Nhưng tương tự như một loại virus tin học, nó bám rất chắc bởi được thiết lập một cách hoàn thiện bằng một kiểu chương trình mang tên “biện chứng”. Đó cũng là một sự hành hạ ở khía cạnh khác.
Marx nhìn thấy cốt lõi của mọi mâu thuẫn xã hội bắt nguồn từ tư hữu. Nhưng khổ nỗi ông lại không nhận ra tư hữu là thuộc tính của mọi sinh vật trên trái đất. Thuộc tính này thể hiện ở sự cố gắng duy trì đời sống của bản thân, của thế hệ sau mà cũng là phần vật chất tiếp nối của bản thân nó. Con người có thể chia sẻ lợi ích của mình cho người khác, nhưng không phải với tất cả, không phải mọi lúc mọi nơi. Ý thức cộng đồng của từng cá nhân con người luôn bị chi phối bởi quyền lợi riêng. Điều này mỗi chúng ta ai cũng tự nhận ra trong chính bản thân mình, không cần phải suy đoán. Ngoài ra ta có thể quan sát hành vi của trẻ con khi chúng chưa hình thành ý thức của một cá thể xã hội. Xóa bỏ tư hữu là sự cố ý trái tự nhiên, không thể thực hiện lâu dài cho cả đời sống xã hội. Con người là một thực thể tâm lý phức tạp. Tiếc rằng Marx đã dùng cái chìa khóa biện chứng vạn năng để phân tích nó.
Marx tự mâu thuẫn với chính mình khi khẳng định nguyên khởi của con người là tự do, trong lúc ông lại là môn đồ của chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa cho rằng vật chất quyết định ý thức. Có thể điều này đã dẫn ông đến sự hình dung về giai đoạn lịch sử đầu tiên của loài người mà ông gọi là thời kỳ cộng sản nguyên thủy, rằng lúc đó tồn tại chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Lẽ nào đó là thời kỳ địa đàng của loài người: không mưa, không nắng, xung quanh bộn bề thực phẩm, để con người nguyên thủy thỏa mãn nhu cầu của mình dù chúng rất vô cùng đơn giản? Thời kỳ này bắt đầu từ lúc nào, kéo dài bao lâu, Marx không hề nói tới.
Ngay cả dạng thức cuối của hoạt động sống của con người (trong ba dạng thức mà Marx đưa ra) cũng là một sự mơ hồ về cái mà Marx gọi là “sự phát triển mọi mặt của các cá nhân”. Lúc đó tư hữu và lao động tha hóa bị xóa bỏ, bắt đầu một dạng thức gọi là hoạt động tự do toàn diện, phù hợp với xã hội cộng sản. Nhưng thế nào là phát triển mọi mặt? Ta cũng không có câu trả lời của Marx.
Giá trị còn lại của Tư bản luận có chăng chỉ là cách phân tích CNTB bằng phép biện chứng. Nhưng đó cũng chỉ là một trong các cách mà chúng ta có thể nắm bắt kiến thức kinh tế học, còn không thể dùng nó để điều chỉnh các quá trình kinh tế xã hội.
Ông Phú Thư viết: Còn ý của tôi chỉ là sự quan sát thực tế tầm thường: “người có ý định duy trì sự sống của CNCS – tấm bình phong của tệ đàn áp và bất công – chính là người duy trì đàn áp và bất công.”
“CNCS – tấm bình phong của tệ đàn áp và bất công”: đây không phải là “quan sát thực tế tầm thường”, mà là đang làm việc thuần túy với lý thuyết CSCN. Ông đã lộn ngược CNCS bởi vì CNCS vạch trần đàn áp và bất công chứ không phải “bình phong” của tệ đàn áp và bất công.
Chính vì ông lộn ngược CNCS như thế (tôi nhắc lại rằng: đây mới chỉ là phần ông làm việc với lý thuyết thuần túy chứ chẳng phải “quan sát thực tế tầm thường” gì cả) nên ông cho rằng (đây mới là “quan sát thực tế tầm thường”) ai cố duy trì sự sống của CNCS là cố duy trì “bình phong”.
