trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 497 bài
  1 - 20 / 497 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Điểm nóngChính trị thế giới
Loạt bài: Kỉ niệm 90 năm Cách mạng tháng Mười
 1   2   3   4   5   6   7   8 
7.11.2007
Mai Thái Lĩnh
Sự hình thành của phong trào dân chủ - xã hội ở Thuỵ Điển
 1   2   3   4   5    
 
Ngày này 90 năm trước, 07/08 tháng Mười Một (25/26 tháng Mười theo lịch Julius) năm 1917, sự kiện đi vào lịch sử với tên gọi “Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại” đã mở ra một chương sử đặc biệt của nhân loại, với sự ra đời của nước Nga Xôviết, nhà nước cộng sản đầu tiên, và sau đó là sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Việt Nam đã bước vào chương sử đó. Hôm nay, gần hai mươi năm sau sự sụp đổ của hệ thống ấy và sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản ở bình diện toàn cầu, Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường nào, khi một mặt nó vẫn duy trì định nghĩa về mình như một nhà nước xã hội chủ nghĩa với sự cầm quyền của Đảng Cộng sản, và mặt khác, khi xã hội Việt Nam đã và đang phát triển về những hướng không còn dung hợp với các nguyên lí rường cột của chủ nghĩa xã hội như giai đoạn quá độ của chủ nghĩa cộng sản?

Nhân ngày kỉ niệm này, chúng tôi xin giới thiệu một số bài viết và bản dịch, mong cung cấp cho độc giả những thông tin có thể giúp cho việc đi tìm một câu trả lời.
talawas
Thông thường, khi nói đến mô hình Thuỵ Điển, có người xem đó là chủ nghĩa xã hội dân chủ (democratic socialism), nghĩa là một hình thức của chủ nghĩa xã hội được thực hiện bằng con đường dân chủ. Cũng có người đánh giá đó là một con đường thứ ba, đứng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, được gọi tên là con đường dân chủ - xã hội (social democracy).

Nhưng dù đánh giá bằng cách nào, người ta cũng phải thừa nhận là con đường đó đã thành công trong việc đưa Thuỵ Điển từ chỗ là một quốc gia nhỏ bé, kém phát triển ở châu Âu bước vào con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vươn lên thành một quốc gia có mức sống cao vào bậc nhất trên thế giới. Đặc biệt đáng ca ngợi là con đường đó diễn ra trong hoà bình, tránh được nội chiến và những biến động lớn trong xã hội, giữa lúc cả thế giới sống trong lò lửa chiến tranh hoặc ngập chìm trong bầu khí đầy hận thù của cuộc đấu tranh giai cấp. Mặc dù phạm phải sai lầm kể từ thập niên 1970, do đó không thích ứng được với giai đoạn “toàn cầu hoá” vào cuối thế kỷ 20 - đầu thế kỷ 21, mô hình dân chủ - xã hội Thuỵ Điển cũng là một bài học đáng cho chúng ta quan tâm nghiên cứu. Rất tiếc là từ trước đến nay, ở nước ta chưa có công trình nghiên cứu nào trình bày một cách đầy đủ về mô hình này. Bài tiểu luận này là một nỗ lực nhỏ để bổ sung cho sự thiếu sót đó.

Mai Thái Lĩnh



Phần I. Nghị viện trong lịch sử chính trị của Thuỵ Điển

Có thể nói toàn bộ công cuộc cải cách về chính trị ở Thuỵ Điển trong vài thế kỷ qua được thể hiện một cách tập trung nơi một thiết chế chính trị mà chúng ta thường gọi là Quốc hội hay Nghị viện. Trong tiếng Thuỵ Điển, thiết chế ấy được gọi là Riksdag (xét về mặt ngữ nguyên, danh từ này có nghĩa là “Ngày của Vương quốc” hay “Hội nghị của Vương quốc”) [1] .

Mầm mống của chế độ nghị viện đã có ở Thuỵ Điển ngay từ thời xa xưa. Vào thời đại văn hoá bộ lạc của vùng Scandinavia (mà các nhà sử học thường gọi là thời đại Viking), các thành viên của một thị tộc (clan) có nghĩa vụ phải trả thù khi người thân của họ bị giết hay bị gây thương tích. Do đó, cần thiết phải có một cơ cấu làm trọng tài để giảm thiểu các hận thù trong bộ lạc, tránh tình trạng hỗn loạn vô chính phủ trong cộng đồng xã hội. Cơ cấu đó được gọi là “hội nghị” (thing hay ting, assembly), tức là cuộc họp bao gồm tất cả những người dân tự do trong một địa phương, từ cấp làng xã (härad, hundred) [2] cho đến cấp tỉnh (land, province). Như vậy là có cả một hệ thống các hội nghị, hội nghị cấp dưới có đại diện ở hội nghị cấp trên. Mọi tranh chấp được giải quyết tại hội nghị, mọi quyết định chính trị cũng diễn ra ở các hội nghị. Nơi tiến hành hội nghị thường là địa điểm công cộng dành cho việc thực hành các nghi lễ tôn giáo và trao đổi hàng hoá. Hội nghị họp định kỳ để ban hành luật, bầu các tù trưởng (hoặc vua) hoặc để xét xử dựa theo luật pháp. Đó là một thứ luật pháp bất thành văn được ghi nhớ và kể lại bởi một nhân vật được gọi là “người diễn giải luật pháp“ hay “người phát ngôn của luật pháp” (law speaker), đóng vai trò của một quan toà. Người phát ngôn này thường cùng với tù trưởng (hay nhà vua) chủ trì những cuộc thương lượng của hội nghị. Trong thực tế, hội nghị thường chịu ảnh hưởng chế ngự của những thành viên có thế lực nhất trong cộng đồng; nhưng xét về mặt lý thuyết, quy tắc chung là “mỗi người một phiếu”. Những tập quán của nền dân chủ nguyên thuỷ, dân chủ trực tiếp đó có ảnh hưởng sâu xa đến nền chính trị của Thuỵ Điển sau này.

