talawas blog

Chuyên mục:

Hoàng Hưng – Thư ngỏ gửi các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam về vụ 400 tu sĩ Bát Nhã bị khủng bố

28/09/2009 | 2:16 chiều | 65 Comments

Tác giả: Hoàng Hưng

Category: Chính trị - Xã hội, Tôn giáo
Thẻ: >

Kính gửi các ông:

–          Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước CHXHCNVN

–          Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCNVN

–          Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCNVN

Trước nhất, vì sự cấp bách của tình hình, tôi xin các vị thông cảm việc tôi bắt buộc dùng hình thức Thư ngỏ này để hy vọng tiếng nói chân thành của mình kịp đến tai các vị, mong nhờ thế mà một kiếp nạn thê thảm của Phật giáo nước nhà có thể được hoá giải vào phút chót, và danh dự của Nhà nước Việt Nam được cứu vớt trước nhân dân Việt Nam và cộng đồng thế giới.

Tôi là Hoàng Hưng, công dân Việt Nam, 68 tuổi, nhà báo tự do (đã về hưu sau trên 30 năm phục vụ trong hệ thống báo chí của Nhà nước), làm thơ và dịch sách, một người có thời gian tìm hiểu về đạo Phật và thực tế của nó trong nước và thế giới. Tôi rất đau lòng trước tin tức những vụ phá phách tu viện Bát Nhã, bức hại tu sĩ và tu sinh ở đó liên tục truyền đi khắp thế giới trong mấy tháng qua.

Cho đến ngày hôm qua, 27 tháng 9 năm 2009, bi kịch đã lên đến đỉnh cao, trở thành tấn thảm kịch chưa từng có trong lịch sử Phật giáo Việt Nam dưới chế độ do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Theo tin tức trên mạng và đài phát thanh các nước, khoảng 150 tên “côn đồ”, trước sự chứng kiến, thậm chí còn được cho rằng có sự hỗ trợ, của công an, đã xông vào phá các nơi ở của gần 400 tu sĩ và tu sinh ở tu viện Bát Nhã, quăng kinh kệ đồ đạc của họ ra ngoài trời mưa tầm tã, lôi kéo xua đuổi họ, cưỡng ép họ lên xe để trục xuất. Trong quá trình ấy đã có những tu sĩ bị đánh đập dã man, một số người ngất xỉu phải đi cấp cứu. Hiện nay, số còn lại, tất cả là nữ tu, trên 300 nữ tu đang sống trong sự sợ hãi, chưa biết số phận mình ra sao, khi những kẻ khủng bố tuyên bố chỉ cho họ 2 ngày để ra khỏi tu viện, nếu không sẽ gặp nguy hiểm tính mạng.

Kính thưa các vị,

Tôi không thể tin được rằng một việc bất nhân, tàn bạo tầm cỡ như thế có thể ngang nhiên xảy ra trên một đất nước có pháp luật, có sự lãnh đạo toàn diện và triệt để của một Đảng luôn tự khẳng định mình là đại diện cao quí của nhân dân. Nhất là, theo các chứng nhân nói trên các phương tiện truyền thông, mọi lời kêu cứu đến lãnh đạo của tỉnh Lâm Đồng, huyện Bảo Lộc, đều bị lạnh lùng từ chối.

Tôi được biết đại đa số tu sĩ và tu sinh ở Bát Nhã là những nguời trẻ, tuổi từ 18 đến 35, không ít người trong đó là con em các gia đình cách mạng, Đảng viên, cán bộ, một số người bản thân đã là cán bộ nhân viên nhà nước. Họ đã tu hành yên lành trong 3 năm ở Bát Nhã. Các vị có trách nhiệm cao nhất của Giáo hội Phật giáo Lâm Đồng cũng như Trung uơng đều công khai xác nhận họ tu hành nghiêm chỉnh, không hề chống đối Giáo hội hay chính quyền.

Vậy mà suốt mấy tháng nay, họ đã liên tục phải chịu những sự bức bách không thể hình dung của những thế lực hung tàn: chỗ tu hành ăn ở bị phá, bị vây hãm đe dọa điên cuồng, bị ngăn chặn tiếp tế lương thực, bị cắt điện nước. Lời kêu cứu của họ đã liên tục truyền đi khắp thế giới, không hiểu có đến tai các vị?

Sau khi nêu hết lý do này đến lý do khác, tất cả đều là những lý do hết sức thiếu thuyết phục, để giải thích việc trục xuất và cắt điện nước đối với 400 người tu ở Bát Nhã, những thẩm quyền cấp dưới của các vị cuối cùng chỉ còn đưa ra một lý do: họ không còn được ông Đức Nghi, chủ hộ tu viện Bát Nhã, chấp nhận cư trú, vì vậy họ phải bị trục xuất.

Các cấp thẩm quyền này làm như không cần biết lịch sử của vấn đề: theo nhiều bằng chứng được truyền trên mạng, chính ông Đức Nghi đã mời những tu sĩ này đến tu viện của mình, đã tự tay làm lễ quy y, thí phát cho hàng trăm tu sinh, coi họ là đệ tử, đã nhận tiền (hàng triệu đô la) để mua đất, xây nhà cho những người tu này và tổ chức cho họ tu tập.

