Vương Thế Lan – Ai bỏ chạy? Ai hèn nhát?
05/08/2009 | 10:45 sáng | 47 Comments
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Vai trò của trí thức
Trong bài “Trí thức, hèn nhát, can đảm“, ông Dương Danh Huy đã cho rằng người Việt Nam ở nước ngoài là những kẻ bỏ chạy, và những ai đang ở trong nước mà dám “phê phán chính quyền nặng nề“ thì “nói chung là người can đảm“, và ông đưa ra giả thiết rằng nếu họ chê người Việt lưu vong là “hèn nhát (vì đã bỏ chạy)”, thì “có thể thông cảm được”.
Ông Dương Danh Huy viết bài ấy như một phản biện về bài “Trí thức nên im lặng hay lên tiếng?“ của tôi. Đúng ra, bài của tôi nói về vấn đề nên hay không nên im lặng của giới trí thức dưới những chế độ độc tài, bất cứ ở đâu, thời nào, không nhất thiết là ở Việt Nam, vì những ý chính trong bài thì hoàn toàn dựa vào những câu danh ngôn của các vĩ nhân thế giới. Ông Dương Danh Huy phản biện bằng cách đẩy vấn đề sang một hướng khác, một giới hạn khác.
Khi nói đến những mệnh đề Im lặng là đồng lõa; Im lặng là chịu thua; Im lặng là phản bội; Im lặng là hèn nhát, thiếu lương tâm; tôi muốn trình bày lại những quan niệm đạo đức của một số danh nhân và nhà tranh đấu vĩ đại đối với thái độ “im lặng” của người trí thức khi chứng kiến những chính quyền độc tài đối xử bất công, bạo ngược với nhân dân. Trình bày lại như vậy, tôi hy vọng mỗi người đọc, trước hết, hãy tự đối chiếu với bản thân và tự xét mình; sau đó, có thể căn cứ trên cơ sở đạo đức đó để đánh giá những hành vi của những người trí thức thuộc mọi quốc gia, mọi thời đại. Chẳng hạn, không cần phải là người Tây Tạng sống ở Tây Tạng, chúng ta vẫn có thể nói một cách đúng đắn rằng “những người trí thức Tây Tạng nào đã chứng kiến cảnh Trung Quốc đàn áp dã man người dân Tây Tạng, nhưng không chịu lên tiếng tố cáo trước dư luận, mà vẫn im lặng hợp tác với chính quyền Trung Quốc, thì đó chính là những người trí thức chịu thua, hèn nhát, thiếu lương tâm, đồng lõa, phản bội.”
Ông Dương Danh Huy lại đẩy vấn đề sang cái hướng khác để lý luận xem ai có tư cách gì và đứng chỗ nào mà chê người khác. Đồng thời ông gạt hết những ý về sự đồng lõa, chịu thua, thiếu lương tâm và phản bội. Ông chỉ nhắm vào sự “hèn nhát” và ngược lại là “can đảm”, rồi ông giới hạn vấn đề trong vòng người Việt Nam và phân định xem ai có tư cách để chê ai.
Trước hết, để tiện cho việc lý luận về sự “hèn nhát” và “can đảm”, ông Dương Danh Huy đã chia người Việt Nam ra làm 4 loại. Trong đó, 2 loại đầu là người Việt Nam ở trong nước, và 2 loại sau là người Việt Nam ở nước ngoài:
1. Một người trong nước phê phán chính quyền nặng nề, nói chung là người can đảm. Tôi không nói phê phán chính quyền nặng nề là đúng hay sai, nhưng nói chung đó là can đảm, vì có thể có hệ quả.
2. Một người trong nước không phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là hèn nhát.
3. Một người ở nước ngoài, dùng hay không dùng tên giả, phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là người can đảm, vì hầu như không có hệ quả nào làm cho người đó rụng cọng lông nào.
4. Một người ở nước ngoài không phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là hèn nhát, vì có phê phán cũng không rụng cọng lông nào.
Ông cho rằng loại người 1 (tức là người ở “trong nước” mà dám “phê phán chính quyền nặng nề”) thì “nói chung là người can đảm” (sao lại “nói chung”? chắc chắn là can đảm chứ!), vì “có thể có hệ quả” (sao lại chỉ “có thể có hệ quả”? chắc chắn là bị trừng phạt chứ! hãy xem hàng loạt người bất đồng chính kiến bị bắt gần đây). Sau đó ông cho rằng vì thế nên loại người 1 có thể chê hai loại người 3 và 4 là “hèn nhát (vì đã bỏ chạy)”.
