Nguyễn Mai Sơn – “Cách cho hơn của cho”
03/09/2009 | 1:10 sáng | 52 Comments
Category: Lịch sử, Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: Chữ Nôm > Chữ Quốc ngữ
Đọc “Một thời mù chữ” của ông Trần Ngọc Cư, đến cuối bài tôi mới rõ hiện trạng “mù chữ” này có “tính lịch sử của đại khối dân tộc”. Và may mắn cho tôi là được đọc bài viết của ông Trần Ngọc Cư bằng chữ Quốc ngữ (Latin hoá), chứ không phải chữ Hán hay chữ Nôm. Vì thế có thể nói rằng những ai đọc được bài viết của ông Trần Ngọc Cư như tôi thì tối thiểu đều không “mù chữ” Quốc ngữ. Có điều dù không “mù chữ” Quốc ngữ thì ai cũng nhận thấy bài viết của ông Trần Ngọc Cư tiếng Hán – Việt vẫn chiếm rất nhiều trong cái vỏ chữ Quốc ngữ kia.
Lạ quá, hiện tại “Hán – Việt – Latin” vẫn “đề huề” trong ngôn ngữ và chữ viết hàng ngày của dân ta. Nếu chỉ đề cao một trong ba cái sự “đề huề” này thì sẽ không công bằng. Nhưng nó đã có “tính lịch sử” rồi thì còn biết làm sao được nữa, nhất là khi dân tộc ta ngay từ đầu đã không có một thứ chữ viết ổn định đủ khả năng để đề kháng ngoại lai. Ngay cả khi mượn vào hình thức chữ Hán để sáng chế ra chữ Nôm (khiến người Trung Hoa đọc cũng không hiểu) thì cũng vẫn bị mang tiếng là vay mượn. Ai chê trách người nghèo mang công mắc nợ nhỉ?
Nhưng áo rách còn giữ được lề, người Việt đã không đánh mất luôn tiếng nói của mình. Không có chữ viết thì đi vay mượn, mất chữ viết thì có thể học chữ viết khác, nhưng mất tiếng mà học tiếng khác thì trở thành người ngoại quốc mất rồi. Dân tộc ta tiếp thu nguồn Hán học cả hàng nghìn năm, và chính vì cái tiếng nói không mất nên không bị đồng hoá. Nhưng cái “tính lịch sử” nó cứ lặp lại như thế thì biết làm sao, bởi cả chữ Nôm và chữ Quốc ngữ đều là vay mượn để ký âm tiếng Việt cả.
Cụ Hoàng Xuân Hãn đã viết về Hội Truyền bá Quốc ngữ như sau: “Lần đầu nghe nói đến tên hội này, tôi lấy làm ngạc nhiên, rồi đáp: ‘Không ai mời tôi cả. Vả chăng ngày nay ai mà chẳng học Quốc ngữ; thì lập hội làm gì? Hoặc Quốc ngữ đây nghĩa là tiếng ta. Tiếng và văn Việt ngữ? Lập hội với mục đích ấy cũng tốt, vì ngày nay ai cũng muốn nói tiếng Tây cho thoáng, chứ không hiểu đúng tiếng ta, đến đỗi hạng lầm hiểu rằng ‘yếu điểm’ là điểm yếu, ngày càng nhiều’. Cụ để tôi nói dài mới ngắt lời, rồi đáp: ‘Truyền bá Quốc ngữ là truyền bá cách viết tiếng ta bằng những chữ la-tinh A, B, C” (“Nhớ lại hội Truyền bá Quốc ngữ…” – Báo Đoàn Kết tháng 9-10-1988).
Mục đích sử dụng chữ Quốc ngữ của những người Việt Nam yêu nước và mục đích của chính quyền Pháp là không giống nhau. Giám mục Puginier, từng nói: “Sau khi đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần, ban đầu bằng tiếng An Nam, rồi bằng tiếng Pháp, như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông” (Thư giám mục Purinier gửi Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa, 6-5-1887, Thư khố Pháp quốc Hải ngoại A00 (30) hay N.F 541). Còn ở Nam Kỳ, ngày 6/4/1878, Đô đốc Hải quân – Thống soái Nam kỳ Louis Lafont ra nghị định số 82 bắt buộc các công văn, thư từ hành chính phải viết bằng chữ Quốc ngữ thay vì chữ Hán hay chữ Nôm. Rất may các cụ nhận ra cái việc “nói tiếng Tây cho thoáng” mà “không hiểu đúng tiếng ta” là việc đồng hoá nguy hại, nên truyền bá chữ Quốc ngữ như một đòn “gậy ông đập lưng ông” đánh vào mưu đồ đó.
Trong lá thư đề ngày 12/01/1882, từ Chợ Quán “Kính gởi các vị trong Hội đồng Thuộc địa”, Trương Vĩnh Ký viết rõ hơn về mục đích các tác phẩm của ông:
“Thưa quí vị,
Tôi hân hạnh gởi đến quí vị một bản trình bày từng tác phẩm xuất bản mà tôi đã biên soạn. Làm như vậy, ý định của tôi là để chứng tỏ với quý vị rằng trong 13 cuốn sách tôi đã xuất bản cho đến nay do tiền tôi bỏ ra, tôi chưa bao giờ đi lệch mục tiêu chính và trực tiếp mà tôi đã trình bày trước đây trong các thư tôi viết vừa cho nhà cầm quyền, vừa cho Ủy ban Phụ trách Cứu xét những tác phẩm của tôi. Mục tiêu đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam” (Nguyễn Sinh Duy, Cuốn sổ bình sinh của Trương Vĩnh Ký, NXB Nam Sơn, Sài Gòn, tháng 3,1975).
Khi tôi đề cập việc cần nhìn nhận vấn đề “mù chữ” trong hiện tượng “đồng văn” ở phương Đông cũng như phương Tây, thì ông Trần Ngọc Cư đã phản hồi rằng: “Ngữ hệ Hán có cánh cửa cơ hội là ngàn năm lịch sử để hình thành một loại chữ viết kí âm tiếng nói của người Việt, nhưng cao điểm cũng chỉ tạo ra được chữ Nôm, một thứ chữ viết rối rắm. Vua Quang Trung với ‘Sùng Chính viện’ chỉ là một loé chớp trong đêm dài nô lệ chữ Hán”.
