Vương Thế Lan – Ai bỏ chạy? Ai hèn nhát?
05/08/2009 | 10:45 sáng | 47 Comments
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Vai trò của trí thức
Trong bài “Trí thức, hèn nhát, can đảm“, ông Dương Danh Huy đã cho rằng người Việt Nam ở nước ngoài là những kẻ bỏ chạy, và những ai đang ở trong nước mà dám “phê phán chính quyền nặng nề“ thì “nói chung là người can đảm“, và ông đưa ra giả thiết rằng nếu họ chê người Việt lưu vong là “hèn nhát (vì đã bỏ chạy)”, thì “có thể thông cảm được”.
Ông Dương Danh Huy viết bài ấy như một phản biện về bài “Trí thức nên im lặng hay lên tiếng?“ của tôi. Đúng ra, bài của tôi nói về vấn đề nên hay không nên im lặng của giới trí thức dưới những chế độ độc tài, bất cứ ở đâu, thời nào, không nhất thiết là ở Việt Nam, vì những ý chính trong bài thì hoàn toàn dựa vào những câu danh ngôn của các vĩ nhân thế giới. Ông Dương Danh Huy phản biện bằng cách đẩy vấn đề sang một hướng khác, một giới hạn khác.
Khi nói đến những mệnh đề Im lặng là đồng lõa; Im lặng là chịu thua; Im lặng là phản bội; Im lặng là hèn nhát, thiếu lương tâm; tôi muốn trình bày lại những quan niệm đạo đức của một số danh nhân và nhà tranh đấu vĩ đại đối với thái độ “im lặng” của người trí thức khi chứng kiến những chính quyền độc tài đối xử bất công, bạo ngược với nhân dân. Trình bày lại như vậy, tôi hy vọng mỗi người đọc, trước hết, hãy tự đối chiếu với bản thân và tự xét mình; sau đó, có thể căn cứ trên cơ sở đạo đức đó để đánh giá những hành vi của những người trí thức thuộc mọi quốc gia, mọi thời đại. Chẳng hạn, không cần phải là người Tây Tạng sống ở Tây Tạng, chúng ta vẫn có thể nói một cách đúng đắn rằng “những người trí thức Tây Tạng nào đã chứng kiến cảnh Trung Quốc đàn áp dã man người dân Tây Tạng, nhưng không chịu lên tiếng tố cáo trước dư luận, mà vẫn im lặng hợp tác với chính quyền Trung Quốc, thì đó chính là những người trí thức chịu thua, hèn nhát, thiếu lương tâm, đồng lõa, phản bội.”
Ông Dương Danh Huy lại đẩy vấn đề sang cái hướng khác để lý luận xem ai có tư cách gì và đứng chỗ nào mà chê người khác. Đồng thời ông gạt hết những ý về sự đồng lõa, chịu thua, thiếu lương tâm và phản bội. Ông chỉ nhắm vào sự “hèn nhát” và ngược lại là “can đảm”, rồi ông giới hạn vấn đề trong vòng người Việt Nam và phân định xem ai có tư cách để chê ai.
Trước hết, để tiện cho việc lý luận về sự “hèn nhát” và “can đảm”, ông Dương Danh Huy đã chia người Việt Nam ra làm 4 loại. Trong đó, 2 loại đầu là người Việt Nam ở trong nước, và 2 loại sau là người Việt Nam ở nước ngoài:
1. Một người trong nước phê phán chính quyền nặng nề, nói chung là người can đảm. Tôi không nói phê phán chính quyền nặng nề là đúng hay sai, nhưng nói chung đó là can đảm, vì có thể có hệ quả.
2. Một người trong nước không phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là hèn nhát.
3. Một người ở nước ngoài, dùng hay không dùng tên giả, phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là người can đảm, vì hầu như không có hệ quả nào làm cho người đó rụng cọng lông nào.
4. Một người ở nước ngoài không phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là hèn nhát, vì có phê phán cũng không rụng cọng lông nào.
Ông cho rằng loại người 1 (tức là người ở “trong nước” mà dám “phê phán chính quyền nặng nề”) thì “nói chung là người can đảm” (sao lại “nói chung”? chắc chắn là can đảm chứ!), vì “có thể có hệ quả” (sao lại chỉ “có thể có hệ quả”? chắc chắn là bị trừng phạt chứ! hãy xem hàng loạt người bất đồng chính kiến bị bắt gần đây). Sau đó ông cho rằng vì thế nên loại người 1 có thể chê hai loại người 3 và 4 là “hèn nhát (vì đã bỏ chạy)”.
Theo ông, người Việt Nam thuộc loại 3 và 4 thì không nên chê ai là hèn nhát, vì:
Thứ nhất cả hai đều đã bỏ chạy. Thứ nhì, cả hai, nếu phê phán chính quyền thì cũng không rụng cọng lông nào, thì làm sao có sự can đảm hay hèn nhát ở đây? Thứ ba, nếu không có sự can đảm (do phê phán chính quyền) thì lấy tư cách gì mà chê người khác là hèn nhát?
Ai bỏ chạy?
Người Việt Nam ở nước ngoài đã ra đi vì nhiều nguyên nhân khác nhau và bằng nhiều cách khác nhau:
– Có những người ra nước ngoài để du học hay làm việc (như học sinh, cán bộ, chuyên gia, công nhân…) rồi ở lại vì nhiều lý do (để được tự do, để có điều kiện sống tốt hơn…). Trong số đó, có cả những người vừa hưởng tự do và điều kiện sống tốt ở nước ngoài, vừa tiếp tục ủng hộ chế độ kềm kẹp tự do ở Việt Nam.
– Có những người ra nước ngoài để đoàn tụ với gia đình.
– Có những người đã ra nước ngoài để tránh cộng sản trong thời điểm miền Nam thất thủ 30/4/1975.
– Có những người (sĩ quan cao cấp VNCH), sau hàng chục năm bị giam cầm trong các trại tù CSVN, đã được chính phủ Mỹ bảo trợ theo diện H.O. để sang Mỹ làm lại cuộc sống.
– Nhưng đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài chính là hàng triệu người đã liều chết, vượt đại dương trên những con thuyền mong manh để đi tìm tự do.