Theo ông, người Việt Nam thuộc loại 3 và 4 thì không nên chê ai là hèn nhát, vì:
Thứ nhất cả hai đều đã bỏ chạy. Thứ nhì, cả hai, nếu phê phán chính quyền thì cũng không rụng cọng lông nào, thì làm sao có sự can đảm hay hèn nhát ở đây? Thứ ba, nếu không có sự can đảm (do phê phán chính quyền) thì lấy tư cách gì mà chê người khác là hèn nhát?
Ai bỏ chạy?
Người Việt Nam ở nước ngoài đã ra đi vì nhiều nguyên nhân khác nhau và bằng nhiều cách khác nhau:
– Có những người ra nước ngoài để du học hay làm việc (như học sinh, cán bộ, chuyên gia, công nhân…) rồi ở lại vì nhiều lý do (để được tự do, để có điều kiện sống tốt hơn…). Trong số đó, có cả những người vừa hưởng tự do và điều kiện sống tốt ở nước ngoài, vừa tiếp tục ủng hộ chế độ kềm kẹp tự do ở Việt Nam.
– Có những người ra nước ngoài để đoàn tụ với gia đình.
– Có những người đã ra nước ngoài để tránh cộng sản trong thời điểm miền Nam thất thủ 30/4/1975.
– Có những người (sĩ quan cao cấp VNCH), sau hàng chục năm bị giam cầm trong các trại tù CSVN, đã được chính phủ Mỹ bảo trợ theo diện H.O. để sang Mỹ làm lại cuộc sống.
– Nhưng đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài chính là hàng triệu người đã liều chết, vượt đại dương trên những con thuyền mong manh để đi tìm tự do.
Thưa ông Dương Danh Huy,
Trong hàng triệu người vượt biển ra đi sau 1975, có hàng trăm ngàn người đã bỏ mình dưới đáy biển. Hàng triệu người ấy đã ra đi, không sợ chết, vì họ không thể nào chấp nhận cuộc sống không tự do, bị đối xử như súc vật, bị chà đạp nhân quyền, bị tước đoạt nhà cửa và tài sản, bị xua lên vùng “kinh tế mới”, bị cầm tù vô thời hạn, bị đánh đập, bắt bớ, tra tấn bất kỳ lúc nào. Đối với họ, sống như vậy không còn một ý nghĩa nào nữa. Vì thế, họ bất chấp mọi hiểm nguy, dấn mình vào một cuộc đi mà có thể 99%, nhiều khi 100%, là chết. Nhiều người đã vượt biển ngay giữa mùa đông đầy dông bão. Nhiều người đã ra đi, thất bại, bị bắt, bị cầm tù, rồi vượt ngục, ra đi, nhiều lần như thế thì mới đến nước ngoài. Nhiều người khi đến đất liền thì bị đưa vào nhốt trong các “closed camps” suốt nhiều năm, không có thân nhân bảo lãnh sang nước thứ ba, đành phải sống mỏi mòn chờ đợi một ân huệ mơ hồ, rồi tuyệt vọng, tự treo cổ, mổ bụng hay tự thiêu, để chết.
Hàng triệu người Việt Nam đã vượt biển ra đi trong những thập niên 70 và 80, và hàng chục triệu người khác đã muốn ra đi mà ra đi không được, vì không có cơ hội, không có điều kiện, hay ngay cả không có đủ sức khoẻ hay can đảm để bước lên một chiếc thuyền mong manh vượt qua đại dương. Nhiều gia đình đành chịu cảnh ly tán, người đi, kẻ ở, mong chờ ngày đoàn tụ. Hàng chục triệu người khác đã ra đi nhưng thất bại, bị bắt giam, và sau khi ra khỏi nhà tù thì không còn điều kiện và cơ hội nào để ra đi nữa, đành ở lại trong nước.
Trong số hàng triệu người đã ra đi, sống sót và tìm được tự do ở nước ngoài, có những người đã bị hải tặc tấn công, hãm hiếp, cướp bóc, có những người đã phải chứng kiến các thân nhân của mình bị hải tặc giết và vất xác xuống biển, có những người khi đến nước định cư thì trở nên điên loạn và bị khủng hoảng suốt đời còn lại.
Trong số hàng triệu người sống sót ấy cũng có biết bao nhiêu người dũng cảm vượt qua những ám ảnh đau thương để xây dựng một cuộc sống mới từ hai bàn tay trắng, và họ đã trở thành những con người thành đạt trên quê hương thứ hai, nhưng vẫn không quên quê hương thứ nhất của mình. Bằng nhiều cách khác nhau, vật chất hay tinh thần, họ đã không ngừng đóng góp to lớn cho tổ quốc và đồng bào Việt Nam của họ.
