talawas blog

Chuyên mục:

Lê Tuấn Huy – Bát Nhã và sự tự do hành đạo

06/10/2009 | 3:27 chiều | 50 Comments

Tác giả: Lê Tuấn Huy

Category: Chính trị - Xã hội, Tôn giáo
Thẻ:

Việc Thiền sư Thích Nhất Hạnh lần đầu tiên lên tiếng về sự việc Bát Nhã, bằng bút danh học thuật, cho thấy sự vụ nay khó tránh khỏi sự mở rộng của nó. Rồi đây, lịch sử Phật giáo Việt Nam sẽ khó mà không ghi thành văn sự kiện ngày 27/09/2009 cùng hai thư “kêu cứu” của Nguyễn Lang – người viết sử “đạo Bụt” trên xứ sở hình chữ S.

Trên bề mặt, phía chính quyền dường như vô can trước các diễn biến bạo hành, vì những người có trách nhiệm xem đây là chuyện nội bộ tại Bát Nhã, và họ chỉ làm công việc an ninh trật tự. Lý lẽ có thể thế này: nếu thầy Thích Đức Nghi nhận tiền từ Làng Mai để tạo dựng cơ sở mới của Bát Nhã mà nay lại đuổi người để giành trọn, thì đó là một tranh chấp dân sự, và đương sự hai bên có thể khởi kiện để được giải quyết; còn phía chính quyền – mà cụ thể là lực lượng công an, cảnh sát – chỉ làm đúng chức trách, là áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để chấm dứt tình trạng cư trú bất hợp pháp tại địa phương đối với những người không được chủ hộ cho phép tạm trú.

Thế nhưng, trên thực tế, dù có biện hộ “hợp lý” như thế nào bằng câu chữ pháp lý, thì hình ảnh của những lần bạo hành tại Bát Nhã, được xác thực bằng chính tường thuật của các tu sĩ, tu sinh tại đây, khiến người ta không khỏi bị sốc và có nhận định khác đi.

Chuỗi sự việc xảy ra tại Bát Nhã, mà đỉnh điểm là ngày 27/09 đó, là biểu hiện cao độ của sự thoái hóa đạo đức, đến mức mà ở một đất nước có truyền thống sùng kính và hiếu lễ đối với nhà Phật, lại xảy ra chuyện chưa từng có, là dùng đến sự bạo hành thô tục nhất để cưỡng bách cả một làng tăng, tống họ ra khỏi chốn tu đạo, ngay trong một ngày dầm dề mưa gió, khi cơn bão dữ đang đến. Nó cũng là biểu hiện của sự thoái hóa chính trị, đến mức mà một trong những chức năng nền tảng của nhà nước, là cung ứng sự bảo an đối ngoại và đối nội cho dân chúng cứ ngày một “mai một” đi, để rồi đến lúc chính nó lại xâm hại đến thành phần được xem như hướng thiện nhất trong xã hội, là giới tu hành. Và bên cạnh đó, nó cũng bộc lộ một số vấn đề về sự tự do hành đạo.

Phải thừa nhận rằng dù vẫn cần nhiều thay đổi tích cực hơn, trong những năm gần đây, tự do tôn giáo ở Việt Nam đã có tiến bộ, cả trong nhận thức lẫn thực tế, mà việc tăng đoàn Làng Mai về nước và tăng thân Bát Nhã tu tập theo pháp môn này là một biểu hiện đáng quý. Vậy mà giờ đây, với cái cớ là các tăng sĩ và tăng sinh này không còn được bảo lãnh cư trú, giới thẩm quyền (nào đó) quyết trục họ ra đường, thì liệu có chính trực?

Cần thấy rằng quy định tạm trú tạm vắng làm nền cho việc tống xuất tăng thân Bát Nhã là cái gắn liền với hộ khẩu, vốn đã là một định chế vi hiến, vì thực chất nó lật ngược lại quyền tự do cư trú. Đã lâu, trước cả khi Thượng Hải bỏ hộ khẩu, giới cải cách Việt Nam đã đề xuất chính điều này nhưng không kết quả. Dù công dân và giới chức vẫn phải tuân theo sự vi hiến này chừng nào nó còn chưa bị bãi bỏ, nhưng một khi đã nhận ra tính sai phạm đó mà vẫn cố tình dùng nó như công cụ chí mạng để thực hiện những hành động trái đạo lý, thì không thể lấy gì để biện minh.

Thực chất, tăng đoàn hay tăng thân cũng chỉ là một tập hợp công dân đang thực hành đạo giáo, có tổ chức và có hệ thống, tập trung hay không tập trung. Nhưng, chính cái vế “đang thực hành…” đã đem lại cho tập hợp này và từng thành viên của nó một chỗ đứng riêng so với công dân thế tục. Và điều đó cũng có nghĩa là cần có lối hành xử riêng, thích hợp với giáo quy của họ một khi quy phạm đó không xâm hại đến lợi ích của công dân và xã hội, chứ không thể nhất nhất áp tuyệt đối các quy định thế tục lên trên họ.