Thưa ông Dương Danh Huy,
Trong hàng triệu người vượt biển ra đi sau 1975, có hàng trăm ngàn người đã bỏ mình dưới đáy biển. Hàng triệu người ấy đã ra đi, không sợ chết, vì họ không thể nào chấp nhận cuộc sống không tự do, bị đối xử như súc vật, bị chà đạp nhân quyền, bị tước đoạt nhà cửa và tài sản, bị xua lên vùng “kinh tế mới”, bị cầm tù vô thời hạn, bị đánh đập, bắt bớ, tra tấn bất kỳ lúc nào. Đối với họ, sống như vậy không còn một ý nghĩa nào nữa. Vì thế, họ bất chấp mọi hiểm nguy, dấn mình vào một cuộc đi mà có thể 99%, nhiều khi 100%, là chết. Nhiều người đã vượt biển ngay giữa mùa đông đầy dông bão. Nhiều người đã ra đi, thất bại, bị bắt, bị cầm tù, rồi vượt ngục, ra đi, nhiều lần như thế thì mới đến nước ngoài. Nhiều người khi đến đất liền thì bị đưa vào nhốt trong các “closed camps” suốt nhiều năm, không có thân nhân bảo lãnh sang nước thứ ba, đành phải sống mỏi mòn chờ đợi một ân huệ mơ hồ, rồi tuyệt vọng, tự treo cổ, mổ bụng hay tự thiêu, để chết.
Hàng triệu người Việt Nam đã vượt biển ra đi trong những thập niên 70 và 80, và hàng chục triệu người khác đã muốn ra đi mà ra đi không được, vì không có cơ hội, không có điều kiện, hay ngay cả không có đủ sức khoẻ hay can đảm để bước lên một chiếc thuyền mong manh vượt qua đại dương. Nhiều gia đình đành chịu cảnh ly tán, người đi, kẻ ở, mong chờ ngày đoàn tụ. Hàng chục triệu người khác đã ra đi nhưng thất bại, bị bắt giam, và sau khi ra khỏi nhà tù thì không còn điều kiện và cơ hội nào để ra đi nữa, đành ở lại trong nước.
Trong số hàng triệu người đã ra đi, sống sót và tìm được tự do ở nước ngoài, có những người đã bị hải tặc tấn công, hãm hiếp, cướp bóc, có những người đã phải chứng kiến các thân nhân của mình bị hải tặc giết và vất xác xuống biển, có những người khi đến nước định cư thì trở nên điên loạn và bị khủng hoảng suốt đời còn lại.
Trong số hàng triệu người sống sót ấy cũng có biết bao nhiêu người dũng cảm vượt qua những ám ảnh đau thương để xây dựng một cuộc sống mới từ hai bàn tay trắng, và họ đã trở thành những con người thành đạt trên quê hương thứ hai, nhưng vẫn không quên quê hương thứ nhất của mình. Bằng nhiều cách khác nhau, vật chất hay tinh thần, họ đã không ngừng đóng góp to lớn cho tổ quốc và đồng bào Việt Nam của họ.
Ông Dương Danh Huy nói nếu người bất đồng chính kiến trong nước chê người Việt lưu vong là hèn nhát (vì đã bỏ chạy), thì “có thể thông cảm được”. Thế nhưng, đó chỉ là cái giả thiết phi thực do chính ông Dương Danh Huy sáng tác ra. Tất nhiên, nhà cầm quyền CSVN cũng khát khao trông thấy những người đấu tranh ở trong nước khinh thường những người lưu vong đấu tranh là những kẻ bỏ chạy, những kẻ hèn nhát, vì như thế thì cuộc đấu tranh trong và ngoài nước sẽ không kết hợp với nhau, sức mạnh đấu tranh chung bị phân tán vì sự mâu thuẫn giữa hai phía trong và ngoài. Tuy nhiên cái giả thiết đó cũng như cái khát khao đó thì hoàn toàn vô ích, vì chính trong hàng ngũ những người đấu tranh ở trong nước, cũng có nhiều người trước kia đã từng muốn vượt thoát nhưng thất bại. Và sự thật là từ trước đến nay những người đấu tranh ở trong nước không bao giờ xem đồng bào tỵ nạn ở nước ngoài là những kẻ bỏ chạy, bởi họ biết rất rõ vì sao đồng bào của mình đã bất chấp ngục tù, bất chấp cái chết, để vượt thoát. Những người đấu tranh ở trong nước và ngoài nước vẫn luôn luôn tìm cách liên lạc với nhau để yểm trợ và kết hợp với nhau trong cuộc đấu tranh chung cho tương lai của đất nước Việt Nam.
Trong những thập niên 70 và 80, chính nhà cầm quyền CSVN đã gọi hàng triệu người vượt biển tỵ nạn là những kẻ bỏ chạy. Những ai vượt biển bất thành, bị công an bắt giam, thì bị ghép vào thành phần “chạy theo ôm chân đế quốc, phản bội tổ quốc”. Những ai chết trên biển, xác trôi vào bờ, thì bị để phơi nắng nhiều ngày cho sình thối như chó chết, vì đó là xác của những kẻ bỏ chạy.
Tôi hoàn toàn hiểu tại sao chính quyền CSVN đã dùng những lời lẽ ấy để thoá mạ chính những nạn nhân của họ. Tôi cũng hoàn toàn hiểu tại sao từ thập niên 90 đến nay, chính quyền CSVN lại thay đổi cách nói, và âu yếm gọi những người Việt tỵ nạn ở nước ngoài là “kiều bào”, là “khúc ruột ngàn dặm”, là “bộ phận không thể tách rời trong đại khối dân tộc”.
Nhưng tôi không thể hiểu vì lý do gì cho đến hôm nay mà một người trí thức gốc Việt sống ở nước ngoài lại gọi các đồng bào ly hương của mình (trong đó đại đa số là những người vượt biển) là những người bỏ chạy!
Ngay trong bài viết, Dương Danh Huy đã cho biết rằng ông là “một người lớn lên ở Anh”. Tôi không hiểu ông đã rời Việt Nam sang sống ở Anh từ khi nào và bằng cách nào mà ông lại có suy nghĩ như thế về những đồng bào Việt Nam vượt biển tỵ nạn, những người đã vượt qua mọi thử thách, đã sống sót và vẫn tiếp tục đấu tranh cho tự do của tổ quốc.