Chẳng lẽ chỉ vì sự trở mặt của ông này mà chính quyền ủng hộ ông ta xua đuổi 400 đệ tử của mình bằng những biện pháp vô cùng thất nhân tâm, vi phạm luật pháp như thế sao?

Có phải vì ông Đức Nghi đã hối lộ một số quan chức có trách nhiệm để được giúp đỡ nhằm chiếm đoạt đất đai nhà cửa (hàng chục hec ta đất, nhiều toà nhà lớn), như những phỏng đoán được truyền trên mạng và trong giới Phật giáo?

Hay, có phải một số quan chức có quyền, vì căm tức Thiền sư Nhất Hạnh đã có những lời xúc phạm đến họ mà ra tay xua đuổi bằng được 400 đệ tử của ông này, như một số người  nêu lên trên các phương tiện truyền thông?

Nếu không phải như thế, thật khó mà giải thích những sự kiện đau lòng đã và đang xảy ra ở Bát Nhã, những sự kiện khiến Phật tử hoang mang, người có lương tri phẫn nộ, người có lòng cảm thương vô hạn những con em vô tội của dân mình lâm nạn mà bó tay không biết làm gì để cứu họ.

Vì thế, tôi không cầm nổi lòng mình, buộc phải viết thư này gửi đến các vị, mặc dù biết rằng có thể sẽ gây thù chuốc oán với một số người, có thể gặp khó khăn nguy hiểm cho chính bản thân. Nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận mọi gian nguy cho bản thân, chỉ mong tiếng nói nhỏ nhoi này đến được tai các vị.

Xin các vị rủ lòng thương đến con em của nhân dân Việt Nam, trực tiếp đứng ra xem xét và giải quyết khẩn cấp vụ này một cách công bằng, có tình có lý, để người dân Việt Nam và công luận quốc tế tin rằng Nhà nước Việt Nam thực sự tôn trọng con người, thực sự thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.

Kính thư

TPHCM ngày 28/9/2009

Hoàng Hưng

Bình luận

65 Comments (bài “Hoàng Hưng – Thư ngỏ gửi các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam về vụ 400 tu sĩ Bát Nhã bị khủng bố”)

  1. Phùng Tường Vân viết:

    Thư của GS Nguyễn Lang.

    GS Nguyễn Lang, nếu tôi không nhầm, chính là một bút hiệu khác của Thiền Sư Nhất Hạnh, tôi không hiểu được chỗ dụng ý ấy của ngài, mong vị nào có kiến giải về điều này soi sáng cho, tôi rất cảm ơn.

  2. Hoà Nguyễn viết:

    Góp ý với ông Huỳnh Phan.

    Tôi viết hai lần về thiệt hại của thành phố Bến Tre trong vụ Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Trong cả hai lần, tôi đều nói Bến Tre thiệt hại rất nặng, và một lần nói rõ phần thiệt hại ở Bến Tre nặng (chỉ) “sau Huế, Sài Gòn”.

    Lúc đó, tôi ở Sài Gòn, từng chứng kiến những dẫy nhà bốc cháy, nhiều tòa nhà gạch cao đổ nát như trong ảnh đưa ra ở đây, và còn hơn thế nhiều, không phải ngay tại trung tâm thành phố SG, mà ở vùng Chợ Lớn, ở quanh ngoại ô, hay ở vùng Hàng Xanh trong đợt tấn công lần thứ hai năm 1968. Tôi thấy tận mắt cảnh cành xưởng dệt Vinatexco (Bà Quẹo), lớn nhất, đẹp nhất, và tân tiến nhất của miền Nam thời đó, bị Mỹ dội bom hư hại nặng. Hình ảnh đó so với mấy tấm ảnh ông Huỳnh Phan đưa ra khác nhau nhiều lắm. Và bây giờ nếu muốn tìm xem lại chắc cũng không khó.

    Nhưng tại Sài Gòn, tôi chưa nghe (cũng có lẽ vì ít được nghe tận tai) những lời oán trách là Mỹ đã gây ra và hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại đó đối với người dân VN. Dường như nhiều người hiểu là Mỹ dội bom (thật sự đã bắn rocket nhiều hơn) vào căn nhà, toà nhà nào đó là vì bên trong có VC bắn ra, hay đang trú ẩn. Tôi chưa nghe ai nói họ tức giận Mỹ vì Mỹ dội bom làm cháy nhà cửa họ, và làm chết thân nhân, bạn bè họ. Tôi thấy nhiều sự đau buồn, ở khắp nơi tôi đi qua, nhưng không thấy sự tức giận trên mặt nhiều người. Tôi nói rõ là tôi chưa nghe, chưa thấy, chứ không nói là không có.

    Tôi nghĩ ở Huế (và ở SG) sự oán trách của người dân không hướng về phía Mỹ hay lính VNCH.