Xét về mặt lịch sử, nền quân chủ ở Thuỵ Điển hình thành từ các thế kỷ 11-12 và được hoàn chỉnh trong các thế kỷ 13-14, gắn liền với việc truyền bá đạo Ki-tô (Christianity, christianisme) vào Bắc Âu. Do ảnh hưởng của tập quán dân chủ thời bộ lạc, nền quân chủ Thuỵ Điển lúc mới hình thành là một chế độ quân chủ tuyển cử (elective monarchy, monarchie élective), nghĩa là vua được chọn thông qua bầu cử. Những vị vua đầu tiên được bầu thường là những thủ lĩnh quân sự; quyền lực của họ còn bị hạn chế bởi tập tục, bởi chế độ tự quản của các cộng đồng làng xã. Trong phạm vi của các tỉnh truyền thống, các hội nghị “thing” có quyền công nhận hay từ khước quyền lực của hoàng gia trên lãnh thổ của họ. Mãi đến khi chế độ quân chủ đi vào giai đoạn hoàn chỉnh, quyền lực của các hội nghịthing” mới dần dần giảm bớt để nhường bước cho các bộ máy thư lại (bureaucracies) và các“hội đồng” (råd, councils) chịu ảnh hưởng của giới quý tộc và tăng lữ.

Kể từ thế kỷ 12, cuộc đấu tranh giữa các vương triều đối địch nhau cũng như những xung đột nội bộ bên trong các triều đại đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của một đẳng cấp quý tộc quân sự theo kiểu Âu châu. Trong cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa đẳng cấp này với nhà vua, cả nhà vua lẫn đẳng cấp quý tộc đều muốn lợi dụng danh nghĩa của cả cộng đồng và tìm cách lôi kéo quần chúng về phía mình. Chính trong quá trình đấu tranh giằng co đó mà Nghị viện ra đời, với tư cách là một công cụ chính trị để tạo ra chính nghĩa, đồng thời cũng là một cơ cấu để cân bằng quyền lực giữa nhà vua với giới quý tộc.

Các nhà sử học thường cho rằng Nghị viện đầu tiên ở Thuỵ Điển ra đời vào thế kỷ 15, trong thời kỳ của Liên hiệp Kalmar (Kalmar Union, Union de Kalmar). Sự hình thành của Liên hiệp diễn ra vào cuối thế kỷ 14, vào lúc Đan Mạch trở thành vương quốc giàu mạnh nhất ở Bắc Âu. Người đóng vai trò chủ chốt trong việc hợp nhất vùng Bắc Âu trong một Liên hiệp Vương quốc là Nữ hoàng Margaret của Đan Mạch.

Có nhiều lý do khiến cho Margaret có đủ tư cách đóng vai trò thống nhất các vương quốc ở Bắc Âu. Là con gái của Vua Đan Mạch Valdemar Atterdag (Valdemar IV), vào năm 6 tuổi (1359) Margaret đính hôn với con trai thứ của Vua Thuỵ Điển Magnus Eriksson tên là Haakon. Cuộc hôn nhân này được dàn xếp vì Magnus muốn nhờ vả sự giúp đỡ của Đan Mạch nhằm đối phó với giới quý tộc trong nước đang chống lại ông. Haakon là người được chọn thừa kế ngôi vua ở Na Uy và đến năm 1362 được bầu làm Vua Thuỵ Điển (cùng nắm giữ vương quyền, vì lúc này Magnus vẫn còn nắm quyền ở Thuỵ Điển). Đám cưới diễn ra vào năm 1363, lúc này Margaret mới lên 10 tuổi.

Năm 1363, giới quý tộc Thuỵ Điển do bất mãn với Magnus Eriksson đã đến cầu viện Quận công Albert của Mecklenburg (Albert II of Mecklenburg). Abert đánh bại Magnus, được bầu làm Vua Thuỵ Điển, chấm dứt triều đại Folkung (Folkungar) ở Thuỵ Điển. Magnus phải chạy sang lánh nạn ở Na Uy và qua đời tại đó vào năm 1374. Con trai ông là Haakon vẫn giữ vững được Vương quốc Na Uy và đến năm 1370, hoàng hậu Margaret sinh hạ một con trai, đặt tên là Olaf.

Sau khi vua cha là Valdemar IV qua đời (1375), Margaret thành công trong việc vận động để con trai bà được thừa kế ngai vàng ở Đan Mạch. Haakon mất vào năm 40 tuổi (1380), trong khi hoài bão khôi phục lại vương quyền ở Thuỵ Điển vẫn chưa thực hiện được. Như vậy là Olaf thừa kế ngôi vua ở cả hai nước Đan Mạch và Na Uy. Lúc này Olaf chỉ mới được 10 tuổi, do đó quyền nhiếp chính vẫn nằm trong tay Margaret. Khi Olaf đủ tuổi trưởng thành (15 tuổi), Margaret cùng con trai dự định tiến hành chiến tranh để đòi lại ngôi vua Thuỵ Điển từ tay Albert; nhưng chưa kịp thực hiện thì Olaf đột ngột qua đời vào năm 17 tuổi (1387). Margaret nắm quyền nhiếp chính của cả hai nước Đan Mạch và Na Uy. Do không có người nối dõi, bà nhận đứa cháu trai 6 tuổi là Erik của Poremania (Erik of Pomerania) làm người thừa kế. Về danh nghĩa, Margaret vẫn là hoàng hậu của Thuỵ Điển bị soán ngôi, do đó bà tìm cách liên kết lực lượng với giới quý tộc Thuỵ Điển đang bất mãn với Albert để đòi lại ngôi vua. Năm 1388, quý tộc Thuỵ Điển thừa nhận Margaret là người trị vì chính đáng của Thuỵ Điển và năm sau, lực lượng của Margaret đánh bại quân của Albert, bắt sống được ông này. Cuộc chiến vẫn tiếp tục kéo dài, mãi đến 1398 quân của Margaret mới chiếm được Stockholm.