Ông Dương Danh Huy nói nếu người bất đồng chính kiến trong nước chê người Việt lưu vong là hèn nhát (vì đã bỏ chạy), thì “có thể thông cảm được”. Thế nhưng, đó chỉ là cái giả thiết phi thực do chính ông Dương Danh Huy sáng tác ra. Tất nhiên, nhà cầm quyền CSVN cũng khát khao trông thấy những người đấu tranh ở trong nước khinh thường những người lưu vong đấu tranh là những kẻ bỏ chạy, những kẻ hèn nhát, vì như thế thì cuộc đấu tranh trong và ngoài nước sẽ không kết hợp với nhau, sức mạnh đấu tranh chung bị phân tán vì sự mâu thuẫn giữa hai phía trong và ngoài. Tuy nhiên cái giả thiết đó cũng như cái khát khao đó thì hoàn toàn vô ích, vì chính trong hàng ngũ những người đấu tranh ở trong nước, cũng có nhiều người trước kia đã từng muốn vượt thoát nhưng thất bại. Và sự thật là từ trước đến nay những người đấu tranh ở trong nước không bao giờ xem đồng bào tỵ nạn ở nước ngoài là những kẻ bỏ chạy, bởi họ biết rất rõ vì sao đồng bào của mình đã bất chấp ngục tù, bất chấp cái chết, để vượt thoát. Những người đấu tranh ở trong nước và ngoài nước vẫn luôn luôn tìm cách liên lạc với nhau để yểm trợ và kết hợp với nhau trong cuộc đấu tranh chung cho tương lai của đất nước Việt Nam.
Trong những thập niên 70 và 80, chính nhà cầm quyền CSVN đã gọi hàng triệu người vượt biển tỵ nạn là những kẻ bỏ chạy. Những ai vượt biển bất thành, bị công an bắt giam, thì bị ghép vào thành phần “chạy theo ôm chân đế quốc, phản bội tổ quốc”. Những ai chết trên biển, xác trôi vào bờ, thì bị để phơi nắng nhiều ngày cho sình thối như chó chết, vì đó là xác của những kẻ bỏ chạy.
Tôi hoàn toàn hiểu tại sao chính quyền CSVN đã dùng những lời lẽ ấy để thoá mạ chính những nạn nhân của họ. Tôi cũng hoàn toàn hiểu tại sao từ thập niên 90 đến nay, chính quyền CSVN lại thay đổi cách nói, và âu yếm gọi những người Việt tỵ nạn ở nước ngoài là “kiều bào”, là “khúc ruột ngàn dặm”, là “bộ phận không thể tách rời trong đại khối dân tộc”.
Nhưng tôi không thể hiểu vì lý do gì cho đến hôm nay mà một người trí thức gốc Việt sống ở nước ngoài lại gọi các đồng bào ly hương của mình (trong đó đại đa số là những người vượt biển) là những người bỏ chạy!
Ngay trong bài viết, Dương Danh Huy đã cho biết rằng ông là “một người lớn lên ở Anh”. Tôi không hiểu ông đã rời Việt Nam sang sống ở Anh từ khi nào và bằng cách nào mà ông lại có suy nghĩ như thế về những đồng bào Việt Nam vượt biển tỵ nạn, những người đã vượt qua mọi thử thách, đã sống sót và vẫn tiếp tục đấu tranh cho tự do của tổ quốc.
Ai hèn nhát?
Song song với những đóng góp to lớn cho quê nhà, đại đa số người Việt tỵ nạn ở nước ngoài không bao giờ quên rằng họ đã ra đi vì họ không thể sống thiếu tự do và không thể thoả hiệp với cái chế độ độc tài đã cướp đoạt sự tự do của họ. Đã từng sống nhiều năm dưới chế độ ấy và đã hiểu thế nào là cuộc sống vô nghĩa như một bầy sinh vật không có tự do, đại đa số những người ra đi luôn đau đáu trong lòng cái khát vọng to lớn về một cuộc sống tự do thật sự cho đồng bào của mình ở quê nhà. Chính vì thế, dù thuộc thành phần trí thức hay thường dân, đại đa số những người ra đi không ngừng kêu đòi tự do cho đất nước, và không ngừng lên tiếng tố cáo những hành động đàn áp nhân quyền, huỷ diệt tự do vẫn đang tiếp tục diễn ra ở quê nhà.
