Nguyễn Mai Sơn – “Cách cho hơn của cho”
03/09/2009 | 1:10 sáng | 52 Comments
Category: Lịch sử, Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: Chữ Nôm > Chữ Quốc ngữ
Đọc “Một thời mù chữ” của ông Trần Ngọc Cư, đến cuối bài tôi mới rõ hiện trạng “mù chữ” này có “tính lịch sử của đại khối dân tộc”. Và may mắn cho tôi là được đọc bài viết của ông Trần Ngọc Cư bằng chữ Quốc ngữ (Latin hoá), chứ không phải chữ Hán hay chữ Nôm. Vì thế có thể nói rằng những ai đọc được bài viết của ông Trần Ngọc Cư như tôi thì tối thiểu đều không “mù chữ” Quốc ngữ. Có điều dù không “mù chữ” Quốc ngữ thì ai cũng nhận thấy bài viết của ông Trần Ngọc Cư tiếng Hán – Việt vẫn chiếm rất nhiều trong cái vỏ chữ Quốc ngữ kia.
Lạ quá, hiện tại “Hán – Việt – Latin” vẫn “đề huề” trong ngôn ngữ và chữ viết hàng ngày của dân ta. Nếu chỉ đề cao một trong ba cái sự “đề huề” này thì sẽ không công bằng. Nhưng nó đã có “tính lịch sử” rồi thì còn biết làm sao được nữa, nhất là khi dân tộc ta ngay từ đầu đã không có một thứ chữ viết ổn định đủ khả năng để đề kháng ngoại lai. Ngay cả khi mượn vào hình thức chữ Hán để sáng chế ra chữ Nôm (khiến người Trung Hoa đọc cũng không hiểu) thì cũng vẫn bị mang tiếng là vay mượn. Ai chê trách người nghèo mang công mắc nợ nhỉ?
Nhưng áo rách còn giữ được lề, người Việt đã không đánh mất luôn tiếng nói của mình. Không có chữ viết thì đi vay mượn, mất chữ viết thì có thể học chữ viết khác, nhưng mất tiếng mà học tiếng khác thì trở thành người ngoại quốc mất rồi. Dân tộc ta tiếp thu nguồn Hán học cả hàng nghìn năm, và chính vì cái tiếng nói không mất nên không bị đồng hoá. Nhưng cái “tính lịch sử” nó cứ lặp lại như thế thì biết làm sao, bởi cả chữ Nôm và chữ Quốc ngữ đều là vay mượn để ký âm tiếng Việt cả.
Cụ Hoàng Xuân Hãn đã viết về Hội Truyền bá Quốc ngữ như sau: “Lần đầu nghe nói đến tên hội này, tôi lấy làm ngạc nhiên, rồi đáp: ‘Không ai mời tôi cả. Vả chăng ngày nay ai mà chẳng học Quốc ngữ; thì lập hội làm gì? Hoặc Quốc ngữ đây nghĩa là tiếng ta. Tiếng và văn Việt ngữ? Lập hội với mục đích ấy cũng tốt, vì ngày nay ai cũng muốn nói tiếng Tây cho thoáng, chứ không hiểu đúng tiếng ta, đến đỗi hạng lầm hiểu rằng ‘yếu điểm’ là điểm yếu, ngày càng nhiều’. Cụ để tôi nói dài mới ngắt lời, rồi đáp: ‘Truyền bá Quốc ngữ là truyền bá cách viết tiếng ta bằng những chữ la-tinh A, B, C” (“Nhớ lại hội Truyền bá Quốc ngữ…” – Báo Đoàn Kết tháng 9-10-1988).
Mục đích sử dụng chữ Quốc ngữ của những người Việt Nam yêu nước và mục đích của chính quyền Pháp là không giống nhau. Giám mục Puginier, từng nói: “Sau khi đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần, ban đầu bằng tiếng An Nam, rồi bằng tiếng Pháp, như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông” (Thư giám mục Purinier gửi Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa, 6-5-1887, Thư khố Pháp quốc Hải ngoại A00 (30) hay N.F 541). Còn ở Nam Kỳ, ngày 6/4/1878, Đô đốc Hải quân – Thống soái Nam kỳ Louis Lafont ra nghị định số 82 bắt buộc các công văn, thư từ hành chính phải viết bằng chữ Quốc ngữ thay vì chữ Hán hay chữ Nôm. Rất may các cụ nhận ra cái việc “nói tiếng Tây cho thoáng” mà “không hiểu đúng tiếng ta” là việc đồng hoá nguy hại, nên truyền bá chữ Quốc ngữ như một đòn “gậy ông đập lưng ông” đánh vào mưu đồ đó.
Trong lá thư đề ngày 12/01/1882, từ Chợ Quán “Kính gởi các vị trong Hội đồng Thuộc địa”, Trương Vĩnh Ký viết rõ hơn về mục đích các tác phẩm của ông:
“Thưa quí vị,
Tôi hân hạnh gởi đến quí vị một bản trình bày từng tác phẩm xuất bản mà tôi đã biên soạn. Làm như vậy, ý định của tôi là để chứng tỏ với quý vị rằng trong 13 cuốn sách tôi đã xuất bản cho đến nay do tiền tôi bỏ ra, tôi chưa bao giờ đi lệch mục tiêu chính và trực tiếp mà tôi đã trình bày trước đây trong các thư tôi viết vừa cho nhà cầm quyền, vừa cho Ủy ban Phụ trách Cứu xét những tác phẩm của tôi. Mục tiêu đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam” (Nguyễn Sinh Duy, Cuốn sổ bình sinh của Trương Vĩnh Ký, NXB Nam Sơn, Sài Gòn, tháng 3,1975).