Do sự vận động của Margaret, năm 1397, cháu trai của bà là Erik của Pomerania (Erik of Pomerania) được bầu làm vua của cả ba vương quốc Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển. Từ đó hình thành nên Liên hiệp Kalmar, bao gồm tất cả các nước ở Bắc Âu (Phần Lan vào lúc đó vẫn còn là một phần của Thuỵ Điển). Lúc lên ngôi, Erik mới 16 tuổi, do đó Margaret vẫn nắm quyền nhiếp chính và thực sự là người trị vì Liên hiệp vương quốc cho đến khi mất [3] .

Trong suốt thời gian trị vì, Margaret vẫn được người dân Thuỵ Điển ngưỡng mộ. Sau khi bà qua đời (năm 1421), vương quyền lọt vào tay Erik của Pomerania. Ông này thực hiện những chính sách đối nội không được lòng dân Thuỵ Điển, mặt khác chính sách ngoại giao hiếu chiến của ông đã dẫn đến một cuộc phong toả kinh tế tiến hành bởi Liên đoàn Hanse [4] . Năm 1434, một cuộc nổi dậy của nông dân và thợ mỏ đã nổ ra ở Bergslagen (miền trung Thuỵ Điển) dưới sự lãnh đạo của Engelbrekt Engelbrektsson. Vị lãnh tụ khởi nghĩa này liên minh với giới quý tộc để chống lại Vua Erik. Vào năm 1435, giới quý tộc triệu tập một hội nghị toàn quốc tại thị trấn Arboga để bàn bạc và quyết định các công việc chung của cả nước. Hội nghị đã phong cho Engelbrekt làm tổng chỉ huy quân sự của vương quốc. Trước sức ép này, Erik phải nhượng bộ, đồng ý thay đổi chính sách để được tiếp tục công nhận là vua của Thuỵ Điển. Tuy nhiên, ảnh hưởng của cuộc nổi dậy đã lan tràn sang tận Đan Mạch và Na Uy, khuyến khích các kẻ thù của Erik chống lại ông. Năm 1438, Erik phải tỵ nạn ở Gotland và sau đó, lần lượt bị phế truất ở cả ba vương quốc.

Hội nghị tại Arboga vào năm 1435 thường được coi như Nghị viện đầu tiên của Thuỵ Điển. Có thể coi hội nghị này như một sáng kiến của giới quý tộc nhằm tạo ra đối trọng đối với quyền lực của nhà vua.

Mặc dù trở thành tổng chỉ huy quân đội, Engelbrekt vẫn không thể đương đầu với giai cấp quý tộc - vốn chỉ muốn lợi dụng sức mạnh của cuộc nổi dậy; do đó ông phải rút lui dần vào hậu trường và bị một nhà quý tộc ám sát vào ngày 4.5.1436 tại một bán đảo trên hồ Hjälmaren. Engelbrekt được hậu thế đánh giá như một trong những vị anh hùng vĩ đại nhất trong lịch sử Thuỵ Điển. Cuộc nổi dậy của ông đánh dấu sự thức tỉnh của tinh thần dân tộc, mở đầu cho một quá trình đấu tranh dẫn đến nền độc lập của Thuỵ Điển vào đầu thế kỷ 16, làm tan rã Liên hiệp Kalmar, mà người có công đầu là Gustav Vasa (1496(?)-1560) .

Sau khi Thuỵ Điển trở thành một vương quốc độc lập, Gustav Vasa lên ngôi vào năm 1523, mở đầu cho triều đại Vasa, với danh hiệu Gustav I. Mục tiêu của ông là thiết lập một nước Thuỵ Điển có chủ quyền. Công việc đầu tiên của Gustav là củng cố uy quyền đối với những lực lượng đã giúp ông lên ngôi. Ông đã đánh bại nhiều âm mưu của giới quý tộc và đè bẹp các cuộc nổi dậy của nông dân. Năm 1527, để giải quyết khó khăn về tài chính, ông triệu tập Hội nghị các đẳng cấp tại Västerås và thành công trong việc thuyết phục Hội nghị này ra nghị quyết tịch thu tài sản của Giáo hội Công giáo La Mã. Song song với việc này, ông khuyến khích hoạt động của các nhà cải cách tôn giáo thuộc phái Luther, dẫn đến việc đoạn tuyệt với Giáo hội La Mã. Giáo hội Luther ở Thuỵ Điển được công nhận là giáo hội của nhà nước (state church) - một địa vị vẫn còn được duy trì đến tận năm 2000. Sau khi thành công trong việc củng cố quyền lực và phục hồi kinh tế, Gustav lại triệu tập Hội nghị các đẳng cấp vào năm 1544 để công nhận quyền thừa kế ngôi vua của dòng họ Vasa.

Việc Gustav Vasa lợi dụng Hội nghị của các đẳng cấp để gây áp lực đối với giới quý tộc đã dẫn đến kết quả là: Nghị viện từ chỗ là một tổ chức không chính thức đã từng bước trở thành một tổ chức chính thức đại diện cho cả bốn đẳng cấp lớn trong xã hội Thuỵ Điển (quý tộc, tăng lữ, thị dân nông dân). Trong thập niên 1540, danh từ “riksdag” được sử dụng để gọi tên thiết chế này và kể từ đó cho đến giữa thế kỷ 19, Nghị viện ở Thuỵ Điển được gọi là Nghị viện của các Đẳng cấp (Ståndsriksdagen, Riksdag of the Estates, Riksdag des états).