Trước khi họ ra đi tìm tự do, họ đã chấp nhận tất cả những gì nguy hiểm nhất xảy ra cho họ. Từ khi tổ chức chuyến đi (hội họp lén lút để bàn bạc kế hoạch, tìm người cùng góp vốn mua ghe, tích trữ xăng dầu, chôn giấu nước uống, lương thực…) họ đã chấp nhận nếu bị phát hiện thì sẽ bị giam cầm, hành hạ. Khi bước chân lên chiếc ghe mong manh, họ đã chấp nhận mọi hiểm nguy: nếu gặp tàu công an biên phòng thì sẽ bị bắt giam nhiều năm hay bị bắn chết ngay tại chỗ; nếu máy ghe bị hỏng giữa biển thì sẽ trôi dạt lênh đênh, chết đói, chết khát; nếu gặp dông bão thì nhất định sẽ phải bỏ xác trong lòng biển. Sẵn sàng trả giá bằng chính sinh mạng của mình, cuộc ra đi của họ là một hành động mang tính phê phán triệt để. Họ ra đi như đối diện một bản án tử hình, với một niềm tin mãnh liệt vào tự do, và một hy vọng vô cùng mơ hồ rằng mình sẽ sống sót. Nói thẳng ra, những người đang dũng cảm đấu tranh ở trong nước hôm nay cũng không phải đối diện với những nguy hiểm to lớn đến như vậy. Vì thế, cái niềm tin về tự do, cái thông điệp về tự do của những người vượt biển đã được bảo chứng bằng lòng dũng cảm của họ từ khi họ chưa rời khỏi Việt Nam, và đã được thử thách bằng ngục tù và cái chết. Cho đến hôm nay, sau khi đã vượt qua hết những thử thách đó, may mắn sống sót và định cư ở một nước tự do, nếu những người vượt biển vẫn giữ vững niềm tin đó, thông điệp đó, thì những phát ngôn của họ về tự do vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa cho đến chừng nào đời sống của nhân dân Việt Nam trong nước có tự do thật sự.
Dương Danh Huy nói: “Một người ở nước ngoài, dùng hay không dùng tên giả, phê phán chính quyền nặng nề, không vì thế mà là người can đảm, vì hầu như không có hệ quả nào làm cho người đó rụng cọng lông nào.”
Chỉ những ai hoàn toàn vô cảm, vô tâm, và không hề nghe, không hề biết đến những cái giá khủng khiếp mà những người vượt biển đã đánh đổi để tìm tự do, thì mới có thể cho rằng lời phê phán của những người vượt biển đối với chính sách đàn áp tự do của chế độ độc tài CSVN là những lời nói dễ dàng, không cần can đảm, của những kẻ thảnh thơi sống ở nước ngoài, không ai làm rụng một cọng lông!
Xin thưa rằng: Đại đa số những người Việt Nam sống ở nước ngoài đã không đi nhẹ nhàng bằng máy bay từ Việt Nam. Trái lại, đại đa số họ đã trải qua những thử thách của ngục tù và cái chết để giữ lấy niềm tin về tự do, thông điệp về tự do của mình. Hàng trăm ngàn người đã vĩnh viễn mang theo niềm tin ấy, thông điệp ấy vào lòng biển cả. Nói đơn giản hơn: Đừng cho rằng vì họ đang sống ở nước ngoài, chính quyền CSVN trong nước không thể trừng phạt họ, nên họ mặc sức mà phê phán! Nên nhớ rằng: niềm tin về tự do của họ đã được bảo chứng bằng sự dũng cảm đương đầu trước ngục tù và cái chết.
Ở nước ngoài, có những người dùng tên thật của mình để phê phán chính quyền CSVN. Có những người phải dùng bút danh, vì nếu không thì thân nhân của họ còn ở quê nhà sẽ chịu đựng sự trừng phạt của chính quyền ấy, hoặc bản thân họ sẽ có thể không bao giờ còn cơ hội quay về để nhìn mặt những người thân yêu của mình nữa.
Ở điểm này, việc ông Dương Danh Huy đặt ra vấn đề người Việt ở nước ngoài dùng tên thật hay “tên giả“ để “phê phán chính quyền nặng nề“ càng chứng tỏ sự vô cảm của ông trước những kinh nghiệm và thử thách khủng khiếp mà đồng bào tỵ nạn đã dũng cảm đương đầu và vượt qua.
Chí ít, về việc sử dụng “tên giả”, chắc chắn ông cũng thừa biết là có bao nhiêu những nhà tranh đấu, những nhà cách mạng đã sử dụng bí danh, thậm chí có người đã sử dụng hàng chục bí danh, tùy theo những trạng huống khác nhau, nhưng hoàn toàn không phải vì họ không can đảm.
Còn cái việc “phê phán chính quyền nặng nề“, thì đối với những tội ác và sự sai lầm của chính quyền ấy, phải phê phán như thế nào để không “nặng nề”?