Ai hèn nhát?
Song song với những đóng góp to lớn cho quê nhà, đại đa số người Việt tỵ nạn ở nước ngoài không bao giờ quên rằng họ đã ra đi vì họ không thể sống thiếu tự do và không thể thoả hiệp với cái chế độ độc tài đã cướp đoạt sự tự do của họ. Đã từng sống nhiều năm dưới chế độ ấy và đã hiểu thế nào là cuộc sống vô nghĩa như một bầy sinh vật không có tự do, đại đa số những người ra đi luôn đau đáu trong lòng cái khát vọng to lớn về một cuộc sống tự do thật sự cho đồng bào của mình ở quê nhà. Chính vì thế, dù thuộc thành phần trí thức hay thường dân, đại đa số những người ra đi không ngừng kêu đòi tự do cho đất nước, và không ngừng lên tiếng tố cáo những hành động đàn áp nhân quyền, huỷ diệt tự do vẫn đang tiếp tục diễn ra ở quê nhà.
Trước khi họ ra đi tìm tự do, họ đã chấp nhận tất cả những gì nguy hiểm nhất xảy ra cho họ. Từ khi tổ chức chuyến đi (hội họp lén lút để bàn bạc kế hoạch, tìm người cùng góp vốn mua ghe, tích trữ xăng dầu, chôn giấu nước uống, lương thực…) họ đã chấp nhận nếu bị phát hiện thì sẽ bị giam cầm, hành hạ. Khi bước chân lên chiếc ghe mong manh, họ đã chấp nhận mọi hiểm nguy: nếu gặp tàu công an biên phòng thì sẽ bị bắt giam nhiều năm hay bị bắn chết ngay tại chỗ; nếu máy ghe bị hỏng giữa biển thì sẽ trôi dạt lênh đênh, chết đói, chết khát; nếu gặp dông bão thì nhất định sẽ phải bỏ xác trong lòng biển. Sẵn sàng trả giá bằng chính sinh mạng của mình, cuộc ra đi của họ là một hành động mang tính phê phán triệt để. Họ ra đi như đối diện một bản án tử hình, với một niềm tin mãnh liệt vào tự do, và một hy vọng vô cùng mơ hồ rằng mình sẽ sống sót. Nói thẳng ra, những người đang dũng cảm đấu tranh ở trong nước hôm nay cũng không phải đối diện với những nguy hiểm to lớn đến như vậy. Vì thế, cái niềm tin về tự do, cái thông điệp về tự do của những người vượt biển đã được bảo chứng bằng lòng dũng cảm của họ từ khi họ chưa rời khỏi Việt Nam, và đã được thử thách bằng ngục tù và cái chết. Cho đến hôm nay, sau khi đã vượt qua hết những thử thách đó, may mắn sống sót và định cư ở một nước tự do, nếu những người vượt biển vẫn giữ vững niềm tin đó, thông điệp đó, thì những phát ngôn của họ về tự do vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa cho đến chừng nào đời sống của nhân dân Việt Nam trong nước có tự do thật sự.
Dương Danh Huy nói: “Một người ở nước ngoài, dùng hay không dùng tên giả, phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là người can đảm, vì hầu như không có hệ quả nào làm cho người đó rụng cọng lông nào.”
Chỉ những ai hoàn toàn vô cảm, vô tâm, và không hề nghe, không hề biết đến những cái giá khủng khiếp mà những người vượt biển đã đánh đổi để tìm tự do, thì mới có thể cho rằng lời phê phán của những người vượt biển đối với chính sách đàn áp tự do của chế độ độc tài CSVN là những lời nói dễ dàng, không cần can đảm, của những kẻ thảnh thơi sống ở nước ngoài, không ai làm rụng một cọng lông!
Xin thưa rằng: Đại đa số những người Việt Nam sống ở nước ngoài đã không đi nhẹ nhàng bằng máy bay từ Việt Nam. Trái lại, đại đa số họ đã trải qua những thử thách của ngục tù và cái chết để giữ lấy niềm tin về tự do, thông điệp về tự do của mình. Hàng trăm ngàn người đã vĩnh viễn mang theo niềm tin ấy, thông điệp ấy vào lòng biển cả. Nói đơn giản hơn: Đừng cho rằng vì họ đang sống ở nước ngoài, chính quyền CSVN trong nước không thể trừng phạt họ, nên họ mặc sức mà phê phán! Nên nhớ rằng: niềm tin về tự do của họ đã được bảo chứng bằng sự dũng cảm đương đầu trước ngục tù và cái chết.
Ở nước ngoài, có những người dùng tên thật của mình để phê phán chính quyền CSVN. Có những người phải dùng bút danh, vì nếu không thì thân nhân của họ còn ở quê nhà sẽ chịu đựng sự trừng phạt của chính quyền ấy, hoặc bản thân họ sẽ có thể không bao giờ còn cơ hội quay về để nhìn mặt những người thân yêu của mình nữa.
Ở điểm này, việc ông Dương Danh Huy đặt ra vấn đề người Việt ở nước ngoài dùng tên thật hay “tên giả“ để “phê phán chính quyền nặng nề“ càng chứng tỏ sự vô cảm của ông trước những kinh nghiệm và thử thách khủng khiếp mà đồng bào tỵ nạn đã dũng cảm đương đầu và vượt qua.
Chí ít, về việc sử dụng “tên giả”, chắc chắn ông cũng thừa biết là có bao nhiêu những nhà tranh đấu, những nhà cách mạng đã sử dụng bí danh, thậm chí có người đã sử dụng hàng chục bí danh, tùy theo những trạng huống khác nhau, nhưng hoàn toàn không phải vì họ không can đảm.
Còn cái việc “phê phán chính quyền nặng nề“, thì đối với những tội ác và sự sai lầm của chính quyền ấy, phải phê phán như thế nào để không “nặng nề”?
