Lê Tuấn Huy – Bát Nhã và sự tự do hành đạo
06/10/2009 | 3:27 chiều | 50 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Tôn giáo
Thẻ: Vụ Bát Nhã
Việc Thiền sư Thích Nhất Hạnh lần đầu tiên lên tiếng về sự việc Bát Nhã, bằng bút danh học thuật, cho thấy sự vụ nay khó tránh khỏi sự mở rộng của nó. Rồi đây, lịch sử Phật giáo Việt Nam sẽ khó mà không ghi thành văn sự kiện ngày 27/09/2009 cùng hai thư “kêu cứu” của Nguyễn Lang – người viết sử “đạo Bụt” trên xứ sở hình chữ S.
Trên bề mặt, phía chính quyền dường như vô can trước các diễn biến bạo hành, vì những người có trách nhiệm xem đây là chuyện nội bộ tại Bát Nhã, và họ chỉ làm công việc an ninh trật tự. Lý lẽ có thể thế này: nếu thầy Thích Đức Nghi nhận tiền từ Làng Mai để tạo dựng cơ sở mới của Bát Nhã mà nay lại đuổi người để giành trọn, thì đó là một tranh chấp dân sự, và đương sự hai bên có thể khởi kiện để được giải quyết; còn phía chính quyền – mà cụ thể là lực lượng công an, cảnh sát – chỉ làm đúng chức trách, là áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để chấm dứt tình trạng cư trú bất hợp pháp tại địa phương đối với những người không được chủ hộ cho phép tạm trú.
Thế nhưng, trên thực tế, dù có biện hộ “hợp lý” như thế nào bằng câu chữ pháp lý, thì hình ảnh của những lần bạo hành tại Bát Nhã, được xác thực bằng chính tường thuật của các tu sĩ, tu sinh tại đây, khiến người ta không khỏi bị sốc và có nhận định khác đi.
Chuỗi sự việc xảy ra tại Bát Nhã, mà đỉnh điểm là ngày 27/09 đó, là biểu hiện cao độ của sự thoái hóa đạo đức, đến mức mà ở một đất nước có truyền thống sùng kính và hiếu lễ đối với nhà Phật, lại xảy ra chuyện chưa từng có, là dùng đến sự bạo hành thô tục nhất để cưỡng bách cả một làng tăng, tống họ ra khỏi chốn tu đạo, ngay trong một ngày dầm dề mưa gió, khi cơn bão dữ đang đến. Nó cũng là biểu hiện của sự thoái hóa chính trị, đến mức mà một trong những chức năng nền tảng của nhà nước, là cung ứng sự bảo an đối ngoại và đối nội cho dân chúng cứ ngày một “mai một” đi, để rồi đến lúc chính nó lại xâm hại đến thành phần được xem như hướng thiện nhất trong xã hội, là giới tu hành. Và bên cạnh đó, nó cũng bộc lộ một số vấn đề về sự tự do hành đạo.
Phải thừa nhận rằng dù vẫn cần nhiều thay đổi tích cực hơn, trong những năm gần đây, tự do tôn giáo ở Việt Nam đã có tiến bộ, cả trong nhận thức lẫn thực tế, mà việc tăng đoàn Làng Mai về nước và tăng thân Bát Nhã tu tập theo pháp môn này là một biểu hiện đáng quý. Vậy mà giờ đây, với cái cớ là các tăng sĩ và tăng sinh này không còn được bảo lãnh cư trú, giới thẩm quyền (nào đó) quyết trục họ ra đường, thì liệu có chính trực?
Cần thấy rằng quy định tạm trú tạm vắng làm nền cho việc tống xuất tăng thân Bát Nhã là cái gắn liền với hộ khẩu, vốn đã là một định chế vi hiến, vì thực chất nó lật ngược lại quyền tự do cư trú. Đã lâu, trước cả khi Thượng Hải bỏ hộ khẩu, giới cải cách Việt Nam đã đề xuất chính điều này nhưng không kết quả. Dù công dân và giới chức vẫn phải tuân theo sự vi hiến này chừng nào nó còn chưa bị bãi bỏ, nhưng một khi đã nhận ra tính sai phạm đó mà vẫn cố tình dùng nó như công cụ chí mạng để thực hiện những hành động trái đạo lý, thì không thể lấy gì để biện minh.
Thực chất, tăng đoàn hay tăng thân cũng chỉ là một tập hợp công dân đang thực hành đạo giáo, có tổ chức và có hệ thống, tập trung hay không tập trung. Nhưng, chính cái vế “đang thực hành…” đã đem lại cho tập hợp này và từng thành viên của nó một chỗ đứng riêng so với công dân thế tục. Và điều đó cũng có nghĩa là cần có lối hành xử riêng, thích hợp với giáo quy của họ một khi quy phạm đó không xâm hại đến lợi ích của công dân và xã hội, chứ không thể nhất nhất áp tuyệt đối các quy định thế tục lên trên họ.
Ai cũng rõ, một trong những đặc trưng của tăng sĩ và tăng sinh Phật giáo là đời sống xuất gia và tu tập. Từ bao đời nay, đặc trưng này không hề xâm hại đến lợi ích của công dân và đời sống thế tục. Nay cũng thế. Nên, dù xuất phát từ bất kỳ chính sách nào, với bất cứ động cơ và lý do gì mà hành xử với họ trái với đặc trưng đó, đều là sự áp đặt độc đoán và hạn chế khắc nghiệt đối với việc hành đạo.