Thưa ông Dương Danh Huy,
Ông lý luận về sự can đảm và sự hèn nhát. Vậy thì theo ông, ai can đảm và ai hèn nhát? Những kẻ sử dụng vũ khí và bạo lực để đàn áp cuộc sống, cướp đoạt tài sản, tiêu diệt tự do của người dân, là những kẻ can đảm hay hèn nhát? Những nạn nhân tuyệt vọng, không một tấc sắt trong tay, nhưng không chấp nhận sống nhục nhã đau đớn như một bầy sinh vật bị giam cầm trong chuồng, nên đã bất chấp cái chết để vượt biển đi tìm tự do, và để một ngày nào sẽ trở về xây dựng lại quê hương, là những kẻ can đảm hay hèn nhát? Những người vượt biển thoát chết, sống đời lưu vong nhưng không ngừng tranh đấu cho tự do của nhân dân Việt Nam, là những kẻ can đảm hay hèn nhát? Những người thoải mái được phép đi máy bay ra nước ngoài, học hành thành đạt, rồi ở lại nước ngoài để hưởng tự do, sống sung sướng, nhưng vẫn ủng hộ và bênh vực cho chế độ độc tài ở Việt Nam, và không hề lên tiếng khi thấy đồng bào trong nước bị tước đoạt tự do và quyền làm người, là những kẻ can đảm hay hèn nhát?
© 2009 Vương Thế Lan
© 2009 talawas blog
Thưa Cchị Nguyễn Thị,
Tôi nghĩ rằng nếu bây giờ các nước như Mỹ vẫn còn sức để nhận người VN, tôi nghĩ chắc chắn bà con VN mình vẫn đi rất nhiều. Bằng chứng người ở VN dám trả cả 40 ngàn đô để bảo lãnh giả sang Mỹ. Ngay cả con của cán bộ CSVN.
Bây giờ không có đi vượt biên như trước vì Cao ủy Liên hiệp quốc đã mỏi mệt, không chịu giúp người tị nạn nữa và sẽ trả họ về lại VN chứ không phải bà con không muốn rời bỏ thiên đường CS.
Chị đưa ra lý do bà con rời VN coi bộ chị cũng có cái đúng, nhưng sai thì gần hết.
– Kinh tế hậu chiến kiệt quệ
Chị phải nói là Chủ nghỉa CS làm kinh tế VN kiệt quệ, chứ không phải tự hậu chiến. Đổ thừa bậy.
– Việt Nam bị cấm vận (Mỹ cấm vận là trước hết)
Cấm vận là vì CSVN đi sai đường, xâm chiếm Campuchia, CSVN cứ tưởng thắng Mỹ thiệt. Nói thiệt nha, nguời Mỹ muốn đánh thắng VN chỉ cần 48 tiếng đồng hồ là đủ. Họ không muốn thắng thôi vì lý do chính trị. Thành ra mới nói CSVN cứ tưởng thắng thật. Nếu giỏi sao lại cầu xin Mỹ Ngụy vào để chống lại đàn anh Trung Cộng.
– Những hứa hẹn và “thiên đường” sống của Mỹ và Tây Âu mời mọc và vẫy gọi.
Quá sai, vì không ai mời mọc cả. Người VN tị nạn tự bỏ trốn CS. Họ sợ trách nhiệm nhưng vì lòng nhân đạo nên họ phải gồng mình cứu vớt tị nạn VN thôi.
-(không có mấy những người đói tự do đến một xứ sở tự do như gió trời là Thái Lan hay Indonesia…),
Sai luôn. Thái Lan , Indo, Mả Lai, Phi họ không có khả năng nhận người VN nên phải đi các nước Phương Tây thôi.
-Tôi nghĩ ông Dương Danh Huy có lý khi gọi (đại đa số) người vượt biên là “bỏ chạy”.
Cái này thì bariaboy nghĩ đúng. Nhưng vì ai mà phải bỏ chạy. Nếu chị Nguyễn Thị có dịp đi tàu đánh cá ra hải phận quốc tế thì lúc đó chỉ mới hiểu người VN tị nạn có hèn nhát không? Hoặc đi đường bộ từ VN sang Miên rồi đến Thái Lan. Chị mới thấy người VN gan dạ cỡ nào.
Tôi thông cảm được chị không biết vì chị đã và đang ở VN. Chị cần phải nghiên cứu thêm sách vở lề trái.
Chị có biết hiện giờ CSVN đang ép các nước Đông Nam Á nhận tị nạn VN phải xóa bỏ các di tích tị nạn làm chi không?