Trong số bốn đẳng cấp thì nông dân là lực lượng đông đảo nhất. Không giống với các nước châu Âu khác, chế độ nông nô không bao giờ du nhập được vào Thuỵ Điển; do đó nông dân ở Thuỵ Điển (bao gồm cả Phần Lan) là nông dân tự do. Điều này khiến cho nông dân trở thành một lực lượng chính trị, mặc dù không đóng vai trò quyết định nhưng lại có thể làm thay đổi cán cân quyền lực trong xã hội.

Dưới thời cai trị của Gustav Vasa, chính quyền được tổ chức lại với sự giúp đỡ của các nhà hành chính người Đức. Bộ máy hành chính mới với tính chất tập trung cao độ đã đạt tới một mức độ hiệu quả chưa từng có.

Sau khi Gustav I qua đời (1560), người con trưởng của ông lên ngôi với danh hiệu là Erik IV. Em trai kế (cùng cha khác mẹ) của ông là quận công John ở Phần Lan muốn thi hành một chính sách ngoại giao độc lập. Erik muốn hạn chế uy quyền của John nên bắt giam ông vào năm 1561. Sau khi được trả tự do, John câu kết cùng em trai út là Charles tiến hành lật đổ Erik vào năm 1568. Năm sau, Nghị viện công nhận John là Vua Thuỵ Điển với danh hiệu là John III (Jean III); để đổi lại, nhà vua phải có những nhượng bộ đáng kể đối với giới quý tộc. Như vậy là nguyên tắc thừa kế ngôi vua mà Gustav Vasa đã buộc Nghị viện thừa nhận trên lý thuyết, đã bị bác bỏ trong thực tế. Nền quân chủ Thuỵ Điển từ nay về sau tuy vẫn là một nền quân chủ thừa kế (hereditary monarchy) nhưng không thể bỏ qua sự phê chuẩn của Nghị viện mà các đẳng cấp (nhất là giới quý tộc) có ảnh hưởng đáng kể.

Về chính sách tôn giáo, John có thiện cảm với Công giáo La Mã, vì hoàng hậu Catherine vốn là một công chúa người Ba Lan theo Công giáo. Ý định cải thiện mối quan hệ với La Mã đã gây ra sự bất bình trong giới tăng lữ của Thuỵ Điển. Sự chống đối này càng tăng sau khi John mất (1592), người con trai trưởng của John là Sigismund Vasa trở thành người thừa kế ngôi vua. Là một tín đồ Công giáo thuần thành, Sigismund thừa kế ngai vàng của người cậu để trở thành Vua Ba Lan vào năm 1587. Nỗi lo ngại về khả năng Sigismund có thể đưa Thuỵ Điển trở lại với Công giáo La Mã đã khiến cho đại đa số dân Thuỵ Điển chống lại Sigismund. Chú của Sigismund là Charles (quận công của Södermanland, người trước đây ủng hộ John chống lại Erik IV) trở thành người lãnh đạo cuộc vận động nhằm bảo vệ đạo Tin Lành ở Thuỵ Điển. Năm 1583, ông tìm cách triệu tập một hội nghị tôn giáo ở Uppsala, tại đó giới tăng lữ đã thông qua một bản tuyên bố xác định dứt khoát Thuỵ Điển là một quốc gia theo đạo Tin Lành Luther. Năm 1594, Sigismund được tấn phong là Vua Thụy Điển với điều kiện hứa bảo vệ đạo Luther ở Thuỵ Điển. Nhưng sau khi Sigismund trở lại Ba Lan thì vào năm 1595, Nghị viện họp tại Söderköping bầu Charles làm nhiếp chính. Mâu thuẫn nổ ra giữa Charles với một bộ phận quý tộc trung thành với Sigismund, và Charles thẳng tay đàn áp những người này. Sigismund đem quân tiến đánh Thụy Điển nhưng không thành công. Sau khi đánh bại đạo quân của Sigismund tại Stångebro vào năm 1598, Charles vận động Nghị viện phế truất ông này vào năm 1599. Năm 1604, Charles lên ngôi với vương hiệu là Charles IX.

Điều đáng lưu ý là trong cuộc vận động để chống lại Sigismund, càng về sau Charles càng không thể trông cậy vào giới quý tộc; do đó ông phải dựa vào tăng lữ và các đẳng cấp bên dưới, và như vậy, một cách không ý thức, ông đã làm cho Nghị viện có được tầm quan trọng mà nó chưa từng có trước đó trong lịch sử Thuỵ Điển.

Là người nắm quyền thật sự ở Thuỵ Điển kể từ 1599 và làm vua trong thời gian 7 năm (1604-1611), Charles IX đã biến Thuỵ Điển thành một nước quân chủ thiên về quân sự. Chính sách đối ngoại dựa trên chiến tranh mà ông là người mở đường đã để lại dấu ấn trên đường lối ngoại giao của Thuỵ Điển trong hơn một thế kỷ sau đó. Qua đời vào năm 1611 giữa lúc cuộc chiến tranh Kalmar với Đan Mạch mới bùng nổ, Charles IX đã để lại cho con trai ông – Gustav Adolf, một gánh nặng chiến tranh và một cuộc khủng hoảng thể chế nghiêm trọng.