Qủa thực là ông cũng “quan sát” đấy, nhưng thế giới trong mắt ông bị lộn ngược so với thực tế.
“Sao ông biết tôi là nhà chống Cộng, lại biết còn rành hơn cả thằng tôi là chống cộng theo phong cách chiêm tinh, đoán mò và hô khẩu hiệu? Biết đâu tôi là thằng Cộng Sản thứ thiệt của thời đại mà chả phải là tín đồ Cộng Sản theo phong cách bô lô ba la hô khẩu hiệu thì sao?”
Từ cái sự lộn ngược CNCS của ông thì tôi kết luận ông là nhà chống Cộng theo phong cách chiêm tinh, đoán mò, hô khẩu hiệu là đúng rồi. Người Cộng Sản thứ thiệt không lộn ngược CNCS ông ạ.
Ông Anh Dũng,
Sao ông biết tôi là nhà chống Cộng, lại biết còn rành hơn cả thằng tôi là chống cộng theo phong cách chiêm tinh, đoán mò và hô khẩu hiệu? Biết đâu tôi là thằng Cộng Sản thứ thiệt của thời đại mà chả phải là tín đồ Cộng Sản theo phong cách bô lô ba la hô khẩu hiệu thì sao?
CNCS đã được nhân loại thực thi từ khi nào, hậu quả ra sao, chắc ông cũng cần phải nghiên cứu thêm thay vì chỉ lo nghiên cứu tường tận cái mà ông gọi là “gốc rễ” của CNCS – vũ khí lý luận, nền tảng tư tưởng của Đảng – ông Anh Dũng nhỉ?
Câu phủ nhận của ông đầy tính lý thuyết cao siêu: “người duy trì đàn áp và bất công (sao) lại là người có ý định duy trì sự sống của CNCS – một vũ khí chống lại sự đàn áp và bất công.” Còn ý của tôi chỉ là sự quan sát thực tế tầm thường: “người có ý định duy trì sự sống của CNCS – tấm bình phong của tệ đàn áp và bất công – chính là người duy trì đàn áp và bất công.” Vậy tôi hay ông là người mâu thuẫn, là kẻ hô khẩu hiệu?
Thú thật với quí vị là trong lúc còn học TH ở VN tôi đã là người đã từng say mê CNCS qua sách vở. Trong những lúc trà dư tửu hậu tôi sẳn sàng tranh luận “một mất một còn” với bạn bè và phần thắng thế về lý luận bao giờ cũng về phía tôi. Cái làm tôi mê mẩn chính là một XH không giai cấp, công bằng, nhân ái, không có bóc lột, không có chính quyền, công an cảnh sát… Mọi người cư xử với nhau còn tốt hơn trong một gia đình giữa cha mẹ và con cái nữa. CNCS còn vượt biên giới quốc gia để đi đến một thế giới đại đồng, một thiên đường trên trần gian này.
Thế rồi thời gian trôi qua, tôi nhận thấy những nước CS đã càng ngày càng rời xa mục tiêu muốn đến, thêm vào đó các lãnh tụ CS (những người hiểu rõ CNCS) lại tham quyền cố vị, hành động ngược lại những gì họ nói. Thế giới đại đồng làm sao có được khi LX chống TQ rồi TQ chống VN?
Từ thất vọng này đến thất vọng khác, tôi dần dần mất niềm tin vào lời nói của những người CS. Chính những người CS trung kiên như cố Trung tướng Trần Độ còn phải thú nhận là người CS “nói một đàng làm một nẻo” cơ mà. Bây giờ nếu tôi bảo họ hãy từng bước thực hiện CNCS đi chắc chắn họ sẽ chẳng để tôi yên thân (giống như ông Tướng TĐ) vì động chạm đến tài sản do bóc lột dân của họ. Cuối cùng làm sao tôi còn có thể tin vào thực tâm của họ nữa?
Ông Phú Thư,
“CNCS sở dĩ sống được cũng nhờ biết duy trì tệ đàn áp và bất công trong xã hội”. Tức là người duy trì đàn áp và bất công lại là người có ý định duy trì sự sống của CNCS – một vũ khí chống lại sự đàn áp và bất công. Đây là một mâu thuẫn lộ liễu, là sự đảo ngược một cách rất tầm thường quan điểm của tôi.