Khi tôi đề cập việc cần nhìn nhận vấn đề “mù chữ” trong hiện tượng “đồng văn” ở phương Đông cũng như phương Tây, thì ông Trần Ngọc Cư đã phản hồi rằng: “Ngữ hệ Hán có cánh cửa cơ hội là ngàn năm lịch sử để hình thành một loại chữ viết kí âm tiếng nói của người Việt, nhưng cao điểm cũng chỉ tạo ra được chữ Nôm, một thứ chữ viết rối rắm. Vua Quang Trung với ‘Sùng Chính viện’ chỉ là một loé chớp trong đêm dài nô lệ chữ Hán”.
Ông Trần Ngọc Cư đã nói như thánh phán khi một sự việc mà nguyên nhân và kết quả đã bày ra trước mặt mọi người để có thể so sánh sự tiện lợi giữa việc viết bằng chữ Nôm và viết bằng chữ Quốc ngữ (trong một ý thức, tâm lý và quán tính sử dụng đã trở nên nhuần nhuyễn). Nhưng nếu người Trung Quốc, Nhật Bản (trừ Hàn Quốc ra vì chữ viết có vẻ giản tiện hơn) cũng có “tinh thần so sánh” như trên thì chắc họ cũng sẽ bỏ quách cái chữ họ đang dùng đi cho khoẻ vì đỡ “rối rắm” hơn chăng? Vâng, nếu có thể so sánh (dù rất buồn cười) thì một đứa trẻ ở Việt Nam có thể học chữ Quốc ngữ trong một thời gian ngắn (loại trừ một số học sinh lên lớp 5 rồi mà vẫn chưa biết đọc như báo chí từng đưa tin), nhưng với một đứa trẻ Trung Quốc, cũng không phải vì ít thuận tiện hơn trong việc viết chữ Hán (thay bằng Latin) mà bảo rằng nó sẽ học không đúng cấp (tức mất nhiều thời gian để học lớp 1. lớp 2…), ít kiến thức hay ít thông minh hơn…
Khi chữ Nôm được đưa vào trong thi cử, chắc chắn đó không phải là một “thách đố” mà chứng tỏ việc học chữ Nôm đã trở nên phổ biến trong xã hội, có tác động nhiều đến tầng lớp bình dân. Năm 1791 vua Quang Trung cho lập “Sùng Chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm. Dĩ nhiên dịch sang Nôm là diễn đạt bằng ngữ pháp của người Việt. Còn thì chữ Nôm cũng chỉ chiếm khoảng 20% trong cái kho từ vựng chữ Hán. Vì thế việc viết khoảng 20% chữ Nôm cũng không phải công việc khó tới mức không làm được khi lịch sử phát triển của nó đã trải dài trước đó cả vài trăm năm. Điều đáng tiếc là năm 1791 vua Quang Trung cho lập Sùng Chính viện thì năm 1792 ông qua đời.
Nếu nói về thành công của văn xuôi chữ Nôm, trước đó phải kể đến những tác phẩm kinh sách của Minh Châu Hương Hải (1628-1715) với lối hành văn tiếng Việt không khác với chúng ta ngày nay. Trong Giải tâm kinh ngũ chỉ, Minh Châu Hương Hải viết bằng chữ Nôm: “Nương lời trong kinh, dịch rằng Thích Ca Thế tôn thuở trú trong non Linh Thứu, vào toạ thiền, nhập quang minh đại định. Khi ấy, Xá Lợi Tử bạch Quán Tự Tại Bồ tát rằng: ‘Dầu có chúng sinh tu hành, muốn học cửa pháp Bát nhã thần thông vi diệu, rằng làm sao cho hiểu thấu được’. Quán Tự Tại Bồ tát bèn dạy bảo Xá Lợi Tử rằng: ‘Thích Ca Thế tôn diễn thuyết đại bộ Bát nhã sáu trăm quyển. Một Bát nhã tâm kinh này lấy làm chí tinh, chí yếu, là mẹ đại bộ chư kinh, truyền sang Đông độ, đã năm lần dịch. Đến đời Đường, Huyền Tráng pháp sư lại vâng chiếu dịch truyền để Đông độ lấy làm chính giáo thịnh hành…”. Xin tìm đọc cuốn Toàn tập Minh Châu Hương Hải, NXB TPHCM, 2000 của Lê Mạnh Thát.
Như vậy, cái “loé chớp trong đêm dài nô lệ chữ Hán” mà ông Trần Ngọc Cư hùng hồn nói chẳng qua khi chúng ta đã không còn cơ hội để đặt giả thiết nếu vua Quang Trung không mất sớm và nếu người Pháp không xâm lược Việt Nam thì… nữa. Và khi chúng ta vẫn đang sử dụng “Hán – Việt – Latin” một cách “đề huề” trong ngôn ngữ và chữ viết (vỏ ngữ âm) như vậy mà ông Trần Ngọc Cư sử dụng từ “nô lệ” cho riêng chữ Hán thì thật thiếu công bằng. Khoảng gần 80% từ Hán – Việt mà chúng ta đang sử dụng để ít nhiều có thể hiểu nhau qua diễn đạt tư tưởng, tình cảm (bằng cái vỏ ngữ âm Latin) có nguồn gốc từ đâu? Không biết hơn 1000 năm sau, thời thế đổi thay (dĩ nhiên không ai mong dân tộc ta bị thế lực nào đó đồng hóa), con cháu chúng ta có bảo chúng ta “nô lệ chữ Quốc ngữ” hay không?