Ông Trần Ngọc Cư đã nói như thánh phán khi một sự việc mà nguyên nhân và kết quả đã bày ra trước mặt mọi người để có thể so sánh sự tiện lợi giữa việc viết bằng chữ Nôm và viết bằng chữ Quốc ngữ (trong một ý thức, tâm lý và quán tính sử dụng đã trở nên nhuần nhuyễn). Nhưng nếu người Trung Quốc, Nhật Bản (trừ Hàn Quốc ra vì chữ viết có vẻ giản tiện hơn) cũng có “tinh thần so sánh” như trên thì chắc họ cũng sẽ bỏ quách cái chữ họ đang dùng đi cho khoẻ vì đỡ “rối rắm” hơn chăng? Vâng, nếu có thể so sánh (dù rất buồn cười) thì một đứa trẻ ở Việt Nam có thể học chữ Quốc ngữ trong một thời gian ngắn (loại trừ một số học sinh lên lớp 5 rồi mà vẫn chưa biết đọc như báo chí từng đưa tin), nhưng với một đứa trẻ Trung Quốc, cũng không phải vì ít thuận tiện hơn trong việc viết chữ Hán (thay bằng Latin) mà bảo rằng nó sẽ học không đúng cấp (tức mất nhiều thời gian để học lớp 1. lớp 2…), ít kiến thức hay ít thông minh hơn…
Khi chữ Nôm được đưa vào trong thi cử, chắc chắn đó không phải là một “thách đố” mà chứng tỏ việc học chữ Nôm đã trở nên phổ biến trong xã hội, có tác động nhiều đến tầng lớp bình dân. Năm 1791 vua Quang Trung cho lập “Sùng Chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm. Dĩ nhiên dịch sang Nôm là diễn đạt bằng ngữ pháp của người Việt. Còn thì chữ Nôm cũng chỉ chiếm khoảng 20% trong cái kho từ vựng chữ Hán. Vì thế việc viết khoảng 20% chữ Nôm cũng không phải công việc khó tới mức không làm được khi lịch sử phát triển của nó đã trải dài trước đó cả vài trăm năm. Điều đáng tiếc là năm 1791 vua Quang Trung cho lập Sùng Chính viện thì năm 1792 ông qua đời.
Nếu nói về thành công của văn xuôi chữ Nôm, trước đó phải kể đến những tác phẩm kinh sách của Minh Châu Hương Hải (1628-1715) với lối hành văn tiếng Việt không khác với chúng ta ngày nay. Trong Giải tâm kinh ngũ chỉ, Minh Châu Hương Hải viết bằng chữ Nôm: “Nương lời trong kinh, dịch rằng Thích Ca Thế tôn thuở trú trong non Linh Thứu, vào toạ thiền, nhập quang minh đại định. Khi ấy, Xá Lợi Tử bạch Quán Tự Tại Bồ tát rằng: ‘Dầu có chúng sinh tu hành, muốn học cửa pháp Bát nhã thần thông vi diệu, rằng làm sao cho hiểu thấu được’. Quán Tự Tại Bồ tát bèn dạy bảo Xá Lợi Tử rằng: ‘Thích Ca Thế tôn diễn thuyết đại bộ Bát nhã sáu trăm quyển. Một Bát nhã tâm kinh này lấy làm chí tinh, chí yếu, là mẹ đại bộ chư kinh, truyền sang Đông độ, đã năm lần dịch. Đến đời Đường, Huyền Tráng pháp sư lại vâng chiếu dịch truyền để Đông độ lấy làm chính giáo thịnh hành…”. Xin tìm đọc cuốn Toàn tập Minh Châu Hương Hải, NXB TPHCM, 2000 của Lê Mạnh Thát.
Như vậy, cái “loé chớp trong đêm dài nô lệ chữ Hán” mà ông Trần Ngọc Cư hùng hồn nói chẳng qua khi chúng ta đã không còn cơ hội để đặt giả thiết nếu vua Quang Trung không mất sớm và nếu người Pháp không xâm lược Việt Nam thì… nữa. Và khi chúng ta vẫn đang sử dụng “Hán – Việt – Latin” một cách “đề huề” trong ngôn ngữ và chữ viết (vỏ ngữ âm) như vậy mà ông Trần Ngọc Cư sử dụng từ “nô lệ” cho riêng chữ Hán thì thật thiếu công bằng. Khoảng gần 80% từ Hán – Việt mà chúng ta đang sử dụng để ít nhiều có thể hiểu nhau qua diễn đạt tư tưởng, tình cảm (bằng cái vỏ ngữ âm Latin) có nguồn gốc từ đâu? Không biết hơn 1000 năm sau, thời thế đổi thay (dĩ nhiên không ai mong dân tộc ta bị thế lực nào đó đồng hóa), con cháu chúng ta có bảo chúng ta “nô lệ chữ Quốc ngữ” hay không?
Sự vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn của chữ Nôm chắc không phải để “mua vui” như Nguyễn Du nói ở cuối Truyện Kiều. Vì rõ ràng cái chữ Nôm đó đã diễn tả được tiếng nói của dân tộc trong một giai đoạn phát triển ngôn ngữ mà chữ Hán không thể thay thế được. Vì thế từ Trần Nhân Tông đến Lê Thánh Tông, Quang Trung, cùng với hàng loạt các danh dân, trí thức mà chúng ta tự hào nói đến, họ đều là những người thông Hán và giỏi Nôm cả. Các vị ấy đều đã mất công mất sức thâm nhập vào chữ Nôm (“rối rắm”) để mang đến cho dân tộc những ngôn ngữ gần với đời sống hơn.