Ai cũng rõ, một trong những đặc trưng của tăng sĩ và tăng sinh Phật giáo là đời sống xuất gia và tu tập. Từ bao đời nay, đặc trưng này không hề xâm hại đến lợi ích của công dân và đời sống thế tục. Nay cũng thế. Nên, dù xuất phát từ bất kỳ chính sách nào, với bất cứ động cơ và lý do gì mà hành xử với họ trái với đặc trưng đó, đều là sự áp đặt độc đoán và hạn chế khắc nghiệt đối với việc hành đạo.

Việc buộc tăng thân ra khỏi Bát Nhã và nay tạo áp lực để họ phải rời khỏi Phước Huệ, về lại địa phương có hộ khẩu hoặc tự viện thường trú ban đầu thực chất chính là việc cưỡng bức hồi gia và dứt pháp. Đối với tăng sinh, điều này quá rõ. Về phần tăng sĩ, dù có được “đưa” về chùa cũ để tiếp tục tu hành, nhưng một khi phải rời bỏ pháp môn mà họ có duyên, đó chẳng khác là mấy với việc thoái pháp.

Vài so sánh bình dị thôi cũng đã thấy sự vô lý đến kỳ lạ ở việc tăng thân Bát Nhã phải thoái tu. Tại sao sinh viên có thể lựa chọn cho mình ngành học mà tu sinh lại không thể tự chọn cho mình pháp môn? Tại sao người học chữ có thể tùy chọn một trung tâm học vấn (theo nghĩa một địa phương có nhiều cơ sở giáo dục tốt) để đến và học hành, mà người học đạo lại không thể tự chọn một trung tâm Phật học để đến và tu tập? Tại sao người lao động có thể đến một địa phương khác để hành nghề mà người tu hành lại không thể đến địa phương khác để hành đạo? v.v…

Như vậy, dù tăng sinh hay tăng sĩ Bát Nhã có được “tạo điều kiện” tại bản quán hay bản tự, thì cả ý nguyện tục thế lẫn ý nguyện đạo pháp của họ cũng đã bị áp đặt một cách cố định, và là sự hạn chế phi lí và phi pháp đối với quyền tự do hành đạo.

Nếu có những tính toán nay được nâng lên thành quyết sách, rằng chỉ để Làng Mai phát triển ở ngoài nước nhằm “marketing” cho Việt nam và tô điểm cho chính sách tôn giáo của chính quyền, chứ không để họ tiếp tục phát triển trong nước vì có thể “đe dọa an ninh quốc gia”, thì e rằng sẽ phản tác dụng. Chủ trương hai mặt đó không những làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trước thế giới và Phật tử năm châu, trước cộng đồng người Việt hải ngoại, mà còn tạo nên một mầm mống phản kháng ngay chính trong lòng của Giáo hội Phật giáo mà chính quyền hỗ trợ.

© 2009 Lê Tuấn Huy

© 2009 talawas blog

Bình luận

50 Comments (bài “Lê Tuấn Huy – Bát Nhã và sự tự do hành đạo”)

  1. Anh Dũng viết:

    Thưa bác Nguyễn Mai Sơn !

    Lúc đầu bác nhắc tôi rằng: “Bác dẫn câu chuyện từ thời Đức Phật còn tại thế để đưa nó vào hoàn cảnh (Tăng sĩ nằm trong tổ chức Giáo hội, tự viện đã từ nhiều thế kỷ nay…) tôi e bác đã “y vào kinh mà nói nghĩa thì (làm cho) ba đời chư Phật bị oan”.”

    thì ngay sau đó bác lại dẫn ra một số nguyên tắc “Vào khoảng thời gian cuối cùng trong cuộc đời hoằng hóa của Đức Phật”

    Như vậy là bác cũng rơi vào tình trạng hệt như tôi mà thôi. Tôi cũng e là bác có thể “làm cho ba đời chư Phật bị oan”.

    Còn chuyện “Việc một chính quyền can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng tăng” thì đó là quan điểm xuất phát từ tư liệu riêng của bác. Tôi cũng có nguồn tư liệu riêng của tôi và chúng khẳng định rằng không có chuyện chính quyền can thiệp thô bạo hay đàn áp đối với công việc nội bộ của tu viện Bát Nhã.

    Nếu bác có nguồn ghi âm, ghi hình đáng tin cậy về những cáo buộc chính quyền thì rất mong bác chia sẻ với tôi.

  2. Vũ Quang Khải viết:

    Ông Anh Dũng cãi lý giống như một robot để biện hộ cho Đảng CSVN bằng mọi giá. Tất cả lý sự cù nhầy của ông Anh Dũng có thể đem ra để bào chữa và bênh vực cho bất kỳ một chế độ độc tài nào tàn bạo nhất, kể cả Cộng Sản và Phát xít.