Sự vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn của chữ Nôm chắc không phải để “mua vui” như Nguyễn Du nói ở cuối Truyện Kiều. Vì rõ ràng cái chữ Nôm đó đã diễn tả được tiếng nói của dân tộc trong một giai đoạn phát triển ngôn ngữ mà chữ Hán không thể thay thế được. Vì thế từ Trần Nhân Tông đến Lê Thánh Tông, Quang Trung, cùng với hàng loạt các danh dân, trí thức mà chúng ta tự hào nói đến, họ đều là những người thông Hán và giỏi Nôm cả. Các vị ấy đều đã mất công mất sức thâm nhập vào chữ Nôm (“rối rắm”) để mang đến cho dân tộc những ngôn ngữ gần với đời sống hơn.
Không ai phủ nhận lợi ích của chữ Quốc ngữ trong việc dùng nó để chống lại Pháp và sự thuận tiện của nó hiện nay. Nhưng cần có một cái nhìn công bằng hơn với chữ Hán – Nôm, đặc biệt là chữ Nôm. Vì muốn hiểu tư tưởng của tiền nhân không chỉ có sự nỗ lực học tập mà còn rất cần có tấm lòng nữa. Trong sự “lựa chọn” mà không thể còn lựa chọn nào khác (“thông minh”) hơn thì đó chính là “tính lịch sử” (đã rồi) như ông Trần Ngọc Cư đã nói về sự “lựa chọn”. Còn dĩ nhiên, chữ Quốc ngữ (kể cả trước đó là chữ Hán) làm sao có thể lấy đi cơ hội thành công của chữ Nôm được. Chỉ có điều cái chính quyền áp đặt việc thủ tiêu nó mới lấy đi cơ hội thành công của nó mà thôi. Tháng 5/1906, dụ của vua Thành Thái về tổ chức giáo dục hệ 3 cấp cho bản xứ được một nghị định của Paul Beau phê chuẩn: ở cấp I, học sinh học cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ; lên cấp II học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và một phần tiếng Pháp không bắt buộc; đến cấp III thì cả 3 thứ chữ đều bắt buộc học như nhau. Một “chính sách” xuyên suốt và có hệ thống như thế thì làm gì còn cơ hội cho chữ Nôm (Nôm na là cha mách qué) thành công.
Trong ý kiến trước, tôi nói: “khi “mù” đã có tính “lịch sử” rồi thì… trách ai, ai trách bây giờ trách ai?”. Nhưng qua ý kiến ngắn phản hồi của ông Trần Ngọc Cư thì tôi đã hiểu một vài phần về cái sự “mù chữ” ấy. Tôi cũng xin nói thêm rằng, trong cái hiện tượng “đồng văn”, dân tộc ta đã từng được “ban cho” chữ viết (nói như ai đó), nhưng sự tỉnh táo của người Việt là đã biết vận dụng sự tiện ích của nó nhằm bảo vệ tiếng nói, non sông của mình. Nên dù có phải nói lời cảm ơn (hay gượng ép phải cảm ơn vì từng bị “đấm đá”) thì trước khi nhận một “món quà” người Việt cũng hiểu được thế nào là “cách cho hơn của cho”.
© 2009 Nguyễn Mai Sơn
© 2009 talawas blog
@ NMS: trước khi gõ những dòng vừa rồi, tôi chấp nhận (giả định) sẽ bị nói là không đọc bài mà lên tiếng là vô căn cứ, nhưng gõ như thế để tránh phải nói những điều thực chất hơn (Tôi không nói lý do). Tôi nghĩ một tay viết như ông, với những chủ đề như của ông, thì quá thừa biết hiện có làn sóng “ở đâu đó” chống việc du nhập chữ quốc ngữ mà! [tất nhiên ông lại sẽ nói không chống việc du nhập mà chống cách du nhập : ))].
Vì sao ông luôn tỏ ra ôn tồn, hòa nhã, nhưng cách trả lời vừa rồi lại cạnh khóe và hằn học như vậy?
Nếu ông tập trung bác bỏ đoạn mà tôi dẫn lại của anh Phạm Quang Tuấn thì tôi (và người đọc) sẽ thấy hấp dẫn hơn.
PS: Tôi cũng vừa đọc lại comment đầu của mình và thấy vì kiệm lời nên có thể khiến hiểu lầm. Ý của tôi trong đó không nói rằng “có việc phê phán (gay gắt) giáo sỹ Công giáo đem/ tạo chữ quốc ngữ vào/ cho Việt Nam” là trong bài của NMS, mà là như tôi nói trong comment thứ 2.
Tôi xin lỗi ông NMS và bạn đọc vì điều đó! Nhưng một lần nữa xin nhấn mạnh rằng tôi mong ông NMS hãy so sánh – cho bài được “trọn vẹn” – “cách cho” cái “của cho” của người TQ trong 1.000 năm đô hộ VN.
Và, NẾU theo chiều hướng muốn LẶP LẠI sự “tố tụng” đối với lịch sử, điều mà từ đổi mới đến nay các nhà sử học VN đã từ bỏ và đưa ra cách nhìn công tâm hơn với mọi đối tượng của quá khứ, thì vì sự công bằng lịch sử, cũng mong rằng các nhà nghiên cứu của mảng này sẽ “vạch mặt chỉ trán” những quan lại (hay học giả, nhà tu hành cũng thế) người Hán nào đã đem chữ Hán vào VN bằng và theo chân đoàn quân xâm lược và đô hộ.
Le Huy Hoang:
Tôi nghĩ rằng việc tránh fallacy và biện luận đứng đắn rất quan trọng vì nếu không tranh luận sẽ đưa tới ngụy biện và ngõ cụt. Tuy nhiên, NMS dùng chữ “fallacy” một cách lỏng lẻo chứng tỏ ông chẳng hiểu gì về quan niệm đó cả, cứ thấy ai nói gì mình không đồng ý là gọi ngay là fallacy.
NMS: “Vâng chỉ có bất bạo động với người Pháp thì mới thành công thôi. Thành công thế nào thì cũng đã trở thành “tính lịch sử” rồi.”
