talawas blog

Chuyên mục:

Lê Tuấn Huy – Bát Nhã và sự tự do hành đạo

06/10/2009 | 3:27 chiều | 50 Comments

Tác giả: Lê Tuấn Huy

Category: Chính trị - Xã hội, Tôn giáo
Thẻ:

Việc Thiền sư Thích Nhất Hạnh lần đầu tiên lên tiếng về sự việc Bát Nhã, bằng bút danh học thuật, cho thấy sự vụ nay khó tránh khỏi sự mở rộng của nó. Rồi đây, lịch sử Phật giáo Việt Nam sẽ khó mà không ghi thành văn sự kiện ngày 27/09/2009 cùng hai thư “kêu cứu” của Nguyễn Lang – người viết sử “đạo Bụt” trên xứ sở hình chữ S.

Trên bề mặt, phía chính quyền dường như vô can trước các diễn biến bạo hành, vì những người có trách nhiệm xem đây là chuyện nội bộ tại Bát Nhã, và họ chỉ làm công việc an ninh trật tự. Lý lẽ có thể thế này: nếu thầy Thích Đức Nghi nhận tiền từ Làng Mai để tạo dựng cơ sở mới của Bát Nhã mà nay lại đuổi người để giành trọn, thì đó là một tranh chấp dân sự, và đương sự hai bên có thể khởi kiện để được giải quyết; còn phía chính quyền – mà cụ thể là lực lượng công an, cảnh sát – chỉ làm đúng chức trách, là áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để chấm dứt tình trạng cư trú bất hợp pháp tại địa phương đối với những người không được chủ hộ cho phép tạm trú.

Thế nhưng, trên thực tế, dù có biện hộ “hợp lý” như thế nào bằng câu chữ pháp lý, thì hình ảnh của những lần bạo hành tại Bát Nhã, được xác thực bằng chính tường thuật của các tu sĩ, tu sinh tại đây, khiến người ta không khỏi bị sốc và có nhận định khác đi.

Chuỗi sự việc xảy ra tại Bát Nhã, mà đỉnh điểm là ngày 27/09 đó, là biểu hiện cao độ của sự thoái hóa đạo đức, đến mức mà ở một đất nước có truyền thống sùng kính và hiếu lễ đối với nhà Phật, lại xảy ra chuyện chưa từng có, là dùng đến sự bạo hành thô tục nhất để cưỡng bách cả một làng tăng, tống họ ra khỏi chốn tu đạo, ngay trong một ngày dầm dề mưa gió, khi cơn bão dữ đang đến. Nó cũng là biểu hiện của sự thoái hóa chính trị, đến mức mà một trong những chức năng nền tảng của nhà nước, là cung ứng sự bảo an đối ngoại và đối nội cho dân chúng cứ ngày một “mai một” đi, để rồi đến lúc chính nó lại xâm hại đến thành phần được xem như hướng thiện nhất trong xã hội, là giới tu hành. Và bên cạnh đó, nó cũng bộc lộ một số vấn đề về sự tự do hành đạo.

Phải thừa nhận rằng dù vẫn cần nhiều thay đổi tích cực hơn, trong những năm gần đây, tự do tôn giáo ở Việt Nam đã có tiến bộ, cả trong nhận thức lẫn thực tế, mà việc tăng đoàn Làng Mai về nước và tăng thân Bát Nhã tu tập theo pháp môn này là một biểu hiện đáng quý. Vậy mà giờ đây, với cái cớ là các tăng sĩ và tăng sinh này không còn được bảo lãnh cư trú, giới thẩm quyền (nào đó) quyết trục họ ra đường, thì liệu có chính trực?

Cần thấy rằng quy định tạm trú tạm vắng làm nền cho việc tống xuất tăng thân Bát Nhã là cái gắn liền với hộ khẩu, vốn đã là một định chế vi hiến, vì thực chất nó lật ngược lại quyền tự do cư trú. Đã lâu, trước cả khi Thượng Hải bỏ hộ khẩu, giới cải cách Việt Nam đã đề xuất chính điều này nhưng không kết quả. Dù công dân và giới chức vẫn phải tuân theo sự vi hiến này chừng nào nó còn chưa bị bãi bỏ, nhưng một khi đã nhận ra tính sai phạm đó mà vẫn cố tình dùng nó như công cụ chí mạng để thực hiện những hành động trái đạo lý, thì không thể lấy gì để biện minh.

Thực chất, tăng đoàn hay tăng thân cũng chỉ là một tập hợp công dân đang thực hành đạo giáo, có tổ chức và có hệ thống, tập trung hay không tập trung. Nhưng, chính cái vế “đang thực hành…” đã đem lại cho tập hợp này và từng thành viên của nó một chỗ đứng riêng so với công dân thế tục. Và điều đó cũng có nghĩa là cần có lối hành xử riêng, thích hợp với giáo quy của họ một khi quy phạm đó không xâm hại đến lợi ích của công dân và xã hội, chứ không thể nhất nhất áp tuyệt đối các quy định thế tục lên trên họ.