Không ai phủ nhận lợi ích của chữ Quốc ngữ trong việc dùng nó để chống lại Pháp và sự thuận tiện của nó hiện nay. Nhưng cần có một cái nhìn công bằng hơn với chữ Hán – Nôm, đặc biệt là chữ Nôm. Vì muốn hiểu tư tưởng của tiền nhân không chỉ có sự nỗ lực học tập mà còn rất cần có tấm lòng nữa. Trong sự “lựa chọn” mà không thể còn lựa chọn nào khác (“thông minh”) hơn thì đó chính là “tính lịch sử” (đã rồi) như ông Trần Ngọc Cư đã nói về sự “lựa chọn”. Còn dĩ nhiên, chữ Quốc ngữ (kể cả trước đó là chữ Hán) làm sao có thể lấy đi cơ hội thành công của chữ Nôm được. Chỉ có điều cái chính quyền áp đặt việc thủ tiêu nó mới lấy đi cơ hội thành công của nó mà thôi. Tháng 5/1906, dụ của vua Thành Thái về tổ chức giáo dục hệ 3 cấp cho bản xứ được một nghị định của Paul Beau phê chuẩn: ở cấp I, học sinh học cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ; lên cấp II học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và một phần tiếng Pháp không bắt buộc; đến cấp III thì cả 3 thứ chữ đều bắt buộc học như nhau. Một “chính sách” xuyên suốt và có hệ thống như thế thì làm gì còn cơ hội cho chữ Nôm (Nôm na là cha mách qué) thành công.
Trong ý kiến trước, tôi nói: “khi “mù” đã có tính “lịch sử” rồi thì… trách ai, ai trách bây giờ trách ai?”. Nhưng qua ý kiến ngắn phản hồi của ông Trần Ngọc Cư thì tôi đã hiểu một vài phần về cái sự “mù chữ” ấy. Tôi cũng xin nói thêm rằng, trong cái hiện tượng “đồng văn”, dân tộc ta đã từng được “ban cho” chữ viết (nói như ai đó), nhưng sự tỉnh táo của người Việt là đã biết vận dụng sự tiện ích của nó nhằm bảo vệ tiếng nói, non sông của mình. Nên dù có phải nói lời cảm ơn (hay gượng ép phải cảm ơn vì từng bị “đấm đá”) thì trước khi nhận một “món quà” người Việt cũng hiểu được thế nào là “cách cho hơn của cho”.
© 2009 Nguyễn Mai Sơn
© 2009 talawas blog
Thưa ông Nam Phan,
Khi tôi dẫn những sách phổ biến chữ Quốc ngữ, ở đó đã ghi rõ NĂM XUẤT BẢN cuốn sách, cái mốc thời gian này phù hợp “với giai đoạn 2” của Trương Vĩnh Ký khi ông điều hành Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) từ 1866 đến 1898, giúp Liraye – người điều khiển Văn phòng Trung ương An nam – phiên dịch và biên tập các tài liệu “cổ An-nam”, đi cùng chủ đích “nghiên cứu để cai trị” [Việc đặt những tác phẩm này cùng với những lời yêu cầu của Bonard không mâu thuẫn]
TVK mất năm 1898. Tháng 5/1906, vua Thành Thái mới ra dụ về tổ chức giáo dục hệ 3 cấp cho bản xứ được một nghị định của Paul Beau phê chuẩn: ở cấp I, học sinh học cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ; lên cấp II học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và một phần tiếng Pháp không bắt buộc; đến cấp III thì cả 3 thứ chữ đều bắt buộc học như nhau. Khoa thi chữ Hán chấm dứt vào năm 1918, 1919 và phải đến nửa đầu thế kỷ 20 chữ Quốc ngữ mới được những người yêu nước phổ biến rộng rãi. [Tôi xin lấy ví dụ, ngay cả tiếng Anh bây giờ, dù ở Việt Nam đã và đang được giảng dạy từ cấp cấp 1, thậm chí mẫu giáo, nhưng không phải trong xã hội ai cũng đọc được các tác phẩm bằng tiếng Anh. Huống chi lúc đó, chữ quốc ngữ (học song song với chữ Hán) chỉ mới được đưa vào giáo dục cấp 1 từ khi có dụ của vua Thành Thái năm 1906].
Sao ông lại đặt giả thiết Trương Vĩnh Ký “làm một công việc vô bổ”? Vô bổ sao được khi nó rất có tác dụng với việc “am hiểu ngôn ngữ và phong tục bản xứ”… của người Pháp. Những người có kiến thức Tây học lúc đó, thậm chí ở giai đoạn sau (muộn hơn) cũng là những người có kiến thức Hán học, nên việc phổ biến chữ Quốc ngữ qua những tác phẩm của Trương Vĩnh Ký vẫn chưa đi vào “mọi tầng lớp dân chúng” đâu ông. Đến ngay cả phong trào “bình dân học vụ” (những năm 1940) của Việt Minh, muốn đi vào chợ cũng phải đọc được một vài chữ Quốc ngữ đó ông ạ. Ông cũng nên đọc lại lá thư của Trương Vĩnh Ký: “Tôi hân hạnh gởi đến quí vị một bản trình bày từng tác phẩm xuất bản mà tôi đã biên soạn. Làm như vậy, ý định của tôi là để chứng tỏ với quý vị rằng trong 13 cuốn sách tôi đã xuất bản cho đến nay do tiền tôi bỏ ra, tôi chưa bao giờ đi lệch mục tiêu chính và trực tiếp mà tôi đã trình bày trước đây trong các thư tôi viết vừa cho nhà cầm quyền, vừa cho Ủy ban Phụ trách Cứu xét những tác phẩm của tôi. Mục tiêu đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam”. (Trong một ý kiến, tôi đã nói từ “đồng hoá” này phải được đặt trong một chủ trương và chính sách nhất quán của thực dân Pháp và nhà thờ, không phải chỉ nằm ở những tác phẩm của Trương Vĩnh Ký).
Còn dĩ nhiên ngoài “mục đích chính và trực tiếp” ấy thì sách Quốc ngữ của ông cũng có những tác dụng ngoài “mục đích”, nhưng không phải ở cái thời Trương Vĩnh Ký còn sinh tiền mà mãi đến sau này, khi phong trào học chữ Quốc ngữ đã thực sự lan rộng. Ông Phạm Quang Tuấn từng có ý kiến: “Đồng ý là thực dân Pháp chỉ muốn đào tạo một lớp người Tây hóa ngoan ngoãn phục vụ thực dân, nhưng ý định là một chuyện, sự thực ra sao là chuyện khác”.