“Họ muốn xóa sổ tất cả những gì có tính chất tội ác của Cộng sản mặc dù các di tích tị nạn này không phải là lớn, nằm ở hoang đảo xa xôi, nhưng họ cũng phải tìm cách tiếp cận tới nơi để rửa sạch những dấu vết tội lỗi này”.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Hanoi-urges-jakarta-to-obliterate-former-refugee-camp-in-galang-08032009144345.html
Anh Dương Danh Huy nói: “Nếu người (3) chê người (4) là hèn nhát thì tôi hơi thắc mắc: Thứ nhất cả hai đều đã bỏ chạy. Thứ nhì, …”
Theo tôi anh Huy nên rút lại 3 chữ này: “đã bỏ chạy”. Ai trong chúng ta cũng có thể “lỡ lời” nhưng biết rút lại lại là điều đáng trân trọng, nhất là đối với người Việt mình!
Còn nếu anh không thấy gì sai trái cả thì thôi!
Ông Trần Văn Tích nhắc đến sự kiện một phụ nữ Việt Nam vượt biển và đến được nước Anh. Bà được nữ hoàng tiếp và khen ngợi là người phụ nữ can đảm nhất thế giới.
Ông Dương Danh Huy đặt ra vấn đề giả sử người phụ nữ ấy là trí thức, và bây giờ “không lên tiếng”, thì nên gọi là hèn nhát hay không.
Vấn đề này rất đơn giản và có thể trả lời như sau:
1. Nếu người phụ nữ ấy bây giờ không lên tiếng, không ai thấy bà xuất hiện ở đâu cả, và không ai biết bà hiện nay ra sao; thì ta có thể nói : trước kia bà vô cùng CAN ĐẢM.
2. Nếu người phụ nữ ấy bây giờ không lên tiếng, vì một hay nhiều lý do bất khả kháng (ví dụ: đã qua đời, đang bệnh tật, bận bịu công việc, sinh kế, gia đình, không có điều kiện tiếp xúc với phương tiện truyền thông, v.v…); thì ta có thể nói : trước kia bà vô cùng CAN ĐẢM, và bây giờ bà vẫn KHÔNG HỀ HÈN NHÁT.
3. Nếu người phụ nữ ấy bây giờ không lên tiếng, vì một hay nhiều lý do bất khả kháng nêu trên, nhưng bà vẫn dạy cho con cái hiểu về tình trạng mất tự do của đồng bào trong nước, và khuyên con cái nếu có điều kiện thì hãy lên tiếng đấu tranh; thì ta có thể nói : trước kia bà vô cùng CAN ĐẢM, và bây giờ bà vẫn là con người CAN ĐẢM.
4. Nếu người phụ nữ ấy bây giờ vẫn đang viết bài đăng báo, trở thành một tiếng nói trí thức trước công luận, (thậm chí làm chủ cả một tờ báo), đề cập đến vô số vấn đề chính trị và xã hội Việt Nam, nhưng luôn luôn tránh nói đến hiện trạng và những sự kiện đồng bào trong nước bị vi phạm nhân quyền, bị chà đạp tự do, những nhà bất đồng chính kiến bị bắt bớ, giam cầm, hành hạ…; thì ta có thể nói : trước kia bà vô cùng CAN ĐẢM, nhưng bây giờ bà đã trở thành một con người HÈN NHÁT.
5. Nếu người phụ nữ ấy bây giờ vẫn đang viết bài đăng báo, trở thành một tiếng nói trí thức trước công luận, (thậm chí làm chủ cả một tờ báo), đề cập đến vô số vấn đề chính trị và xã hội Việt Nam, nhưng không những luôn luôn tránh nói đến vấn đề tự do của đồng bào trong nước (như ở câu 3), mà lại còn tìm cách biện hộ, bào chữa cho chính sách của nhà cầm quyền trong nước; thì ta có thể nói : trước kia bà vô cùng CAN ĐẢM, nhưng bây giờ bà đã trở thành một con người vừa HÈN NHÁT, vừa THIẾU LƯƠNG TÂM, vừa PHẢN BỘI.
Nói tóm lại, hành động vượt biển tìm tự do của bà ngày xưa vẫn mãi mãi được xem là vô cùng CAN ĐẢM, và điều đó chứng tỏ ngày xưa bà đã KHÔNG BỎ CHẠY. Nhưng ngày hôm nay bà trở thành như thế nào thì tùy theo những biểu hiện khác nhau mà ta xét đoán và đánh giá như đã trình bày ở trên.
Về một chi tiết bên lề.