Ai cũng rõ, một trong những đặc trưng của tăng sĩ và tăng sinh Phật giáo là đời sống xuất giatu tập. Từ bao đời nay, đặc trưng này không hề xâm hại đến lợi ích của công dân và đời sống thế tục. Nay cũng thế. Nên, dù xuất phát từ bất kỳ chính sách nào, với bất cứ động cơ và lý do gì mà hành xử với họ trái với đặc trưng đó, đều là sự áp đặt độc đoán và hạn chế khắc nghiệt đối với việc hành đạo.

Việc buộc tăng thân ra khỏi Bát Nhã và nay tạo áp lực để họ phải rời khỏi Phước Huệ, về lại địa phương có hộ khẩu hoặc tự viện thường trú ban đầu thực chất chính là việc cưỡng bức hồi giadứt pháp. Đối với tăng sinh, điều này quá rõ. Về phần tăng sĩ, dù có được “đưa” về chùa cũ để tiếp tục tu hành, nhưng một khi phải rời bỏ pháp môn mà họ có duyên, đó chẳng khác là mấy với việc thoái pháp.

Vài so sánh bình dị thôi cũng đã thấy sự vô lý đến kỳ lạ ở việc tăng thân Bát Nhã phải thoái tu. Tại sao sinh viên có thể lựa chọn cho mình ngành học mà tu sinh lại không thể tự chọn cho mình pháp môn? Tại sao người học chữ có thể tùy chọn một trung tâm học vấn (theo nghĩa một địa phương có nhiều cơ sở giáo dục tốt) để đến và học hành, mà người học đạo lại không thể tự chọn một trung tâm Phật học để đến và tu tập? Tại sao người lao động có thể đến một địa phương khác để hành nghề mà người tu hành lại không thể đến địa phương khác để hành đạo? v.v…

Như vậy, dù tăng sinh hay tăng sĩ Bát Nhã có được “tạo điều kiện” tại bản quán hay bản tự, thì cả ý nguyện tục thế lẫn ý nguyện đạo pháp của họ cũng đã bị áp đặt một cách cố định, và là sự hạn chế phi lí và phi pháp đối với quyền tự do hành đạo.

Nếu có những tính toán nay được nâng lên thành quyết sách, rằng chỉ để Làng Mai phát triển ở ngoài nước nhằm “marketing” cho Việt nam và tô điểm cho chính sách tôn giáo của chính quyền, chứ không để họ tiếp tục phát triển trong nước vì có thể “đe dọa an ninh quốc gia”, thì e rằng sẽ phản tác dụng. Chủ trương hai mặt đó không những làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trước thế giới và Phật tử năm châu, trước cộng đồng người Việt hải ngoại, mà còn tạo nên một mầm mống phản kháng ngay chính trong lòng của Giáo hội Phật giáo mà chính quyền hỗ trợ.

© 2009 Lê Tuấn Huy

© 2009 talawas blog

Bình luận

50 Comments (bài “Lê Tuấn Huy – Bát Nhã và sự tự do hành đạo”)

  1. Anh Dũng viết:

    Thưa bác Nguyễn Mai Sơn !

    Thứ nhất, nếu bác “từng nghe quý thầy” thì tôi cũng “từng nghe quý thầy”:
    http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-phathoc-coban/phcb4-3-3.htm
    TRÍCH DẪN: “…Có những giáo lý cao siêu của Phật giáo, qua sự sáng tạo của nhân dân Việt Nam, bèn trở thành dễ hiểu, mà cũng nhờ dễ hiểu nên dễ thực hành, chẳng hạn:
    “Thứ nhất là tu tại gia
    Thứ hai tu chợ,
    thứ ba tu chùa…”
    Hay là:
    “Phật ở trong nhà,
    Cầu Thích Ca ngoài đường” v.v…

    Ðó chính là hạt ngọc giáo lý: “Phật tại tâm, Phật tức tâm, tu Phật là tu tâm, biện tâm”.”

    Đó là NGỘ lời dạy của nhà Phật đó thưa bác Sơn.

    Thứ hai, bác thắc mắc: “Vậy ta có cái thuận duyên đó để dễ bề tu tập sao ta không nắm bắt để tiến tu đạo nghiệp”

    Bác Sơn lại giống ông Huy khi dùng đại từ bất định, vô nghĩa: đại từ TA ( ông Huy dùng đại từ NGƯỜI TA ). Xin hỏi bác Sơn: TA là ai ? Là nhà nước Việt Nam hay những tu sinh ở Bát Nhã, hay chỉ là chính bác Sơn ?

    Thứ ba, bác viết: “thế thì chỉ cần lập ra nhiều pháp môn “cái bang”, lang thang đầy đường, đầy chợ là có thể làm cho cả xã hội này ngộ rồi. Dẹp hết cơ sở tôn giáo đi cũng có sao đâu?”

    Tu tại gia, tu chợ, hay tu chùa chỉ là phương tiện để đạt mục đích NGỘ. Phương tiện thì có thể thay đổi cho phù hợp với từng thành phần khác nhau. Nhà nước không dẹp hết cơ sở tôn giáo bằng mọi giá, nhưng cơ sở nào vi phạm pháp luật thì sẽ bị dẹp.