“CNCS cũng rồi nhanh chóng bị loại trừ bởi sự dã man và thối nát của nó, và lịch sử cũng đã và đang chứng minh điều này.”
Lại một nhà chống Cộng theo phong cách chiêm tinh, đoán mò, hô khẩu hiệu.
Tôi có thể đồng ý rằng CNCS là sản phẩm của xã hội áp bức và bất công, là một cái quả xấu xa của một cái nhân tồi tệ. CNCS cũng rồi nhanh chóng bị loại trừ bởi sự dã man và thối nát của nó, và lịch sử cũng đã và đang chứng minh điều này.
Ông Anh Dũng nói: “khi tình trạng kinh khủng đó không còn thì “đất sống” của CNCS cũng không còn “ & “khi nào vẫn còn những công nhân lao động cực nhọc cho bọn tư bản không làm nhưng hưởng lợi thì khi đó CNCS vẫn sống”, có thể hiểu rằng CNCS sở dĩ sống được cũng nhờ biết duy trì tệ đàn áp và bất công trong xã hội. Nó là vũ khí lý luận của chế độ cai trị với giai cấp bị ép thành vô sản.
Ông Sacroyant Nguyen nói tuy ngắn nhưng chính xác chứ không như ông Carl Becker lê thê nhưng ấu trĩ đến nực cười.
Đúng là CNCS là sản phẩm của xã hội đầy áp bức, bất công, đầy người nghèo do Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa gây ra. Khi tình trạng kinh khủng đó không còn thì “đất sống” của CNCS cũng không còn, nó đã làm xong sứ mệnh lịch sử, và loài người có thể xếp nó vào dĩ vãng. Ngược lại, khi nào vẫn còn những công nhân lao động cực nhọc cho bọn tư bản không làm nhưng hưởng lợi thì khi đó CNCS vẫn sống, vì nó là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản.
Công hữu CSCN sẽ không còn là không tưởng khi mà mỗi con người trên trái đất này xóa bỏ được đầu óc tư hữu. Nhưng con người chỉ có thể xóa bỏ tư tưởng tư hữu, tư lợi MỘT CÁCH HOÀN TOÀN nếu họ được thỏa mãn đầy đủ mọi nhu cầu cá nhân. Và đó có thể cũng là lúc họ chẳng còn cảm thấy phải quan tâm đến bất cứ điều gì, kể cả CNCS.
BẢO HOÀNG HƠN VUA
(Chủ nghĩa CS từ Liên Xô, qua Trung Quốc, đến Việt Nam, tới Campuchia…)
Chúng ta đều thấy rõ,
Nước Đài Loan sờ sờ, sừng sững đó.
Rõ ràng là Trung cộng
Còn để lại vùng đất sống,
Cho người Trung Hoa Quốc gia;
Còn người Việt CS,
Lại đuổi tận, bắt sạch,…
Đến Khmer đỏ CS,
Càng đuổi cùng, giết sạch,…
Người Trung Hoa,
Bên CS, bên QG,
Hầu như không chém bề lưỡi;
Ôi, người Việt chúng ta,
Phe CS, phe QG,
Còn hục hặc choảng nhau mãi,…
Phải chăng
Càng xa Vua lại càng,
Bảo Hoàng
Hơn Vua?
(còn tiếp)
Như tôi đã trình bày, CNCS là một lý thuyết mà những người CS cố công biến nó thành hiện thực nhưng không thành công. Điều nầy đã được Milovan Djilas khẳng định là trên con đường đến mục tiêu, những người CS đã thất bại và họ biến thành một giai cấp kiểu mới với đầy đủ đặc quyền, đặc lợi giống hệt những chế độ độc tài đã có từ nghìn xưa.
Cuối cùng là giữa CNCS và các chế độ (regimes) CS do chính những người CS dựng nên có gì khác biệt? Ai cũng nhận thấy ngay sự khác biệt giữa lý thuyết và THỰC TẾ bằng cách quan sát các chế độ CS bắt đầu từ lúc nó xuất hiện trên trái đất này đến nay… Vì sao các chế độ đó tàn lụn hoặc phải biến chất để tồn tại như TQ và VN? Nhân danh CNCS ai có thể đứng lên kêu gọi TQ và VN trở về với nguồn cội của nó? Chỉ có những người đầu óc hoang tưởng mới tin rằng giai cấp mới đó chịu nhả hay chia đều đặc quyền, đặc lợi cho mọi người theo đúng như lý thuyết CS.