Thưa ông Nguyễn Mai Sơn,
Tôi không hiểu những sách “nhằm mụch đích phổ biến chữ Quốc ngữ” cũa Trương Vĩnh Ký mà ông liệt kê trong trả lời ông Trần Lâm ngày 6/9/2009 là ông muốn nói:
1) Chỉ dùng sách để phổ biến cho chữ Quốc ngữ hay qua chữ Quốc ngữ, phổ biến những sách này cho mọi tầng lớp dân chúng nữa, hay
2) làm một công việc vô bổ. (Theo ông, những trí thức Tây học khi ấy cũng hầu hết là trí thức Hán học hoặc có kiến thức Hán học, vậy khi dịch hoặc phiên âm các sách này mà những người biết đọc đều đã đọc được thì có tác dụng gì?).
Nếu (1) là ý ông muốn nói, chỉ có mục đích truyền bá cách dùng chữ mới (Quốc ngữ) thì phải chăng Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, Huấn Nữ Ca, Thơ Dạy Làm Dâu, Thơ Mẹ Dạy Con, Nữ Tắc, Gia Huấn Ca, Chuyện Đời Xưa, các sách Trung Dung, Đại Học, Tam Tự kinh hoặc các truyện Nôm như Kiều, Phan Trần, Lục Vân Tiên… đã được phổ biến rộng rãi, được truyền bá cho mọi tầng lớp dân chúng và mọi người dân VN khi đó có thể đọc được cả Nôm lẫn Hán? Phải chăng khi đọc những sách này thì dân An Nam đã được “biến đổi” và “đồng hóa”? Nếu thế thì tôi cho là “phát kiến” lớn nhất từ xưa đến nay. Dĩ nhiên tôi bị bắt buộc phải hiểu ý ông khi ông “đặt” lời Bonard vào những việc làm của TVK cho “tiện”, hoặc “ghép” ý của Paulin Vial trong những phiên dịch, biên tập tài liệu cổ An Nam với việc “…thừa nhận họ sự tự trị làng xã, một điều họ rất quan tâm…) cho nó “thuyết phục”. Nếu tôi nói sai hoặc đọc mà không hiểu, xin ông nói rõ.
Nếu (2) mới là ý của ông thì tôi đành dùng chữ nhẹ nhất “nói lấy được” để gửi ông.
Để giải quyết vấn đề này, theo tôi hoặc là “nhất trí” với chính quyền CSVN cho TVK là tay Việt gian có hạng không cần bàn cãi gì nữa, hoặc là gọi hồn ông TVK để hỏi ông ta cho rõ (nhân đọc bài của Bắc Phong gọi hồn Bác), hy vọng qua rèn rũa của Diêm Vương ông ấy không dám nói láo.
@nguyễn mai sơn
như tôi đã thưa, vài hàng ấy chỉ là nhận xét trong giới hạn phán đoán của tôi, tôi thực tình không có ý định tham dự vào câu chuyện của quý vị nên xin được lượng thứ đã không thể có bất cứ đóng góp nào thêm trước sự quan tâm hạch vấn của ông.
Bác NH:
Chuyện Lâm Đức Thụ là đảng viên CS và giới thiệu bà TT Minh cho HCM không có gì trái ngược với việc LĐT là mật thám cho Pháp (cũng như chuyện Phạm Xuân Ẩn là phóng viên cho báo Mỹ). Tất cả các chuyện này đều có bằng chứng khả tín.
Chuyện HCM bán PBC cho Pháp hoàn toàn không có bằng cớ (Sau khi kể những chi tiết ly kỳ trong cuốn Từ Thực Dân Đến CS, Hoàng Văn Chí viết: “chuyện này ai cũng biết”, cái đó không phải bằng cớ). Sau này, khi Sophie Quinn Judge bạch hóa những tài liệu về việc phản bội của LĐT, thì những người ghét HCM tô vẽ thêm là HCM và LĐT cộng tác với nhau để bán PBC – cũng không có chút bằng cớ nào.
Thưa ông (bà) Phùng Tường Vân,
“Điềm đạm” mà phải “có chỗ phải bàn lại” là sao? “Cái tâm đáng quý” và cái “chỗ phải bàn lại” hoán chuyển được cho nhau hay sao? Nhận xét của ông Trần Văn Tích là của ông Trần Văn Tích chứ không phải của tôi hay PQT, HN, TL… Những phản biện ngược chiều, thuận chiều, những phản biện “ngu trực” (xổ nho?), cho đến những người chỉ đọc mà không góp ý cũng đáng quý cả. Tôi nghĩ viết ra một bài viết mà có một người đọc hay một người góp ý để vấn đề được rõ hơn một chút thôi cũng là đủ rồi. Nhiều khi viết bài gửi Ban Biên tập mà không được đăng nhưng được họ đọc cũng là vui rồi.
Hy vọng bài của ai đã đăng trên diễn đàn này cũng có người đọc, đọc là quá trình “đã cát tìm vàng”, học được cái gì thì tốt thêm cái đó. Còn trên diễn đàn này “món ăn” và “khẩu vị” rất phong phú và rất khác nhau. Ban biên tập, blogger, khách mời và cộng tác viên cũng giống như người “làm dâu trăm họ vậy”, làm vui lòng người kia thì buồn lòng người nọ, nên cứ xem đó là điều bình thường, chỉ tự nhắc nhở mình tránh được việc rơi vào “quy chụp”, “mạ lị”, luận sự việc mà người đó đưa ra chứ đừng “luận” người đó (luận sự bất luận nhân) càng nhiều chừng nào càng tốt vì một ngòi bút cũng là một con người. Có những người lên đến ngôi tể phụ mà nhiều khi cũng không tránh khỏi việc bị xem là “mọt dân hại nước”. Có những người ban đầu bị lên án kịch liệt nhưng sau này lại khác (Trương Vĩnh Ký là một ví dụ)…
HN: “Tôi vừa đọc sách (của Lữ Giang) cho thấy…”
Xin lưu ý ĐG DĐ Talawas thông tin về Lữ Giang:
http://nguoivietquocgia.blogspot.com/2008/07/ng-tin-nhng-g-t-gn-ni-hy-nhn-vo-nhng-g.html
Từ một câu chuyện điềm đạm, tuy cũng có chỗ phải bàn lại “Một thời mù chữ”, trong đó như ông Trần Văn Tích nhận xét thấp thoáng cái tâm rất đáng quý của tác giả, nhảy sang chuyện “cách cho, của cho…” rồi miên man PQT, DDH, NMS, HN có cả ông TL “không biết nho cũng cứ xổ nho”… vào cuộc khiến cho câu chuyện mà tôi xin thưa thực có lẽ chỉ còn liệt vị đọc lẫn nhau mà thôi, xin vội thưa ngay rằng đó chỉ là nhận xét của tôi, mong được lượng thứ lời ngu trực.