    Cuối cùng, bác nhắc tôi lời dạy của nhà Phật: “Tăng ly chúng tăng tàn”. Tức là, tăng ( tu sinh ) mà xa rời quần chúng thì tăng sẽ tàn. Mà nếu không muốn xa rời quần chúng thì cách tốt nhất là tu TẠI GIA chứ đâu phải tụ tập lại với nhau trong một khuôn viên Bát Nhã để mà TU CHÙA.

    Chẳng phải bác Sơn vừa nhắc lại lời dạy của nhà Phật nhưng vừa làm trái lại lời dạy đó hay sao ?

  2. Anh Dũng viết:

    Thưa bác Tôn Nguyễn !

    Thứ nhất, cưỡng bức ( của nhà nước ) tức là bắt buộc người dân phải hoạt động trong một khuôn khổ hay Luật pháp nhất định. Rõ ràng, nó chẳng có gì khác với cái “phải tuân thủ” của bác cả. Trong trường hợp tu viện Bát Nhã, đó là Luật pháp về tạm trú, thường trú, tạm vắng,…

    Thứ hai, tôi không hiểu mục đích của bác khi đưa ra những nghi ngờ: “nhưng luật pháp có phù hợp với nguyện vọng cùa đa số người dân hay không, đó mới quan trọng hay chỉ dựng lên đề làm tấm bình phong che mắt người ngoài?… người dân nào lại muốn khai tạm trú, tạm vắng, thường trú trong thời bình hay đây chỉ là hình thức “nhũng nhiễu”, gây sợ hãi cho dân?”

    Tốt nhất là nếu bác có nghi ngờ thì hãy tự mình giải đáp nghi ngờ.

    Thứ ba, bác viết: “tại sao bác không muốn…mà bác chỉ muốn…?”

    Tôi chưa có chỗ nào nói rằng mình muốn hay không muốn gì đối với hai đối tượng bác đưa ra cả. Tôi chỉ đang tôn trọng và bảo vệ sự thật.

  3. Lê Toàn Thơ viết:

    @Lê Anh Dũng… vs Anh Dũng

    Thơ thấy văn của ông LT Huy thì “bác học” cô đọng quá, của ông LA Dũng thì lại là một thứ văn chương có đôi chỗ “ý tại ngôn ngoại”, thảy đều không phải là sở trường tiếp cận của ông Anh Dũng, thiển nghĩ chỉ còn “văn phong Em Xinh” là đỡ “rơi lệ ru người” đối với ông Dũng sau hơn cả, vậy chẳng hay “em (mải) đứng một mình” ở nơi nao mà chẳng ra tay độ thế vài chiêu, trước là quần hào mua vui sau tạ người tri kỷ mà em đã từng thệ nguyện sẽ theo nhau đến góc bể chân trời!

  4. Tôn Nguyễn viết:

    Bác Anh Dũng cho rằng nhà nước nào cũng là (có) một bộ máy cưỡng bức cả. Có lẽ bác muốn đề cập đến quyền hành pháp tức là thi hành phép nước?. Phải hiểu hai chữ cưỡng bức của bác như thế nào? Phải chăng là ép buộc người dân làm theo những gì họ không muốn? Nếu vậy thì nó khác hẳn với ý nghĩa của bổn phận người dân phải tuân thủ pháp luật để xã hội được ổn định và an toàn.

    Xin đơn cử một thí dụ rất đơn giản: Ở Mỹ số lượng xe cộ lưu thông rất nhiều nếu luật giao thông không gắt gao bằng cách phạt nặng, bắt đi học lại luật lệ thì bác nghĩ tình trạng như thế nào, nhất là đối với mấy tay say xỉn ngoài công lộ. Chính người dân đề nghị phạt nặng thêm tội say rượu lái xe vì nó gây ra quá nhiều thiệt hại về vật chất lẫn sinh mạng không những cho tài xế mà còn những người chung quanh. Cái đó mới thực sự là cưỡng bức đối với mấy tay “phóng nhanh, dành đường, vượt ẩu”

    Như tôi đã nói nước nào cũng có luật pháp để “cưỡng bức” người dân phải tuân thủ đề XH ổn định nhưng luật pháp có phù hợp với nguyện vọng cùa đa số người dân hay không, đó mới quan trọng hay chỉ dựng lên đề làm tấm bình phong che mắt người ngoài? Ai dám bảo Bắc Hàn không có luật lệ?Có người dân nào lại muốn khai tạm trú, tạm vắng, thường trú trong thời bình hay đây chỉ là hình thức “nhũng nhiễu”, gây sợ hãi cho dân?

    Bác Anh Dũng còn cho rằng nhà Phật đã dạy thứ nhất là tu tại gia… Đạo Phật đã đồng hành với dân tộc ta từ nghìn xưa (và tiếp tục tồn tại không chỉ tại VN mà còn đang phát triển lớn mạnh ở các nước văn minh tiến bộ nữa) tại sao bác không muốn các tăng ni tập hợp với nhau thành tăng đoàn để cùng nhau chia sẻ, tu tập theo gương Đức Phật mà bác chỉ muốn tập hợp thành một đảng như ĐCSVN của bác (đã lỗi thời) đang cùng nhau “chia sẻ” đất nước VN?