    Nhiều người biết, sau Tết Mậu Thân, Mỹ đền bù những thiệt hại về vật chất cho người dân, đủ để họ xây dựng lại nhà cửa đã mất. Tất nhiên, người chết thì không nhận được gì.

    Tôi muốn nói rõ lại phản ứng của người dân thường ở miền Nam không phải là tức giận đối với Mỹ. Trong lúc đó, TT Nhất Hạnh đang ở Mỹ nếu tôi không lầm, không chứng kiến tận mắt những cảnh chết chóc, thiệt hại, và không biết rõ nguyên cớ gây ra, đã “angry” như lời Thượng Toạ viết. Nhưng tức giận ai? Cứ theo cách viết thì chính là Mỹ: “để trả đũa vài du kích bắn máy bay Mỹ nhưng không trúng, Mỹ dội bom lên toàn bộ thành phố Bến Tre, và hủy diệt nó”. Tức giận vì coi đó là hành động ngu dốt, điên cuồng, và tàn ác (gợi lại hình ảnh của vụ Mỹ Lai với tầm lớn hơn).

    Tôi chưa đọc được môt tu sĩ Phật giáo thời đó đã thấy tận mắt những cảnh tàn phá, chết chóc trong Tết Mậu Thân, nói rằng họ đã tức giận vì những chuyện xảy ra như thế là do Mỹ gây nên. Thứ nhất, tức giận, là một trong ba Tam Độc của giáo lý đạo Phật, ít thấy nhà tu hành nào nói ra là mình đã rơi vào đó. Thứ hai, nguyên nhân của tàn phá, không thấy ai đổ lỗi hết cho Mỹ. Và có thể họ thấy nhiều người, nhiều phe có lỗi trong vụ đó. Hay là lỗi ở cái vô minh nói chung của con ngưới, nếu nhìn theo quan điểm Phật giáo. TT Nhất Hạnh đã tức giận và đổ hết lỗi cho Mỹ.

    Tôi thật không muốn bàn gì nữa, chỉ xin talawas cho tôi post góp ý này. Nói nữa sợ sẽ lại dẫn đến chỗ lời qua tiếng lại, không hay và vô bổ.

  3. Huỳnh Phan viết:

    Xin được phép bàn chuyện ngoài lề một tí nữa.

    Hoà Nguyễn: “… Ngay cách viết ‘U.S. bombed the entire city’ hay Bến Tre đã bị ‘destroyed’ là cách nói thái quá đến mức nội dung không còn đáng được tin, hay đáng bị chỉ trích.”

    Xin giới thiệu chùm ảnh (35 tấm) của Papa Sharky chụp khu vực nội ô (khu chợ) đến khu vực ngoại ô thị xã Bến Tre ngay sau Tết Mậu Thân 1968 để mọi người cùng thấy phần nào sự thật về mức độ huỷ diệt:

    http://news.webshots.com/album/559749434TAVFqi

    Không có không ảnh nên cũng hơi khó đánh giá mức độ “destroyed” thế nào và lúc đó Mĩ chỉ dùng bom thường và bom xăng (không dùng bom nguyên tử) nên hậu quả chắc chắc không thể như trường hợp thành phố Hiroshima hay Nagasaki của Nhật. Ngoài những khu vực bị huỷ diệt gần như hoàn toàn như thấy trong ảnh, trong thị xã vẫn còn một số khu phố, cụm nhà, trường học, bệnh viên,… nhất là khu vực trại lính, trại cảnh sát, toà hành chánh… không bị bom mà chỉ bị hư hại ít nhiều do đạn, mãnh pháo… thôi (hiếm có nhà nào còn nguyên vẹn). Do đó, nếu nói “chính xác” như ý ông HN thì rõ ràng Mĩ không bỏ bom “the ENTIRE city” và “the city was not TOTALLY destroyed”! Còn dân Bến Tre, tôi tin là những ai đã từng chứng kiến đều thấy cách nói của TS NH không có gì là quá đáng và không xa sự thật là bao.

  4. Phạm Quang Tuấn viết:

    Nguyễn Mai Sơn nói: “Phật giáo nếu có trở về địa vị quốc giáo thì chắc cũng không có những “mệnh lệnh” (“bất tuân lương giáo” rất đặc thù của “gia đình trị” Ngô Đình Diệm như những trích dẫn trên).”

    Câu này cho thấy lòi cái đuôi Giao Điểm!

  5. Vũ Quang Khải viết:

    THÁI ĐỘ GÌ LẠ VẬY?

    – Hoà Nguyễn viết: “Thư của TT nhất Hạnh xuất hiện trên báo Mỹ, dưới hình thức đăng quảng cáo, tức phải trả tiền, và truyền thông Việt ngữ lúc đó đã căn cứ vào bản viết này.”