    Cái kiểu nói: “Chế độ nào mà không cưỡng bách”, “luật pháp nào mà không chế tài”, “mỗi chính phủ có quyền đưa ra những luật lệ khác nhau tùy theo hoàn cảnh cụ thể của đất nước”, v.v. là kiểu nói gian lận, đánh đồng tất cả những cấp độ khác nhau từ trên trời xuống đến vực thẳm.

  3. Tam Tue Duc viết:

    Kính gửi và chia sẻ thêm cùng quý liệt vị,

    Theo lời của viện chủ Đức Nghi thì vụ Bát Nhã do TW chỉ đạo, trong đó có trung tướng Trần Tư, tổng cục trưởng tổng cục anh ninh tại http://phapnanbatnha.net/index.php?option=com_content&view=article&id=265:ong-tng-trn-t&catid=44:th-bn-c&Itemid=71
    Vay thì sự việc đã quá rõ ràng nhưng nhà nước ta chac se tìm cach bac bo loi noi chinh tu thay Duc Nghi ma ho truoc day dung lam con chủ bài.

    Kính thư,

  4. Anh Dũng viết:

    1. Ông Huy viết: “CON NGƯỜI ĐỊNH (RA THỂ) CHẾ NHƯNG THỂ CHẾ CHẾ ĐỊNH CON NGƯỜI có nghĩa là “con người ĐỊNH CHẾ nhưng thể chế CHẾ ĐỊNH con người”. Bản thân ý nghĩa và bối cảnh của nó đều khác với ý nghĩa mà AD cứ cố tình tròng vào (cho tôi).”

    Ông Huy vẫn không chỉ ra được sự khác biệt ở chỗ nào mà cứ quy kết người khác bóp méo, nhào nặn. Cái lý lẽ của ông Huy đơn giản là nhắc lại 100% lời mình, khư khư cái quan điểm của mình. Ông Huy hùng hồn giải thích “A nghĩa là A”.

    2. Ông Huy nhắc tôi: “Nên bớt những từ “phủ đầu” và đanh đá đi, cho có chút lương thiện”.ư

    Đây là những lời nhắc nhở chính ông Huy, ngay cả trong bài viết lẫn trong các comment của ông Huy. Liệu ngoài 10 luận điểm của tôi mà ông Huy đang cố lảng tránh, tôi có cần chỉ cụ thể ra những từ ngữ “phủ đầu” của ông Huy hay không ?

    3. Ông Huy “thỉnh nguyện” với tôi rằng: “Chẳng hạn những câu trả lời ngắn của tôi thì không cần phải gán cho là “la làng”, “than vãn” hay “ấm ức” làm chi. Nếu đúng như thế mọi người cũng khắc biết rồi.”

    Theo cái lý lẽ đó của ông thì bài viết này của ông, thư thỉnh nguyện của ông Hoàng Hưng,…đều là “không cần”. Nếu đúng như thế thì mọi người khắc biết rồi ông Huy ạ !

    4. 10 luận điểm của tôi lúc đầu đã vạch trần cái lỗi “diễn ngôn sính những từ ngữ cảm tính vô lối” của ông Huy. Ông Huy liên tục lảng tránh. Vậy mà ông còn quay lại vênh mặt:

    “Lối “diễn ngôn” sính những từ ngữ cảm tính vô lối chỉ chứng tỏ được sự kém cỏi hoặc thù oán, được cố tình khỏa lấp bằng cách “cả vú lấp miệng em” mà thôi!”

    Ông đang định làm gì, định chứng tỏ gì vậy ông Huy ?

  5. Hoa Phạm viết:

    Mất YH 360! là mất luôn “con nếch sần” với bác Huy 🙂

    Mọi xung đột có thể giải quyết êm thấm, công bằng nếu như VN có không có những nhóm người ngồi chồm hổm lên cả pháp luật lẫn hiến pháp.

    Bắc thang lên hỏi Ông Trời: “Vấn đề Bát Nhã có giải được không?”. Ông Trời ổng trả lời là: “Bó tay chịu thua mày ơi, huhuhu”.

    http://www.vietnam tặc tịt.com

    Càng để xảy ra nhiều vấn đề phi pháp mà không được xử lý, sẽ làm cho “giọt nước tràn ly” hay càng làm cho người dân vô cảm với vận mệnh đất nước? Sợ nhất là điều thứ hai.

  6. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa bác Anh Dũng,

    Bác đã có cố gắng trong việc tìm tư liệu mà bác đã dẫn, nhưng bác kết luận HƠI VỘI: “Cuối cùng, tôi e rằng bác Sơn và nhiều người chưa hiểu hết ý nghĩa của lời nói “Tăng ly chúng, Tăng tàn”. Vì tôi thấy: http://www.buddhismtoday.com/viet/phatphap/tanglychung.htm
    TRÍCH DẪN: “…Phật kêu gọi các tỳ-kheo lên đường lưu truyền chánh pháp vì vậy cũng nằm trong sự nối kết của tăng, trong mục đích chung của tăng già và đời sống như vậy là đời sống hòa hợp với bản thể của tăng. “Này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy đi, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của nhiều người; vì lòng thương tưởng thế gian; vì sự ích lợi, sự an lạc của chư thiên và nhân loại. Chớ đi với hai người cùng một đường.”…