  5. Hưng Quốc viết:

    Theo tôi, bài của ông Lê Tuấn Huy chỉ dừng ở mức “phát biểu cảm nghĩ” của cá nhân thôi, chứ độc giả không học hỏi được gì, hay thấy cái gì mới mẻ vì riêng về vụ Bát Nhã thì đã có rất nhiều bài vở rồi. Thế nên, việc ông Anh Dũng phản hồi như vậy theo tôi là chính đáng, tuy nhiên nếu chỉ cần kết luận bài ông Huy không thuyết phục thì hơn là “tùy tiện, nhảm nhí” để ông Huy phải phản pháo lại bằng “chính trị VỠ LÒNG, nhiều khiếm khuyết và một chiều”. Phàm chuyện xã hội (không phải việc trị gia) thì nên bớt cảm tính (ví dụ những phản hồi kiểu “Anh Dũng BÊNH chính phủ” cũng là thứ rất cảm tính).

    Sự phán xét cảm tính là một thứ vũ khí của chính cái Chính phủ CSVN, nó chà đạp lên mọi thứ luật pháp, tạo lên một thứ luật bất thành văn. Thật đáng buồn là có nhiều vị dù ở các nước có nền dân chủ và văn minh hơn mà vẫn ưa dùng thứ “vũ khí đậm chất quê nhà” ấy.

    Tái bút: Tuy nhiên bây giờ nếu ông Huy có thời gian và phản biện lại đúng 10 luận điểm mà ông Anh Dũng nêu ra làm bổ sung cho bài viết một cách hoàn toàn thuyết phục, tôi xin ngả mũ kính phục.

  6. Lê Anh Dũng viết:

    Bác Anh Dũng viết duyên dáng và thông minh lắm, có lẽ tôi NGỘ bác rồi. Tiếc là bận và talawas bộ mới không có tính năng giúp dễ dàng tìm bất kỳ post nào như talawas tiền 2009, để tôi có thể tìm những post của bác hầu NGỘ bác rõ hơn.

    Nhiều khi Hoàng Liên Sơn lù lù trước mắt mà cứ ngóng qua Thái Sơn của xứ “lạ”.

  7. Anh Dũng viết:

    1. Ông Huy viết: “Còn chưa phân biệt nổi giữa cưỡng bức với tính cách là một trong những tính chất đặc trưng của nhà nước, với cưỡng bức với tính cách là hành vi cụ thể. Cái đầu mang tính khách quan, cái sau là chủ quan.”

    Ngược lại với sự quy kết đó của ông Huy, tôi còn biết “cái sau” chính là sự hiện thực hóa, chi tiết hóa của “cái trước”. Nhà nước là khách quan, nhưng nó được vận hành bằng những con người, bằng sự chủ quan. “Cái sau” và “cái trước” nó gắn liền với nhau, cái khách quan (tôi đề cập) nó gắn liền và được vận hành bởi cái chủ quan (mà ông Huy đề cập).

    Ông Huy viết: “Bất kỳ thực thể xã hội nào, từ lịch sử đến hiện tại, một khi đã cho rằng mình NGHIỄM NHIÊN sở hữu sự cưỡng bức, đều đi đến chỗ lấy ý chí của mình thay cho ý nguyện của người.”

    Ở đây chẳng có thực thể nào “cho rằng mình NGHIỄM NHIÊN sở hữu sự cưỡng bức” cả. Nếu ông Huy muốn ám chỉ thực thể “nhà nước” thì ông Huy lại rơi vào tự mâu thuẫn, vì nhà nước là thực thể khách quan, nó không thể “cho rằng” (một hành vi chủ quan) thế này hay thế kia được.

    Tôi biết ông Huy thích câu “con người lập ra thể chế, thể chế chế định con người”. Vâng, người dân Việt Nam lập ra nhà nước Việt Nam, nhà nước Việt Nam chế định người dân Việt Nam.

    Cuối cùng, ông Huy giảng về “bảo an” và “trị an” rằng: “Dù chúng là hai mặt của một vấn đề nhưng thể chế nào đặt con người làm đầu sẽ lấy “bảo an” làm trọng, thể chế nào xem bạo lực là “bản nguyên” sẽ lấy “trị an” làm gốc.”

    Trong lý lẽ của mình, tôi chưa bao giờ đề cập đến chuyện cái gì đặt trước hay cái gì đặt sau, xem trọng cái gì hay coi nhẹ cái gì, cái gì là gốc hay cái gì là ngọn đối với những cặp đi đôi tinh vi như “cưỡng bức khách quan” và “cưỡng bức chủ quan”, “bảo an” và “trị an”. Cái tôi quan tâm là cái này kéo theo cái kia (vì chúng không thể tách rời). Nhưng ông Huy và cả ông Lê Anh Dũng cứ thích quy kết người khác theo quan điểm của mình. Đó là một hành vi độc đoán của hai ông.

    Thưa ông Huy!