    * Hoà Nguyễn có bằng chứng gì để xác định: “Thư của TT Nhất Hạnh xuất hiện trên báo Mỹ, dưới hình thức đăng quảng cáo, tức phải trả tiền”? Báo nào của Mỹ? Đăng ngày nào? Ở trang nào? Ai gửi đăng dưới hình thức quảng cáo? Ai trả tiền?
    XIN NHẤN MẠNH: ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT BỨC THƯ. ĐÓ LÀ BÀI NÓI CHUYỆN CỦA THIỀN SƯ NHẤT HẠNH TẠI RIVERSIDE CHURCH, NEW YORK, NGÀY 25/9/2001.
    * Hoà Nguyễn có bằng chứng gì để xác định nội dung của bài nói chuyện ấy là có nói đến việc máy bay Mỹ tàn sát 100.000 người?

    ________
    – Hoà Nguyễn viết: “giá trị bản in trên báo mới đáng kể, tức dùng dể bàn gì ở đây, vì truyền thông đã căn cú vào bản đó khi phê bình thư của TT NH.”

    * Xin Nguyễn Hoà trưng ra bản in trên báo ấy để chứng minh lời kết án của Nguyễn Hoà đối với thiền sư Nhất Hạnh. Nếu không chứng minh được, thì hành động của Nguyễn Hoà hiển nhiên là CHỤP MŨ.

    ________
    – Hoà Nguyễn viết: “Mướn đăng báo là điều TT NH đã làm, còn đọc ghi audio để dùng phát thanh trên đài thì không thể thực hiện ở Mỹ.”

    * Hoà Nguyễn hãy trưng ra bằng chứng rằng đó là một “bức thư” được “mướn đăng báo”.
    * Hoà Nguyễn nói sai sự thật. SỰ THẬT LÀ:
    BÀI NÓI CHUYỆN ẤY ĐÃ ĐƯỢC THU ÂM TẠI CHỖ VÀ ĐƯỢC PHÁT THANH TRONG NGÀY 25/9/2001 TRÊN MỘT SỐ ĐÀI RADIO Ở NEW YORK VÀ CÁC NƠI KHÁC.

    ________
    – Hoà Nguyễn viết: “Cách làm sáng tỏ duy nhất là tìm ra bản in trên báo năm 2001.”

    * Như thế thì chính Hoà Nguyễn xác nhận rằng Hoà Nguyễn chưa có bằng chứng “sáng tỏ”. NHƯNG TRƯỚC KHI CÓ BẰNG CHỨNG SÁNG TỎ, HOÀ NGUYỄN ĐÃ KẾT ÁN THIỀN SƯ NHẤT HẠNH .
    Và bây giờ, Hoà Nguyễn lại đòi hỏi người khác “làm sáng tỏ”?

    ________
    HOÀ NGUYỄN CÓ BAO GIỜ TỰ HỎI THÁI ĐỘ CỦA HOÀ NGUYỄN LÀ THÁI ĐỘ VĂN HOÁ GÌ?
    ĐÓ CÓ PHẢI LÀ THÁI ĐỘ CỦA MỘT CON NGƯỜI BIẾT TỰ TRỌNG VÀ BIẾT TÔN TRỌNG LẼ CÔNG BÌNH, LẼ PHẢI?

  6. Lê Anh Dũng viết:

    Chuyện trước mắt bị biến mất trong những trao đổi về những chuyện xửa xừa xưa. Các đồng chí pháo thủ, xin điều chỉnh lại ngay lập tức.

  7. Phạm Quang Tuấn viết:

    Nguyễn Hòa nói: Thích Nhất Hạnh nói là Mỹ làm chết 100000 người ở Bến Tre.

    Nguyên Khôi nói: Thích Nhất Hạnh KHÔNG nói là Mỹ làm chết 100000 người ở Bến Tre. Và đưa ra bài ghi âm năm 2001 làm bằng cớ.

    Nguyễn Hòa nói: “Cách làm sáng tỏ duy nhất là tìm ra bản in trên báo năm 2001.”

    Nhưng Nguyễn Hòa không tìm được bản trên báo. Như vậy tức là, theo ông Hòa, chuyện sẽ không bao giờ sáng tỏ, và không tìm được bằng cớ TNH không nói câu đó tức là vẫn có thể là TNH nói câu đó!

    Thật là một lối lý luận kỳ lạ, kiểu như: không tìm được con voi biết bay tức là vẫn có thể có con voi biết bay! Ông Hòa cãi chày cãi cối cho cố mà còn đổ cho người khác làm lạc đề.

  8. Nguyễn Mai Sơn viết:

    @ 1mitee

    Trong cuốn sách “Linh đại La Vang” của Linh mục Xitanilaô Nguyễn Văn Ngọc (Nguyệt san Trái tim Đức Mẹ tái bản, Hoà Kỳ 1978), chương IV có viết: “Đến ngày 18-12-1960 Hội đồng Giám mục Việt Nam đã tổ chức một lễ tạ ơn long trọng tại nhà thờ Chánh Toà Sài Gòn có chính phủ VNCH tham dự. Chính hôm ấy, HĐGM đã quyết định lại việc dâng hiến Tổ quốc cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ…”. Tổ quốc ấy đâu phải của riêng HĐGM và thiểu số Công giáo?