Ông Phạm Q. Tuấn viết: “tài liệu của mật thám Pháp… gần đây cho biết là Lâm Đức Thụ là mật thám chính của Pháp”.
Tôi vừa đọc sách (của Lữ Giang) cho thấy Lâm Đức Thụ là đảng viên CSVN, và ít ra đã cùng với Hồ Tùng Mậu chủ trì hai đại hội các nhóm đảng CS từ trong nuớc ra họp tại Hongkong vào ngày 1-5-1929, và ngày 15-11-1929.
Có bài viết (không biết được mức độ trung thực) liên quan đến Lâm Đức Thụ, Lý Thụy và Phan Bội Châu thấy tại:
http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=6630
Chuyện giữa Lý Thụy, Tăng Tuyết Minh và Lâm Đức Thụ vào năm 1925 (hình như do người TQ tiết lộ) thấy tại (tiếng Anh):
http://en.wikipedia.org/wiki/T%C4%83ng_Tuy%E1%BA%BFt_Minh
Lúc đó LĐ Thụ đã ở trong nhóm Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, do Lý Thụy lập ra năm 1925 sau khi Phan Bội Châu bị bắt (cùng năm 1925), và nhóm là tiền thân của đảng CSVN sau này. VNTNCMĐCH thu hút hết đa số những người trước kia đi theo Phan Bội Châu (gồm cả Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, LĐ…). Năm 1927, Lý Thụy trở lại Liên Xô, Hồ Tùng Mậu bị TQ bắt giữ một năm. Từ 1928, Hồ Tùng Mậu thay Lý Thụy nắm quyền Tổng Bí thư VNTNCMĐCH.
Vậy LĐ Thụ bị giết như là một thanh toán trong nội bộ Đảng CSVN?
Không muốn tham dự chuyện này nữa, nhưng vì bác NH nhắc tới Lâm Đức Thụ, cần chỉ ra là tài liệu của mật thám Pháp do Sophie Quinn Judge bạch hóa gần đây cho biết là Lâm Đức Thụ là mật thám chính của Pháp trong suốt một thời gian dài, đã bán rất nhiều nhân vật cách mạng VN cho Pháp, và là nghi phạm số 1 đã bán Phan Bội Châu cho Pháp (chứ không phải Hồ Chí Minh như phe chống cộng hay tuyên truyền, không có bằng cớ).
II. Tác dụng của những ấn phẩm Quốc ngữ đó nằm ở “giai đoạn 2” của TVK khi ông tái đảm nhiệm trách vụ ở Soái phủ Nam Kỳ. Lần này, thay vì làm việc có tính cách quân sự, chiến thuật bên cạnh các bộ chỉ huy lực lượng đồn trú và hành quân Pháp, họ giao một việc làm thích hợp với khả năng và năng khiếu của ông hơn: biên tập và dịch thuật. Cái chỗ sở dụng của ông cho công cuộc chinh phục bằng võ lực, đặt chân buổi ban đầu đã đi qua khi. Đó là lúc cần tới những kiến thức chính xác và sâu xa về mọi cơ cấu truyền thống bản xứ ngõ hầu áp dụng một chính sách cai trị thích nghi, tránh mọi va chạm, đảo lộn đột ngột có thể dẫn tới suy sụp công trình chiếm cứ của các nhà quân sự. Trong phúc trình gởi Bộ trưởng Hải quân Pháp, Bonard viết :
“Sự cai trị do người bản xứ dưới sự kiểm soát của chúng ta, theo ý tôi là phương sách độc nhất để giải quyết vấn đề. Nếu lo các chi tiết của hành chính an nam mít, ta đem tới đây một số sĩ quan đa số không am hiểu ngôn ngữ và phong tục bản xứ thì ta sẽ tạo nên một tình trạng hỗn loạn”. [Nguyễn Thế Anh, Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng xuất bản, tr. 131.]
Chính trong chính sách đó mà cơ quan Bản xứ Sự vụ (Service des Affaires indigènes), Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) [TVK thay thế điều khiển trường này kể từ 1866 đến 1898.] và Văn phòng Trung ương An nam (Bureau Central Annamite) được thành lập. [Để chuẩn bị cho một nền hành chánh bản xứ đó, từ tháng 6-1863, trung tá hải quân Aubaret đã dịch Gia Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Bộ Luật Gia Long, Code Annamite là hai tài liệu căn bản dẫn nhập cho nền hành chánh phôi thai của Pháp ở Nam kỳ]
Vừa dạy tại Trường Thông Ngôn, TVK vừa giúp Liraye – người điều khiển Văn phòng Trung ương An nam – phiên dịch và biên tập các tài liệu “cổ An-nam”, đi cùng chủ đích “nghiên cứu để cai trị”, dùng người bản xứ để cai trị người bản xứ của Pháp. Điển hình nhất là cơ cấu làng xã Việt Nam. Chính Paulin Vial, một viên quan cai trị sớm nhất, đã chẳng giấu giếm chủ trương này : “Đó là phương pháp duy nhất thích hợp với sự an toàn của chúng ta. Vì nó chia rẽ dân bản xứ bằng cách thừa nhận họ sự tự trị các làng xã, một điều họ rất quan tâm đến. Phương pháp đó đã được đem ra thí nghiệm rồi. Đó là phương pháp có kết quả tốt. Nó vừa thoả mãn nguyện vọng người An-nam vừa mang lại an ninh cho nhà cầm quyền Pháp, không cho nhân dân có thể liên kết với nhau trong một hành động chung chống lại chúng ta” (Paulin Vial, L’Annam et le Tonkin, Dẫn theo Vũ Quốc Thông, Pháp chế Sử Việt Nam).