Ông Hòa Nguyễn nói “…đã nghe nói tới dòng họ”Nguyễn Khoa”. Dường như (theo trí nhớ của tôi) ông Nguyễn Khoa Thái Anh từng nhắc chuyện với ông Nguyễn Khoa Điềm về ông Nguyễn Khoa Nam mà có thể cả hai đều không biết mặt”. Tôi không hiểu rõ lắm đoạn văn trên, liệu có phải ý ông muốn nói giữa hai ông Nguyễn Khoa (Điềm & Nam) này là không có liên hệ dòng tộc.Theo tôi biết, ông Điềm là con trai ông Hải Triều Nguyễn Khoa Văn cùng dòng họ Nguyễn Khoa với ông Nguyễn Khoa Nam ở Huế vậy.
Về chuyện “Hổ phụ sinh hổ tử”, (hay sự im lặng đầy ẩn ý) ta hãy xem đoạn trích (và nhái) Đại Vệ Chí Dị của blogger Người Buôn Gió (đang rất thời thượng) sau đây:
“Có người hỏi Vệ Vương: Nghe đồn rằng ngài là con không chính thức của Tiên đế, Vệ Vương lấy vẻ oai vệ thường ngày tức thì, tóc lại bóng mượt, mồm uốn éo tròn vo, đầu ngẩng cao nhìn khắp lượt quần thần đoạn ngạo ngễ nói: Chúng ta người Vệ Nam ai cũng là con cháu của Tiên Đế cả…”
Tôi nghĩ ông Trương Nhân Tuấn đã vội vàng đi đến kết luận cho giả thuyết ông tự đặt ra. Và như thế có thể rơi vào “bẫy” im lặng của ông Dương Danh Huy.
Chính tôi cũng thắc mắc một lần, nhưng chưa bao giờ đặt ra ở đâu, về sự trùng hợp của họ “Dương Danh”. Nhưng trong đời này bất cứ sự trùng hợp nào cũng có thể xảy ra. Về sau tôi biết, chỉ được đọc gián tiếp, là thân sinh ông Dương Danh Huy làm trong ngành giáo dục ở Đà Lạt trước 1975. Tôi viết điều này, như một tiết lộ thân thế của người khác, mà không hỏi ý trước của người liên hệ, vì không phải ông Huy nói trực tiếp với tôi như vậy, và nhiều người khác cũng đọc điều đó như tôi. Và việc làm này cũng để chấm dứt một câu chuyện không cần thiết và không nên kéo dài ở đây.
Tôi nghĩ nếu ông Huy và ông Dy có liên hệ họ hàng gì thì ông Huy đã nói rõ ra rồi, không việc gì phải im lặng. Ở đây, đã nghe nói tới dòng họ “Nguyễn Khoa”. Dường như (theo trí nhớ của tôi) ông Nguyễn Khoa Thái Anh từng nhắc chuyện với ông Nguyễn Khoa Điềm về ông Nguyễn Khoa Nam mà có thể cả hai đều không biết mặt.
Sau khi đọc thông tin của ông Phùng Tường Vân, cũng mù mờ nên tôi tìm trên mạng về Nữ Hoàng Anh gặp người Việt tỵ nạn thì chỉ thấy có trường hợp của bà Phan Thị Kim Phúc!
Phan Thị Kim Phúc là đứa bé bị bom năm 1972 ở Trảng Bàng trên bức ảnh nổi tiếng của Nick Ut. Bà gặp Elisabeth Đệ nhị là vào năm 2000 nhân dịp khai trương phần phát triển mới của London Science Museum. Sau khi hỏi bà Kim Phúc là “Có thật là bà đấy không?”, bà Elisabeth đứng trò chuyện một lúc.
http://www.digitaljournalist.org/issue0008/ng1.htm
Trên trang mạng của Speakinc, tiểu sử của bà Kim Phúc cho biết bà được nhận huân chương Queen’s Golden Jubilee Medal (50 năm lên ngôi của Nữ hoàng, 2002).
Speakinc là một công ty môi giới và đại diện các nhân vật đủ thành phần để phát biểu trong các cuộc hội hè, đình đám. Thù lao của bà Kim Phúc trong những dịp này là 10.000 USD.
http://www.speakinc.com/keynote-speakers/kim-phuc/
Thời điểm đầu thập niên 80, internet chưa phổ biến nhưng vẫn mong có bạn đọc tìm ra thông tin về phụ nữ thuyền nhân được Nữ hoàng Anh tuyên dương.
Một góp ý nhỏ với bác Trương Nhân Tuấn.
Bác Huy có thể im lặng, không phải vì có quan hệ huyết thống gì với ông Dy, mà đơn thuần vì những chi tiết cá nhân kiểu ấy không nhất thiết bác ấy phải bày tỏ (có hay không quan hệ huyết thống).
Cho nên từ việc bác Huy im lặng, không thể và cũng không nên rút ra bất cứ điều gì.