    Ngày 20-7-1961, Đức cha Ngô Đình Thục, Tổng Giám mục Huế viết như sau: “La Vang là của chung của toàn thể quốc dân Việt Nam, cả lương lẫn giáo. Quốc dân có quyền đòi hỏi cho biết công việc mỗi ngày xúc tiến thế nào, nên cần ít nhất một nguyệt san đăng tin sốt dẻo cho thấu các làng mạc về công trình đang thực hiện ở đó, để phụ công giúp của vào việc chung. Ai nấy chỉ có một mục đích duy nhất là làm sao dâng cho mẹ một ngôi nhà vừa ý”.

    >> Xin lưu ý đất La Vang cũng là đất chùa Lá Vằng, trong Vãn La vang có những câu thơ sau để chỉ việc vì sao chùa Lá Vằng biến thành thánh đại La Vang: “Bà vào bà đánh tứ tung/ Bao nhiêu thần Phật đều tung ra ngoài/ Tiếng bà thật đã linh oai/ Lư hương bát nước đền đài đều hư” (“Bà”: chỉ quyền phép của Đức Mẹ).

    Cuốn sách trên cũng cho biết Đại hội La Vang được tổ chức trong 6 ngày liên tiếp, mỗi ngày được dành riêng cho mỗi việc khác nhau: Ngày các Bà Mẹ, ngày các bệnh nhân, ngày các công chức, ngày Giáo hội thầm lặng, ngày Công giáo Tiến Hành và Quân đội, ngày cầu nguyện cho Tổ quốc. Và “các ngài đã quyết định dâng riêng cho Đức Mẹ một đền thờ để nhớ ơn Đức Mẹ bảo trợ ban cho Giáo hội chiến thắng được địch quân, đức tin được bênh vực, đất nước được thống nhất và hưởng lại tự do”.

    >> Xin lưu ý cụm từ “thống nhất và hưởng lại tự do”.

    Điều đáng nói, sau khi đọc bản dịch Sắc chỉ của Toà thành nâng đền thờ Đức mẹ La Vang lên bậc Tiểu Vương cung Thánh đường xong, Đức Tổng Giám mục Huế tuyên bố: “Kể từ nay (22-8-1961) Vương Cung Thánh Đường và khu vực La vang là nhà của Mẹ, đất của Mẹ, là trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc”.

    “Tổng cộng chi tiêu: 2.054.200$. Quỹ còn lại 1.187.747$. Số tiền này không đủ vào đâu với cộng tác dự trù, nên tuân lời khuyên dạy trong thư chung của Đức Giám mục đề ngày 8-8-1961 tại Đà Lạt về việc kêu gọi mọi người bất tuân lương giáo, kẻ nhiều người ít góp phần vào công việc trọng đại này… kính xin: các cơ quan đoàn thể của chính quyền, các tu viện nam nữ trong nước, các hội đoàn trong Công giáo Tiến Hành, các tư gia bất luận lương giáo hoặc riêng từng cá nhân, hoặc chung sức nhiều người. mỗi đơn vị bảo trợ cho một công tác của trung tâm Thánh Mẫu”.

    >> Phật giáo nếu có trở về địa vị quốc giáo thì chắc cũng không có những “mệnh lệnh” (“bất tuân lương giáo” rất đặc thù của “gia đình trị” Ngô Đình Diệm như những trích dẫn trên).

    >> Nếu ông/bà 1mitee không đặt những điều này trong bối cảnh gia đình trị Ngô Đình Diệm thì không bao giờ biết được người Phật tử phải hành động như thế nào trước những áp đặt, chèn ép và đàn áp dã man của chính quyền Ngô Đình Diệm sau đó (1963 là đỉnh điểm). Xin lạc đề về chuyện “gia đình trị” một chút để xem “gia đình trị cộng sản” có bảo trợ cho một tôn giáo nào hành xử như vậy không. Có ông sư quốc doanh, ông linh mục quốc doanh nào dám cao ngạo tuyên bố dâng tổ quốc cho thần Phật hay biến một cơ sở tôn giáo của mình thành “của toàn quốc” không?

    >> Ông/bà 1mitee dựa vào lời nói của một “chú ấy” và tố cáo của ông Nguyễn Phúc Liên Thành để kết án Trí Quang là chưa thuyết phục. Cũng xin nói thêm, ông Lý Khôi Việt đã qua đời.

  9. Nguyên Khôi viết:

    Thưa ông Hoà Nguyễn,

    Ông đã nghe đoạn audio tôi cung cấp chưa? Nếu chưa, vui lòng dành ít phút làm việc này. Nếu rồi, vui lòng phân biệt sự khác biệt giữa âm thanh trong phòng (thu lại) và âm thanh được thu live. Nếu ông không có khả năng phân biệt âm thanh thì thôi vậy. Vả lại, ông đưa ra những chữ “nếu” để vô giá trị hoá cái audio clip tôi cung cấp nhưng ông không hề có một bằng chứng nào để xác định rằng nó thâu trước hay sau khi có “bài viết” (sic, lại “bài viết”) hoặc chứng minh rằng nó đã được sửa đổi và không có giá trị cả. Những điều ông phản biện chỉ dựa vào suy diễn và dựa trên nền tảng conspiracy và không có lấy một mẩu chứng cứ. Đối với tôi, những phản biện của ông không hề thuyết phục và chẳng có giá trị gì cả.