Thêm: Riêng về ấn bản “Lục Vân Tiên” bằng quốc ngữ, theo GS Hồ Hữu Tường trong “Năm mươi năm (1923-1973) theo dõi đường lối dân tộc” (Báo Điện Tín tháng 10-1973, bài số 6 và 7) thì bà Sương Nguyệt Anh (con gái Đồ Chiểu), cử nhân Phan Văn Trị và một số người đã xảy ra cuộc tranh biện, theo đó “TVK đọc chữ Nôm của cụ Đồ Chiểu không đúng hoặc những chỗ TVK không thấu triệt đạo Nho mà cắt xén lắm câu thâm trầm của Lục Vân Tiên”. Đáng nói nhất là “việc TVK cắt bỏ đoạn vua Sở nhường ngôi lại cho Lục Vân Tiên”. Quan điểm sĩ phu đương thời cho rằng nhân vật Vân Tiên của Đồ Chiểu chính là hình ảnh một anh hùng dân tộc từ trong dân chúng bước ra, như trường hợp một Trương Định, Nguyễn Trung Trực chẳng hạn. Sự cắt bỏ đoạn này của TVK là một hành động có hậu ý.
Thưa anh Trần Lâm,
I. Tôi đồng ý với một số ý kiến của anh (xét về nguồn gốc chữ Nho gắn với tư tưởng Nho học): “Nho giáo và chữ Nho được xem như tài sản của nhân loại chứ không riêng gì của người Trung Quốc. Như vậy, trong lối suy luận này, hoàn toàn không có chuyện ai “cho” ai”. Lịch sử Trung Hoa (bây giờ gọi là Trung Quốc) gồm nhiều nước ở nhiều thời kỳ lịch sử, được thống nhất vào Trung Hoa và có những thời kỳ người Mông, người Thanh cai trị, nhưng chữ Nho vẫn là ngữ hệ chính. Ở đây chúng ta cũng nên xét đến yếu tố “đồng hoá ngược”, tức kẻ đi chinh phục bị đồng hoá chứ không phải kẻ bị chinh phục.
Tuy nhiên, khi đại diện một quốc gia và có ý thức dùng chữ viết đó để đi chinh phục, thủ tiêu chữ viết, nền văn hoá, văn minh của quốc gia khác và áp đặt chữ viết, thì cho dù kẻ đi chinh phục (không phải đại diện sản sinh ra chữ viết ấy) vẫn lợi dụng vào đó để đạt mục đích thôn tính và đồng hoá. Ngữ hệ Latin không có nguồn gốc từ Pháp, và tiếng Pháp mới là mục tiêu “đồng hoá” chính và trực tiếp mà họ muốn áp đặt ở Việt Nam. Trong bài tôi đã dẫn và in đậm phát biểu của Giám mục Puginier. Mới có 100 năm độ hộ mà cụ Hoàng Xuân Hãn đã nói về cái nguy cơ “muốn nói tiếng Tây cho thoáng” rồi. Nếu người Pháp cũng có được 1.000 năm như người Trung Hoa thì có lẽ người Việt cũng đang nói và viết tiếng Pháp.
Trong bài, tôi nói đến cái “mục tiêu đồng hoá” này (nhưng ta vẫn giữ được tiếng nói), chứ tôi không nói đến nguồn gốc chữ viết (của người Việt) cũng như lợi ích mà chữ Quốc ngữ (cái vỏ ngữ âm) đang mang lại trên nhiều lĩnh vực đời sống.
Tại sao TVK chỉ sử dụng kiến thức Tây học để dịch những tài liệu ở dạng “cẩm nang giao dịch” giữa Pháp và Việt Nam. Những trí thức Tây học khi ấy cũng hầu hết là trí thức Hán học hoặc có kiến thức Hán học. Vậy khi ấy ông dịch những tác phẩm (truyền thống) mà những người biết đọc đều đã đọc được thì có tác dụng gì?
Những sách nhằm mục đích phổ biến chữ quốc ngữ của TVK:
– Sách vần quốc ngữ, Chuyện đời xưa lựa (1866), Kim Vân Kiều (1875), Đại Nam sử ký diễn ca (1875), Sơ học vấn tân quốc ngữ diễn ca (1877), Đại học (1877, 71tr), Trương Lương tùng Xích tòng tử du phú (1881, 7tr), Bất cượng, chớ cượng làm chi (1882, 8tr), Huấn nữ ca (1882, 36tr) Thơ dạy làm dâu (1882, 13tr), Chuyện khôi hài (1882, 16tr), Trương Lưu Hầu phú (1882, 17 tr), Thơ mẹ dạy con (1882, 12 tr), Nữ tắc (1882, 27 tr), Gia huấn ca (1883, 44 tr), Học trò khó phú (1883, 6 tr), Thạnh suy bĩ thời phú (1883, 7 tr), Huấn mông khúc ca (1884, 47 tr), Tam Tự Kinh quốc ngữ diễn ca (1884, 47 tr), Ngư tiều trường điệu (1884, 8 tr), Phú bần truyện diễn ca (1885, 24 tr), Lục súc tranh công (1884, 43 tr), Tam thiên tự giải âm (1887, 71 tr), Lục Vân Tiên truyện (1889, 79 tr), Trung Dung (1889, 137 tr), Phan Trần truyện (1889, 45 tr), Minh Tâm bửu giám (1893, 143 tr).
TVK mất năm 1898. Tháng 5/1906, vua Thành Thái mới ra dụ về tổ chức giáo dục hệ 3 cấp cho bản xứ được một nghị định của Paul Beau phê chuẩn: ở cấp I, học sinh học cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ; lên cấp II học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và một phần tiếng Pháp không bắt buộc; đến cấp III thì cả 3 thứ chữ đều bắt buộc học như nhau. Khoa thi chữ Hán chấm dứt vào năm 1918, 1919 và phải đến nửa đầu thế kỷ 20 chữ Quốc ngữ mới được những người yêu nước phổ biến rộng rãi.
Tôi nghĩ anh Trần Lâm cũng không nên quá suy nghĩ với chữ “cho” đó, bởi người ta vẫn nói “tiền trong túi mình thì là của mình”. Mình hãy sử dụng đồng tiền đó như nào cho có ích nhất. Những người yêu nước nhận ra âm mưu thâm hiểm đó, nên đã dùng chữ quốc ngữ như đòn “gậy ông đập lưng ông”, phục vụ cho việc đánh đuổi ngoại xâm. Nên những gì những người Pháp đã gây ra cho dân tộc ta và những gì ta nhận được ở họ đều đã “sòng phẳng”, nếu ai muốn đặt câu cảm ơn vào đây thì cũng nên đặt vào đó một lời thống hối.
Trả lời ông Trần Lâm.