Gustav Adolf lên ngôi vua vào năm 16 tuổi (1611), lấy hiệu là Gustav II Adolf (Gustave Adolphe) [5] . Nhà vua trẻ này chứng tỏ những tài năng khác thường trong vai trò của một chính khách cũng như trong vai trò của một thủ lĩnh quân sự. Ông được đánh giá là nhà vua được lòng dân nhất trong lịch sử Thuỵ Điển. Từ lúc khởi đầu triều đại của ông cho đến năm 1718, Thuỵ Điển vươn lên như một quốc gia hùng mạnh, trở thành một trong những cường quốc ở châu Âu. Đó là giai đoạn được gọi là Đế quốc Thụy Điển (Swedish Empire), hay còn gọi là Thời kỳ Vĩ đại (The Age of Greatness).

Khi Gustav II Adolf lên ngôi, đất nước đã bị lôi kéo vào những cuộc chiến tranh với Đan Mạch, Nga và Ba Lan. Ông tìm cách kết thúc chiến tranh với Đan Mạch và Ba Lan, và tập trung vào cuộc xung đột với Nga. Năm 1617, sau những thắng lợi trên chiến trường, ông đạt được hoà ước Stolbova, qua đó khống chế con đường vào biển Baltic của nước Nga.

Năm 1621, Gustav Adolf tấn công quân Ba Lan ở Livonia và giành được thắng lợi vào năm 1629. Với Thoả ước Ngừng bắn Almark, Thuỵ Điển nhận được Livonia và quyền đánh thuế nhập khẩu ở các bến cảng chính của Baltic. Năm 1630, Gustav chỉ huy đạo quân đáng sợ nhất của thời đó đổ bộ lên miền bắc nước Đức, tham gia vào cuộc Chiến tranh Ba Mươi Năm (Thirty Year’s War) dưới danh nghĩa bảo vệ đạo Tin Lành nhưng thực chất là để chặn đứng sự bành trướng của dòng họ Habsburg về phía biển Baltic. Vào năm 1631, tại Breitenfeld, quân Thuỵ Điển đã đánh bại các đạo quân của Bá tước von Tilly, vị tướng lừng danh của Bavaria. Nhưng sau một loạt trận đánh ở miền Nam nước Đức, Gustav Adolf tử trận tại Lützen (Saxony) vào ngày 6.11.1632.

Vế mặt đối nội, vào lúc mới lên ngôi, ngoài việc phải đối phó với ba cuộc chiến tranh, Gustav Adolf còn phải giải quyết một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về thể chế chính trị. Trong giai đoạn đầu, nhà vua buộc phải có những nhượng bộ quan trọng đối với giới quý tộc mà lãnh tụ là quan tể tướng (chancellor, chancelier) Axel Oxenstierna. Tuy nhiên, vốn là một người có khả năng hoà giải, ông đã biết tổ chức một sự cộng tác có hiệu quả giữa hoàng gia, quan tể tướng và đẳng cấp quý tộc, nhờ đó nhiều cải cách về quân sự, hành chính và kinh tế được tiến hành.

Về danh nghĩa Hội đồng Cơ mật (Riksråd, Privy Council) [6] vẫn là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; nhưng dần dần thực quyền được chuyển giao cho nhà vua. Từ chỗ là một tổ chức đại diện của đẳng cấp quý tộc, Hội đồng Cơ mật dần dần trở thành một bộ máy thư lại (bureaucracy) điều khiển các cơ quan chính quyền quan trọng nhất, dựa theo sở thích của nhà vua. Nhưng thay vì giải tán Nghị viện các đẳng cấp như phần lớn các nước châu Âu, Gustav Adolf đã thể chế hoá Nghị viện thành một thiết chế chính thức. Sắc lệnh về Nghị viện năm 1617 đã biến Nghị viện từ một tổ chức lộn xộn và thay đổi thất thường thành một nghị viện có giá trị, hội họp và quyết định công việc dựa theo luật pháp. Nhà vua bảo đảm quyền của các đẳng cấp được tham gia vào quá trình làm luật và được tham khảo ý kiến đối với mọi vấn đề đối ngoại. Nhà vua là người đưa ra sáng kiến, nhưng các đẳng cấp có quyền phản bác các biện pháp của chính quyền. Bản thân nhà vua đã chủ trì 11 kỳ họp của Nghị viện, tập trung vào việc tìm ra các phương án hỗ trợ cho gánh nặng ngày càng tăng của chiến tranh.

Sau khi Gustav Adolf tử trận, người thừa kế duy nhất là công chúa Christina - lúc đó chưa đầy 6 tuổi. Một hội đồng nhiếp chính của giới quý tộc cao cấp dưới sự lãnh đạo của Tể tướng Axel Oxenstierna nắm quyền cho đến năm 1644, tức là lúc công chúa đủ tuổi trưởng thành. Nhờ tài tổ chức cũng như khả năng ngoại giao khôn khéo, Oxenstierna đã đạt được hai mục tiêu quan trọng mà Gustav Adolf nhắm tới lúc sinh thời: tập hợp những tín đồ Tin lành ở Đức dưới sự bảo hộ của Thuỵ Điển, đồng thời biến vùng bờ biển của nước Đức cạnh biển Baltic thành một đầu cầu quân sự.

Năm 1643, quân Thuỵ Điển đang trú đóng ở Đức đã tấn công Đan Mạch. Cuộc chiến ngắn ngủi này kết thúc bằng hoà ước Brömsebro ký vào năm 1645, theo đó Đan Mạch phải nhường lại cho Thuỵ Điển các đảo trên biển Baltic như Gotland và Ösel (Saaremaa), cũng như các tỉnh Jämtland và Härjedalen ở biên giới Na Uy. Hoà ước Westphalia kết thúc cuộc Chiến tranh Ba Mươi Năm vào năm 1648 đã đem lại cho Thuỵ Điển vùng Tây Pomerania, cảng Wismar, các giáo khu Bremen và Verden. Những lãnh thổ mới đó cho phép Thuỵ Điển kiểm soát được ba dòng sông chính ở miền bắc nước Đức - sông Oder, sông Elbe và sông Weser, đồng thời đe doạ Đan Mạch từ phía lục địa. Vào giữa thế kỷ 17, Thuỵ Điển vuơn lên thành một cường quốc quân sự khống chế vùng biển Baltic và là một trong những quốc gia rộng lớn nhất châu Âu, với một lãnh thổ rộng gấp đôi lãnh thổ của Thuỵ Điển hiện nay [7] .