    Chuyện rành rành như thế mà vẫn còn “tin” vào những “sự thật” nào khác thì bảo sao không có những cái đầu chỉ biết tin và gật?

  10. Hoà Nguyễn viết:

    Tôi nghĩ Thư Ngỏ của ông Hoàng Hưng đã bị lái qua chuyện khác, hay làm nhiễu, thật là điều đáng tiếc. Nhưng cần nói rõ vài điều.

    1/ Thư của TT Nhất Hạnh xuất hiện trên báo Mỹ, dưới hình thức đăng quảng cáo, tức phải trả tiền, và truyền thông Việt ngữ lúc đó đã căn cứ vào bản viết này. Bây giờ thấy có 3 dị bản (hai bàn do ông Nguyên Khôi đưa ra, và tôi đưa thêm sau đó một bản), nên không chắc bản nào đúng, tức là bản đã dùng in trên báo năm 2001.

    Bản ghi âm (audio) cũng chỉ là một dị bản nữa, và không biết chắc đã thu âm vào lúc nào, thu trước hay thu sau bản in trên báo. Nếu nội dung bản audio có chỗ khác bản viết, và thu sau, thì nội dung này đã bị sửa lại (có thể sau khi bị báo chỉ trích). Nếu chứng minh được nó có trước bản in trên báo thì là bản nguyên thuỷ. Nhưng giá trị bản in trên báo mới đáng kể, tức dùng để bàn gì ở đây, vì truyền thông đã căn cứ vào bản đó khi phê bình thư của TT NH.

    Mướn đăng báo là điều TT NH đã làm, còn đọc ghi audio để dùng phát thanh trên đài thì không thể thực hiện ở Mỹ. Chỉ có thể thu âm để dùng đọc lại trong (những) lần có meeting phản chiến (khi Mỹ quyết định đánh Taliban), và như vậy bản thu âm này được làm sau bản in báo.

    Cách làm sáng tỏ duy nhất là tìm ra bản in trên báo năm 2001.

    2/ Truyền thông Việt ngữ đã chỉ trích Thư của TT NH đăng trên báo về những điểm như tôi đã kể ra (không phải luận điểm riêng của tôi). Tất nhiên, có thể sự chỉ trích còn hơn thế nữa mà tôi không nhớ hết. Những điều đã phân tích về 3 bản viết cho thấy các dẫn chứng, lý luận của TT NH về thành phố Bến Tre bị tàn phá năm 1968 là không đúng sự thật (gây ra những lý do để chỉ trích), dù số người bị bom đạn Mỹ giết hạị cho là bao nhiêu đi nữa (tôi đã đưa ra chi tiết tử vong vì ngắn gọn và nhớ lúc đó, nhưng chưa chắc đã sai). Ngay cách viết “U.S. bombed the entire city” hay Bến Tre đã bị “destroyed” là cách nói thái quá đến mức nội dung không còn đáng được tin, hay đáng bị chỉ trích.

  11. Phạm Quang Tuấn viết:

    Nguyên Khôi: “Lập luận cho rằng thầy Nhất Hạnh không chứng kiến trận thả bom ở Bến Tre mà chỉ nghe kể lại cho nên những nhận định của thầy Nhất Hạnh là thiếu sự thật là một dạng lập luận ở dạng “cãi chày, cãi cối” (rất tiếc tôi phải dùng cụm này).”

    Hoà Nguyễn: “Những người sống ở miền Nam thời đó nếu đã đọc, ngưỡng mộ Thượng Toạ Nhất Hạnh, tất có theo dõi đôi chút về TT, và đều biết vào Tết Mậu Thân 1968, TT NH không có mặt ở trong nước. (Lý do là bị chính phủ Nguyễn Cao Kỳ cấm trở lại VN sau khi đi vận động phản chiến ở Mỹ.)”

    Ông Hòa đã dùng lập luận người rơm (strawman argument: gán cho người khác một ý họ không nói để đánh đổ). Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Straw_man. Ông NK không nói là TSNH có chứng kiến trận thả bom ở Bến Tre. NK chỉ nói: không thể dùng sự kiện ấy để kết luận rằng những nhận định của Nhất Hạnh thiếu sự thật. Ông Hòa lại xoay ra chứng minh rằng quả thật TSNH không ở VN!

  12. Nguyên Khôi viết:

    Thưa ông Hoà Nguyễn,

    Rốt cuộc ông ‘vắn tắt’ vài điều chỉ đi đến chỗ “Khó so sánh bài diễn văn đọc với bức thư viết để kết luận bản nào là nguyên thủy và bản nào thêm bớt sau đó, hay bản nào có giá trị hơn. Và tất nhiên, thường người ta chỉ căn cứ vào bản viết, nếu có bản viết.” thôi sao?

    Bức thư viết nào vậy?