1/ Sở dĩ tôi đưa hai thuộc địa cũ của Pháp ở Bắc Phi là Maroc và Tunisie được độc lập gần như không đổ máu ra so sánh với trường hợp của VN vì hai nước này bị Pháp bảo hộ gần với tr/h VN hơn, tức là nơi người Pháp đến để khai thác tài nguyên, và nhân công rẻ tiền, chứ không phải là đất đưa di dân đến lập nghiệp như Algeria, đúng với nghĩa của từ “thực dân”, giống như đất Mỹ, Canada, Úc trước kia đối với người Anh.
Theo Wiki, Pháp xâm chiếm Algeria năm 1830, và đến năm 1847 đã có 50 ngàn dân Pháp di dân qua đó. Pháp muốn biến Algeria thành một phần của chính quốc Pháp, đã cho các sắc dân Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Malta đến lập nông trại mà Pháp tịch thu của dân bản xứ rồi cấp cho; họ cũng sinh sống trong các thành phố lớn. Tất cả họ trở thành công dân Pháp. Sau cuộc trưng cầu dân ý để Algeria độc lập khỏi Pháp thì hơn 1 triệu người trong đám dân đó, chiếm tới 10% dân số, đã rời Algeria về Pháp. Trước đó, vì quyền lợi kinh tế lớn (vùng sa mạc phía Nam Algeria có nhiều dầu và Algeria hiện nằm trong nhóm OPEC), và do áp lực của khối thực dân này, Pháp phải hết sức giữ Algeria. VN không thể sánh với với tr/h của Algeria, vì tuy Nam kỳ bị coi là thuộc địa của Pháp, nhưng không phải là đất để Pháp di dân.
2/ Ông Trần Lâm viết tiếng Việt hơi lòng vòng và dùng tiếng bình dân, lại dẫn chứng Pháp ngữ, nên tôi tưởng ở Pháp đã lâu (tôi không có ý nóí ai ở Pháp lâu thì viết tiếng Việt không giỏi. trái lại là khác như các ông Đặng Tiến, Nguyễn Ngọc Giao). Tôi không biết và không nghĩ ở VN ngày nay “Phạm Hồng Thái được nhiều người kính trọng hơn Phạm Quỳnh”, mà nghĩ ông được sách báo, trường học, cơ quan tuyên truyền đề cao nhiều hơn Phạm Quỳnh. Nhưng tôi đã thử giải thích lý do tại sao chuyện như vậy có thể xảy ra. Ông Phạm Quỳnh bị Việt Minh thủ tiêu ở Huế sau CM tháng 8, nên dễ hiểu bây giờ trong nước không ai muốn nhắc tới tên ông, kể cả sự nghiệp văn học của ông, dù nghe nói con ông, một nhạc sĩ, đã vận động nhiều để phục hồi danh dự và giá trị của ông. Về Phạm Hồng Thái tôi viết “may là ông không sống tới sau CM tháng 8” vì biết đâu có thể ông chịu chung số phận với Lâm Đức Thụ, một đồng chí cũ thời cùng ở TQ. Ném bom ám sát (làm 5 thương gia chết), ngày nay coi là hành động khủng bố, nhưng ngày xưa được coi là hành động anh hùng, yêu nước. Tôi cũng đã được dạy ở trường tiểu học nhìn PHT như vậy nên không bàn thêm điểm đó. Nhưng PHT và một số bạn trẻ khi qua TQ lúc đầu họ thuộc nhóm VN Quang Phục hội của Phan Bội Châu, về sau tách ra thành nhóm chủ trương bạo động. Sau vụ ám sát ở Sa Điện, những người trong nhóm còn lại đã gặp Nguyễn Ái Quốc,và họ bắt đầu đổi chí hướng, trước hết ba người gia nhập đảng CS của TQ, và sau thành lập (hay gia nhập) đảng CS VN là Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn. Riêng Lâm Đức Thụ, có vợ Trung Hoa, nghe nói còn làm mai mối cho Nguyễn Ái Quốc với Tăng Tuyết Minh, vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng, nhưng không nghe nói vào đảng CS. Năm 1947, Lâm Đức Thụ bị VM giết chết ở quê Thái Bình vì nghi ông làm gián điệp cho Pháp. Phạm Hồng Thái chưa từng gặp Nguyễn Ái Quốc, và không phải là người CS.
Tôi không thấy cần viết gí thêm.
Bác TL:
1. Tôi không dè bỉu chữ nho đâu. Tôi nói về “cách cho” chỉ là để làm câu đối với cái tựa đề “cách cho [chữ QN] hơn của cho” của NMS. Chũ nào cũng quý cả.
2. Đồng ý là thực dân Pháp chỉ muốn đào tạo một lớp người Tây hóa ngoan ngoãn phục vụ thực dân, nhưng ý định là một chuyện, sự thực ra sao là chuyện khác. Đã Tây hóa, biết đọc mẫu tự La tinh, biết đọc sách Tây phương, thì sẽ không thể không tiêm nhiễm bởi tinh thần dân chủ khai sáng Tây phương, tinh thần quốc gia Tây phương, học hỏi kỹ thuật Tây phương, v.v. Do đó, chính sách “gậy ông đập lưng ông” của các nhà ái quốc ôn hòa rất sáng suốt. Ngay cả cuộc kháng chiến 1946-54 cũng khó thành công nếu không có sự tham dự tích cực của giới trẻ tây hóa, chẳng hạn vào việc giúp tuyên truyền cho kháng chiến bằng thơ, nhạc, kịch và các phương tiện truyền thông khác trong dân chúng, cổ võ cho họ ủng hộ cách mạng. Khó mà tưởng tượng sự ủng hộ nồng nhiệt như vậy nếu chưa có chữ quốc ngữ và chưa có trí thức Tây hóa mà chỉ toàn các vị nho sĩ như thời Cần Vương!
Bác Trần Lâm
Tôi không dè bỉu chữ nho đâu. Tôi nói về “cách cho chữ nho” là để làm câu đối với cái tựa “cách cho [chữ quốc ngữ] hơn của cho” của bác NMS mà thôi. Chữ nào thì cũng quí cả, nhất là nếu so sánh với mù chữ!