NTD:
5. Tôi không tin vào việc coi võ lực và đàn áp như là phương tiện chủ yếu mang lại đời sống tốt đẹp hơn. Tôi cũng không phải là một người yêu chuộng hòa bình thụ động. Có thể không có chính quyền nào tốt cả, và mọi chính quyền, suy cho cùng, đều dựa trên võ lực. Nhưng tôi tin rằng trắc nghiệm cần thiết về một xã hội văn minh nằm ở chỗ mức độ tin cậy vào sự tranh luận tự do và sự đồng thuận có tính cách tự nguyện mà cơ quan công quyền và luật pháp đạt tới. Việc viện đến võ lực nhằm đạt được sự đồng thuận đôi lúc có thể là hành động cần thiết để ngăn xã hội sa vào tình trạng hỗn loạn thực sự; nhưng việc dùng võ lực thay thế cho thuyết phục chính là sự thú nhận về tình trạng bất lực. Tôi không tin vào khả năng dẹp bỏ sự đàn áp bằng cách đàn áp những kẻ áp bức.
6. Tôi không tin vào tính bất khả sai lầm của bất cứ người nào, hoặc bất cứ nhóm người nào, hoặc bất cứ học thuyết hay giáo thuyết của bất cứ người hoặc nhóm người nào, trừ phi chúng có thể đứng vững trước sự thử thách của việc phê phán và phân tích một cách tự do.
7. Nhưng tại sao nhất thiết phải cho rằng sự hiểu biết mà Marx mang đến cho chúng ta lại là vật sở hữu duy nhất của giai cấp vô sản ?
8. Học thuyết Marx nói với tôi rằng nhà tư bản, giống như người vô sản, đều bị tác động bởi quyền lợi giai cấp về kinh tế của họ; học thuyết ấy không nói với tôi rằng họ, cũng chẳng khác gì người vô sản, mãi mãi phải chịu sự tác động của một ảo tưởng mù quáng liên quan đến cái mà quyền lợi ấy là.
9. Vẫn có khả năng rằng hệ thống tư bản tại đất nước này, khi bị lệ thuộc vào áp lực của nhu cầu kinh tế và sức mạnh của tình trạng bất mãn nơi công chúng, sẽ có thể, bằng một tiến trình hòa bình hợp lý, được chuyển đổi thành một hệ thống kinh tế kế hoạch và hợp tác nào đó.
10. Nếu cuộc cách mạng cộng sản là điều không thể tránh khỏi, bất chấp người ta làm gì đối với nó, vậy tại sao phải làm gì? Tại sao phải đứng về phe nó, khi mà ông đã biết trước rằng nó sẽ tất thắng? Nhưng nếu cuộc cách mạng cộng sản không phải là điều không thể tránh khỏi, vậy thì người vô sản có thể làm cái gì đó để thúc giục nó xảy ra, và tương tự như vậy, người tư sản cũng có thể làm cái gì đó để trì hoãn nó. Và trong trường hợp này, tại sao tôi phải gia nhập hàng ngũ của người Cộng sản ?
Trả lời:
Hàng chục câu “tôi tin…” và “tôi hy vọng…” của Carl Becker. Đó là cái gì nếu không phải ảo tưởng hay tôn giáo ?
5. Chính K.Marx và F.Engels đã từng yêu cầu rằng: “Người Cộng sản phải là những người cuối cùng phản đối biện pháp cách mạng hoà bình”. Và họ đã thử, đã tìm cách thương thuyết với GCTS. Nhưng họ nhận được sự đàn áp, bạo lực, máu đổ ( CM Tư sản Pháp, Công xã Paris, CM Tư sản Anh,…). Đó chính là CHUYÊN CHÍNH TƯ SẢN.