Việc buộc tăng thân ra khỏi Bát Nhã và nay tạo áp lực để họ phải rời khỏi Phước Huệ, về lại địa phương có hộ khẩu hoặc tự viện thường trú ban đầu thực chất chính là việc cưỡng bức hồi gia và dứt pháp. Đối với tăng sinh, điều này quá rõ. Về phần tăng sĩ, dù có được “đưa” về chùa cũ để tiếp tục tu hành, nhưng một khi phải rời bỏ pháp môn mà họ có duyên, đó chẳng khác là mấy với việc thoái pháp.
Vài so sánh bình dị thôi cũng đã thấy sự vô lý đến kỳ lạ ở việc tăng thân Bát Nhã phải thoái tu. Tại sao sinh viên có thể lựa chọn cho mình ngành học mà tu sinh lại không thể tự chọn cho mình pháp môn? Tại sao người học chữ có thể tùy chọn một trung tâm học vấn (theo nghĩa một địa phương có nhiều cơ sở giáo dục tốt) để đến và học hành, mà người học đạo lại không thể tự chọn một trung tâm Phật học để đến và tu tập? Tại sao người lao động có thể đến một địa phương khác để hành nghề mà người tu hành lại không thể đến địa phương khác để hành đạo? v.v…
Như vậy, dù tăng sinh hay tăng sĩ Bát Nhã có được “tạo điều kiện” tại bản quán hay bản tự, thì cả ý nguyện tục thế lẫn ý nguyện đạo pháp của họ cũng đã bị áp đặt một cách cố định, và là sự hạn chế phi lí và phi pháp đối với quyền tự do hành đạo.
Nếu có những tính toán nay được nâng lên thành quyết sách, rằng chỉ để Làng Mai phát triển ở ngoài nước nhằm “marketing” cho Việt nam và tô điểm cho chính sách tôn giáo của chính quyền, chứ không để họ tiếp tục phát triển trong nước vì có thể “đe dọa an ninh quốc gia”, thì e rằng sẽ phản tác dụng. Chủ trương hai mặt đó không những làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trước thế giới và Phật tử năm châu, trước cộng đồng người Việt hải ngoại, mà còn tạo nên một mầm mống phản kháng ngay chính trong lòng của Giáo hội Phật giáo mà chính quyền hỗ trợ.
© 2009 Lê Tuấn Huy
© 2009 talawas blog
Bác Sơn cảnh báo tôi: “Các nguyên tắc để đạt được sự tiến bộ tinh thần mà bị trói vào “địa lý”, không còn gì oan hơn cho Đức Phật.”
Xin thưa rằng ngay từ đầu tôi đã cố gắng tách các nguyên tắc ấy ra khỏi địa lý rồi. Tu tại gia, tu chợ, hay tu chùa thì đều tu được cơ mà. Chỉ có những vị cứ sồn sồn lên đòi hỏi tụ tập mới là những người đang cố tình gây “oan cho đức Phật”.
Bác Sơn cho rằng: “Thực ra cái sự “tụ tập” không phải nguyên nhân chính sinh ra nội quy, chỉ khi những mâu thuẫn trong quá trình tụ tập phát sinh thì Đức Phật mới tuỳ những mâu thuẫn đó mà đề ra nguyên tắc về việc sống chung.”
Điều này là sai lầm. Chính ngay trong dữ liệu bác đưa ra đã nói rõ cái HOÀN CẢNH: “xu hướng định cư của tỳ kheo càng lúc càng phát triển mạnh, và SỰ SỐNG CHUNG TRONG MỘT TRÚ XỨ NHƯ VẬY SẼ PHÁT SINH nhiều sự kiện phức tạp, cho nên đức Phật đã thiết lập một số nguyên tắc chi phối đời sống của cộng đồng tăng lữ:…”
Nếu không tụ tập, nếu mỗi Phật tử “độc cư” một nơi thì làm gì có mâu thuẫn.
“nếu tu sinh Làng Mai họ muốn chung sống với nhau một cách thanh tịnh, hoà hợp thì chính quyền không nên cản trở mà nên tạo điều kiện cho họ thực hiện nguyện vọng đó.”
Chính quyền không cản trở, vì nếu cản trở thì đã chẳng có tu viện Bát Nhã, đã chẳng có “hợp” để rồi đứng trước nguy cơ “tan”.
Thưa bác Mai Sơn !
1. Cái “tức là” của tôi là hoàn toàn hợp lý, bởi vì: Thứ nhất, tôi coi “Tăng ly chúng, Tăng tàn” cũng là một nội quy; và bản thân bác cũng coi đó là một sự cấp thiết cơ mà. Thứ hai, câu bác dẫn ( Tăng ly chúng, Tăng tàn ) và một số nguyên tắc sau này ( tôi cũng coi là nội quy ) đều CÓ CÙNG BẢN CHẤT là: PHÁT SINH DO HOÀN CẢNH, PHỤC TÙNG HOÀN CẢNH ( tụ tập chung một trú xứ ).
Do đó, cái lý lẽ của bác rằng: do HOÀN CẢNH hiện nay giống cái thời mà đức Phật đề ra NỘI QUY, nên NỘI QUY càng cần phải được tuân thủ, càng cần phải tụ tập – cái lý lẽ ấy là trái quy luật. Bởi vì chỉ cần chính quyền buộc những tu sinh phải phân tán để chấp hành pháp luật về cư trú là cái HOÀN CẢNH đó sẽ không còn nữa, và kéo theo đó là NỘI QUY cũng trở thành thừa thãi.