Thưa ông Dương Danh Huy,
Ông lý luận về sự can đảm và sự hèn nhát. Vậy thì theo ông, ai can đảm và ai hèn nhát? Những kẻ sử dụng vũ khí và bạo lực để đàn áp cuộc sống, cướp đoạt tài sản, tiêu diệt tự do của người dân, là những kẻ can đảm hay hèn nhát? Những nạn nhân tuyệt vọng, không một tấc sắt trong tay, nhưng không chấp nhận sống nhục nhã đau đớn như một bầy sinh vật bị giam cầm trong chuồng, nên đã bất chấp cái chết để vượt biển đi tìm tự do, và để một ngày nào sẽ trở về xây dựng lại quê hương, là những kẻ can đảm hay hèn nhát? Những người vượt biển thoát chết, sống đời lưu vong nhưng không ngừng tranh đấu cho tự do của nhân dân Việt Nam, là những kẻ can đảm hay hèn nhát? Những người thoải mái được phép đi máy bay ra nước ngoài, học hành thành đạt, rồi ở lại nước ngoài để hưởng tự do, sống sung sướng, nhưng vẫn ủng hộ và bênh vực cho chế độ độc tài ở Việt Nam, và không hề lên tiếng khi thấy đồng bào trong nước bị tước đoạt tự do và quyền làm người, là những kẻ can đảm hay hèn nhát?
© 2009 Vương Thế Lan
© 2009 talawas blog
“Cha mẹ sinh con trời sinh tính” vs “hổ phụ hổ tử”
Kết cuộc thật là đẹp: Cho dù anh Dương Danh Huy có là con ruột của ông Dương Danh Dy đi nữa, thì bác Nguyễn Quang Duy vẫn quý anh ấy như người… nhà!
Nói thật, tôi rất quí trọng (phục) các bác/anh trong Talawas này nhưng coi là người “nhà” thì tôi e chưa, không và sẽ không dám!
Kính hai bác Trương Nhân Tuấn và Dương Danh Huy,
Tôi còn nhớ khi Trung Cộng chiếm Hòang Sa, thầy dạy Công Dân Giáo Dục của tôi đã có nhận định như sau :”Nước chúng ta bị Cộng sản Bắc Việt xâm lăng, Trung Cộng lại tấn công Hòang Sa. Nước ta nhỏ, lại nội chiến, hải quân đã anh dũng chiến đấu giữ gìn bờ cõi nhưng không xong. Tương lai chúng ta phải mang Trung Cộng ra tòa Quốc Tế. Muốn thắng chúng ta cần có bằng chứng.” Công việc của hai bác là kiếm bằng chứng để giành lại chủ quyền đất nước. Tôi trân qúy việc làm của cả hai bác.
Tôi đã viết “Vì ông Dương Danh Dy một nhà ngoại giao kỳ cựu có nhiều chục năm làm việc tại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc (từ năm 1962). Các hồi ức của ông sẽ đóng góp rất nhiều cho việc viết lại lịch sử và là bài học cho các thế hệ đi sau. Khi đọc bài phỏng vấn tôi tự liên tưởng đến một quan hệ gì đó giữa hai ông Dương Danh Dy và Dương Danh Huy. Nếu đúng như thế rất mong ông Dương Danh Huy giúp hay ông Dương Danh Dy trực tiếp và tiếp tục cung cấp những dữ kiện lịch sử. Hết sức cám ơn.” Nay biết điều tôi liên tưởng là không đúng, tôi không có gì vui hay buồn cả. Tôi vẫn quý hai bác như người nhà. Tôi rất tin “Cha mẹ sinh con trời sinh tính”.
Nhân tiện tôi xin góp chút ý về chữ hèn. Trong sinh họat đấu tranh tôi thường đứng ra hay phụ tổ chức các cuộc biểu tình. Canberra thủ đô Úc rất nhỏ. Dân việt ở đó thường biết nhau. Khi chúng tôi tổ chức thì lúc nào cũng có các lập luận như “Đi biểu tình sẽ bị làm khó dễ khi phải liên lạc với Tòa Đại Sứ Việt Cộng, hay bị làm khó dễ khi về Việt Nam …”. Những việc trên đã thực sự xảy ra cho một số người nên một số người khác không đi biểu tình. Một cháu mới qua rất năng nổ kêu gọi bạn bè đi biểu tình gặp lập luận trên lại cho rằng người không dự là “sợ và hèn”.
Tôi không nghĩ như cháu. Với tôi việc phải làm là cố gắng vận động. Tôi nghĩ rằng nhiệm vụ của tôi chưa thành, phải cố gắng tìm cách thuyết phục thêm người biểu tình. Muốn thuyết phục người khác không gì hay bằng việc mình làm và xây dựng một niềm tin vào tương lai Tổ Quốc Việt Nam. Đó chỉ là hành động biểu tình còn các sinh họat về trí tuệ sẽ khó nhận định hơn nhiều.
Về phản hồi http://www.talawas.org/?p=8655&cpage=2#comment-4329 của ông Vương Thế Lan
Ông Dương Danh Huy đặt ra vấn đề giả sử người phụ nữ ấy là trí thức, và bây giờ “không lên tiếng”, thì nên gọi là hèn nhát hay không.
Vấn đề này rất đơn giản và có thể trả lời như sau:
…
Nội việc trả lời của bác có 5 cái nếu cũng đủ nói rằng mệnh đề “Im lặng là hèn nhát” của bác quá simplistic và người ta nên dè dặt khi dùng nó để chê người khác là hèn nhát.
Bác Vũ Quang Khải,
Sự thật là câu tôi viết như sau:
Nếu người (1) chê người (2) là hèn nhát (eg vì sợ hệ quả nên không dám phê phán chính quyền), hay chê hai người (3) và (4) là hèn nhát (vì đã bỏ chạy), thì có thể thông cảm được.
Bác đã trích chỉ một phần của câu đó và viết
…
– Nhưng chính ông Dương Danh Huy viết: “hèn nhát (vì đã bỏ chạy)” và “cả hai” (cả hai loại người Việt ở hải ngoại, theo bảng phân loại của ông Huy) “đều đã bỏ chạy”. (http://www.minhbien.org/?p=1226)
…
Chính ông Dương Danh Huy viết “nên dè dặt khi chê người khác hèn nhát”, nhưng cũng chính trong bài viết đó ông lại không hề dè dặt khi ông chê chung cả hàng triệu người vượt biển là “hèn nhát vì đã bỏ chạy”! Có hàng triệu người vượt biển, trong đó có thể có một số người “bỏ chạy” (?) hay “hèn nhát” (?), nhưng không thể nói chung người vượt biển là “bỏ chạy” hay “hèn nhát”.