    “các bài học chính trị VỠ LÒNG” cũng như các bài học vỡ lòng ở mọi lĩnh vực khác, chúng đều ít khiếm khuyết nhất, dễ được đông đảo mọi người công nhận nhất. Chúng là nền tảng, phương tiện cho những bài học tiếp theo. Thế nên, tôi chẳng có gì phải hổ thẹn khi nắm vững chúng cả. Còn “nhiều khiếm khuyết và một chiều.” thì tôi đã chứng minh rằng ông Huy quả thật như vậy.

    Với 10 luận điểm đầu tiên tôi phản bác lại bài viết của ông Huy mà ông Huy chỉ phản ứng được bằng vài dòng sai lầm như vậy thôi hay sao?

  8. Nguyễn Mai Sơn viết:

    @ Anh Dũng

    Không có “nhà Phật” nào nói: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Đây là một câu nói dân gian. Mà đã là câu nói dân gian thì không có tác giả nên sự suy luận khác nhau. Tôi từng nghe quý thầy nói, dân gian họ nói vậy là họ so sánh về mức độ khó, tức những chướng duyên ở nhà, ở chợ sẽ làm cho người ta khó tu hơn là ở chùa. Vậy ta có cái thuận duyên đó để dễ bề tu tập sao ta không nắm bắt để tiến tu đạo nghiệp.

    Ông nói câu này trong hoàn cảnh Bát Nhã bị đàn áp, tu sinh bị buộc trở về nhà để lý luận rằng “Ngộ” thì ở nhà, ở chợ cũng được chứ cần chi đến chùa. Xin thưa ông thế thì chỉ cần lập ra nhiều pháp môn “cái bang”, lang thang đầy đường, đầy chợ là có thể làm cho cả xã hội này ngộ rồi. Dẹp hết cơ sở tôn giáo đi cũng có sao đâu? Nhưng ông nên nhớ đây mới là câu nói của nhà Phật: “Tăng ly chúng Tăng tàn”.

  9. Lê Tuấn Huy viết:

    Về ý kiến của bạn Anh Dũng:

    – Còn chưa phân biệt nổi giữa cưỡng bức với tính cách là một trong những tính chất đặc trưng của nhà nước, với cưỡng bức với tính cách là hành vi cụ thể. Cái đầu mang tính khách quan, cái sau là chủ quan.

    -Còn chưa phân biệt nổi ý chí của mình với ý nguyện của người, cả trong lĩnh vực thế tục lẫn tôn giáo. Bất kỳ thực thể xã hội nào, từ lịch sử đến hiện tại, một khi đã cho rằng mình NGHIỄM NHIÊN sở hữu sự cưỡng bức, đều đi đến chỗ lấy ý chí của mình thay cho ý nguyện của người.

    – Anh Lê Anh Dũng vừa nhắc đến “trị an”, như vậy chắc là Anh Dũng (không có “Lê”) dùng từ này để đối với từ “bảo an” của tôi? “Bảo an” ở đây là bảo vệ sự an toàn, an sinh của người dân trước giặc ngoài và (các loại) giặc trong. “Trị an” cũng chỉ là một biểu hiện của “bảo an” đó chứ không phải là cái đối lập với nó. Dù chúng là hai mặt của một vấn đề nhưng thể chế nào đặt con người làm đầu sẽ lấy “bảo an” làm trọng, thể chế nào xem bạo lực là “bản nguyên” sẽ lấy “trị an” làm gốc.

    Bạn Anh Dũng đơn giản là nhắc lại những điều được viết ở các bài học chính trị VỠ LÒNG, nhiều khiếm khuyết và một chiều.

  10. Anh Dũng viết:

    Thưa bác Vũ Quang Khải !

    Thứ nhất, thiết nghĩ việc tôi có bênh vực chính quyền Việt Nam hay không, và nếu có thì có giới hạn hay không là điều không quan trọng. Mà quan trọng là lý lẽ của tôi có vững chắc không, lập luận của tôi có thuyết phục không. Cũng như vị luật sư bào chữa hoặc luật sư kết tội ở một phiên tòa vậy. Điều tôi muốn hướng đến là một cái nhìn chính xác, công tội phân minh, trắng đen phải trái rõ ràng.

    Thứ hai, nếu bác đã cảm thấy “không còn cách nào…” thì tức là bác đã thừa nhận sự bất lực, sự thiếu sót về tri thức, sự yếu ớt về lý lẽ rồi. Thế nên, tôi chỉ còn duy nhất một thái độ là tự tin hơn, kiên định hơn với quan điểm, lý tưởng của mình. Vì thế, tôi cảm ơn bác vì lời bộc bạch này của bác !

    Thứ ba, theo bác thì “Họ ( chính quyền Việt Nam ) không còn biết nhục, không còn biết nhân đạo là gì, không còn một chút lương tâm nào nữa.”

    Nhưng theo cái lý lẽ của họ thì họ đang rất tự trọng, rất nhân đạo, rất có lương tâm. Còn bác Vũ Quang Khải thì chẳng có gì khác ngoài mấy câu than vãn, la ó vô căn cứ.