HOÀN CẢNH ( tụ tập ) SINH RA và QUYẾT ĐỊNH NỘI QUY. Bây giờ bác lại đem NỘI QUY ra để kêu gọi tụ tập, tức là lấy nội quy để SINH RA, QUYẾT ĐỊNH HOÀN CẢNH thì rõ ràng là trái quy luật.
2. “bác đưa nó vào hoàn cảnh tu sinh Làng Mai bị trục xuất (đuổi đi) để lý sự cho cái “sự ĐI” đó là “trật đường ray” trong bài viết và trong các ý kiến đóng góp của độc giả.”
Tôi không đưa vào để LÝ SỰ. Tôi chỉ muốn nói rằng: không tụ tập được thì chẳng gây nguy hại gì cho việc tu cả. Để đáp lại mấy vị cứ sồn sồn lên đòi hỏi tụ tập mà thôi.
Còn với mấy nguyên tắc giải quyết tranh chấp của nhà Phật mà bác đưa ra thì tôi xin thưa lại để bác rõ:
Tôi không theo đạo Phật, không phải Phật tử. Chính quyền cũng không theo đạo Phật. Thế nên mấy nguyên tắc đó là dành cho nội bộ tu viện Bát Nhã. Nếu nội bộ tu viện Bát Nhã không giải quyết được tranh chấp theo nguyên tắc nhà Phật thì chính quyền sẽ can thiệp bằng triết lý riêng của họ khi sự việc vượt quá phạm vi nội bộ ( gây mất trật tự, án mạng,…).
Còn sự việc hiện nay cụ thể ra sao thì rất tiếc tôi không có mặt ở tu viện Bát Nhã, thông tin trên mạng cũng toàn kiểu bên này cáo buộc bên kia – ghi âm, ghi hình khách quan rất thiếu thốn. Thế nên tôi cho rằng không nên lạm bàn – nhất là bằng những bài viết nhảm nhí theo kiểu của ông Lê Tuấn Huy trên đây.
Tôi nghĩ mục đích của tuyên bố của BNG VN là để nói “It is the unchanged policy of the Vietnamese State to respect the freedom of religion and belief.” nhưng tuyên bố đó có 2 điểm hớ và nếu nối 2 điểm hớ đó lại thì có thể có ấn tượng ngược lại với điều BNG VN muốn nói.
Bác Anh Dũng,
Còn tôi, khi đưa ra những lời dạy của nhà Phật về sự ĐI thì tôi chỉ muốn nói rằng: không tụ tập được ở Bát Nhã chẳng gây nguy hại gì cho tu sinh làng Mai cả.
Nói như bác nói trên thì không tụ tập được ở Làng Mai cũng chẳng nguy hại gì cho tu sinh Làng Mai, hay Phật Giáo không tụ tập được ở đâu cũng chẳng nguy hại gì cho Phật Giáo.
Nói như bác nói trên thì cũng có thể nói rằng theo lời dạy của Jesus, Paul thì cho tín đồ thiên chúa giáo vào đấu trường tụ tập với sư tử cũng chẳng nguy hại gì cho TCG.
Nhưng vấn đề ở đây không phải là nhà Phật dạy gì, hay ai đó hiểu nhà Phật dạy thế nào, và dựa vào đó để phán xét về vụ Bát Nhã. Vấn đề không phải có nguy hại hay không theo lời dạy của nhà Phật, nhà Chúa.
Vấn đề ở đây là một xã hội văn minh, một đất nước văn minh sẽ có quan điểm thế nào về việc tu sinh Làng Mai tụ tập ở Bát Nhã và về những gì xảy ra và không xảy ra trong việc đuổi họ đi.
Nếu có bạo lực và đe doạ bạo lực mà cảnh sát không làm gì thì rõ ràng là có vấn đề. Không thể nói rằng đó là chuyện nội bộ của một tôn giáo nên chính quyền không can thiệp. Chuyện nội bộ tôn giáo không thể nằm trên luật pháp ở bất cứ nước nào, chưa nói tới ở Việt Nam.
Tuyên bố này của BNG VN cũng nói lên một số vấn đề với VN:
“The followers of Plum Village organised the meditation course in the Bat Nha Monastery without permission from the Viet Nam Buddhist Sangha and the competent authorities. The Plum Village followers who came to practice meditation also failed to register their temporary residence in accordance with Vietnamese law. This violates the regulations on administrative procedures of Viet Nam, the rules and the Charter of the Viet Nam Buddhist Sangha. They are advised to return to their former residences or pagodas to continue their religious practice. When they arrive in new places, they must observe the regulations of the Viet Nam Buddhist Sangha and Vietnamese law.”
Chắc ở ít nơi trên thế giới mà người theo đạo Phật tổ chức khoá học thiền phải xin phép giáo hội Phật giáo quốc gia, và “the competent authority”.
Đoạn “they must observe the regulations of the Viet Nam Buddhist Sangha” có vẻ hơi mâu thuẫn với tuyên bố của chính quyền địa phương là không can thiệp vào nội bộ Phật giáo.