Việc chê bai người Việt ở nước ngoài là “bỏ chạy” hay “hèn nhát” là vô tình hay cố ý gạt bỏ người Việt ở nước ngoài ra khỏi cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài CSVN. Đó cũng chính là ý đồ của CSVN nhằm làm yếu sức của phong trào đấu tranh.
Bác Vương Thế Lan, tới một số người, tới bác đã hiểu sai về tôi nói gì, không nói gì.
Để tôi nói cho rõ về câu tôi viết
Nếu người (1) chê người (2) là hèn nhát (eg vì sợ hệ quả nên không dám phê phán chính quyền), hay chê hai người (3) và (4) là hèn nhát (vì đã bỏ chạy), thì có thể thông cảm được.
1. Tôi nói “Nếu người (1) chê…”. Điều đó không phải là tôi chê. Cũng không phải là tôi nói là tồn tại trường hợp người (1) chê.
2. Tôi nói “có thể thông cảm được”. Tôi không hiểu văn hoá VN thế nào, chứ theo văn hoá Anh thì khi nói như vậy không có nghĩa là tôi cổ động người (1) chê. Cũng không có nghĩa là tôi tán thành nếu có người (1) chê.
Mà các bác phản đối gì về mệnh đề “có thể thông cảm được”? Các bác cho rằng không thể thông cảm được ư?
3. Tôi nói hypothetically về 3 trường hợp
a) Nếu người (1) chê người (2) là hèn nhát
b) Nếu người (1) chê người (3) là hèn nhát
c) Nếu người (1) chê người (4) là hèn nhát
mà các bác còn nói như sau
Việc chê bai người Việt ở nước ngoài là “bỏ chạy” hay “hèn nhát” là vô tình hay cố ý gạt bỏ người Việt ở nước ngoài ra khỏi cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài CSVN. Đó cũng chính là ý đồ của CSVN nhằm làm yếu sức của phong trào đấu tranh.
Là các bác đã không hiểu tôi nói gì, không nói gì. Các bác đã hiểu vừa quá hạn hẹp vừa quá đáng vì phần
b) Nếu người (1) chê người (3) là hèn nhát
Nếu công an mạng suy nghĩ như các bác, cảnh giác như các bác thì họ sẽ giãy nảy lên vì những phần
a) Nếu người (1) chê người (2) là hèn nhát
c) Nếu người (1) chê người (4) là hèn nhát
và họ sẽ kết luận một cách tương tự như các bác, nhưng ngược lại, eg,
“Ah, thằng Dương Danh Huy này chê những người trong nước và ở nước ngoài không lên tiếng đả kích chính quyền là hèn nhát. Thằng Dương Danh Huy này vô tình hay cố ý chống chính quyền!”
Xin góp ý với ông Huy và ông Tuấn.
Im lặng, khi có thể lên tiếng, thường vô tình gây ra sự khó hiểu, hay cái bí mật, và những suy đoán lung tung, xa sự thật. Còn nếu cố ý im lặng là có thể để đối phương sa vào hố. Hố đây là “nói hố”, đồng âm với cái hố sâu “có thể” là bẫy dưới chân. Đứng ngoài tôi thấy vậy, và thật sự không biết chắc thế nào, nên thận trọng viết “có thể”.
Trong đối thoại chân thành, người ta tránh để người khác ngộ nhận về mình, về điều mình nói, về lời mình sử dụng, và càng không nên gây cho bên kia những ngộ nhận gì đẻ họ nói không đúng và “thắng điểm” ở chỗ đó. Đây là nhận xét, nguyên tắc chung tôi tự giữ lấy, không liên hệ với việc vừa qua giữa ông Huy và ông Tuấn.
Thật ra, hai tên Dương Danh Huy và Dương Danh Dy có nhiều điểm gần gũi, dễ tạo sự suy đoán sai lầm, và ông Tuấn đã rơi vào chỗ đó. Riêng tôi cũng có tò mò, như đã thú nhận, nhưng không thấy cần thiết để nêu lên(không nói là vì bất tiện) chỉ chờ nghe ông Huy nói ra, nếu ông muốn nói. Để được hiểu là tôi thành thật chỗ này, xin nói rõ bên họ mẹ tôi đàn ông nhiều đời đều mang họ Nguyễn Duy và tuy không đông họ sống rải rác từ tỉnh Long An đến Bến Tre (họ chỉ là dân thường, đa số ở quê, con cháu không thành đạt gì lớn nên không ai biết đến tên). Nhưng không ai dám chắc những người mang họ Nguyễn Duy ở đâu đó có họ hàng với nhau. Họ Dương Danh hiếm hơn, nhưng cũng không thể suy đoán gì được.
Khác với ông Tuấn, tôi có phần kính trọng ông Dương Danh Dy, tuy tôi đều tôn trọng cà hai ông họ Dương. Có lẽ ông Tuấn không nhận thấy ông Dy là người rất yêu nước, can đảm, chân thành và có nhân cách cao.
Nguyễn Thị nói: Tôi không nghĩ chữ “bỏ chạy” của ông Dương Danh Huy đồng nghĩa với chữ “hèn nhát”.
– Nhưng chính ông Dương Danh Huy viết: “hèn nhát (vì đã bỏ chạy)” và “cả hai” (cả hai loại người Việt ở hải ngoại, theo bảng phân loại của ông Huy) “đều đã bỏ chạy”. (http://www.minhbien.org/?p=1226)
Nguyễn Thị nói: “Có thật đại đa số những người vượt biên là đi tìm tự do không? Nếu hồi đó đời sống kinh tế VN được như bây giờ có chừng đó người vượt biên không? Tôi ngờ lắm. Bằng chứng là bây giờ người ta không có ồ ạt vượt biên như hồi đó”.
– Xin nhớ là “tự do” có nhiều phương diện, bao gồm cả tự do buôn bán, kinh doanh, đi lại, gặp gỡ…
Những người bình thường, không “trí thức”, thì có thể không cần tự do cầm bút, tự do tư tưởng, tự do bất đồng chính kiến… Nhưng họ đều cần những thứ tự do thiết thực nhất cho đời sống của họ. Họ vượt biển để đi tìm những sự tự do ấy.