Sự cân bằng về quyền lực giữa hoàng gia, Hội đồng Cơ mật (giới quý tộc) và các đẳng cấp đã được thể chế hoá trong hiến pháp được ban hành vào năm 1634 [8] , hai năm sau khi Gustav Adolf qua đời. Sự cân bằng này vẫn được duy trì trong thời gian Nữ hoàng Christina chấp chính (1644-1654) cũng như dưới thời của Vua Charles X Gustav (1654-1660) [9] . Tuy nhiên, thế cân bằng này đã bị thay đổi vào cuối thế kỷ 17, dưới triều của Vua Charles XI (1660-1697).

Charles XI lên ngôi lúc mới 5 tuổi, sau khi vua cha là Charles X Gustav đột ngột qua đời trong một chiến dịch ở Đan Mạch. Trong thời gian hội đồng nhiếp chính đứng đầu là tể tướng Magnus Gabriel De la Gardie nắm quyền, giới quý tộc cao cấp chi phối đời sống chính trị của đất nước. Khi Charles XI được 17 tuổi (năm 1672), nghĩa là đủ tuổi để nắm quyền, hội đồng nhiếp chính vẫn tiếp tục kiểm soát chính sách ngoại giao. Chính họ đã lôi kéo đất nước vào cuộc chiến tranh Hà Lan (1672-1678) bằng chính sách liên minh với Vua Louis XIV của Pháp. Mãi đến khi quân Thuỵ Điển bị đánh bại tại Fehrbellin vào năm 1675, nhà vua mới toàn quyền kiểm soát quân đội và chính quyền. Sau khi Thuỵ Điển đánh bại được quân Đan Mạch vào năm 1678 khiến nước này từ bỏ ý đồ chiếm tỉnh Skåne và ký hoà ước Lund (1679), cuộc chiến tranh Hà Lan cũng kết thúc bằng các hiệp ước Nijmegen (1678–79), qua đó Thuỵ Điển giữ được gần như toàn bộ các vùng đất chiếm hữu ở Đức.

Với sự giúp đỡ của các cố vấn mới, Charles XI củng cố quyền lực của hoàng gia. Ông đã lợi dụng sự bất mãn của dân chúng đối với sự yếu kém của giới quý tộc trong thời gian nhiếp chính để lôi kéo giới tăng lữ và các đẳng cấp bên dưới về phía mình. Nghị viện họp vào tháng 10 năm 1680 đã quyết định tập trung quyền lực cho nhà vua. Kể từ nay, nhà vua không còn bị ràng buộc bởi hiến pháp mà chỉ dựa vào luật pháp và quy chế, và không bị bắt buộc phải tham khảo ý kiến của Hội đồng Cơ mật (Privy Council) trước khi quyết định. Hội đồng Cơ mật đổi tên từ Hội đồng của Vương quốc (Riksråd, Council of the Realm) thành Hội đồng của Hoàng gia (Kungligt råd, Royal Council). Các thành viên hội đồng không còn là người cộng sự mà trở thành bầy tôi trung thành của nhà vua.

Mặt khác, Charles XI cũng thành công trong việc thu hồi các đất đai của triều đình đã bị mất vào tay đẳng cấp quý tộc, một điều mà cả Nữ hoàng Christina lẫn Vua Charles X chưa làm được. Khoảng cuối triều đại của Charles XI, tài sản của triều đình đã được nâng từ 1% lên đến 30% tổng số quỹ đất ở Thuỵ Điển và Phần Lan. Nguồn thu nhập tăng thêm đã cho phép thiết lập một ngân quỹ ổn định đủ để trả lương cho một đội quân đánh thuê 25.000 người, một bộ máy hành chính có khả năng kiểm soát cả giáo hội lẫn các trường học, một quân đội chính quy 40.000 người và một hạm đội có khả năng đương đầu với Đan Mạch.

Có thể nói dưới thời trị vì của Charles XI, chế độ quân chủ ở Thuỵ Điển đã trở thành nền quân chủ tuyệt đối (absolute monarchy). Mặc dù nhà vua vẫn thừa nhận quyền của nhân dân Thuỵ Điển thông qua Nghị viện - thể hiện ở việc tham khảo ý kiến của Nghị viện đối với những vấn đề quan trọng, nhưng trong thực tế vai trò của Nghị viện hoàn toàn bị chi phối bởi nhà vua. Nghị viện hầu như chỉ làm công việc chuẩn y các sắc lệnh của nhà vua. Quyền lực của giới quý tộc bị hạn chế đến mức tối đa.

Mặt khác, việc củng cố bộ máy thư lại (bureaucracy) dưới chế độ quân chủ tuyệt đối cũng có tác dụng tích cực đối với Nghị viện. Chính trong giai đoạn này đã hình thành nên các uỷ ban (committee) của Nghị viện và các hoạt động của Nghị viện cũng được thể chế hoá qua các quy chế thành văn. Điều này đã tạo điều kiện cho Nghị viện trong các giai đọan sau này hoạt động một cách có hiệu quả hơn.