Bác Anh Dũng và bác Mai Sơn
Chính phủ của một nước có nhiều nhiệm vụ: Áp dụng và duy trì pháp luật, bảo vệ lãnh thổ, cải thiện đời sống dân chúng v.v. Nhưng áp dụng hay diễn dịch lời dạy bảo của Phật hay Chúa không phải là nhiệm vụ chính đáng của chính phủ mà là việc riêng của sư tăng và tín đồ. Đó là cốt lõi của sự tự do tôn giáo. Do đó, bàn cãi chuyện Phật muốn gì là lạc đề. Vấn đề là giải tán một tập thể người tu hành có phải là việc tốt hay chính đáng của CP hay không. Câu trả lời là không. Vậy thì còn phải cãi gì nữa? Ngay chính CP cũng đang chối bai bải là không can thiệp mà!
Xin thưa thêm với bác Anh Dũng,
Thời kỳ đầu sinh hoạt Tăng đoàn không có giới luật. Giới luật hoàn thiện là do trong quá trình sống của tăng đoàn phát sinh những vấn đề mà Đức Phật cho rằng cần phải đề ra nguyên tắc để điều chỉnh.
Thực ra cái sự “tụ tập” không phải nguyên nhân chính sinh ra nội quy, chỉ khi những mâu thuẫn trong quá trình tụ tập phát sinh thì Đức Phật mới tuỳ những mâu thuẫn đó mà đề ra nguyên tắc về việc sống chung. Nếu sự tụ tập là hoà hợp, bình đẳng, tôn trọng nhau thì rất đáng khuyến khích như điều 7 (của 7 nguyên tắc bất thoái): “Các tỳ kheo sống an trú trên chính niệm tạo thành một cộng đồng sinh động, khiến cho các bạn đồng tu từ những phương khác nếu chưa đến thì muốn đến, và đã đến thì muốn cùng sống và cùng tu tập trong sự an lạc”.
Vì một lý do nào đó chủ thể tự quyết định (lưu ý là chủ thể tự quyết) con đường đi một mình (như ẩn cư, dấn thân truyền đạo…) thì dĩ nhiên không cần phải đặt vấn đề tụ tập. Nếu điều kiện tụ tập không còn do “đối tượng” quyết định (không cho phép, bị trục xuất, bị cướp phá…trong khi chủ thể rất muốn sống chung hoà hợp với nhau) thì người tu sĩ vẫn phải giữ gìn những nguyên tắc mà Đức Phật dạy để khi có điều kiện tụ tập trở lại thì dùng những phương pháp đó ứng xử cho việc ở chung có được hạnh phúc và sự an lạc.
Xin lưu ý đạo Phật đề cao các nguyên tắc tinh thần. Nếu tu sinh Làng Mai họ muốn chung sống với nhau một cách thanh tịnh, hoà hợp thì chính quyền không nên cản trở mà nên tạo điều kiện cho họ thực hiện nguyện vọng đó. Địa lý (tu viện) là nơi đã được pháp luật quy định là tài sản tôn giáo bất khả xâm phạm. Nếu thời loạn giang hồ, bọn đầu trâu mặt ngựa vào đánh đuổi tu sĩ ra khỏi tu viện thì đã đành và người tu sĩ phải tự lo cách để tồn tại trong điều kiện bị cưỡng đoạt, bị ly tán. Nhưng đây là thời đại nào? Nhất là khi các tu sinh ấy không vi phạm pháp luật, giới luật, nhưng chính quyền lại hùng hổ kéo đến trục xuất họ.
Nếu họ có vi phạm các nguyên tắc sống chung an lạc thì đã có hội chúng phân định xét xử không cần đến chính quyền. Chừng nào các nguyên tắc, giới luật Phật giáo không thể giải quyết được thì mới cần đến pháp luật phân định. Và chừng nào pháp luật chưa kết án là ai đúng ai sai thì không được xâm phạm vào danh dự nhân phẩm của các bên liên quan.
Xem thêm về vụ Bát Nhã: http://huongsenviet.blogspot.com/2009/10/mot-kien-nghi-thu-thach-vai-tro-va-uy.html
Dear Beloved Anh Dũng và quý liệt vị,
sự tu tập được ở của tăng thân Bát Nhã theo pháp môn Làng Mai không gây nguy hại gì cho đất nước mà còn góp phần cho đất nước và nhân loại tốt hơn nhiều. Vậy thì tại sao nhà nước phải qua Tướng Trần Tư để chỉ đạo đánh phá, giải tán tăng thân yêu quý này bằng mọi thủ đoạn. Tôi có tham gia tu tập cùng ở Bát Nhã cùng hàng vạn tri thức khác nên tôi rất hiểu và chia sẻ sâu sắc.
Mời bác Anh Dũng cùng quý vị đọc thêm chia sẻ tại đây để hiểu thêm tại sao tu tập chung và nên đi như một dòng sông: http://phusaonline.free.fr/PhatHoc/TinTuc/TDTS_6/270_ThuGui.htm, http://hoitrongbatnha.blogspot.com/2009/10/thu-cua-nguoi-huynh-e-xom-thuong.html, http://helpbatnha.org/2009/10/letter-to-ms-susan-rice-permanent-representative-of-the-u-s-to-the-united-nations/#more-1688
Thưa bác Anh Dũng,
Phải mất nhiều ý kiến với bác về một vấn đề tưởng đã rõ như vậy, tôi thật ái ngại.