    Tôi xin thưa với bác thế này:
    Lời Phật dạy thì nhiều, nhưng tuỳ bệnh mà cho thuốc, nên pháp của Phật là “bất định pháp” và có tính chất khế lý, khế cơ (tuỳ hoàn cảnh và căn cơ của mọi người mà nói những lời phù hợp với chân lý). Bác dẫn câu chuyện từ thời Đức Phật còn tại thế để đưa nó vào hoàn cảnh (Tăng sĩ nằm trong tổ chức Giáo hội, tự viện đã từ nhiều thế kỷ nay…) tôi e bác đã “y vào kinh mà nói nghĩa thì (làm cho) ba đời chư Phật bị oan”.

    TRÍCH DẪN:
    “Vào khoảng thời gian cuối cùng trong cuộc đời hoằng hóa của Đức Phật, xu hướng định cư của tỳ kheo càng lúc càng phát triển mạnh, và sự sống chung trong một trú xứ như vậy sẽ phát sinh nhiều sự kiện phức tạp, cho nên đức Phật đã thiết lập một số nguyên tắc chi phối đời sống của cộng đồng tăng lữ:

    1. Các tỳ kheo cần phải thường xuyên tập họp, và tập họp đông đảo, để giảng luận chính pháp, khiến cho có sự hòa thuận trên dưới của các tỳ kheo.
    2. Các tỳ kheo phải tụ họp trong tinh thần hòa hiệp, giải tán trong tinh thần hòa hiệp, và chấp hành tăng sự trong tinh thần đoàn kết.
    3. Chúng tỳ kheo không ban hành những luật lệ không thích hợp, những luật lệ không đáng được ban hành, và cũng không bãi bỏ những luật lệ đã được ban hành từ trước; sống đúng những gì đã được quy định bởi cộng đồng tăng lữ.
    4. Các tỳ kheo luôn luôn phải kính trọng, phục vụ các tỳ kheo trưởng lão, những vị có nhiều kinh nghiệm tu tập trong chính pháp luật, sẵn sàng nghe theo những lời khuyên dạy của các bậc trưởng thượng như thế.
    5. Các tỳ kheo sống không bị lôi cuốn bởi những tham ái.
    6. Trú xứ cộng đồng các tỳ kheo luôn luôn là những trú xứ nhàn tịnh.
    7. Các tỳ kheo sống an trú trên chính niệm tạo thành một cộng đồng sinh động, khiến cho các bạn đồng tu từ những phương khác nếu chưa đến thì muốn đến, và đã đến thì muốn cùng sống và cùng tu tập trong sự an lạc.

    Bảy nguyên tắc được đức Phật nêu lên đó bao gồm những điều khoản đời sống cộng đồng, và một số điều khoản cần thiết cho sự tiến bộ đời sống tinh thần, vốn là nội dung phong phú của sự hòa hiệp. Các nguyên tắc chi phối cộng đồng là các nguyên tắc dân chủ và bình đẳng; chính trên nền tảng này mà hệ thống luật tạng của tất cả các bộ phái được xây dựng. Chúng cũng là những nguyên tắc chỉ đạo cho tất cả mọi thủ tục tác pháp yết ma”. http://chanhphap.net/Phat%20Hoc/Tong%20luan%20ve%20Yet%20Ma%20%28HT%20Thich%20Tri%20Thu%29.htm

    Việc thầy Đức Nghi (đệ tử y pháp của thiền sư Nhất Hạnh) tự ý đuổi tăng bằng quyền cá nhân là vi phạm các điều luật trong pháp yết ma và coi thường Thầy Tổ. Có nghĩa rằng, trong chúng, muốn đuổi ai, muốn giữ ai phải được toàn bộ chúng tăng quyết định căn cứ trên những vi phạm giới luật của vị đó, chứ một người không có quyền quyết định, dù người đó là trụ trì. Việc một chính quyền can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng tăng là vi phạm dân chủ, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân.

    Với tình trạng cá nhân làm sai pháp yết ma và tình trạng chính quyền can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của tôn giáo này: “Câu nói Tăng ly chúng Tăng tàn” càng trở nên có ý nghĩa. Không những không được rời bỏ chúng mà còn phải đoàn kết, hoà hợp nữa.

  7. Lê Tuấn Huy viết:

    Lẽ ra tôi không phản hồi tiếp – rất phí, nhưng AD lại tiếp tục chứng tỏ việc không hiểu nổi những khác biệt cơ bản nhất ở comment 08/10/2009 lúc 11:16 sáng.

    – CON NGƯỜI ĐỊNH (RA THỂ) CHẾ NHƯNG THỂ CHẾ CHẾ ĐỊNH CON NGƯỜI có nghĩa là “con người ĐỊNH CHẾ nhưng thể chế CHẾ ĐỊNH con người”. Bản thân ý nghĩa và bối cảnh của nó đều khác với ý nghĩa mà AD cứ cố tình tròng vào (cho tôi).