Phải chăng NMS muốn nói rằng bạo động như 1945-53 là có thành công đó chứ? Nhưng tôi (và TVK) không nói về thời 1945-1953, mà đang nói về TK 19! Trong thời điểm đó, cái nhìn cho rằng bạo động là vô vọng hoàn toàn đúng vì nước ta hãy còn quá lạc hậu về mọi mặt, và ngay cả đàn anh Trung Quốc cũng quá lạc hậu và yếu, không “giúp” được như thời 1946-1954. Và ngay cả “thành công” 1954, với khoảng cách lịch sử mà chúng ta có bây giờ, cũng có thể thấy là quá đắt so với những phương cách khác mà các nước quanh chúng ta dành độc lập (dĩ nhiên, người thời đó không thể thấy trước được cái đó).
Những lý lẽ ông NMS không thuyết phục, chỉ nhắc lại những luận điểm cũ, không đáp lại được lập luận của tôi, nên không cần trả lời thêm.
@ Hoà Nguyễn
“Cứ cho là bài “Tân Trào Nhân Chánh Ca” là lời khuyên thật lòng của ông Trương Vĩnh Ký đối với người dân miền Nam lúc đó”.
>> Đây là “lời khuyên thật lòng” hay nhất mà tôi từng nghe thấy. Trong lời khuyên đó, những người “bị” khuyên và phải nhớ mà “học thuộc lòng” nhé: “Bề trên vẫn thật không cầu. Giả danh trung nghĩa làm sầu cho dân. Trên còn hoà nghị giao lân. Sá chi mình phận thần dân tài gì”. (họ đã hoà nghị giao lân đằm thắm với bao nhiêu “chữ vàng”: khai hoá văn minh… với quân đội, súng ống, tàu chiến và lính đánh thuê… ngay trên đất nước mình như thế cơ mà)
Và:
“Bất nhơn lòng thật chẳng lành
Dốc tình cầu lợi cầu danh hại người
Bạc một sao xứng vàng mười
Trứng đem gieo đá nực cười cho ai
Nói ngay nhiều kẻ trái tai
Xôn xao cũng gọi mình trai anh hùng”…
Xin hãy đọc thật kỹ những “lời khuyên” (được diễn giải là “bất bạo động”) này trong một hoàn cảnh lịch sử (đã rồi) mà chúng ta đã được “ngắm nghía” hầu như trọn vẹn từ A đến Z.
Vâng nếu bên nào cũng chỉ vào bên kia để đưa ra lời khuyên “bất bạo động” thì sẽ không còn ai phải bàn luận về chiến tranh. Chỉ có thể nói đó là tương tưởng an bài “mạnh được yếu thua” thôi! Thấy cái gì mạnh thì hãy tránh đi!
>> Trong khi lòng căm phẫn thực dân Pháp của người Nam Bộ dân cao, “lời khuyên thật lòng” với những lời lẽ vừa khiêu khích vừa doạ dẫm vừa miệt thị, vừa đổ tội như vậy mà làm cho nghĩa quân không “nổi đoá” sự bạo động lên thì mới đáng xem là chuyện lạ. Chứ cứ bình tĩnh khuyên giải, phân tích về tình hình chiến trường, hoàn cảnh “lịch sử” như ông Hoà Nguyễn thì nghĩa quân biết đâu lại phục quá.
>> Đúng là: “Lời khuyên kia cũng có dăm bảy đường”!
Mời các bạn đọc bức mật thư mà Trương Vĩnh Ký đã gửi cho Đô Đốc Duperré sau chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi, tức năm 1876, để có thêm căn cứ trong việc đánh giá vai trò của nhân vật này trong lịch sử Việt Nam thời cận đại.
Toàn bộ bức thư nói trên được Giáo sư P.J. Honey ở School of Oriental and African Studies, University of London, công bố trong tác phẩm Voyage to Tonking in the Year of Ất Hợi (1876).
Tôi đã phóng ảnh và đưa sử liệu quí báu này lên mạng internet để mọi người cùng đọc. Xin ấn vào đường nối kết dưới đây để có thể đọc nó:
http://www.virtualarchivist.wordpress.com
@ Lê Tuấn Huy
“Tôi không đọc bài này nhưng biết có việc phê phán (gay gắt) giáo sỹ Công giáo đem/ tạo chữ quốc ngữ vào/ cho Việt Nam”.
>> Đọc xong câu này tôi cứ nghĩ ông Lê Tuấn Huy là một nhà tiên tri: “không đọc bài” nhưng “biết”… Cái “biết” này trật lất. Vì trong bài đang nói về một vấn đề liên quan đó là “mục đích” sử dụng chữ Quốc ngữ và cách người ta tiêu diệt chữ Hán – Nôm (tôi lưu ý nhiều đến chữ Nôm).
Câu tôi dẫn về mục tiêu “đồng hoá” qua những tác phẩm của Trương Vĩnh Ký (do chính Trương Vĩnh Ký viết), để so sánh “mục đích” dùng chữ Quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký với những người khác.
>> Không có một từ ngữ nào trong bài có việc “phê phán (gay gắt) giáo sỹ Công giáo đem/ tạo chữ quốc ngữ vào/ cho Việt Nam”. Ông tự dựng vấn đề (không kém phần phức tạp) này vào bài viết của tôi là có dụng ý gì thưa ông Lê Tuấn Huy?
>> “Thái độ” tranh luận kiểu này lần đầu tiên tôi gặp trên diễn đàn Talawas. Xin ngả mũ bái phục… Tiến sĩ Lê Tuấn Huy!