    Nếu bác Vũ Quang Khải là người duy tình thì tôi xin gửi bác vài lời của một người duy lý, và theo tôi thì ông Lê Tuấn Huy cũng là một người duy lý:

    “Thật sự nguy hiểm ( đối với những người chống Cộng ) không phải là những kinh nghiệm thực tiễn mà là CƠ SỞ LÝ LUẬN của những tư tưởng Cộng Sản chủ nghĩa. Vì đối với kinh nghiệm thực tiễn, nếu chúng trở thành đông đảo thì người ta có thể trả lời bằng đại bác một khi chúng trở nên nguy hiểm. Còn tư tưởng chiếm lĩnh ý nghĩ của chúng ta, bắt lòng tin của chúng ta phải phục tùng, và được lý trí cột chặt vào lương tâm của chúng ta. Đó là những sợi dây ràng buộc mà người ta không thể bứt ra được nếu không xé nát trái tim của mình. Đó là những con quỷ mà con người chỉ có thể chiến thắng bằng cách phục tùng chúng.” ( K.MARX )

    Thưa bác Lê Anh Dũng !

    Bác viết: “Dà, không phải cứ…thì mới đưa 83 triệu người Việt Nam tới “NGỘ” xã hội chủ nghĩa được.”

    Thứ nhất, việc bác dập khuôn cái lý lẽ của tôi cho một đối tượng khác là sai lầm thô thiển. Bởi chính đối tượng của tôi ( nhà Phật ) đã dạy “thứ nhất là tu TẠI GIA, thứ hai tu chợ, thứ ba TU CHÙA”; còn đối tượng của bác ( ĐCSVN ) không có khẩu hiệu nào như thế. Khẩu hiệu của ĐCSVN là phải có tổ chức, phải tập hợp nhau lại; vì nếu không có tổ chức, không tập hợp nhau lại thì không thể gọi là một Đảng được.

    Thứ hai, ĐCSVN là tổ chức, tập hợp của những người đã có lý tưởng ( TẠI GIA ) CNXH hay CNCS và tự nguyện gia nhập cơ mà. ĐCSVN lấy dân làm gốc, gần dân, bám dân cơ mà. Thế nên, cái lời thách thức về việc “TẠI GIA” của bác là đi sau thời đại.

    Thứ ba, bác viết: “Trước khi “NGỘ”, người ta bắt đầu thấy rõ hơn cái băng đảng này.”

    Nhưng biết đâu, khi NGỘ được rồi thì người ta lại tự nguyện gia nhập cái “băng đảng” ấy cũng nên. Chưa NGỘ thì chưa RÕ đâu bác ạ !

    Và cuối cùng, bác viết: “Mới hôm qua, nhiều băng đảng tương tự còn ăn, nói, làm y chang, mà hôm nay đã đi vào lịch sử!”

    Còn tôi thì cho rằng: Chính vì hôm qua, nhiều băng đảng tương tự do không ăn, nói, làm được như họ ( ĐCSVN, ĐCSTQ,…) nên những băng đảng đó mới phải trở thành lịch sử. Còn ĐCSVN vẫn tồn tại, vẫn lãnh đạo.

  11. Lê Anh Dũng viết:

    Lê Anh Dũng gửi Anh Dũng.

    Dà, không phải cứ tập hợp thành một băng đảng có 3.1 triệu thành viên băng đảng, độc quyền nói, độc quyền làm, độc quyền ăn chia, độc quyền đặt tiêu chuẩn phải trái, độc quyền ngồi lên luật pháp – xử lý nội bộ, độc quyền “tập hợp lại với nhau” tại các chi bộ đảng và đại hội đảng, dùng cứt và dùng phụ nữ bóp dái tấn công tăng sĩ để “trị an” – đây là một độc quyền “de facto” chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử loài người, dùng một xác ướp mục nát làm bùa, thì mới đưa 83 triệu người Việt Nam tới “NGỘ” xã hội chủ nghĩa được.

    3.1 triệu đảng viên “đồng bào” thử noi gương cho 83 triệu “dị bào” cả nước, sinh hoạt “TẠI GIA” xem sao?

    Trước khi “NGỘ”, người ta bắt đầu thấy rõ hơn cái băng đảng này. Mới hôm qua, nhiều băng đảng tương tự còn ăn, nói, làm y chang, mà hôm nay đã đi vào lịch sử!

  12. Vũ Quang Khải viết:

    Ông Anh Dũng sẵn sàng bênh vực chính quyền VN không còn giới hạn. Chỉ cần đọc những gì ông Anh Dũng viết, tôi thấy không còn cách nào thay đổi đầu óc của giới cầm quyền VN hôm nay. Họ không còn biết nhục, không còn biết nhân đạo là gì, không còn một chút lương tâm nào nữa.

  13. Anh Dũng viết:

    Thưa bác Hòa Nguyễn !

    Tôi xin nhắc lại một ý quan trọng rằng nhà nước nào cũng là một bộ máy cưỡng bức cả. Chẳng hạn ở Pháp: nhà nước cấm các nữ sinh Hồi giáo mang khăn trùm đầu vào lớp học.