    – Nên bớt những từ “phủ đầu” và đanh đá đi, cho có chút lương thiện. Chẳng hạn những câu trả lời ngắn của tôi thì không cần phải gán cho là “la làng”, “than vãn” hay “ấm ức” làm chi. Nếu đúng như thế mọi người cũng khắc biết rồi. Lối “diễn ngôn” sính những từ ngữ cảm tính vô lối chỉ chứng tỏ được sự kém cỏi hoặc thù oán, được cố tình khỏa lấp bằng cách “cả vú lấp miệng em” mà thôi!

  8. Em Xinh viết:

    Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý: Anh Dũng quê em chưa về hưu nhưng có rất nhiều thời gian, mỗi ngày viết cả chục còm chưa là cái gì, nên chỉ mong có người tiếp chuyện ảnh. Bình thường ảnh thuyết trình ở các tổ hưu trí quanh địa bàn hoạt động, các cụ cứ “Ơ thế mà tôi tưởng” nên ảnh mất cảm hứng nghiêm trọng.

    Nay em đề nghị mỗi lần Anh Dũng của em ra sân khấu thì đồng bào im lặng nghe xong cho một tràng vỗ tay lịch sự tiễn biệt, chứ đừng hỏi với theo làm ảnh mất công ra ra vào vào nhiều lần, mỗi lần lại thêm một thuyết trình 10 điểm thì chết cả buổi diễn.

    Anh Tuấn Huy viết hay lắm rồi, em nhiệt liệt khuyên anh không chú ý 11 điểm của Anh Dũng quê em nữa nghen, cứ ô kê thanh kiu bai bai thôi.
    Anh Mai Sơn cũng vậy nhỉ, nếu không là hôm nay Anh Dũng quê em trích thêm câu “Phật tại tâm”, hôm sau các bạn Ủy ban Nhân dân Lâm Đồng treo khẩu hiệu “Phật tại tâm” ngay trước cửa chùa Phước Huệ xong bảo đồng bào tị nạn trong chùa về tị nạn tại tâm của đồng bào đấy. Tị nạn tại tâm hổng cần đăng kí tạm trú tạm vắng, hổng cần ai bảo lãnh mà.

    Bai bai anh Anh Dũng của em, theo anh mệt quá hà!

  9. Anh Dũng viết:

    Thưa bác Nguyễn Mai Sơn !

    1. Tôi viết rằng “nhà Phật dạy” chứ không viết “nhà Phật nói”. Cái “dạy” là diễn giải, xác minh, làm rõ nghĩa cho cái “nói” để tránh sự hiểu lầm, giáo điều. Và cái nguồn nhà Phật mà tôi gửi bác rõ ràng là một sự diễn giải, xác minh, làm rõ nghĩa đó thôi.

    2.
    3 và 6: Đúng là tôi đã hiểu sai về “chúng”. Tôi thành thật xin lỗi bác !

    4. Đó đúng là cái tôi muốn nhấn mạnh. Cảm ơn bác đã chia sẻ !

    5. “Một vị tăng mà bị đuổi về nhà sống thì cũng gần như không còn là tăng nữa.”

    GẦN NHƯ không có nghĩa là CHẮC CHẮN. Và như tôi đã giải thích: mục đích NGỘ tuy giống nhau nhưng phương tiện, đường tu thì có thể khác nhau. CHÚNG TĂNG được thì tốt, nhưng không phải bắt buộc hay duy nhất. Điều bắt buộc là phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật của nhà nước.

    Thêm nữa, “hồi gia” chỉ là tạm thời khi chưa hoàn thành thủ tục hành chính chứ không phải vĩnh viễn, còn chuyện “dứt pháp” thì không có bởi vì có nhiều đường tu cơ mà. CHÚNG TĂNG chỉ là một phương tiện trung gian, TĂNG chưa phải là PHẬT, chưa ngộ được hết.

    Cuối cùng, tôi e rằng bác Sơn và nhiều người chưa hiểu hết ý nghĩa của lời nói “Tăng ly chúng, Tăng tàn”. Vì tôi thấy:
    http://www.buddhismtoday.com/viet/phatphap/tanglychung.htm
    TRÍCH DẪN: “…Phật kêu gọi các tỳ-kheo lên đường lưu truyền chánh pháp vì vậy cũng nằm trong sự nối kết của tăng, trong mục đích chung của tăng già và đời sống như vậy là đời sống hòa hợp với bản thể của tăng. “Này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy đi, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của nhiều người; vì lòng thương tưởng thế gian; vì sự ích lợi, sự an lạc của chư thiên và nhân loại. Chớ đi với hai người cùng một đường.” …Xuất phát từ bản thể thanh tịnh và hòa hợp, mối liên hệ giữa cá nhân và tăng đoàn NỚI RỘNG PHẠM VI KHÔNG GIAN, DÙ CÓ ĐI ĐÂU Ở ĐÂU, là thành viên của trú xứ nào đi nữa thì cũng đều được nhiếp thủ thành thành viên của chúng tăng, của một thể thống nhất cùng một mục đích chung của đạo pháp…”

  10. Anh Dũng viết:

    Hãy xem ông Huy đang viết cái gì:

    1. ““Diễn giải” thêm về khác quan – chủ quan trong cưỡng bức cũng không xóa được việc không phân biệt nổi 2 tính cách của nó.”