Xin cám ơn ông Lê Anh Dũng giới thiệu bài viết về Trương Vĩnh Ký của ông Vũ Ngự Chiêu đã gây nhiều nhiều tranh cãi ở ngoài này. Tôi không có điều kiện kiểm chứng nhiều sự kiện trong bài đó là đúng hay sai. Khi góp ý tôi chỉ căn cứ vào các thông tin, sử liệu có từ trước được nhiều người biết, chẳng hạn như thấy ờ :
http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%C6%A1ng_V%C4%A9nh_K%C3%BD
Riêng thời điểm xuất hiện bài thơ “Tân trào Nhân Chánh ca ” dẫn ở đây, tôi đã theo bài viết của ông Nguyễn Mai Sơn ghi là vào tháng 5, 1898 (nhưng dường như không đúng, và nếu vậy cái ý liên kết hai sự việc của tôi không sát hợp). Ông Trương Vĩnh Ký chết ngày 1-9-1898.
Theo tôi biết tiến sĩ sử học Vũ Ngự Chiêu viết rất nhiều về Trương Vĩnh Ký; ta có thể Google với 2 từ khóa “Vũ Ngự Chiêu Trương Vĩnh Ký”, và sẽ có khá nhiều tài liệu trên mạng. Xin giới thiệu.
Riêng tôi, thường đọc Vũ Ngự Chiêu với rất nhiều dè dặt về những ý kiến của ông. Tôi không có ý kiến về sử liệu tìm ra, và phương pháp làm việc của Vũ Ngự Chiêu, vốn là những điều tôi không có đủ trình độ để thẩm định.
Cứ cho là bài “Tân Trào Nhân Chánh Ca” là lời khuyên thật lòng của ông Trương Vĩnh Ký đối với người dân miền Nam lúc đó, thử nhìn bối cảnh lịch sử lúc bài thơ này được in ra (Tháng 5, 1898), đúng vào năm ông TVK qua đời.
Pháp chính thức chiếm ba tỉnh miền Đông ở Nam Bộ từ tháng 6 năm 1862 qua thỏa ước nhượng bộ của triều đình Huế, và chính thức bảo hộ toàn cõi VN từ tháng 6 năm 1884, bằng hiệp ước Pháp-Việt Patenôtre, sau khi VN nhờ TQ qua giúp nhưng không thành công. Lúc đó các cuộc khởi nghĩa lớn tự động nổi lên ở mìền Nam đã thất bại, tàn rụi từ lâu. Nhưng qua bài thơ nêu trên của TV Ký chúng ta ngày nay có thể xúc động thấy hơn 10 năm sau khi VN “đầu hàng” (Pháp) vẫn có một số người dân Nam bộ tiếp tục chống Pháp, bằng phương tiện rất thô sơ, nhưng đồng thời không khỏi thương xót họ đã làm thế trong tuyệt vọng. Đến tháng 5, 1898 có bài thơ của TVK khuyên họ hãy “buông tầm vông” trở lại với ruộng đồng, cam chịu cuộc sống của người dân mất nước, nhưng giữ được sinh lực của dân tộc để dành cho tương lai. Tất nhiên bài thơ đó phải viết khéo thế nào để cho cả người Pháp và người VN đều chấp nhận được (như thế mới được đăng và được đọc). Nếu là một “trí thức VN” vào lúc đó, có ai khuyên những người dân giàu lòng yêu nước như thế hãy đánh nhau với Pháp cho đến người Việt cuối cùng, hay cho đến khi Mao Trạch Đông lập được chiến khu ở Diên An, nhận được vũ khí từ Liên Xô, giải phóng được Trung quốc, rồi giúp VN giải phóng khỏi thực dân Pháp? Các nhà Nho VN lúc đó, tiêu biểu cho tầng lớp trí thức trong nước, mà đại diện nổi bật là nhóm “Đông Kinh nghĩa thục” (1907), với hiểu biết rất là hạn chế, đã nghĩ đến nhiều cách cúu nước khác hơn là tiếp tục đối kháng Pháp bằng vũ khí không cân xứng. Trương Vĩnh Ký, tuy là người Công giáo, nhưng có phong cách sống, cách làm việc và suy nghĩ, sự quan tâm đến đất nước như một nhà Nho VN thời đó. Tôi thấy ông không nghĩ khác các nhà Nho, lại thuộc giới khoa bảng, của miền Bắc và Trung sống cùng thời.
Ông TV Ký tuy là công chức của Pháp (dạy học và làm công việc hành chính), nhưng ông làm việc cho VN nhiều hơn: là thông dịch viên trong phái đoàn Phan Thanh Giản khi qua Pháp, làm vai trò trung gian giữa toàn quyền Pháp (Paul Bert) với triều đình Huế, hội viên Cơ mật viện của triều đình Huế, dạy chữ Pháp cho vua Đồng Khánh. Nếu nghi ngờ ông làm thế như là tay sai (hay mật vụ) của Pháp thì cần phải đào xới sâu hơn nữa vào lịch sử và lý lịch của ông.
Về sinh hoạt văn học có thể nhìn thấy một khía cạnh riêng trong tâm hồn ông. TVK đã chuyển từ chữ Nôm qua chữ Quốc ngữ những tác phẩm lớn hay phổ thông của VN, như Kim Vân Kiều, Gia Huấn ca, Phan Trần, Lục súc tranh công… Nhưng còn có hai tác phẩm đáng chú ý là Đại Nam Quốc sử diễn ca, tập thơ ca tụng lịch sử vẻ vang, những anh hùng, liệt nữ của người Việt, và truyện thơ Lục Vân Tiên sáng tác vào thời đó của nhà Nho chống Pháp nổi tiếng Nguyễn Đình Chiểu. Nếu là người hết lòng phục vụ cho sự đồng hóa người VN vào dòng văn hoá Pháp, chắc chắn ông TVK không giúp cho việc truyền bá rộng rãi hai tác phẩm trên giữa những người Việt miền Nam bỗng dưng bị cắt đứt ra khỏi phần còn lại của đất nước, về cà hai phương diện chính trị và học thuật, văn hoá (khi Nam bộ trở thành thuộc địa trực trị của Pháp).