Chẳng qua, các vị chống Cộng không hiểu một chút gì về nguồn gốc của từ “chuyên chính” nên cứ giãy nảy lên, gào thét lên rằng Cộng sản chỉ thích dùng bạo lực. Nhưng thực tế, nhà nước nào cũng vậy – bản thân nó đã là “chuyên chính”, là sự ép buộc và đàn áp: luật pháp, cảnh sát, quân đội,…đều chỉ là những bộ phận trong một tổng thể chuyên chính mà thôi.
6. Từ khi CNCS được hệ thống hóa bởi K.Marx và F.Engels, nó đã trải qua bao nhiêu sự bịa đặt, xuyên tạc, bác bỏ của những nhà kinh tế học tư sản rồi. Thế nhưng, những kết luận của nó về khủng hoảng kinh tế, về suy thoái đạo đức, về nạn đói và thất nghiệp, về hủy hoại môi trường,…vẫn đúng với một xác suất kỳ lạ. Đến nỗi trong đợt khủng hoảng kinh tế vừa qua, những nhà kinh tế học tư sản lại phải “đào” nó lên sau khi đã cố gắng “chôn” nó xuống.
7. K.Marx và F.Engels chưa bao giờ nói CNCS là “sở hữu duy nhất của GCVS”. Chính những nhà tư sản liên tục quy kết rằng CNCS là thảm họa nhân loại, là sản phẩm quỷ quái của K.Marx, là biểu hiện của hành động “không ăn được thì đạp đổ” của những kẻ “lười lao động” đó chứ.
8. Vâng, nhưng GCVS thì đấu tranh để xóa bỏ giai cấp ( bao hàm cả xóa bỏ chính cái xấu xa của bản thân mình ) – để được lợi cho tất cả mọi người, còn GCTS thì chỉ đấu tranh để duy trì giai cấp mình, cho quyền lợi của riêng mình.
9. “Tiến trình hòa bình hợp lý”, “hệ thống kinh tế kế hoạch và hợp tác nào đó”: đúng là thứ ngôn ngữ “thần bí”.
10. Đúng là ngôn ngữ của một kẻ thụ động, lười nhác, đợi chờ may rủi. Dù đã xác định được mục tiêu nhưng không cất bước mà đi thì đứng yên một chỗ liệu ích gì ? Xã hội tư sản công bằng là vậy, an sinh xã hội tốt là vậy thì việc gì phải nhọc công “cạnh tranh” làm gì.
Đương nhiên, ông Carl Becker có thể gia nhập hàng ngũ GCTS. Nhưng ông quên rằng bản thân nội bộ GCTS cũng có sự triệt tiêu nhau ghê gớm ( tích tụ tư bản, độc quyền ). Nó vẫn không ngừng đẩy một bộ phận lớn các nhà tư bản nhỏ bé sang hàng ngũ GCVS. Thế thì mới có sự dồn nén về hai cực chứ.
Tóm lại, một bài “tự biên, tự diễn” của ông Carl Becker đã vạch trần cái hiểu biết sơ sài của ông về CNCS, hoặc vạch trần cái sự bịa đặt, lộn ngược trắng trợn đối với CNCS.
NTD:
1. có lẽ con người đã không có sự hiểu biết nào về sự thật rằng hành vi của anh ta bị định đoạt bởi mâu thuẫn giai cấp về kinh tế. Tôi tưởng rằng yếu tố về sự nhận thức này lẽ ra đã phải cải tạo những điều kiện định đoạt các biến động xã hội xảy ra từ thời đại của người Neanderthal cho đến nay rồi kia chứ. Tại sao yếu tố nhận thức này lại không hề có một tác động đáng kể nào từ xa xưa cho đến thời đại của Marx?
2. Đáng lý ra phải nói như vầy: sự hiểu biết đã từng bước cải tạo các tác lực kinh tế từng định đoạt những biến động xã hội trong quá khứ, và trong tương lai sự hiểu biết xa hơn nữa.