    Ông thầy Nhất Hạnh chỉ đọc bài diễn văn ấy và các “bài viết” có trên mạng chỉ là những transcript những người nghe được tự ghi lại (theo khả năng nghe được và tự động điều chỉnh) theo ý muốn của họ chớ có phải là “bài viết” nguyên thủy của thầy Nhất Hạnh đâu mà ông cho là giá trị hay không giá trị?

    Ông cho rằng có nhiều “dị bản” khác nhau cho nên tôi cung cấp cho ông đoạn audio nguyên thủy chính miệng thầy Nhất Hạnh nói ra ngay lúc đó. Thế mà ông còn “chày cối” là giá trị hay không giá trị là sao?

    Ông cho rằng có nhiều “dị bản” nên khó tin bản nào thế sao bây giờ lại xoay ngược mà rằng “người ta chỉ căn cứ vào bản viết, nếu có bản viết”? “người ta” là ai? tiêu chuẩn nào cho rằng “nếu có bản viết thì căn cứ vào bản viết”? Hơn nữa bản viết này có phải của tác giả Nhất Hạnh đâu mà căn cứ vào đó.

    Ở bài phản hồi ông Phạm Quang Tuấn, ông nói như đinh đóng cột:

    nhất là trong thư đó TT Nhất Hạnh đã dẫn chứng một chi tiết sai cho là trong Tết Mậu Thân ở Bến Tre có 100 ngàn người dân chết do Mỹ dội bom (thành phố Bến Tre là một trong vài thành phố bị thiệt hại nặng nhất năm 1968). Đó là lý do có cuộc tranh biện giữa truyền thông Việt ngữ ỡ Mỹ và Làng Mai nhân vụ đó (thật ra Làng Mai không trả lời).

    Đến khi tôi đưa ra hai đoạn trích dẫn (từ các transcripts) thì ông mới bảo là ông dựa vào trí nhớ. Thế rồi ông lòng vòng mà bảo rằng có nhiều dị bản quá và mỗi bản sửa khác nhau. Ông lấp liếm như thế để làm ra vẻ như rằng điều ông nhớ (điều ông Nhất Hạnh trích dẫn sai) là điều (có thể) có thật trong quá khứ nhưng bây giờ thiên hạ đã sửa lại các chi tiết đó nên không còn thấy nữa?

    Thế rồi rồi tôi cung cấp cho ông đoạn audio nguyên thủy. Ông lại bảo “người ta” dựa trên bản viết và chưa chắc bản nào có giá trị hơn?

    Thôi vậy, tôi lỡ phí thời gian với ông.

    Chào ông.

  13. 1mitee viết:

    @Phạm Quang Tuấn:

    “Nhóm TCN nằm mơ “chia đôi thiên hạ” với CS: CS là đảng lãnh đạo, Phật Giáo (kiểu TCN) là quốc giáo, giống như giới quý tộc và Công Giáo ở Âu châu thời xưa hay Saudi Arabia thời nay.”

    Điều này PQT nói đúng: Trong thời gian tôi học tại đại học văn khoa Huế 1971-1975 có quen một “chú” tu tại chùa Bảo Quốc học cùng ban. Những ngày rằm chú thường rủ những sinh viên xa nhà như chúng tôi lên chùa chơi và ăn cơm chay do các bà mẹ Huế nấu rất ngon.

    Có lần nói chuyện văn học, tôn giáo thì chú ấy có đề cập đến một dự án rất quy mô mà chú ấy nói là do Thượng Tọa Thích Trí Quang thực hiện: Đưa Phật Giáo trở về địa vị quốc giáo như thời Lý-Trần và TT Trí Quang là Quốc sư (như tố cáo của tác giả Nguyễn Phúc Liên Thành trong tác phẩm, “Biến Động Miền Trung”).

    Cụ thể dự án đó là đưa những sinh viên Phật tử có căn cơ và học giỏi ra ngoại quốc du học để khi thành tài trở thành nhân sự nòng cốt của các chính quyền tương lai. Một trưởng tràng là LHL trước học ở Thụy Sĩ nay thường viết dưới tên “Lý Khôi Việt” của Giao Điểm. Sau 1975 rất nhiều người ở lại ngọai quốc nhưng vẫn sinh hoạt với nhau. Sau đó họ thấy môi trường tự do ngôn luận ở Mỹ thuận lợi cho việc tập hợp những người cùng chung chí hướng đó và Giao Điểm ra đời.

    Có thể thấy rõ phương châm hoạt động của những người này là tập trung đánh phá Công giáo và bênh vực cộng sản Việt Nam. Có lần TT Thích Quảng Độ được hỏi về những người “Phật tử Giao Điểm” này thì TT đã hoàn toàn bác bỏ lối hành xử đó và cho rằng họ thực sự đã làm dơ danh Phật giáo!

  14. Hoà Nguyễn viết:

    Tôi đáp lại vắn tắt vài điều, nhưng có lẽ cần đọc thông minh để tránh cãi chầy cãi cối.