Bàn riêng về ông Trương Vĩnh Ký phải là câu chuyện rất dài.
Tôi không đọc bài này nhưng biết có việc phê phán (gay gắt) giáo sỹ Công giáo đem/ tạo chữ quốc ngữ vào/ cho Việt Nam.
Ý kiến sau của anh Phạm Quang Tuấn thật xác đáng, mà tôi nghĩ nên in đậm nét:
Về “cách cho” thì cách người Tàu “cho” ta chữ Hán – và do đó, gián tiếp, chữ Nôm – còn tệ hơn cách người Tây cho ta chữ quốc ngữ rất nhiều. Cho một hệ chữ, đổi lấy 1000 năm đô hộ cộng thêm 1000 năm lệ thuộc văn hóa chính trị! Những giáo sĩ đã chế ra quốc ngữ không phải ai cũng thực dân như Puginier, hiển nhiên họ làm việc đó chỉ để ghi xuống một ngôn ngữ mới (đối với họ) bằng một mẫu tự mà họ quen thuộc. Thời nay, một người Việt mà đi xứ Hàn, Nhật, v.v. và chưa học nổi chữ địa phương thì cũng sẽ dùng abc để ghi xuống những câu từ cần học như họ mà thôi.
Mệt thât, mở trang nào cũng thấy các bác choảng nhau về biện luận. Tôi thiết tưởng chúng ta đều đã biết a, b, c, i tờ rồi và cả văn phạm nữa, thành đâu cần mỗi khi viết vài hàng lại phải nhắc nhở nhau những “fallacy”. Các bác để cho độc giả tự xem ai nghịch luận, ai ngông luận… Hơn nữa các bác càng hăng tiết lại càng trộn nhiều chữ Tây chữ Tầu vào đấy. Xin Talawas được phép góp ý này vì bình thường tôi chỉ là độc giả âm thầm thôi.
Thưa ông Phạm Quang Tuấn,
Cảm ơn ông đã nhắc nhở tôi về “thiện chí trao đổi tích cực” (nếu ông đã nghĩ rằng tôi chưa có điều này). Tuy nhiên, xin ông đọc lại ý kiến của mình:
Ông bắt đầu thế này: “Về câu “đồng hóa” của Trương Vĩnh Ký, nên cẩn trọng không nên dùng để vội kết án ông ta hay để bảo vệ một luận điểm nào đó”.
Rồi ông tự đặt câu hỏi: “Ông viết vậy với ý đồ gì?”
Và rồi ông trả lời: “Trong khung cảnh đô hộ mà thực dân Pháp thực sự muốn đồng hóa dân Việt, TVK lại là người cặm cụi phát triển và quảng bá tiếng Việt, văn hóa Việt (bằng công cụ quốc ngữ), thì không thể không gây nghi ngờ trong mắt người Pháp”.
Vâng nếu đó không phải là “đi guốc vào bụng” người khác thì tôi được xin lỗi ông.
Về fallacy:
Câu trên thì ông “khuyên” người ta cẩn trọng với từ “đồng hoá”. Câu dưới thì ông viết: “Nhất là khi ông vẫn để tóc dài, mặc áo Việt, giữ quốc tịch Việt không chịu vào dân Tây. Do đó, khi ông quả quyết với người Pháp rằng ông muốn giúp họ “đồng hóa” dân An Nam thì ta cũng nên thận trọng đừng vội tin (tiếng Anh: take it with a grain of salt). Cách giải thích hiển nhiên và hợp lý là ông muốn “thủ bên sườn” (guard his flank)”.
>> Ví dụ: Có một anh lính Việt Nam Cộng hoà hoạt động nằm vùng bên Cộng sản. Anh ta sẽ mặc gì, đeo gì, để tóc gì, tự nhận mình là công dân của nước gì…? Vì cái hình thức của anh mà bảo rằng anh ta không có tư tưởng diệt cộng thì chắc sẽ nhầm to? (ở đây cần một cái nhìn “tổng thể”).
Ông Phạm Quang Tuấn viết tiếp: “Căn cứ vào câu “đồng hóa” để đánh giá ý đồ của TVK thì cũng y như một số người đã căn cứ vào lá thư xin học trường thuộc địa của Nguyễn Tất Thành để đánh giá ý đồ của ông (”Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’ instruction…”: Tôi mong ước trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể làm cho họ hưởng được lợi ích của học vấn [Pháp]). Dĩ nhiên, tôi không đồng ý với cách đánh giá hời hợt này”.
>> Lá thư của Trương Vĩnh Ký “đồng hoá” với lá thư của Nguyễn Tất Thành.
Tôi viết: “Nhưng nếu nói chỉ bàn đến công “nâng cao văn hoá dân trí người Việt” thôi chứ đừng nói đến cái tội (cũng không ít chuyện luận, thậm chí sách viết về cái tội này)… thì ông Phạm Quang Tuấn mắc lỗi fallacy”.
>> Với mục tiêu “đồng hoá” (tạm gọi là cái tội) của Trương Vĩnh Ký (giấy trắng mự đen) như vậy mà ông Pham Quang Tuấn khuyên mọi người đừng vội nghe nói và hãy nhìn việc làm. Đã vậy ông phải nhắc nhở rằng Trương Vĩnh Ký “nâng cao văn hoá dân trí người Việt”. Nếu đó không phải là “lỗi fallacy” thì một lần nữa tôi lại xin lỗi ông Phạm Quang Tuấn vậy.