Cái chuyện “Dương Danh” này cũng như câu chuyện Valencia (http://www.talawas.org/?p=3112) mà ô. Trương Nhân Tuấn đã xài hồi đó – cứ đuối lý hay ấm ức là ông ta bám víu vào những chuyện họ hàng tổ tông không ăn nhậu gì cả đến vấn đề. Rất đáng khinh. Đã sống ở Tây phương mấy chục năm thì ít nhất cũng phải học được vài cái văn minh tối thiểu của họ chứ? Ra ngoại quốc mấy chục năm còn có ai “ỉa đồng” không? (http://www.voanews.com/vietnamese/2009-08-04-voa41.cfm)
Nếu ông Dương Danh Huy quả thật là con trai hay có họ hàng với ông Dương Danh Dy thì rất thú vị, nhưng cũng xin các ông chớ sa đà vào câu chuyện hổ phụ hổ tử gì ở đây. Cái này chỉ là một chi tiết cho ta tham khảo và ngẫm nghĩ mà thôi.
Còn nếu không phải như thế, nếu ông Dương Danh Huy bác bỏ khẳng định này thì xin mời ông Trương Nhân Tuấn hoặc là… đi chỗ khác chơi, hoặc trước khi giơ tay phát biểu thì xin HẾT SỨC THẬN TRỌNG!
Nhân đây cũng xin có lời can gián: Phe ông Trương Nhân Tuấn và phe ông Dương Danh Huy va chạm nhau có thừa trên sân chơi này rồi. Lời hay ý đẹp gì đáng tặng cho nhau thì cũng đã tặng cả rồi, bà con đã chứng kiến cả rồi. Quan điểm của ai thế nào, thái độ của ai thế nào thì cũng đã rõ. Bây giờ khi có chuyện gì cần nói, xin các ông tránh nhắc lại những cái mà bà con đã đọc phát mệt nhoài và chán hẳn rồi. Nếu không đủ sức nói chuyện với nhau cho bình thường thì tránh nhau ra, buông nhau ra các ông ạ!
Các ông có cãi nhau nữa cũng bằng thừa, không có ý nghĩa gì nữa cả, không bổ ích cho ai nữa cả.
Thưa anh Lê Quốc Trinh,
Chính là ông Dương Danh Dy đó: người đã từng làm «công chức cao cấp ngành ngoại giao», «chuyên gia về Trung Quốc», đã có nhiều lần lên BBC và RFA trả lời phỏng vấn.
Trong bài viết của tôi «Việt Nam đã hứa hẹn điều gì với Trung Quốc? Hệ quả và trách nhiệm» đăng ở đây vài hôm trước (http://www.talawas.org/?p=8161), tôi có góp ý với bạn bè, sẵn dịp đặt câu hỏi cho ông Dương Danh Huy như sau: «có thể ông Dương Danh Dy và anh Dương Danh Huy có quan hệ huyết thống. Hổ phụ sinh hổ tử, hy vọng anh Huy sẽ thay cha bạch hóa các việc này.»
Ông Huy có trả lời một số chi tiết nhưng im lặng về câu hỏi này.
Theo tôi, im lặng là thừa nhận. Nhưng ông Huy có thể nhân dịp này xác định lại (nếu ông muốn) quan hệ giữa ông và ông Dương Danh Dy.
Chào bạn Trương Nhân Tuấn,
Bạn lấy đâu ra nguồn tin chính xác đáng tin cậy để nói rằng ông Dương Danh Huy và Dương Danh Dy là hai cha con. Có phải ông Dy đã từng làm cựu Đại Sứ VN tại TQ? Đã từng lên tiếng vài lần trên báo chí và trên Mạng?
Chào thân ái,
Làm sao Trương Nhân Tuấn có thể khẳng định 100% rằng: “Hai cha con vị này (Dương Danh Dy và Dương Danh Huy) …” Please give evidence to support this.
Please note that you should not ignore this ligitimate request because you’re also a public figure!
Thưa chị Nguyễn Thị,
Khi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn ở trại tị nạn, nhân viên phỏng vấn người Hoa Kỳ hỏi tôi: Anh tị nạn chính trị hay tị nạn kinh tế? Tôi có xin phép hỏi ngược lại người phỏng vấn là: Nếu tôi cho anh 50 lượng vàng, anh có dám vượt Thái Bình Dương bằng thuyền như tôi không?
Mấy tháng sau tôi tuyên thệ đi Mỹ.
Về câu hỏi của ông Trần Văn Tích,
Người phụ nữ vượt biển để tỵ nạn cộng sản Việt Nam và được Nữ hoàng Anh “dương danh” đó, có người kể lại với tôi là cô (bà) Mai Liên, xướng ngôn viên Đài Phát thanh Sài Gòn trước 1975. Tôi không rõ có chính xác không.