    Ông quên rằng chính ông mới là người đầu tiên thích diễn giải giữa cưỡng bức chủ quan và cưỡng bức khách quan. Mặt khác tôi chưa bao giờ cố xóa bỏ sự phân biệt giữa hai tính cách đó.

    Tôi đã nói rằng tôi chỉ quan tâm đến việc: cái này gắn liền với cái kia, sự tồn tại của cái này kéo theo và lý giải cho sự tồn tại của cái kia.

    Vậy là: chỉ trong một luận điệu ngắn ngủi mà ông Huy đã kịp đổ cho tôi hai quan điểm sai lầm.

    2. “Cũng như vậy, việc “phân tích” chữ “nghiễm nhiên” càng chứng tỏ không phân biệt nổi nhà nước như một thực thể trải theo lịch sử, với nhà nước như một thể chế cụ thể.”

    Tôi chưa thấy ở luận điệu này ông Huy chỉ ra được tôi sai ở đâu. Tôi chỉ thấy ông Huy đang cố la làng rằng tôi kém.

    3. “…thì lại chỉ là sự không phân biệt nổi giữa thể chế với tính cách một hiện tượng xã hội của loài người, với thể chế với tính cách một xã hội cụ thể.”

    Ông Huy chỉ biết quy kết người khác không hiểu được sự phân biệt này nọ, hệt như cái luận điệu đầu tiên khi ông Huy quy kết tôi không hiểu gì về cưỡng bức khách quan-cưỡng bức chủ quan. Nhưng thực tế thì không những tôi hiểu được các sự phân biệt mà ông Huy muốn đề cập, mà tôi còn nhấn mạnh rằng: sự phân biệt dù có nhưng là không cần thiết trong trường hợp đang bàn luận về vụ việc tôn giáo này. Bởi vì, tôi xin nhắc lại với ông Huy lần thứ ba rằng: Tôi không cần quan tâm A khác B thế nào, tôi chỉ cần quan tâm rằng A và B gắn liền với nhau, rằng A tồn tại thì B tồn tại, và ngược lại.

    VÍ DỤ: ông Huy bảo rằng “bảo an” với “trị an” là “hai mặt của một vấn đề”, tức là chúng phải gắn liền và đi cùng nhau. Vậy thì nếu ông Huy nhắc tới “bảo an” thì cũng là thừa nhận sự tồn tại của “trị an” rồi; ngược lại, khi tôi đề cập “trị an” thì cũng là thừa nhận sự tồn tại của “bảo an”. Và cái TỒN TẠI của cả hai đối tượng là điều tôi quan tâm, chứ không phải cái PHÂN BIỆT giữa hai đối tượng đó.

    Tôi nhấn mạnh sự TỒN TẠI thì ông Huy lại mang cái PHÂN BIỆT ra để thao thao bất tuyệt cứ như thể chỉ có mình ông biết. Thật vô nghĩa !

    3. Ông Huy đính chính những câu chữ của tôi “con người lập ra thể chế, thể chế chế định con người” bằng những câu chữ của ông “CON NGƯỜI ĐỊNH (RA THỂ) CHẾ NHƯNG THỂ CHẾ CHẾ ĐỊNH CON NGƯỜI”

    Cái LẬP của tôi chẳng có gì khác với các ĐỊNH của ông cả. Ngoài con người ra thì không một lực lượng nào khác có thể tham gia LẬP hay ĐỊNH gì đối với thể chế cả. Rõ ràng là tôi không bóp méo, nhào nặn quan điểm của ông Huy. Còn câu “người dân Việt Nam lập ra nhà nước Việt Nam, nhà nước Việt Nam chế định người dân Việt Nam” thì không có gì là sai và không có gì mâu thuẫn với câu của ông Huy.

    Phải chăng ông Huy ấm ức vì tôi không dập khuôn câu chữ mà vẫn giữ nguyên vẹn nội dung quan điểm của ông ?

    Cuối cùng, “AD xem 10 con số ở mỗi ý của mình là “10 luận điểm” chỉ càng chứng tỏ việc không phân biệt nổi đến cả những điều nhỏ nhặt nhất trong lý luận.”

    Tôi chỉ thấy ông Huy đang cố la làng rằng tôi kém cỏi mà thôi. Ông không có một lý lẽ, lập luận nào để phản bác lại mà cứ trích dẫn người khác rồi chỉ căn cứ vào trích dẫn đó để kết luận người ta kém cỏi, thiếu hiểu biết này nọ.

    Rõ ràng là ông Huy rất tùy tiện, nhảm nhí.