Ông Phạm Quang Tuấn tiếp: “Bài thơ ông NMS dẫn không chứng minh rằng TVK muốn đồng hóa với người Pháp, chỉ cho thấy là TVK không đồng ý với đường lối đấu tranh bạo động của những nghĩa quân mà ông cho là không hợp thời và vô vọng”.
>> Vâng chỉ có bất bạo động với người Pháp thì mới thành công thôi. Thành công thế nào thì cũng đã trở thành “tính lịch sử” rồi. “Lời khuyên” (có tính đe doạ: “Tầm vông mà chống sao vừa Sácbô”, và miệt thị nghĩa quân là “giả danh trung nghĩa”) như vậy mới gần với tư tưởng bất bạo động. Và có vẻ như nghĩa quân hãy “ngoãn ngoãn” mà “ngư, tiều, canh, độc” nhé! Với vai trò là chủ bút của một tờ báo công cụ của Pháp, ông mà khuyên nghĩa quân bạo động đó mới là điều lạ nhất ở trên đời. Ở điểm này, ông không chỉ là thông ngôn mà còn là “văn công” của Pháp.
Tôi không tự xưng là đi guốc vào bụng ai, chỉ cho ý kiến của tôi về động cơ của một người thời xưa, căn cứ theo những gì tôi biết. Xin ông NMS chứng tỏ thiện chí trao đổi tích cực bằng cách đừng dùng từ ngữ phóng đại.
Bài thơ ông NMS dẫn không chứng minh rằng TVK muốn đồng hóa với người Pháp, chỉ cho thấy là TVK không đồng ý với đường lối đấu tranh bạo động của những nghĩa quân mà ông cho là không hợp thời và vô vọng. So sánh những người tranh đấu bạo động với những người tranh đấu ôn hòa như ông NMS đề nghị, là một so sánh khập khiễng. Phải so sánh thế này: nếu bây giờ có người lén vào VN đặt bom hay kêu gọi lật đổ chính phủ bằng võ lực hay lập chiến khu đâu đó, tôi chắc chắn ngay trong cộng đồng người Việt kêu gọi dân chủ hóa sẽ có rất nhiều người, thậm chí có thể đa số, phản đối. Điều đó không có nghĩa là họ không đồng ý với mục tiêu tối hậu.
Ông NMS nhắc lại một lần nữa là TVK muốn đồng hóa vì chính TVK đã nói chữ “đồng hóa”, mặc dù tôi đã đưa ra một giải thích hợp lý về câu đó. Nhưng NMS lại không nói là tôi giải thích sai ở chỗ nào!
Ông NMS bảo tôi đã phạm fallacy. Xin cho biết rõ là fallacy gì?
“Đồng hoá” là từ dùng của chính Trương Vĩnh Ký. Nhưng tôi không nghĩ rằng ông Phạm Quang Tuấn có thể “đi guốc vào bụng” Trương Vĩnh Ký.
“Công” và “tội” chỉ cách nhau gang tấc thôi, nó cần người ta “cảm thông” lắm. Điều này do chính Trương Vĩnh Ký viết:
“Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai”.
Và “Xin hãy thương tôi, ít ra những bạn hữu của tôi”.
Ông Phạm Quang Tuấn nói: “Khi đánh giá một người, hãy nhìn tổng thể những gì họ làm, đừng nghe những gì họ nói! Những gì TVK làm là chăm chú vào nâng cao văn hóa, dân trí người Việt, theo cách của ông”.
Vì sao một người có thể lên đến chức Đại tá, thậm chí Tướng trong hàng ngũ của “địch” nhỉ? Chắc chắn họ không chỉ có “nói” mà lên đến chức đó. Tôi chưa thấy nghĩa quân, nghĩa sĩ nào chống Pháp “thanh minh” rằng Trương Vĩnh Ký là “quân mình” (dù ông ta mới chỉ làm Thông ngôn cho Pháp). Nếu được, ông Phạm Quang Tuấn chứng minh điều này cho tôi. Còn chuyện “công” và những đóng góp của ông Trương Vĩnh Ký về văn hoá thì ông khỏi phải nói nữa, đã có những “hội thảo” và chuyên luận nói đến nhiều rồi. Nhưng nếu nói chỉ bàn đến công “nâng cao văn hoá dân trí người Việt” thôi chứ đừng nói đến cái tội (cũng không ít chuyện luận, thậm chí sách viết về cái tội này)… thì ông Phạm Quang Tuấn mắc lỗi fallacy.
Ý nghĩ, lời nói và hành động là một tổng thể để đánh giá một con người. Do đó “nhìn tổng thể” đích thực là phải nhìn đầy đủ như vậy. Tôi dẫn lời viết của chính ông Trương Vĩnh Ký (ngôn ngữ để biểu đạt tư duy) chứ tôi không nghe ông ta “nói” những lời không “biểu đạt” cái gì cả. Hành động viết mà không được xem là một việc làm thì “mục tiêu” của nó đi đến đâu? Rất rõ ràng “mục tiêu” là “đồng hoá” (chính Trương Vĩnh Ký xác lập mục tiêu này cơ mà)
Với những vần thơ phủ nhận (thậm chí phủ đầu tinh thần) của các nghĩa dân, nghĩa sĩ Nam kỳ như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Phan Công Tòng, Thủ khoa Huân v.v… mà Trương Vĩnh Ký đã công bố trên Thông Loại Khoá Trình do ông chủ trương, có nên xem đó là “việc làm” hay không?