Xin thưa bác mấy điểm sau:
1.Xu hướng định cư sẽ phát sinh những sự kiện phức tạp. Đức Phật hiểu rõ vậy nên đề ra “bảy nguyên tắc bất thoái” mà tôi đã dẫn trong ý kiến trước (xin bác Dũng đọc lại). “Bảy nguyên tắc được đức Phật nêu lên đó bao gồm những điều khoản đời sống cộng đồng, và một số điều khoản cần thiết cho sự TIẾN BỘ ĐỜI SỐNG TINH THẦN, vốn là nội dung phong phú của sự HOÀ HỢP. Các nguyên tắc chi phối cộng đồng là các nguyên tắc DÂN CHỦ và BÌNH ĐẲNG; chính trên nền tảng này mà hệ thống luật tạng của tất cả các bộ phái được xây dựng. Chúng cũng là những nguyên tắc chỉ đạo cho tất cả mọi thủ tục tác pháp yết ma”.
2. Bác viết: “Tức là: chính vì cái SỰ SỐNG CHUNG TRONG MỘT TRÚ XỨ ( tu chùa, tu viện Bát Nhã ) phát sinh ra NHIỀU SỰ KIỆN PHỨC TẠP ( mâu thuẫn nội bộ tu viện Bát Nhã ) nên đức Phật mới phải đề ra một số nội quy. Cái nội quy ấy ( Tăng ly chúng, Tăng tàn ) là để bảo đảm sự tu trong điều kiện tụ tập ( địa lý ) của chúng tăng, chứ không phải là lời kêu gọi chúng tăng hãy tụ tập lại ( địa lý ) trong một xã hội bình thường”
>> Nếu bác đã nói đến các nguyên tắc ấy thì cái “tức là” của bác cần giải thích trên nội dung của 7 nguyên tắc đó, chứ không phải qua câu “Tăng ly chúng Tăng tàn” mà tôi dẫn (trong tình hình Bát Nhã bị đàn áp).
>> Bảy nguyên tắc ấy là nội dung cấn thiết cho tiến bộ đời sống tinh thần, hoà hợp, dân chủ, bình đẳng. Chính nần tảng này mà hệ thống luật tạng được xây dựng, và là nguyên tắc chỉ đạo cho thủ tục tác pháp yết ma. Trú xứ (địa lý) hình thành bất cứ ở đâu trên quả đất này thì những nguyên tắc ấy mà Đức Phật đưa ra vẫn chưa lỗi thời cho đến hôm nay. Các nguyên tắc để đạt được sự tiến bộ tinh thần mà bị trói vào “địa lý”, không còn gì oan hơn cho Đức Phật.
3.Bác Dũng nói: “Cái sự tụ tập nó sinh ra nội quy. Vậy thì nếu vì một lý do nào đó mà điều kiện tụ tập không có thì cái nội quy ấy trở thành không cần thiết. Và do đó, cái lý lẽ: TỤ TẬP đề ra NỘI QUY, rồi lại căn cứ vào NỘI QUY để kêu gọi TỤ TẬP là một lý lẽ trái quy luật.”.
>> Việc tu tập căn bản phải dựa trên GIỚI LUẬT, còn “NỘI QUY” mà bác nói chính là những thanh quy, quy củ thiền môn… mà từng tông phái khác nhau lập ra nhằm duy trì sự phát triển tông phái của mình. Bác cần phân biệt “nội quy” (Hiến chương Giáo hội,…) và các giới luật Đức Phật chế, vì tỳ khoe của pháp môn nào thì cũng đều giữ 250 giới.
>> Bảy nguyên tắc trên nằm trong hệ thống các nguyên tắc khác mà Đức Phật đã nói trong hệ thống giới luật như tỳ kheo (250 giới), tỳ kheo ni (349 giới)… >> Cái sự ĐI mà bác Dũng nói là sự đi để truyền giảng chánh pháp. Đó là sự dấn thân cao cả, thể hiện bản lĩnh của người (tình nguyện) ĐI vì mục đích đem lợi ích cho số đông. Đáng tiếc bác đưa nó vào hoàn cảnh tu sinh Làng Mai bị trục xuất (đuổi đi) để lý sự cho cái “sự ĐI” đó là “trật đường ray” trong bài viết và trong các ý kiến đóng góp của độc giả.
4. Để bác hiểu rõ thêm về những tranh chấp phức tạp, tôi xin dẫn thêm “Bảy phương pháp để dập tắt các cuộc tranh chấp” (Thất Diệt Tránh Pháp – Saptadhikarana-samatha) trong giới luật Phật giáo:
1. Tất cả những phát biểu về cuộc tranh chấp phải được nói ra trước đại chúng, với sự có mặt của hai bên tranh chấp.
2. Trong buổi họp mặt có sự hiện diện của cả hai bên tranh chấp, các đương sự phải hồi tưởng lại những gì đã thực sự xảy ra và tuần tự trình bày tất cả những điều đó theo trí nhớ của mình, với tất cả những chi tiết, và nếu có thể thì đưa ra những bằng chứng xác thực. Ðại chúng phải im lặng nghe cả hai bên để có đủ dữ kiện nhận xét một cách đúng đắn và vô tư.
3. Hai bên đương sự phải có thiện chí hòa giải, không nên có thái độ ngoan cố. Trường hợp có đương sự nêu lên lý do là vì mình ngu dốt không biết hoặc vì vô tình phạm vào quy luật thì đại chúng phải nương vào đó mà luận án cho hai bên đều được đẹp lòng.