Những người chưa từng tổ chức, tham gia hay trải qua những kinh nghiệm khủng khiếp của sự vượt biển thì nên hết sức dè dặt khi phán xét tiêu cực về người vượt biển. Kẻo không thì giống như tị hiềm hoặc có ý đồ chính trị.
Chính ông Dương Danh Huy viết “nên dè dặt khi chê người khác hèn nhát”, nhưng cũng chính trong bài viết đó ông lại không hề dè dặt khi ông chê chung cả hàng triệu người vượt biển là “hèn nhát vì đã bỏ chạy”! Có hàng triệu người vượt biển, trong đó có thể có một số người “bỏ chạy” (?) hay “hèn nhát” (?), nhưng không thể nói chung người vượt biển là “bỏ chạy” hay “hèn nhát”.
Việc chê bai người Việt ở nước ngoài là “bỏ chạy” hay “hèn nhát” là vô tình hay cố ý gạt bỏ người Việt ở nước ngoài ra khỏi cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài CSVN. Đó cũng chính là ý đồ của CSVN nhằm làm yếu sức của phong trào đấu tranh.
Ông Dương Danh Huy bị ông Trương Nhân Tuấn gán ghép rất vô lý, kỳ cục với ông Dương Danh Dy, thế mà ông Huy chỉ im lặng, mãi sau này mới có lời nói lại, mà nói lại cũng ôn tồn nhã nhặn, cho nên ông Trương Nhân Tuấn cuối cùng phải xin lỗi.
Nhưng thế nào mà lời xin lỗi của ông vẫn nhuốm mầu “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất mặt”, vẫn cứ phải đá vào đó cái đoạn “đức tính can đảm” gì đó mà ông “tặng” cho ông Huy, rồi vẫn khăng khăng bảo suy diễn của mình là “không xấu”.
Chán cho ông quá ông Trương ơi. Có người xuất hiện thì cử tọa thích thú theo dõi. Có người xuất hiện thì cử tọa… chạy mất. Theo tôi sau cú “hổ phụ hổ tử” này ông nên đi dưỡng sức một thời gian rồi hẵng quay lại. Nếu cả một cái Đảng CSVN cũng có thể thay đổi được thì một ông Trương chắc là thừa sức tự thay đổi!
hahaha… Đúng là “lưỡi không xương (?) nhiều đường lắt léo” mà tôi đã nghe mẹ hay nói hồi còn tấm bé.
Có vậy mới biết có campaigns, có debates mới biết thật hư ra sao mà gửi tấm lòng! Hỏa mù, lái “dư luận” sang chuyện khác, “cha ông mình…” vv.. nghe ra to tát và “rất yêu nước nồng nàng”; nhưng đối với một người có tí ăn học hoặc sống ở Âu/Mỹ một thời gian có khả năng đọc hiểu, thì là chuyện nhỏ! Không có một cá nhân, đoàn thể nào mà có khả năng nhuộm đò, xanh, vàng hay tím cộng đồng Việt hải ngoại dễ như vậy đâu quí vị ạ!
Cám ơn anh Huy!
Vậy thì cám ơn ông Dương Danh Huy đã lên tiếng điều chỉnh về «quan hệ» giữa hai người họ Dương Danh (Dy và Huy). Té ra ông Huy không có họ hàng gì với ông Dy, dầu tên họ thì rất giống, kể cả giống nhau về đức tính can đảm.
Có lẽ bác Nguyễn Quang Duy cũng buồn như tôi, «liên tưởng» của bác làm tôi liên tưởng theo, té ra bé cái nhầm.
Dầu suy diễn của tôi không hề xấu, «hổ phụ sinh hổ tử», câu này chỉ sử dụng trong trường hợp tôn kính lẫn nhau, tôi cũng trân trọng xin lỗi hai ông Dy và Huy, nếu như sự suy diễn của tôi có làm phiền lòng hai ông.
Thưa anh Lê Phú Nhuận:
Ý kiến của anh thật hợp giọng với ông Vương Thế Lan, rất nhiều màu sắc sân khấu nên chi nó khó thuyết phục, để đáp lại cái tư thế hào hùng của anh khi hỏi ngược người phỏng vấn (cứ cho là tôi không biết tị nạn chính trị có cơ hội nhập cư gấp bội lần tị nạn kinh tế, nhất là trong giai đoạn ấy) tôi cũng xin kể lại: khi bị đuổi đi kinh tế mới tôi đã cuốc đất trồng mì nuôi con tôi ăn học, bây giờ con tôi đã làm ra hơn nhiều lần 50 lượng vàng, đủ có internet cho tôi nói chuyện với anh đây. Vậy thời câu chuyện của tôi có kém hào hùng hơn câu chuyện của anh không?
Thưa anh bariaboy:
Thiệt tình tôi muốn học ông Dương Danh Huy, ý kiến nào nghe nó “kỳ” quá thì không thưa lại. Vậy đi.
Tôi không nghĩ chữ “bỏ chạy” của ông Dương Danh Huy đồng nghĩa với chữ “hèn nhát”, đó chỉ là sự lựa chọn, khi đất sụt dưới chân có người leo thót lên ngọn cây (mà bình thường khó có thể hình dung mình leo được vậy) có người trụ lại dưới đất, nếu cả hai còn sống nhăn thì lý gì cái người ngồi trên cây có tư cách chê bai người đang loay hoay tìm thế đứng cho chắc đặng trồng khoai! Nhưng vì ông Vương Thế Lan ca mùi mẫn rằng “Nhưng đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài chính là hàng triệu người đã liều chết, vượt đại dương trên những con thuyền mong manh để đi tìm tự do” nên tôi mới đặt ra câu hỏi vậy, bởi nói vậy thời cái đám không chịu liều chết vượt đại dương tụi tôi có nguy cơ không được coi là yêu chuộng tự do lắm à!
Anh Dương Danh Huy nói: “Nếu người (3) chê người (4) là hèn nhát thì tôi hơi thắc mắc: Thứ nhất cả hai đều đã bỏ chạy. Thứ nhì, …”
Theo tôi anh Huy nên rút lại 3 chữ này: “đã bỏ chạy”. Ai trong chúng ta cũng có thể “lỡ lời” nhưng biết rút lại lại là điều đáng trân trọng, nhất là đối với người Việt mình!