    Cái “cưỡng bức hồi gia” là điều có thể nếu ai đó vi phạm pháp luật quy định về tạm trú, tạm vắng, thường trú… của Việt Nam. Nó không có gì là “vi hiến” (tự do cư trú, đi lại) cả bởi vì mọi sự tự do đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Cũng như việc không phải ai cũng được phép xông thẳng vào Nhà Trắng hoặc điện Kremli.

    Còn chuyện nước này hạn chế ít nước kia hạn chế nhiều thì là lẽ đương nhiên, tùy vào tình hình cụ thể của mỗi nước. Nhưng chắc chắn, nước nào cũng phải có những hạn chế nhất định.

    Thêm nữa, cũng không có chuyện “cưỡng bức dứt pháp” như ông Huy quy kết. Nhà Phật dạy rằng: “Thứ nhất là tu TẠI GIA, thứ hai tu chợ, thứ ba TU CHÙA” cơ mà. Không phải cứ tập hợp lại với nhau ở một tu viện, chùa chiền, làng xã nào đó thì mới NGỘ được.

  14. Hoà Nguyễn viết:

    Bài của hai ông Lê Tuấn Huy và Nguyễn Mai Sơn bàn về khía cạnh pháp lý, lại thêm nhìn từ luật pháp của VN, trong vụ trục xuất tăng ni sinh ở chùa Bát Nhã. Tôi thấy cách đặt vấn đề, tiếp theo là cách phân tích, rất cần thiết và rất hay, nhưng vì không đủ chuyên môn trong lãnh vực này nên tôi không dám góp ý gí. Tôi chỉ nhớ từng đọc thấy một quan chức trong nước nói luật pháp VN chưa hoàn chỉnh (sau 50 năm làm luật), và báo chí nhiều khi sử dụng đến từ luật rừng, nghĩa là VN có luật chớ chẳng phải không, nhưng là có luật thể nào đó, và áp dụng luật theo cách nào đó.

    Riêng phần góp ý cùa ông Anh Dũng tôi có đọc tới câu:
    ” 7. Ông Huy than vãn về cái gọi là “cưỡng bức hồi gia và dứt pháp”. Xin thưa với ông là, nhà nước nào cũng là một bộ máy cưỡng bức cả. Nếu không thì đã chẳng có những công cụ bạo lực như Công an, Cảnh sát.”

    Tôi hiểu ông LT Huy muốn nói công an “cưỡng bức hồi gia và dứt pháp”, chứ không phải chỉ là cưỡng bách chung chung chuyện gì đó. Những dẫn chứng của ông LT Huy về người dân trong nước (hay ở bất cứ đâu trên thế giới) thường khi phải di dới chỗ cư trú theo điều kiện sống, sinh hoạt là hợp lý, thí dụ như học sinh, sinh viên đi học xa nhà, công nhân rời quê tìm việc làm. Tôi nhớ lại từ nhỏ tới nay tôi không hề bị cản trở, ngăn cấm , hay công an bắt tôi phải trở về “nguyên quán” khi thấy tôi ra khỏi chỗ mình sinh trưởng. Trước 1975, phải đi học và đi làm xa nhà, nhưng tôi không hề khai báo, và chẳng bao giờ bị cảnh sát, chính quyền hỏi tới. Sau 75, tôi may (hay không may) làm việc gần nhà. Sau đó thì vượt biên, đến Mỷ mỗi lần thay đổi địa chỉ, cả sang tiểu bang khác, tôi chỉ báo cho bưu điện biết để họ chuyển thư tới. Tôi tin cảnh sát và FBI Mỹ không hề quan tâm tới chuyện tôi đang ở đâu trên nước Mỹ khi tôi không phạm pháp hay không có việc gì. Cho nên tôi đọc và chấp nhận ngay câu viết của ông LD Huy vì thấy “cưỡng bức hồi gia và dứt pháp” là điều rất bất thường, và cũng rất bất ngờ khi ông Anh Dũng cho đó là việc làm bình thường của bất cứ nhà nước nào, hay cảnh sát, công an ở bất cứ đâu. Vậy cũng là dịp để chúng ta thấy được VN có nhiều luật lệ khác với nhiều nơi trên thế giới.

  15. Anh Dũng viết:

    1. Ông Huy viết: “…khiến NGƯỜI TA không khỏi bị sốc và có nhận định khác đi”

    Thực ra, NGƯỜI TA mà ông Huy sử dụng là một đại từ rất vô nghĩa, bất định, không chứa bất kỳ nội hàm cụ thể, xác định nào.

    NGƯỜI TA là những ai, KHÁC ĐI là khác đi theo chiều hướng nào?

    2. Ông Huy viết: “Chuỗi sự việc xảy ra tại Bát Nhã, mà đỉnh điểm là ngày 27/09 đó, là biểu hiện cao độ của sự thoái hóa đạo đức, đến mức mà ở một đất nước có truyền thống sùng kính và hiếu lễ đối với nhà Phật, lại xảy ra chuyện chưa từng có, là dùng đến sự bạo hành thô tục nhất để cưỡng bách cả một làng tăng, tống họ ra khỏi chốn tu đạo, ngay trong một ngày dầm dề mưa gió, khi cơn bão dữ đang đến.”