TÂN TRÀO NHÂN CHÁNH CA
Trách ai khuấy rối ngày xưa
Cãi trời mấy lúc đặng chưa mà hòng
Làm cho vợ lại xa chồng
Làm cho dân chúng mắc vòng hàm oan
Làm cho sự nghiệp điêu tàn
Làm cho lê thứ bùn than trăm phần
Làm cho làng xóm phân vân
Làm cho thiên hạ phong trần bấy lâu
Bề trên vẫn thật không cầu
Giả danh trung nghĩa làm sầu cho dân
Trên còn hoà nghị giao lân
Sá chi mình phận thần dân tài gì
Làm cho tróc vảy trầy vi
Làm cho trăm họ lưu ly khốn nàn
Làm cho điền địa tan hoang
Làm cho người khóc người than thảm sầu
Thương thay làng xóm đâu đâu
Khác nào sâu nọ làm rầu cho canh
Bất nhơn lòng thật chẳng lành
Dốc tình cầu lợi cầu danh hại người
Bạc một sao xứng vàng mười
Trứng đem gieo đá nực cười cho ai
Nói ngay nhiều kẻ trái tai
Xôn xao cũng gọi mình trai anh hùng
Những trang vi chánh vi tùng
Hư trương thanh thế vẫy vùng xong chưa
Từ đây sắp tới xin chừa
Tầm vông mà chống sao vừa Sácbô
Gạo cân sao lại lúa bồ
Chén chung sao lại ví tô con rồng
Chi bằng giữ việc tang nông
Ngư, tiều, canh, độc, noi trong nghiệp hằng…
(Miscellanées – mai, 1889, số 1, trang 14)
Ghi chú: Có nên chuyển đối tượng được “giáo huấn” trong bài thơ này cho những người mới bị chính quyền Việt Nam bắt vì tội “lợi dụng tự do dân chủ…” không?
Về câu “đồng hóa” của Trương Vĩnh Ký, nên cẩn trọng không nên dùng để vội kết án ông ta hay để bảo vệ một luận điểm nào đó. Ông viết vậy với ý đồ gỉ? Trong khung cảnh đô hộ mà thực dân Pháp thực sự muốn đồng hóa dân Việt, TVK lại là người cặm cụi phát triển và quảng bá tiếng Việt, văn hóa Việt (bằng công cụ quốc ngữ), thì không thể không gây nghi ngờ trong mắt người Pháp. Nhất là khi ông vẫn để tóc dài, mặc áo Việt, giữ quốc tịch Việt không chịu vào dân Tây. Do đó, khi ông quả quyết với người Pháp rằng ông muốn giúp họ “đồng hóa” dân An Nam thì ta cũng nên thận trọng đừng vội tin (tiếng Anh: take it with a grain of salt). Cách giải thích hiển nhiên và hợp lý là ông muốn “thủ bên sườn” (guard his flank).
Khi đánh giá một người, hãy nhìn tổng thể những gì họ làm, đừng nghe những gì họ nói! Những gì TVK làm là chăm chú vào nâng cao văn hóa, dân trí người Việt, theo cách của ông. Căn cứ vào câu “đồng hóa” để đánh giá ý đồ của TVK thì cũng y như một số người đã căn cứ vào lá thư xin học trường thuộc địa của Nguyễn Tất Thành để đánh giá ý đồ của ông (“Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’ instruction…”: Tôi mong ước trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể làm cho họ hưởng được lợi ích của học vấn [Pháp]). Dĩ nhiên, tôi không đồng ý với cách đánh giá hời hợt này.
Về “cách cho” thì cách người Tàu “cho” ta chữ Hán – và do đó, gián tiếp, chữ Nôm – còn tệ hơn cách người Tây cho ta chữ quốc ngữ rất nhiều. Cho một hệ chữ, đổi lấy 1000 năm đô hộ cộng thêm 1000 năm lệ thuộc văn hóa chính trị! Những giáo sĩ đã chế ra quốc ngữ không phải ai cũng thực dân như Puginier, hiển nhiên họ làm việc đó chỉ để ghi xuống một ngôn ngữ mới (đối với họ) bằng một mẫu tự mà họ quen thuộc. Thời nay, một người Việt mà đi xứ Hàn, Nhật, v.v. và chưa học nổi chữ địa phương thì cũng sẽ dùng abc để ghi xuống những câu từ cần học như họ mà thôi.
Nói chung, tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Nguyễn Mai Sơn hơn là quan điểm của ông Trần Ngọc Cư. Theo tôi, ông Trần Ngọc Cư hình như không công bằng lắm khi nhìn lại quá trình sử dụng Hán văn trong lịch sử nước ta. Nếu đặt ta vào vị trí của tiền nhân Việt khi tiếp thu và ngưỡng mộ văn tự Hán ngữ (mà các cụ gọi là chữ thánh hiền) thì ta sẽ thấy việc các triều đại VN trước đây đã dùng chữ Hán trong công việc giáo dục và hành chánh cũng không phải là quá đáng và xấu hổ. Việc phát triển chữ Nôm để diễn đạt tiếng nói của người Việt là một cố gắng và thành công đáng quý trong bối cảnh lịch sử VN thời trước, tuy so với chữ Hangul của Hàn quốc thì chữ Nôm luộm thuộm và không có tính độc sáng (original) bằng. Trong bài viết của mình, ông Trần Ngọc Cư đã cảm thấy “ốt dột” (từ Huế để chỉ xấu hổ) khi không đọc được các chữ Hán trên các đền đài, bia mộ ở Huế, và có cảm tưởng mình là người mù chữ (dù ông đã tốt nghiệp đại học). Theo tôi, điều này hơi quá đáng. Bởi lẽ, làm sao ta có thể hiểu các chữ Hán này khi ta chưa từng học nó, vì ta đã theo học chữ Quốc ngữ và có thể các sinh ngữ khác (không phải Hán văn)? Ngay cả các học sinh người Trung Quốc hiện nay, thử hỏi họ tất cả đều đọc được các chữ Hán này chăng khi cái chữ Hán mà học hiện nay là theo thể giản lược trong khi các chữ Hán này là thuộc vào phồn thể ?