Cảm ơn bác abc đã góp ý. Tôi sẽ trả lời về v/d này sau. Cũng có thể là sau khi trả lời tôi sẽ rút lại “đã bỏ chạy” như bác đề nghị.
Cảm ơn bác lần nữa.
Cảm ơn bác T Phan Binh An đã hiểu và giải thích tôi đã nói gì và không nói gì (http://www.talawas.org/?p=8655&cpage=1#comment-4303)
Vấn đề lên tiếng của trí thức là một vấn đề rộng lớn, tuỳ thuộc và sự chọn lựa của mỗi người về đề tài, về hiệu quả mà mình mong muốn tác động vào thực tế. Ở đây không có sự tất yếu phải lên tiếng về một đề tài nào đó mà nếu im lặng thì bị kết tội một cách tổng quát là “đồng loã, thiếu lương tâm, hay phản bội”.
Đó đúng là điều tôi đã nói về việc phê phán “đồng loã, thiếu lương tâm, hay phản bội”, nhưng bác VTL tưởng là tôi đã
…gạt hết những ý về sự đồng lõa, chịu thua, thiếu lương tâm và phản bội. Ông chỉ nhắm vào sự “hèn nhát” và ngược lại là “can đảm”…
Riêng trong chuyện tố cáo những chính quyền không tôn trọng tự do chính trị thì đó là thách thức của những con người phải sống dưới sự cai trị của những chính quyền ấy và can đảm hay không chỉ là chuyện của những người này. Trong hoàn cảnh đó lên tiếng mạnh mẽ về tự do (kể cả dân chủ) có thể là can đảm nhưng phát biểu nhẹ nhàng, gián tiếp chưa hẳn là hèn nhát.
Bác TBPA đã nói gần đúng hết điều tôi nói. Tôi chỉ clarify 1 điều nhỏ là chuyện tố cáo, đấu tranh không chỉ là thách thức cho những người phải sống dưới sự cai trị.
Nhưng những đoạn in đậm trên đã nói đúng ý chính tôi nói tới trong đoạn liên quan.
Còn đối với những người đã “bỏ chạy” đi nơi khác, sự lên tiếng về tự do có thể diễn ra với nhiều lý do, nhưng bây giờ sẽ không còn mang ý nghĩa hèn nhát hay can đảm nữa vì lẽ tất cả đã không còn là nạn nhân trực tiếp của những chính quyến ấy nữa.
Hoàn toàn đúng với ý của tôi, và bác TPBA đã nói rõ ràng hơn tôi nói.
Tôi nghĩ trên đây là tất cả những gì mà Dương Danh Huy muốn trình bày nhân đọc một bài viết trên talawas.
Hoàn toàn không đặt ra đề tài đánh giá là can đảm hay hèn nhát việc những người bỏ nước ra đi dưới nhiều hình thức, với nhiều mục đích khác nhau, để vội vã dựa vào đó tái lập những suy diễn, quy chụp ấu trĩ, dễ dãi như rất thường xảy ra bấy lâu nay trên diễn đàn này.
Bác TPBA đã hiểu đúng tôi nói gì, không nói gì.
Bác Nguyễn Phong,
Nếu ông Dương Danh Huy quả thật là con trai hay có họ hàng với ông Dương Danh Dy thì rất thú vị, nhưng cũng xin các ông chớ sa đà vào câu chuyện hổ phụ hổ tử gì ở đây. Cái này chỉ là một chi tiết cho ta tham khảo và ngẫm nghĩ mà thôi.
Còn nếu không phải như thế, nếu ông Dương Danh Huy bác bỏ khẳng định này thì xin mời ông Trương Nhân Tuấn hoặc là… đi chỗ khác chơi, hoặc trước khi giơ tay phát biểu thì xin HẾT SỨC THẬN TRỌNG!
Trước đây đã có nhiều người hỏi tôi có quan hệ gì với ông Dương Danh Dy không.
Bất cứ ai hỏi đàng hoàng tôi cũng đều trả lời rằng trong họ hàng tôi, tôi không biết ai tên Dương Danh Dy cả. Đó là sự thật.
Việc bác Trương Nhân Tuấn tự suy tự diễn là tôi là con của ông Dương Danh Dy, rồi mỉa mai “phụ tử”/”họ Dương Danh”, tôi thấy vừa thiếu cơ sở khoa học cho việc suy diễn, vừa thiếu đàng hoàng, có vấn đề với tư cách (giống như trẻ con Việt Nam cãi nhau rồi tìm cách nói về cha mẹ, họ hàng của nhau – ngay cả trẻ con Anh cũng không có cái văn hoá đó), cho nên tôi không trả lời bác ấy.
Không trả lời không phải là thừa nhận (theo như tư duy suy diễn của bác Trương Nhân Tuấn), mà cũng không phải là “bẫy” như bác Hoà Nguyễn nghĩ.
Nếu tôi đang đi ngoài phố, thấy một sản phẩm của một chú khuyển trên vỉa hè, mà tôi không nói gì, thì không có nghĩa tôi thừa nhận rằng sản phẩm đó nằm ở đó là đúng, mà cũng không phải là tôi “bẫy” chú khuyển đó.
Chủ đề bàn luận ở đây (mấy hôm nay) là nói về quan hệ giữa trí thức với (các sự) hèn nhát và can đảm. Tạm chấp nhận rằng những người tham gia diễn đàn Talawas là «trí thức» (mặc dầu ý nghĩa của trí thức cần phải bàn luận lại). Đương nhiên hai tác giả Dương Danh Huy và Vương Thế Lan là hai trí thức tiêu biểu cho cuộc tranh luận về chủ đề này.