Vào lúc Charles XI qua đời (tháng 4.1697), Charles XII mới được 15 tuổi. Có thể nói ông là nhà vua đầu tiên và cũng là duy nhất của Thuỵ Điển sinh ra dưới chế độ quân chủ tuyệt đối. Mặc dù Charles XI đã chuẩn bị sẵn một hội đồng nhiếp chính để giúp cho con trai trị quốc, nhưng các uỷ viên của hội đồng đều lo ngại, không muốn cạnh tranh quyền lực với nhà vua trẻ; do đó họ triệu tập Nghị viện vào tháng 11 năm 1697 để tuyên bố nhà vua đủ tuổi chấp chính.

Thấy nhà vua còn quá trẻ, và hy vọng vào sự bất mãn của giới quý tộc Thuỵ Điển đối với chế độ quân chủ tuyệt đối, một số đối thủ như Augustus II , vua Ba Lan (đồng thời là tuyển hầu [10] vùng Saxony), Sa hoàng Peter I của nước Nga và Frederick IV, vua Đan Mạch - Na Uy, đã liên minh với nhau để tấn công Thuỵ Điển vào mùa xuân năm 1700, khởi đầu cuộc Đại chiến Bắc Âu (Great Northern War, 1700-1721).

Charles XII là một ông vua từ nhỏ đã được huấn luyện rất kỹ và có tài về quân sự. Lúc đầu, Charles XII còn nhờ sự giúp đỡ của các tướng lĩnh và các cố vấn lão thành do vua cha để lại, nhưng từ năm 1702, ông trở thành cấp trên của hầu hết các sĩ quan trong quân đội Thuỵ Điển và bắt đầu nắm quyền quyết định về chính trị. Trong vòng vài năm, ông đã trở thành một tướng lãnh và nhà chính khách có bản lĩnh. Nhưng mặc dù là một người giàu khả năng về chiến thuật, Charles lại thiếu tầm nhìn chiến lược và sự khôn ngoan về chính trị. Ông đã bỏ lỡ nhiều cơ hội đàm phán trong thế mạnh để đạt được các hoà ước có lợi cho Thuỵ Điển, và thường bị chi phối bởi quan điểm cá nhân, nhiều khi chỉ nhằm trả mối hận đối với kẻ thù.

Những chiến dịch đầu tiên đã đem lại thắng lợi cho Thuỵ Điển. Sau khi đánh bại quân Đan Mạch, buộc Vua Frederick phải rút khỏi liên minh chống Thuỵ Điển và ký hoà ước Traventhal vào tháng 8 năm 1700, Charles chuyển sang tấn công Nga và Ba Lan. Quân Thuỵ Điển đánh bại quân Nga tại Narva vào tháng 11 năm 1700. Nhưng thay vì tiếp tục truy đuổi quân Nga và chấp nhận lời đề nghị thương lượng của Ba Lan, Charles lại tấn công quân của Augustus II (tuyển hầu của Saxony đồng thời là Vua Ba Lan), nhằm mục đích thay ngôi vua Ba Lan bằng một người thân cận với Thuỵ Điển. Năm 1704, Nghị viện Ba lan dưới áp lực của Thuỵ Điển đã truất ngôi của Agustus và tuyên chiến với Nga; Augustus phải chạy trốn về Saxony. Năm 1706, Charles tấn công Saxony, buộc Augustus phải ký hoà ước Altranstädt, chính thức từ bỏ ngôi vua Ba Lan và thừa nhận Stanisław Leszczyński là Vua Ba Lan. Việc Charles XII chậm tấn công quân Nga đã giúp cho Peter I có đủ thời gian củng cố lực lượng, nhất là xây dựng cứ điểm Saint Petersburg (Sankt Petersburg) và hạm đội Baltic.

Năm 1707, Charles mới bắt đầu quay sang tấn công nước Nga. Vào năm 1708, cuộc hành quân đến Moscow (Moskva) đã không đạt kết quả như mong muốn. Chiến thuật “tiêu thổ kháng chiến” của Peter I (Peter Đại đế) làm cho quân Thuỵ Điển mệt mỏi và để tránh mùa đông khắc nghiệt sắp đến, Charles phải chuyển hướng sang Ukraina. Mùa xuân 1709, quân đội Thuỵ Điển bị tiêu hao sức lực đã bị đánh bại thảm hại tại Poltava (tháng 8 năm 1709). Charles đem tàn quân chạy trốn sang Bender (Bendery, nay thuộc Moldova, lúc đó thuộc lãnh thổ của đế quốc Ottoman). Tại đây, ông lập một doanh trại và lãnh đạo đất nước “từ xa”.

Charles XII tìm cách thuyết phục Vua Thổ Ahmed III khai chiến với nước Nga. Vương quốc này cũng đã vài lần khai chiến với Nga. Nhưng sau khi quân Nga thất bại tại sông Prut vào năm 1711, Sa hoàng chịu ký hoà ước, trả lại pháo đài Azov cho Thổ và huỷ bỏ một số căn cứ sát biên giới. Vua Ahmed cảm thấy bớt lo ngại về hiểm hoạ từ Nga, trở nên lơ là với Charles, thậm chí khó chịu về sự có mặt của ông trên lãnh thổ Ottoman. Trong khi đó, các kẻ thù cũ của nhà vua lợi dụng sự vắng mặt của ông để chiếm lại các lãnh thổ đã mất: Hanover chiếm Bremen và Verden, Đan Mạch chiếm Holstein-Gottorp, Phổ dòm ngó vùng Pomerania, Augustus II chiếm lại ngôi vua ở Ba Lan, còn nước Nga thì sau khi chiếm được các vùng chiếm đóng của Thuỵ Điển trên bờ biển Baltic đã tiến hành xâm lược Phần Lan.