@ Phạm Quang Tuấn (& Nguyễn Mai Sơn), Phần 2: Chữ Nho
Những dòng chữ dưới đây là những lời múa rìu qua mắt thợ của một người không biết chữ Nho. Chỉ lạm bàn theo sách vỡ đã đọc được. Trên DĐ Talawas có ai thâm Nho thì xin đính chính hộ những điều tôi nói sai.
Khi bàn đến việc người Việt tiền hiện đại (premodern Vietnamese) dùng loại chữ do người Hán tạo ra, chúng ta không thể bỏ quên sự gắn bó giữa loại chữ này và Nho giáo. Tư tưởng Nho gia được diển đạt bằng loại chữ nói trên. Mà Nho giáo lại là một ý thức hệ toàn cầu, khác với ý thức hệ Quốc Xã (Nazi) là một ý thức hệ được dành riêng cho người Đức.
Do tính chất toàn cầu của Nho giáo nên loại chữ được dùng để diễn đạt ý thức hệ này không còn được xem như loại chữ của riêng một dân tộc mà là chữ nghĩa của thánh hiền, bất cứ ai cũng có quyền xài. Nói một cách khác: Nho giáo và chữ Nho được xem như tài sản của nhân loại chứ không riêng gì của người Trung Quốc. Như vậy, trong lối suy luận này, hoàn toàn không có chuyện ai “cho” ai.
Việc những dân tộc sống ngoài Trung Quốc dùng chữ Nho do đó không được xem như một việc làm mang tính chất nô lệ mà là một việc làm có tính cách văn minh. Tại Việt Nam hay nói đúng hơn tại Đại Việt, tư tưởng nói trên có thể đã bắt đầu được phổ biến từ thời Lê Thánh Tông. Tạ Chí Đại Trường cho biết:
“Trong lúc Ngô Sĩ Liên còn tự ti, nghĩ rằng Đại Việt chỉ là ‘hạng phiên thần đời xưa’ không thể tế Giao thì Lê Thánh Tông ngay lúc lên ngôi, đã chỉ cho viên ngự sử thấy rằng quyền lực nằm trong tay ông để xác nhận ông có quyền tế Giao như vua Trung Quốc. Rõ ràng trong sự nắm bắt kiến thức của nho giáo, ông đã có tự tín, đem sự hiểu biết rộng rãi, chứng minh tính căn bản của quyền lực trần thế đang nằm trong tay ông và nói chung, tính văn hóa là phổ biến chứ không phải đặc quyền khu vực, dù là khu vực khởi thủy xuất hiện của văn hóa ấy.”
(Tạ Chí Đại Trường, Thần, Người và Đất Việt, Văn Nghệ, 1989)
Chúng ta có thể thấy được lối suy luận mà Tạ Chí Đại Trường đã gán cho Lê Thánh Tông trong bức thư chữ Nho Phan Đình Phùng gửi trả lời Hoàng Cao Khải mà tôi đã lấy từ internet:
“Nhiên đệ thoái nhi tư chi, ngã quốc thiên bách niên lai, địa bất quảng, binh bất cường, tài bất phú, sở thị dĩ lập quốc giả, quân thần phụ tử ngũ luân nhi dĩ. Hán Đường Tống Nguyên Minh luỹ dục quận huyện kỳ địa, chung bất khả đắc. Phù tha chi dữ ngã, địa tắc tương liên, lực tắc vạn bội, nhi chung bất khả dĩ vi cường giả, thử vô tha, Nam quốc sơn hà, tiệt nhiên định phận, thi thư chi trạch, thành hữu khả thị dã.
Tư giả, dương nhân dữ ngã, tương cách bất tri kỳ kỷ thiên vạn lý chi dao, việt hải nhi lai, sở chí phong mị, thiên tử bôn ba, cử quốc hoàng hoàng, viêm Tống sơn hà, thành Kim thế giới. Thiên hạ chi trầm nịch hà như, khỉ đồ nhất châu nhất gia đồ thán nhi dĩ tai.”
“Nhưng tôi ngẫm nghĩ lại, nước mình ngàn năm nay, đất nước chẳng rộng, quân lính không mạnh, tiền của chẳng giàu, cái chỗ dựa để dựng nước, là nhờ có cái gốc vua tôi, cha con theo năm đạo thường mà thôi. Xưa kia nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, bao nhiêu phen lăm le muốn chiếm lấy đất ta làm quận huyện của họ mà rút cục vẫn chiếm không được. Ôi! Họ đối với nước ta, bờ cõi liền nhau, sức mạnh hơn ta vạn bội, thế mà trước sau họ không thể ỷ mạnh mà nuốt trôi nước ta được, nào có vì lẽ gì khác đâu, chẳng qua non sông nước Nam tự trời định phận riêng rõ ràng rồi, và cái ơn giáo hoá của thi thư vốn là chỗ dựa cho mình đấy. Đến nay người Tây với mình, cách xa nhau không biết là mấy muôn dặm, họ vượt bể lại đây, đi tới đâu như là gió lướt tới đó, đến nỗi nhà vua phải chạy, cả nước lao xao, bỗng chốc non sông nước mình biến thành bờ cõi người ta, thế là trọn cả nước nhà, dân nhà cũng bị đắm chìm hết thảy, có phải là riêng một châu nào hay một nhà ai phải chịu cảnh lầm than mà thôi đâu.”
Rõ ràng là trong bức thư chữ Nho này Phan Đình Phùng đã nhân danh những giá trị toàn cầu của Nho giáo để biện minh cho nền độc lập của Đại Việt hay Đại Nam đối với Trung Quốc, hoàn toàn không có một mặc cảm nô lệ hay vay mượn nào cả.
Cái mặc cảm này hình như là một sản phẩm của thế kỷ 20 và nó đã giúp cho một số trí thức (?) như Trần Ngọc Cư có được phương tiện để bày tỏ lòng yêu nước của mình một cách tương đối rẻ tiền và ít tốn thời gian.Có lẽ nói làm dáng là đúng hơn.
Tôi thật hiếu kỳ tại sao một cậu bé chưa học xong tiểu học đã theo cha mẹ vượt biên và được giáo dục tại Tây phương như tôi lại hoàn toàn không mang cái mặc cảm “mù chữ” như Trần Ngọc Cư, người đã hoàn tất con đường học vấn tại Huế …Có lẽ vì tôi đã may mắn đọc được sách của Tạ Chí Đại Trường!