  11. Tam Tue Duc viết:

    Bác Anh Dũng ạ,

    Xin cám ơn bác đã đại diện chân chính cho tư duy, cái nhìn nhận và tiếng nói của đa số Đảng viên trong hệ thống chính trị trong chế độ hiện tại này của VN cũng như Trung Quốc mà nhất là bên Ban tôn giáo và công an tôn giáo các cấp từ TW đến địa phương. Tư duy là nền tảng của hành động. Có hệ thống tư duy trong đảng như bác thì mới xảy ra pháp nạn Bát Nhã như hiện nay.

    Còn nỗi đau nào hơn cho đất nước và nhân loại.

    Tuy vậy tôi có rất nhiều niềm tin nên thế hệ trẻ, nhất là thế hệ tăng ni trẻ tu tập vững vàng như tăng thân Làng Mai. Xin mời bác Dũng đọc bài “phép lạ tăng thân” và nghe thêm các bài giảng về xây dựng cộng đồng tu tập chung nhất là của thầy Nhất Hạnh để hiểu thêm lý do tại sao nên làm việc như một tổ ong hay tổ kiến, đi như một dòng sông. Tôi có tu tập và tôi hiểu, tôi tin ở tăng thân lắm. Có lẽ đồng chí không nằm trong hoàn cảnh của tăng thân nên ý kiến của đồng chí có nhiều sai lệch lắm ạ.

    Kính thư

  12. Lê Tuấn Huy viết:

    Về trả lời của AD ở comment 08/10/2009 lúc 1:33 sáng:

    – Chỉ càng chứng tỏ một thứ kiến thức chính trị VỠ LÒNG ĐÃ BỊ TẦM THƯỜNG HÓA, vì càng tỏ ra không hiểu gì về việc phân biệt những phạm vi, tính cách khác nhau của các khái niệm và đối tượng: “Diễn giải” thêm về khách quan – chủ quan trong cưỡng bức cũng không xóa được việc không phân biệt nổi 2 tính cách của nó. Cũng như vậy, việc “phân tích” chữ “nghiễm nhiên” càng chứng tỏ không phân biệt nổi nhà nước như một thực thể trải theo lịch sử, với nhà nước như một thể chế cụ thể.

    – Tương quan giữa con người và thể chế không có gì mà phải “thích” hay không thích (theo lối sính “diễn ngôn” cảm tính), nó là luận điểm khách quan mà chắc chắn không một nhà lý luận biện chứng nào bác bỏ. Nhưng từ đó suy diễn thành “người dân Việt Nam lập ra nhà nước Việt Nam, nhà nước Việt Nam chế định người dân Việt Nam” thì lại chỉ là sự không phân biệt nổi giữa thể chế với tính cách một hiện tượng xã hội của loài người, với thể chế với tính cách một xã hội cụ thể.

    – Câu chính xác của tôi là CON NGƯỜI ĐỊNH (RA THỂ) CHẾ NHƯNG THỂ CHẾ CHẾ ĐỊNH CON NGƯỜI (trong một entry của Mr. Do hồi blog 360, liên quan trực tiếp đến Trương Thái Du và Phạm Toàn), chứ không phải “con người LẬP ra thể chế…”. Bóp méo phát biểu của người khác rồi nhào nặn, hòng chứng minh cho tính chính đáng trong lập luận của mình, là XẢO BIỆN. Điều đó cũng chỉ cho thấy rằng AD còn chưa thể hiểu nổi biện chứng này và ý nghĩa của nó thì đã vội dùng như công cụ cho sự độc đoán.

    – AD xem 10 con số ở mỗi ý của mình là “10 luận điểm” chỉ càng chứng tỏ việc không phân biệt nổi đến cả những điều nhỏ nhặt nhất trong lý luận.

  13. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa bác Anh Dũng,
    Xin thưa lại với bác mấy điểm sau.

    1. Bác dẫn nguồn phát biểu về câu nói dân gian “Thứ nhất là tu tại gia…”, là bác thừa nhận đó là “sáng tạo dân gian”. Và tôi cũng đã nói ở ý kiến trước: vì không có tác giả nên có sự “suy luận khác nhau”.

    2. Từ “ta” mà bác thắc mắc: tôi xin lỗi bác đã không bỏ câu nói đó vào trong ngoặc kép của nguyên câu trích lời quý thầy nói. Nếu ai từng nghe quý thầy giảng thì sẽ bắt gặp từ “ta” (chúng ta) này.

    3. “Tăng ly chúng Tăng tàn”, từ “chúng” trong văn cảnh này là “chúng tăng” chứ không phải là “quần chúng” đâu thưa bác. “Chúng” (Samgha): Tăng già, tức nhiều người tu hành hoà hiệp với nhau. Có chín bộ chúng tu hành: tỳ kheo (thọ 250 giới), tỳ kheo ni (thọ 348 giới), Thức xoa ma na (những người nữ đã học đầy đủ giới tỳ kheo chuẩn bị thọ tỳ kheo), sa di (những người nam thọ 10 giới), sa di ni (thọ 10 giới), xuất gia Ưu bà tắc (người nam thọ 8 giới), xuất gia Ưu bà di (người nữ thọ 8 giới), tại gia Ưu bà tắc (người đàn ông thọ 5 giới), tại gia Ưu bà di (người đàn bà thọ 5 giới).