Tháng 11 năm 1714, Charles rời bỏ lãnh thổ Ottoman để về nước. Bằng cách giả trang làm một sĩ quan cấp thấp của Đức, ông bí mật băng ngang qua châu Âu trên lưng ngựa. Trải qua một cuộc hành trình thần tốc 14 ngày đêm, Charles đến được cảng Stralsund ở vùng Poremania thuộc Thuỵ Điển (ngày nay thuộc lãnh thổ của nước Đức). Tại đây, trong hơn một năm trời, ông chỉ huy cuộc phòng thủ chống lại liên quân Đan Mạch, Phổ và Saxony, và chỉ chịu rời bỏ nơi đây vài ngày trước khi thành phố này thất thủ. Ông đặt chân đến Lund trên bờ biển nam Thuỵ Điển vào tháng 12 năm 1715, nghĩa là 15 năm sau khi rời đất nước lên đường chinh chiến. Charles tiếp tục chuẩn bị cho một giai đoạn tiếp của cuộc chiến. Ông vừa mở các cuộc đàm phán, đồng thời huy động một đạo quân 60.000 người để tìm cách giành thắng lợi trên chiến trường. Tháng 9 năm 1718, ông chỉ huy chiến dịch xâm lược miền đông-nam Na Uy, nhưng bị trúng đạn và tử trận trong khi công kích Pháo đài Fredriksten [11] ở gần Christiana (Oslo) vào ngày 30.11.1718.

(còn tiếp)

© 2007 talawas



[1]Danh từ riksdag hiểu theo nghĩa đen là “ngày của toàn quốc” (riks : national, của quốc gia, dag : day, ngày), dùng để chỉ một cuộc họp của tất cả các đại biểu trên toàn Vương quốc Thuỵ Điển.
[2]Härad (Hundred) có nghĩa là một trăm. Có thể hiểu là một đơn vị quân đội gồm 100 người hay một khu đất đủ cho 100 gia đình cư trú (bách gia).
[3]Tên của Nữ hoàng Margaret trong tiếng Đan Mạch là Margrethe. Mặc dù trên danh nghĩa Margrethe chỉ là thái hậu nhiếp chính, nhưng trong lịch sử Đan Mạch bà vẫn được coi là một nữ hoàng thực thụ với danh hiệu là Margrethe I (Margaret I, Marguerite Ire) để phân biệt với Nữ hoàng Margrethete II hiện nay (lên ngôi năm 1972).
[4]Hanse là một từ trong tiếng Đức vào thời trung cổ có nghĩa là “hiệp hội”, “phường hội”, ở đây dùng để chỉ một hiệp hội của các thương gia buôn bán trong cùng một khu vực. Liên đoàn Hanse (Hanseatic League, Ligue hanséatique) là một tổ chức được thành lập bởi các thành phố ở miền bắc Đức và các cộng đồng thương gia Đức ở nước ngoài nhằm bảo vệ các quyền lợi thương mại hỗ tương của họ. Liên đoàn này chế ngự các hoạt động thương mại ở bắc châu Âu từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 15.
[5]Gustav Adolf còn được biết một cách rộng rãi dưới cái tên La-tinh-hoá Gustavus Adolphus. Ông còn được gọi là Gustav Adolf Đại đế, và là nhà vua duy nhất trong lịch sử Thuỵ Điển được gọi là Đại đế. Những phát kiến quân sự của ông được nhiều nhà quân sự đời sau quan tâm, nhất là Carl von Clausewitz và Napoléon Bonaparte.
[6]Hội đồng Cơ mật còn được gọi là Hội đồng Tối cao của Thuỵ Điển (High Council of Sweden). Trong tiếng Thuỵ Điển, Riksråd có nghĩa là Hội đồng của Vương quốc (Council of the Realm). Hội đồng Cơ mật chính là tiền thân của Nội các hoặc Chính phủ trong các giai đoạn sau này.
[7]Diện tích Thuỵ Điển lúc đó là 440.000 km2, rộng hơn 18.000 km2 so với lãnh thổ của Đế quốc Đức vào đầu thế kỷ 20.
[8]Theo tài liệu của Nghị viện Thuỵ Điển thì những luật lệ thành văn quy định cách thức điều hành đất nước đã có từ giữa thế kỷ 14, nhưng mãi đến năm 1634 mới có một đạo luật đầu tiên có giá trị tương tự như một bản Hiến pháp, được gọi là Luật “Công cụ điều hành Chính quyền” (Instrument of Government). Xem: http://www.riksdagen.se
[9]Christina thực sự nắm quyền vào 1644. Nhưng do bản tính phóng khoáng, không muốn làm vua, bà giao quyền thừa kế cho người anh họ là Charles X Gustav. Sau khi cải đạo theo Công giáo La Mã, bà thoái vị vào năm 1654, sống quãng đời còn lại ở Pháp và Ý, tập trung vào việc bảo trợ cho các hoạt động văn học – nghệ thuật. Lúc còn làm nữ hoàng, bà đã từng mời nhà triết học René Descartes đến tận Stockholm để dạy triết học cho bà và Descartes đã qua đời tại đây vào năm 1650.
[10]Tuyển hầu (elector): là một vương công ở Đức có quyền tham gia bầu cử hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh (The Holy Roman Empire). Theo quy định vào khoảng năm 1273 (được xác nhận bởi Sắc lệnh Vàng năm 1356), có 7 người có quyền bầu cử hoàng đế. Về sau có bổ sung thêm vài người nữa. Trong thực tế, từ khi dòng họ Habsburg ở Áo giành quyền làm hoàng đế, quyền bầu cử ngày càng trở nên kém giá trị.
[11]Pháo đài Fredriksten là một cứ điểm chiến lược được xây dựng ở thị trấn Frederikshald (ngày nay đổi tên là Halden). Pháo đài Fredriksten đã phi quân sự hoá từ đầu thế kỷ 20.