    Ông Nguyên Khôi viết:

    “Lập luận cho rằng thầy Nhất Hạnh không chứng kiến trận thả bom ở Bến Tre mà chỉ nghe kể lại cho nên những nhận định của thầy Nhất Hạnh là thiếu sự thật là một dạng lập luận ở dạng “cãi chày, cãi cối” (rất tiếc tôi phải dùng cụm này). Ông viết (NK dẫn câu tôi viết): Tôi và nhiều người rất khâm phục tài viết văn của TT Nhất Hạnh, nhưng trong văn chương nhiều người nghĩ phải chuyên chở sự thật”… (Trích NK)

    Những người sống ở miền Nam thời đó nếu đã đọc, ngưỡng mộ Thượng Toạ Nhất Hạnh, tất có theo dõi đôi chút về TT, và đều biết vào Tết Mậu Thân 1968, TT NH không có mặt ở trong nước. (Lý do là bị chính phủ Nguyễn Cao Kỳ cấm trở lại VN sau khi đi vận động phản chiến ở Mỹ.)

    Phần còn lại không nên “lý luận” vô bằng, mà nên dựa vào đoạn viết đã dẫn sau đây:

    “(… Ben Tre, a city of 300,000 people, was bombarded by American aircraft because some guerrillas had come to the city and tried to shoot down American planes. The guerrillas did not succeed and afterward they left. In retaliation the U.S. bombed the entire city. The military officer responsible for this attack later declared that he had to destroy the city of Ben Tre in order to save it…”

    1/ ” because some guerrillas”…: (dịch)(Mỹ dội bom thành phố) bởi vì vài du kích đột nhập thị xã (Bến Tre Tết Mậu Thân) muốn bắn máy bay Mỹ, nhưng không được thì rút lui. Sự thật nằm ở đâu trong câu đó? Ở (chỉ) vài anh du kích tấn công thành phố, ở mục kích của họ vào Bến Tre là bắn máy bay, nhưng bắn không trúng nên rút lui? Học sinh miền Bắc lúc đó nếu đọc những câu viết trên tin được mấy phần? Huống chi chiến tranh VN đã được sách, phim ảnh Mỹ trình bày, bàn luận rất nhiều từ 1975 cho tới 2001, trước lúc TT Nhất Hạnh viết bưc thư đó, nên tất nhiên khó thuyết phục người Mỹ tin theo bằng câu viết đó, đừng nói là những người Việt đã sống qua cái Tết Mậu Thân lửa đạn, đẫm máu và nước mắt.

    2/In retaliation the U.S. bombed the entire city.

    Mày bay Mỹ trả đũa, nên dội bom toàn bộ thành phố (và huỷ diệt Bến Tre, như thấy ở dị bản khác). Sự thật nằm ở chỗ này sao? Lính Mỹ thật là lũ điên rồ, du kích đã rút lui rồi, mà còn thả bom hủy diệt cả thành phố, đang có lính VNCH và thường dân miền Nam (chống cộng) sống trong đó. Ai tin được câu viết này? Nhưng chính cái ý tường hủy diệt (destroyed) toàn bộ thành phố Bến Tre có 300 ngàn dân này, nên mới có con số người chết là 100 ngàn (nhưng đây là theo trí nhớ của tôi, và có thể lẫn lộn với lý lẽ của nhiếu nhóm tranh cãi lúc thư đó đưọc đăng trên nhiều loại báo).

    3/ “The military officer responsible for this attack later declared that he had to destroy the city of Ben Tre in order to save it…”. Tôi nhớ câu này trước do phóng viên chiến trường Mỹ viết, kể lại cảm tưởng của một sĩ quan Mỹ sau cuộc chiến tàn khốc ở thị xã, và người đọc có thể nghĩ đó là một ngậm ngùi, thương xót cho cảnh đổ nát bắt buộc phải để xảy ra. Nhưng người khác sử dụng nó có thể gợi lên ý về sự tàn phá rất vô tâm của lính Mỹ. Ai sử dụng tài tình câu nói đó chứng tỏ được khả năng cao về làm văn.

    Khó so sánh bài diễn văn đọc với bức thư viết để kết luận bản nào là nguyên thủy và bản nào thêm bớt sau đó, hay bản nào có giá trị hơn. Và tất nhiên, thường người ta chỉ căn cứ vào bản viết, nếu có bản viết.

  15. Phạm Quang Tuấn viết:

    Ông Hòa tìm được bao nhiêu dị bản thì tìm, vẫn không có dị bản nào viết là TS Nhất Hạnh nói Mỹ giết 100000 ở Bến Tre cả. Vậy mà vẫn khăng khăng cãi là nhớ như vậy!

    Còn báo chí Việt ngữ thì nói sao thì nói, ai mà tin được. Ngay bây giờ trên mạng hai ngoại vẫn còn nói TS NH bảo rằng Mỹ giết tới… 300000 người chứ không phải chỉ 100000! Và còn bao nhiêu thông tin xấu xa khác về TS NH từ các trang tiếng Việt hải ngoại nữa chứ câu đó thấm gì.

    Một nhà tu hành nổi tiếng mà bảo là Mỹ giết một loạt 100000 người thì truyền thông Mỹ phải chú ý và ít ra là có lưu lại một bản tin nào đó chứ. 2001 cách đây đâu có lâu?

1 2 3 4 5
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>