4. Hai bên đương sự nên có thiện chí tự nhận lỗi mình để cuộc hòa giải được thực hiện dễ dàng.
5. Sau khi đã nghe hết tất cả lời tường thuật và chứng kiến thiện chí của hai bên, đại chúng sẽ biểu quyết bằng đa số.
6. Án lệnh tối hậu về tội tướng và cách thức hối cải được đưa ra để đại chúng quyết định bằng phương pháp bạch tứ yết ma (jnapticaturbin-karmavacana), nghĩa là đọc lớn bản án lên và đọc ba lần. Nếu sau ba lần đọc mà tất cả đều im lặng, không ai lên tiếng phản đối thì bản án lệnh có hiệu lực. Dĩ nhiên là các đương sự không có quyền phản đối, vì từ đầu đã phát nguyện tin tưởng vào phán quyết của đại chúng.
7. Trong buổi họp mặt hòa giải, hai vị trưởng lão đức độ được chỉ định để bảo trợ cho hai bên tranh chấp. Các vị này thường được đại chúng tôn kính và nghe lời. Các ngài thường ngồi chăm chú lắng nghe, rất ít nói, nhưng mỗi khi nói là có ảnh hưởng rất lớn. Tiếng nói của các vị trưởng lão này nhằm hàn gắn những vết thương, kêu gọi thiện chí hòa giải và tha thứ, cũng như phủ rơm cỏ lên mặt đất sình lầy để mọi người bước lên khỏi bị lấm chân.
Xin hết!
Thưa bác Mai Sơn !
Bác cho rằng: “thời Đức Phật còn tại thế (thời cuối cùng)…có nhiều điểm hợp với hoàn cảnh “Giáo hội, tự viện” như bây giờ”
Cái thời đó: “xu hướng định cư của tỳ kheo càng lúc càng phát triển mạnh, và sự sống chung trong một trú xứ như vậy sẽ phát sinh nhiều sự kiện phức tạp, cho nên đức Phật đã thiết lập một số nguyên tắc chi phối đời sống của cộng đồng tăng lữ:”
Tức là: chính vì cái SỰ SỐNG CHUNG TRONG MỘT TRÚ XỨ ( tu chùa, tu viện Bát Nhã ) phát sinh ra NHIỀU SỰ KIỆN PHỨC TẠP ( mâu thuẫn nội bộ tu viện Bát Nhã ) nên đức Phật mới phải đề ra một số nội quy. Cái nội quy ấy ( Tăng ly chúng, Tăng tàn ) là để bảo đảm sự tu trong điều kiện tụ tập ( địa lý ) của chúng tăng, chứ không phải là lời kêu gọi chúng tăng hãy tụ tập lại ( địa lý ) trong một xã hội bình thường.
Cái sự tụ tập nó sinh ra nội quy. Vậy thì nếu vì một lý do nào đó mà điều kiện tụ tập không có thì cái nội quy ấy trở thành không cần thiết. Và do đó, cái lý lẽ: TỤ TẬP đề ra NỘI QUY, rồi lại căn cứ vào NỘI QUY để kêu gọi TỤ TẬP là một lý lẽ trái quy luật.
Và đó là lý lẽ của bác ?
Còn tôi, khi đưa ra những lời dạy của nhà Phật về sự ĐI thì tôi chỉ muốn nói rằng: không tụ tập được ở Bát Nhã chẳng gây nguy hại gì cho tu sinh làng Mai cả.
Một cách đọc ý kiến của bác Anh Dũng.
Hồi nhỏ xem đá dế tôi thường thấy các đồng chí đá dế của tôi bẻ đầu một con dế, cắm lên một cây tăm và xoay tít nó lên trước một con dế khác đang chuẩn bị đá. Hăng tiết dế, chú chàng này nhập trận bằng đầu dế thì ít, bằng trái tim dế thì nhiều.
Ông Nguyễn Đắc Xuân trong bài “Những bạo hành ở Tu viện Bát Nhã xin giải thích giùm tôi” nêu lên một chi tiết kỳ thú, vì có nhắc tới mẹ đã mất, nên có lẽ ông Xuân không bịa chuyện này làm chi, dù để thêm phần hấp dẫn.
“Sáng hôm 28-9-2009, lên Nghĩa trang thắp hương cho mẹ rồi tôi vào thăm ngôi chùa mà anh em tôi định ký thác linh vị của mẹ tôi ở đó. Vào chùa, vị sư trụ trì từng xuống đường đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diêm kỳ thị tôn giáo năm 1963 hỏi tôi ngay:
– Này ông cán bộ, các ông hết chuyện nói rồi sao mà đi dựng chuyện nói thầy Thích Nhất Hạnh là người ít tắm rửa, hôi hám đến nỗi các đệ tử của ông phải khênh ông đi tắm?
Quá bất ngờ, tôi chưng hửng không biết trả lời vị trụ trì như thế nào cho phải đạo. Tôi lặng người, ngồi vào bàn uống nước rồi lần hồi hỏi đầu đuôi câu chuyện ra sao. Thầy cho biết chiều ngày 16-9-2009, Ban Thường trực UBMTTQ TP Đà Lạt triệu tập tất cả các vị trụ trì chùa Phật trên địa bàn Thành phố đến Hội trường Khối Mặt trận và các đoàn thể (31 ĐTH, P.2) phổ biến “một số tình hình Phật giáo trên địa bàn thành phố trong thời gian qua”. Vị trụ trì nghe Ban tôn giáo Thành phố phổ biến tình hình và ông Ban tôn giáo đã nói về Thầy Nhất Hạnh như thế”.