Tôi vừa góp ý «trực tiếp» về tính can đảm của tác giả Dương Danh Huy, tức góp ý về quan hệ (cá biệt) giữa trí thức và sự can đảm (của chính cá nhân ông Huy). Nhiều người tỏ vẻ không đồng ý với góp ý này của tôi, cho rằng tôi «lái» chủ đề qua tranh luận về biển Đông. Tôi nghĩ rằng nếu tác giả Dương Danh Huy có thể «lái» chủ đề «trí thức – hèn nhát – can đảm» qua chủ đề «tị nạn – hèn nhát – can đảm» (mà không ai thấy điều đó là phi lý), thì việc tôi «bẻ lái» đi vào lại vấn đề «trí thức – hèn nhát – can đảm» chắc chắn không thể là một việc bất hợp lý. Đặc biệt chăng ở đây tôi lấy cá nhân tác giả Dương Danh Huy và bố của ông (?) là Dương Danh Dy) là chủ thể bàn luận (cho cụ thể). Đáng tiếc là chủ đề biển Đông đã bị nhiều hỏa mù (của Tàu? của nhà nước CSVN?) tung ra làm cho «ô nhiễm». Nhiều người Việt đã dị ứng với đề tài này (trong khi chủ đề tị nạn cũ rích thì không?). Xem ra đó là một thất bại cho chính người Việt Nam vậy.
Bây giờ tôi tiếp tục góp ý, lần này là quan hệ giữa «trí thức và sự hèn nhát». Xin lưu ý, ý nghĩ của «hèn nhát – lâcheté» rất nặng. Ở đây tôi chỉ nói về cái «hèn» ở một mức độ «nhẹ», theo ý nghĩa «couille molle» của Tây Phương, dịch (một cách rất… hợp ý tôi) là «sự (-) vật buồn thiu» – theo bà Phạm Thị Hoài. Đối tượng cũng là ông Dương Danh Huy, nhưng lần này ông Huy có thêm bầu bạn (cho vui) là ông Phạm Quang Tuấn, hai gương mặt «trí thức» quen thuộc trên talawas. Bối cảnh cũng xảy ra trong vụ tranh chấp biển Đông.
Đương nhiên lần góp ý tới tôi sẽ lạm bàn đến chủ đề gay go nhất, đó là vấn đề «trí thức».
Không có thì giờ để «triết» về hèn nhát (hay can đảm), tôi muốn đặt mọi người vào trong một tình huống cụ thể (như đã viết trong góp ý trước về can đảm): Trung Quốc lăm le lấn chiếm các quần đảo và vùng biển của Việt Nam trên biển Đông. Toàn dân (talawas) nghĩ sao?
Nếu đặt câu hỏi theo kiểu Diên Hồng thì nên «hòa hay chiến»?
Ông Dương Danh Huy nói trên BBC ngày 18 tháng 8 năm 2008 trả lời như thế này:
«Chiến tranh Gruzia là một lời nhắc cho Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia về một số thực trạng của tranh chấp Biển Đông.
Thứ nhất, bạo lực đã từng bùng nổ ra trong quá khứ và có thể sẽ bùng nổ ra trong tương lai.
Thứ nhì, khi bạo lực bùng nổ ra thì nước có sức mạnh quân sự áp đảo sẽ tiến được nhiều bước trong việc thực hiện chủ trương của mình.
Thứ ba, khi bạo lực bùng nổ, sự can thiệp quốc tế sẽ có giới hạn…»
Nhiều bài viết sau này ông DD Huy cũng lặp lại lập luận như thế.
Ông DD Huy lấy «Gruzia – Géorgie» để làm răn đe Việt Nam (tức so sánh Nga với Trung Quốc).
Nhận xét cá nhân của tôi trên talawas thì ông Phạm Quang Tuấn theo ông Dương Danh Huy. Lập trường của ông Huy là lập trường của ông PQ Tuấn. Nhưng trong vụ biển Đông thì Ông PQ Tuấn còn đi xa hơn:
«Trước hết, ta phải nhìn vào cán cân lực lượng của các nước ở Biển Đông và thế giới. Chỉ trong vòng 30 năm nữa, Trung Quốc sẽ trở thành siêu cường, kể cả trên mặt biển. Muốn thành cường quốc trên biển, phải có sức mạnh kinh tế, khoa học kỹ thuật, phải có tàu lớn và khí giới tối tân và ngân quỹ hàng trăm tỷ đô la… 30 năm nữa, ngay cả Mỹ cũng sẽ không còn đủ sức và nhất là đủ ý chí để đè nén tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông.» http://www.talawas.org/?p=1841
Dân Hoa Kỳ mà đọc các dòng chữ này của ông Phạm Quang Tuấn ắt phải cười bể bụng. Từ giờ đến 30 năm nữa, các nước khác (kể cả HK, dĩ nhiên), ngồi không (bó tay dot com) nhìn TQ phát triển phải không ông PQ Tuấn?
Theo lập luận của hai ông này thì dân Việt Nam nên bó giáo, dâng TQ những gì họ muốn (cái cho rồi), để được yên thân, (đánh không lại nó đâu, Mỹ còn không lại huống chi mình!).
Đương nhiên, trong quan hệ các nước, nhất là những «tranh chấp» giữa các nước, luôn là mạnh được yếu thua. Nhưng Việt Nam không hề «yếu» như «Gruzia» và TQ không dễ dàng qua mặt Hoa Kỳ (cái vù) để lên làm siêu cường như hai vị này đã nhận định.
Theo tôi đây là điển hình về cái «hèn» của trí thức. Cũng may, cha ông mình không đến đỗi «hèn» thế này. Nhờ vậy có hội nghị Diên Hồng cho con cháu soi mặt. Bằng không thì VN đã thành một quận của TQ rồi.
Đã khá dài, xin chấm dứt góp ý ở đây.
Nguyễn Thị nói:
05/08/2009 lúc 7:43 chiều
Có thật đại đa số những người vượt biên là đi tìm tự do không? Nếu hồi đó đời sống kinh tế VN được như bây giờ có chừng đó người vượt biên không? Tôi ngờ lắm. Bằng chứng là bây giờ người ta không có ồ ạt vượt biên như hồi đó. Tôi nhớ hồi đó:
– Kinh tế hậu chiến kiệt quệ
– Việt Nam bị cấm vận (Mỹ cấm vận là trước hết)
– Những hứa hẹn và “thiên đường” sống của Mỹ và Tây Âu mời mọc và vẫy gọi (không có mấy những người đói tự do đến một xứ sở tự do như gió trời là Thái Lan hay Indonesia…), những bức ảnh đứng bên cạnh cái xe hơi gửi về VN thiệt là nhiều.
Bác này nói chí phải. Và hình như sự việc vẫn còn đang tiếp diễn bác ạ.
Sự thật là thế, dù là không vừa tai của một số người.