    Ông Huy cũng không xác định được “sự suy thoái đạo đức” là thuộc về bộ phận nào, chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong cả một đất nước. Tương tự như vậy, những ai thực sự “dùng đến sự bạo hành thô tục nhất để cưỡng bách…” thì ông Huy cũng không xác định được.

    3. Ông Huy viết: “Nó cũng là biểu hiện của sự thoái hóa chính trị, đến mức mà một trong những chức năng nền tảng của nhà nước, là cung ứng sự bảo an đối ngoại và đối nội cho dân chúng cứ ngày một “mai một” đi, để rồi đến lúc chính nó lại xâm hại đến thành phần được xem như hướng thiện nhất trong xã hội, là giới tu hành.”

    Chức năng không được bảo đảm thì mới có chuyện “xâm hại” bảo an. Chứ không phải bản thân chức năng (ông Huy viết là “chính nó”) xâm hại đến bảo an.

    4. Ông Huy lưỡng lự: “Phải thừa nhận rằng…đã có tiến bộ, cả trong nhận thức lẫn thực tế,…, thì liệu có chính trực?”

    Ông Huy đem thái độ lưỡng lự về “chính trực” trong một sự vụ cá biệt đặt cạnh một quan điểm chắc nịch “phải thừa nhận rằng” (tiến bộ) của tình hình tự do tôn giáo nói chung. Đó là một sự đặt cạnh khập khiễng, gượng ép.

    5. Ông Huy viết: “Cần thấy rằng quy định tạm trú tạm vắng làm nền cho việc tống xuất tăng thân Bát Nhã là cái gắn liền với hộ khẩu, vốn đã là một định chế vi hiến, vì thực chất nó lật ngược lại quyền tự do cư trú.”

    Không hiểu ông Huy căn cứ vào đâu mà cho rằng có sự “vi hiến” ở đây.

    Vì theo tôi hiểu thì: TỰ DO không có nghĩa là TÙY TIỆN, tự do luôn nằm trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Ở bất cứ quốc gia nào cũng vậy thôi.

    Tôi ví dụ: Hành khách nào lên máy bay mà hô “Tôi mang bom!” thì dù ở Mỹ hay Việt Nam thì hành khác đó cũng phải bị trừng phạt.

    6. “hành xử với họ trái với đặc trưng đó”

    Ở đây, ông Huy có một sự ngộ nhận thật bất ngờ. Cái “đặc trưng” mà ông đề cập là của nhà Phật, còn cái “hành xử” là của những người không thuộc nhà Phật. Vậy theo cái lý lẽ của ông thì nhà Phật là bất khả xâm phạm, là tối cao?

    7. Ông Huy than vãn về cái gọi là “cưỡng bức hồi gia và dứt pháp”. Xin thưa với ông là, nhà nước nào cũng là một bộ máy cưỡng bức cả. Nếu không thì đã chẳng có những công cụ bạo lực như Công an, Cảnh sát.

    8. Ông Huy viết: “…cả ý nguyện tục thế lẫn ý nguyện đạo pháp của họ cũng đã bị áp đặt một cách cố định, và là sự hạn chế phi lí và phi pháp đối với quyền tự do hành đạo.”

    Ông Huy lại bộc lộ cái hiểu biết non kém của mình khi cho rằng “tự do” là không có “hạn chế”. Cái “phi lí” (thực ra là “phi lý”) và cái “phi pháp” của ông Huy đều bắt nguồn từ hiểu biết non kém của ông rằng: tự do nghĩa là tùy tiện, không bị hạn chế, thích làm gì thì làm.

    9. Ông Huy viết: “Nếu có những tính toán nay được nâng lên thành quyết sách, rằng chỉ để Làng Mai phát triển ở ngoài nước nhằm “marketing” cho Việt nam và tô điểm cho chính sách tôn giáo của chính quyền, chứ không để họ tiếp tục phát triển trong nước vì có thể “đe dọa an ninh quốc gia”, thì e rằng sẽ phản tác dụng.”

    Cái “chỉ để Làng Mai phát triển…” là định hướng phát triển, cái “chứ không để họ tiếp tục phát triển trong nước…” là cái hạn chế phát triển trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Hai cái này chẳng có gì là mâu thuẫn nhau. Do đó, chẳng có gì là “chủ trương hai mặt” ở đây cả.

    10. Cuối cùng, ông Huy tự cho mình quyền nói thay tiếng nói của người khác: “Chủ trương hai mặt đó không những làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trước thế giới và Phật tử năm châu, trước cộng đồng người Việt hải ngoại, mà còn tạo nên một mầm mống phản kháng ngay chính trong lòng của Giáo hội Phật giáo mà chính quyền hỗ trợ.”

    Tôi chắc chắn ông Huy không thể đại diện cho “Phật tử năm châu”, “cộng đồng người Việt hải ngoại”, “Giáo hội Phật giáo mà chính quyền hỗ trợ”.

    Kết luận: Bài viết của ông Huy rất tùy tiện, nhảm nhí!

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>