Dù không đủ can đảm để đọc hết những điều bác Anh Dũng viết, dù chỉ riêng trong thread này, và chỉ đọc bác theo lối lấy mẫu (sampling) nên rất có thể cả đoán và sai; nhưng điều tích cực của những điều bác Anh Dũng nói là những lý lẽ, chữ nghĩa, thật hư trộn tất cả vào nhau như thế xuất hiện khá thường trên các phương tiện truyền thông chính thức cho đại chúng nuốt. Thí dụ lẫm liệt thì vô khối, như chuyện thầy Nhất Hạnh “là người ít tắm rửa, hôi hám đến nỗi các đệ tử của ông phải khênh ông đi tắm”, lời lên tiếng của UBND tỉnh Lâm Đồng, của bà Nguyễn Phương Nga phát ngôn nhân bộ Ngoại giao về vụ việc. Vì chính quyền độc quyền thông tin, nên vấn nạn là đa số quần chúng ít nhiều tâm đắc với những lý luận lỏng chỏng, cù cưa này, nghe thì cũng có A, B, C, cũng lớp lang, và cãi cho ra lẽ không phải dễ; như Nguyễn Gia Kiểng trong một phiếm luận về “quĩ đạo của chó”, con chó nó cứ chạy loăng quăng, mải chạy theo đuôi nó để lập quĩ đạo của nó rất mất thời giờ, sẽ bất khả trừ khi “qwuỡn”, hết chuyện làm.
Biết đâu, vì đại nghĩa, bác Anh Dũng lại rung đùi khi thao tác kế khích tướng, quay đầu dế của mình. Vì đại nghĩa thì bá đạo cũng tốt nhưng vương đạo mới là kế sách lâu dài. Để đối phó với những khó khăn có thật, sờ sờ trước mắt cần một đầu nguội, một trái tim ấm, liu riu cũng được; thao dượt một chút với tổng giáo đầu Anh Dũng cho giãn gân cốt như vậy là đủ, vì chiến thắng vẻ vang, mỹ mãn nhất chỉ là chiến thắng được một đầu dế cắm trên một cây tăm.
Thưa bác Anh Dũng,
Chắc bác không đọc hết nguồn mà tôi đã dẫn cho bác xem. Tôi đành phải cắt đoạn trích đó ra để bác đọc vậy.
“Phân loại chung về trú xứ thì có hai hạng tăng: chiêu đề tăng và thường trú tăng. Trong lịch sử phát triển của tăng đoàn, ở giai đoạn nguyên thủy, các tỳ kheo không thường trú tại bất cứ trú xứ nào. Tăng đoàn đầu tiên xuất hiện trong lịch sử gồm năm vị A la hán, tức nhóm A nhã kiều trần như. Tiếp theo đó, Ngài lại hóa độ nhóm Da xá và thân hữu cộng tất cả 55 người. Sau khi họ chứng đắc địa vị Thánh giả vô học, Đức Phật khiến họ lên đường đi hoằng hóa, và Ngài nói: Mỗi người đi mỗi hướng, không nên đi chung. Và đấy là hình thức cộng đồng chiêu đề tăng đầu tiên. Về sau các tinh xá được dựng lên do sự phát tâm của các đệ tử tại gia, các tỳ kheo thường ở lâu tại một trú xứ, và từ đó, sự phân biệt giữa chiêu đề tăng và thường trú tăng được thành hình. Do sự phát triển của cộng đồng thường trú tăng này mà tăng đoàn về sau càng được chia nhỏ theo từng địa phương, và cũng chính do sự thành hình các tăng đoàn địa phương này mà các bộ phái khác nhau xuất hiện và các luật tạng khác nhau giữa các bộ phái cũng được thành lập dần dần”. http://chanhphap.net/Phat%20Hoc/Tong%20luan%20ve%20Yet%20Ma%20%28HT%20Thich%20Tri%20Thu%29.htm
Tôi đã nói rất rõ rằng Đức Phật tuỳ hoàn cảnh, căn cơ mà nói. Tôi cũng đưa thông tin thời Đức Phật còn tại thế (thời cuối cùng) ra để nói và điều đó có nhiều điểm hợp với hoàn cảnh “Giáo hội, tự viện” như bây giờ. Bác cũng đưa thông tin thời Đức Phật còn tại thế (thời kỳ đầu) ra để nói nhưng không hợp với hoàn cảnh “Giáo hội và tự viện” như bây giờ. Đó là chỗ khác nhau giữa ý kiến của tôi và bác. Ở ý kiến trước tôi cũng đã nói, những người đã “Ngộ” thì nhà hay chùa hay cái gì đó cũng không ràng buộc được họ. Trong tình hình cụ thể Bát Nhã tôi dẫn câu “Tăng ly chúng Tăng tàn”, nhưng bác bảo tôi làm trái trái lời dạy của nhà Phật (bác đã xin lỗi). Rồi bác dẫn: “Này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy đi, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của nhiều người; vì lòng thương tưởng thế gian; vì sự ích lợi, sự an lạc của chư thiên và nhân loại. Chớ đi với hai người cùng một đường” để lý giải cho cái ý gọi là “ly” (rời) nhau ra, không quan trọng phải tu chùa… Lời Phật dạy đó áp dụng vào trong hoàn cảnh (Bát Nhã đang bị tan tác) này có oan cho Phật không thưa bác? Nếu Chính quyền cũng áp dụng lời Phật dạy như bác thì chẳng phải việc buộc tu sinh trở về nhà, trở về quê, về địa phương (không được tập hợp đông như vậy nữa) là “chính đáng” quá rồi còn gì. Đàn áp như vậy thì thật “ngọt ngào”, nhưng oan cho Phật.