3. Nếu chúng ta không biết rằng các biến động xã hội đều bị định đoạt bởi sự mâu thuẫn giai cấp về kinh tế,…Nhưng bởi vì chúng ta hiện nay đã biết rằng các cuộc cách mạng xã hội trong quá khứ đều bị quy định bởi mâu thuẫn giai cấp,…Nói ngắn gọn, một khi Marx làm cho con người nhận thức được sự tác động của mối xung đột giai cấp về kinh tế trong quá khứ, thì đó cũng là lúc ông phá hủy chính các điều kiện có thể giúp ông tiên đoán bản chất của cuộc cách mạng xã hội tương lai.
4. Triết học Marx không biện minh được cho sự quả quyết của người Cộng sản rằng giai cấp vô sản là giai cấp được chọn để thiết lập một xã hội phi giai cấp dựa trên sự sụp đổ của chế độ tư bản hiện nay.
Trả lời:
1. Carl Becker lộn ngược quan điểm “duy vật lịch sử” của K.Marx thành quan điểm “duy tâm lịch sử”. Chính điều kiện kinh tế hay đời sống, sản xuất vật chất sẽ định đoạt, cải tạo nhận thức chứ không phải lộn ngược như Carl Becker.
2. Vẫn vậy, Carl Becker lại lộn ngược quan điểm “duy vật lịch sử” của K.Marx.
3. Hành động lộn ngược của Carl Becker vẫn không khác. Nhận thức đã bị/được coi là điều kiện cải tạo xã hội.
4. Chỉ có giai cấp nào chịu sự bóc lột, áp bức mới thấu hiểu được nỗi khổ của bóc lột, áp bức; và do đó họ mới “sợ” và mới “tránh” cho xã hội không rơi vào tình trạng đó một lần nữa. Chẳng lẽ đó là giai cấp tư sản ?
Chỉ là vài ý nghĩ nhỏ của ngưởi “ngoại đạo” (CS) nhân đọc bài này.
Trích: “hầu hết những người Cộng sản, đều viện đến một học thuyết tất định có tính chất định mệnh, cái khiến cho cuộc cách mạng cộng sản trở nên tất yếu phải xảy ra, bất chấp người ta làm gì đối với nó”.
Như thế chủ nghĩa Cộng sản mang tính chất của tôn giáo, vì dựa vào niềm tin chưa được kiẻm chứng bằng thực nghiệm, hay dựa vào một lý thuyến không có cơ sở lý luận vững chắc như toán học hay vật lý học. Đồng thời CNCS cũng tin cuộc sống con người hay xã hội loài ngưới có một mục đích cuối cùng nào đó. Nhưng mục đích này do ai đặt ra trước, là Thượng Đế hay là con người Nếu là của con người thì sao con người biết mình có đủ trí tuệ để đặt ra cho mính một mục đích xa vời như vậy mà không coi đó là không tưởng. Dù sao, trong khi ngành vật lý chưa thể nói chắc về tương lai của vũ trụ, Marx cũng không thể nói chắc về tương lai của loài người như khi cho loài người sẽ đương nhiên tiến tới Công hữu CSCN . Công hữu nguyên thủy có lẽ chỉ là một giả thuyết về đời sống tập đoàn của con người thái cổ thời tiền sử, hay có thể xảy ra trong một cộng đồng chỉ chừng vài trăm tới vài ngàn người (như bộ lạc, thị tộc)trong một hoàn cảnh sống riêng biệt nào đó, nhưng khi loài người có nhân số lên tới hàng chục, hàng trăm tỷ thì sao ? Một tổ chức cho công hữu (CSCN) sẽ phức tạp đến thế nào, và không thể nghĩ lúc đó con người sẽ tự ý thức, tự nguyện sống như chỉ với bản năng của loài kiến, loài ong trong một tổ lớn. Có lý lẽ nào biện minh cho chuyện con người từ bỏ chế độ công hữu này để sau cùng đi tới chế độ công hữu khác dù cho là ở mức cao hơn, như đó là một tất yếu hay một định mệnh.
Chủ nghĩa CS cũng có mặt tích cực ở chỗ hướng thượng: tin xã hội loài ngoài rồi sẽ tốt đẹp hơn. Nhưng sẽ tốt như thế nào, và tưong lai của loài người sẽ như thế nào vẫn còn là một bí ẩn lớn đối với trí tuệ con người, và không ai có thể biết được, dù là Marx hay không phải Marx.