    4. Nếu bác muốn sử dụng từ “quần chúng” đế nói Phật giáo không thể rời xa họ thì trong Nhà Phật có câu: “Phật giáo bất ly thế gian giác” [Phật giáo không rời (các pháp) thế gian mà có được sự giác ngộ].

    5. Câu tôi dẫn “Tăng ly chúng tăng tàn” để nhấn mạnh lời ông Lê Tuấn Huy nói về nạn “hồi gia và dứt pháp”. Một vị tăng mà bị đuổi về nhà sống thì cũng gần như không còn là tăng nữa. Chính cái từ “xuất gia” đã nói rõ cái việc phải rời bỏ các sinh hoạt đời sống như thế tục. Tôi nói điều này trong tình thế tu sinh Bát Nhã bị ép buộc phải trở về nhà do một lực lượng vừa công an, vừa côn đồ làm. Còn bản thân những người tu đã “Ngộ” như bác nói, thì với họ nhà hay chùa hay gì đó cũng không mấy ý nghĩa, khó mà ràng buộc được họ. Nghĩa của khái niệm “Xuất gia”: 1. Xuất thế tục gia, 2. Xuất phiền não gia, 3. Xuất Tam giới gia (Tam giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới).

    6. Như vậy, tôi đang nói rất đúng lời nhà Phật. Xin bác lưu ý cụm từ “làm trái lời dạy” dành cho tôi (tôi cho là nặng) thưa bác Anh Dũng.

  14. Tôn Văn viết:

    Kính thưa tác giả Nguyễn Mai Sơn,
    Xin chia sẻ (riêng) cùng ông về ý nghĩa câu ca dao dân gian: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”.
    – Ông đã dẫn đúng; câu đó bao gồm sự tu Tâm (tại gia), Khẩu (ngoài chợ) và Ý thức (tu Chùa). Nếu nói “thứ nhất…, thứ hai…, thứ ba…” là không hiểu hết ý nghĩa câu ca dao. Ngoài ý xác đáng mà ông nêu, câu ca dao đã thấu triệt lời Phật dạy rằng người tu cần khắc Tâm “Tứ trọng ân”: “Ơn cha mẹ, ơn Thầy Tổ, ơn Tổ quốc và ơn chúng sinh” và “ngày Vu lan là dịp tôn vinh những ân tình ân nghĩa ấy”: Thờ Cha kính Mẹ, ấy là chân tu!
    – Nhân sự kiện Bát Nhã Lâm Đồng (tôi đang suy nghĩ về “Pháp nạn”), cũng xin bàn thêm về khái niệm “Tăng tàn”. Ý nghĩa của nó là các điều giới luật mà nguời tu hành (tăng ni) phạm phải thì công đức tu bị tổn hại; đó là các giới rất nặng – thuộc về nội bộ tăng-già (Tăng chúng). Sự kiện Bát Nhã Lâm Đồng thực chất là việc “tàn (phá) Tăng (chúng)” cả từ trong lẫn từ ngoài giáo đoàn Phật giáo. Sự tàn phá bất cứ từ phía nào (hay từ cả 2 phía) đều gọi là “Pháp nạn”. Để đánh giá việc “tàn phá Tăng”, xin dẫn các tội mà nhà Phật coi là nặng nhất của một con người. Có 5 tội nặng: 1- Giết mẹ, 2- Giết cha, 3- Giết A la hán, 4- Phá hòa hợp tăng, 5- Do ác làm cho thân Phật chảy máu (Bà sa, quyển 19, Đại chính, 27, tr. 619, thượng). “Tựu trung, nói theo lập trường của Phật giáo, phá hòa hợp tăng, vì là phá hoại Giáo Hội, nên là ác nghiệp lớn nhất.” (http://www.phatviet.com/dichthuat/luantang/ttpgttl/ttpgttl_25.htm).
    – Tôi đọc “phóng sự” của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân và rất buồn; không chỉ cho Phật giáo mà cho đất nước và con người Việt nói chung.

  15. Anh Dũng viết:

    Xin nói thêm với bác Nguyễn Mai Sơn về lời dạy “Tăng ly chúng, Tăng tàn”:

    Đức Phật kêu gọi: “Này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy đi, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của nhiều người; vì lòng thương tưởng thế gian; vì sự ích lợi, sự an lạc của chư thiên và nhân loại. Chớ đi với hai người cùng một đường.”

    Đức Phật kêu gọi các Tỳ-kheo (tu sinh) rằng HÃY ĐI cơ mà, chứ không kêu gọi rằng HÃY TỤ TẬP. Hơn nữa, còn phải đi một cách phân tán.

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>