Lúc đầu tôi không hiểu ông Huy tự biên, tự diễn, tự vỗ tay, tự sướng thế này để làm gì:
“…với người chỉ có trình độ vỡ lòng về lý luận chính trị và xã hội, thuần tuý lặp lại như cái máy từ sách chính trị sơ cấp nhưng lại nghĩ rằng ta đây nắm được chân lý tuyệt đỉnh của nhân loại (khác với những người cầu tiến, mảng nào mình không chuyên thì khiêm nhường, lắng nghe, học hỏi), thì tôi chẳng màng đếm xỉa, nếu không muốn nói là coi khinh. Vòi vĩnh, khiêu khích cho bằng được, để tôi phải tranh luận, há chẳng phải bạn tự dành cho mình quá nhiều “đặc ân” sao. Làm ơn đi, tỉnh dậy đi, van bạn đấy.
PS: tôi thừa khả năng giảng hay hơn gấp vạn lần những “lý luận” bạn thốt ra, theo đúng “lề phải” nhé. Trên blog 360, đã từng có xầm xì rằng tôi viết giống tuyên huấn rồi đấy.
Cuối cùng, tôi mới vỡ lẽ rằng ông Huy tính dùng “kế 36” để đối phó tôi.
Haha…, bạn AD thật là tuyệt vời và dũng mãnh (tưởng rằng) dồn được tôi vào chân tường. Mà bạn cũng thật là giỏi khi biết rằng tôi không bao giờ lãng phí cho việc tranh cãi không đi đến đâu, và càng không như thế với những người siêng lảm nhảm như bạn, nên bạn quyết xông lên, “nắm lấy thắt lưng địch mà đánh” vì thắng chắc rồi.
Tôi đã rất lịch sự để không nói thẳng ra mà chỉ nói xa để bạn hiểu, vì muốn giữ hòa khí trong “entry” của mình. Nay thì tôi nói thẳng: với người chỉ có trình độ vỡ lòng về lý luận chính trị và xã hội, thuần tuý lặp lại như cái máy từ sách chính trị sơ cấp nhưng lại nghĩ rằng ta đây nắm được chân lý tuyệt đỉnh của nhân loại (khác với những người cầu tiến, mảng nào mình không chuyên thì khiêm nhường, lắng nghe, học hỏi), thì tôi chẳng màng đếm xỉa, nếu không muốn nói là coi khinh. Vòi vĩnh, khiêu khích cho bằng được, để tôi phải tranh luận, há chẳng phải bạn tự dành cho mình quá nhiều “đặc ân” sao. Làm ơn đi, tỉnh dậy đi, van bạn đấy.
PS: tôi thừa khả năng giảng hay hơn gấp vạn lần những “lý luận” bạn thốt ra, theo đúng “lề phải” nhé. Trên blog 360, đã từng có xầm xì rằng tôi viết giống tuyên huấn rồi đấy.
Thưa bác Tam Tue Duc !
Qủa thực tôi không hiểu các chư vị cáo buộc chính quyền Việt Nam vô nhân đạo, đàn áp tôn giáo, coi rẻ con người,…- các chư vị này ở đâu khi chính quyền Mỹ đem quân vào IRAC nói riêng và trung Đông nói chung gây ra cái chết cho hàng trăm nghìn dân thường ở đó và cho hàng nghìn lính Mỹ ?
Thế mà bác Tam Tue Duc vẫn còn nhơn nhơn than vãn về chính quyền Việt Nam rằng: “Còn nỗi đau nào hơn cho đất nước và nhân loại.”
Cái cách “chĩa mũi dùi” của các vị quả thật rất lộ liễu !
Thưa bác Vũ Quang Khải !
“Chế độ nào mà không cưỡng bách”, “luật pháp nào mà không chế tài”, “mỗi chính phủ có quyền đưa ra những luật lệ khác nhau tùy theo hoàn cảnh cụ thể của đất nước”, v.v…là những sự thật không thể chối cãi.
Bác không chỉ ra được tôi sai chỗ nào, bác thừa nhận rằng những lý lẽ của tôi đủ sức mạnh để có thể “bào chữa và bênh vực cho bất kỳ một chế độ độc tài nào tàn bạo nhất, kể cả Cộng Sản và Phát xít.”. Nhưng bác lại bảo tôi cù nhầy, gian lận, đánh đồng này nọ.
Bác “cùn” quá bác Khải ạ ! Nếu tôi mà là luật sư biện hộ trong khi bác là luật sư kết tội thì những lời lẽ đó của “luật sư kết tội – Vũ Quang Khải” là đủ để quan tòa mời bác ra khỏi phòng xử án, tước quyền tranh tụng của bác.