Lâm Hoàng Mạnh – Ai đã làm giàu trong cuộc chiến tranh Trung – Việt? (1)
03/08/2009 | 10:07 sáng | 20 Comments
Category: Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: Chiến dịch bài Hoa 1979 > Người Việt gốc Hoa
Trong số báo Xuân 1968 của tập san Tác phẩm Mới, cụ Nguyễn Tuân có bài “Cho giặc bay Mỹ ăn một cái Tết ta”. Với phong cách bậc thày về thể ký, cụ hài hước làm con tính cộng trừ nhân chia: bình quân giá 1 viên đạn súng trường là 5 kí gạo, vậy 1 quả tên lửa SAM I, SAM II, SAM III ( của Liên Xô) tính ra phải đến hàng ngàn tấn gạo, có nghĩa là bằng hàng triệu triệu chiếc bánh chưng ngày Tết. Mà đâu có phải bắn có 1 phát tên lửa là hạ ngay 1 chiếc Thần Sấm, Con Ma đâu. Có khi vài quả may ra mới trúng một chiếc máy bay. Như vậy cứ 1 phi công Mỹ (giặc bay Mỹ) nằm trong khách sạn Hillton Hà Nội thì nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải tung hê lên trời hàng triệu chiếc bánh chưng, tiếc gì mà không phát cho mỗi phi công Mỹ 1/2 chiếc bánh chưng để họ thưởng thức và được tiếng là nhân đạo. Nghe tin (nồi chõ) cụ Nguyễn Tuân bị Tố Hữu “giềng mẻ” cho vài trận cũng đến nơi đến chốn.
Đòm một phát, 5 kí gạo bay lên trời, ùng oàng là hàng tấn gạo ra tro. Một trận đánh nhỏ, hai bên cũng tiêu tốn hàng triệu tấn gạo. Chả thế mấy lão cò sung chuyên xúi các nước đánh nhau để bán hàng là gì. Chiến tranh vài năm là tiêu tốn hàng chục tỉ đô-la Mỹ như không! Có nghĩa là trong chiến tranh, kẻ làm giàu chính là lái súng!
Nhưng theo tôi cuộc chiến tranh Trung – Việt chưa hẳn như vậy. Bởi vì súng đạn (quân trang quân dụng nói chung) của chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là do viện trợ không hoàn lại (?) của các nước XHCN anh em, kể cả Trung Quốc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ còn dư thừa rất nhiều và chiến lợi phẩm chiếm được của Việt Nam Cộng hòa khi Sài Gòn lọt vào tay Bắc Việt. Còn Trung Quốc không phải mua, vì Trung Quốc cũng là 1 trong 5 quốc gia chuyên bán súng xúi các nước choảng nhau.
Vậy ai làm giàu (tuy cò con) trong cuộc chiến chớp nhoáng này? Theo tôi là bọn chủ thuyền (đưa người Hoa, người Việt vượt biên) và công an (chủ yếu là trong Ban Ngoại kiều) CHXHCNVN.
*
Trong ba bài trước, tôi đã kể về việc người Việt gốc Hoa muốn tự cứu mình phải cao chạy xa bay càng sớm càng tốt. Nhưng muốn chạy về “tổ quốc vĩ đại” hay theo đường biển thì cũng phải cần tiền. Không thể tất cả đồ đạc (giường chiếu chăn màn, nồi niêu xoong chảo…) chở bằng xe bò (từng có trên truyền hình những năm 1978-79) hay cho lên thuyền hay sao? Vì thế người Hoa phải bán tất cả những gì mình có để có tiền trang trải cho cuộc đào tẩu và dắt lưng khi đến miền đất lạ.
Sau 25 năm dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, sau những chuyện động trời như cải cách ruộng đất, cải tạo tư bản tư doanh thì tất cả người dân Việt Nam (Việt cũng như Hoa) đều nghèo xơ xác. Ai cũng như nhau, nhất là trong thời kỳ bao cấp. Ngày nay trên báo chí trong và ngoài nước thỉnh thoảng có đề cập thời kỳ ngăn sông cấm chợ, bao cấp…, nhưng ngăn như thế nào, cấm ra làm sao và chế độ tem phiếu có từ bao giờ, tiêu chuẩn ra sao, chắc nhiều người không biết đầy đủ. Nếu có dịp tôi sẽ viết về chuyện này, bởi vì tôi là trong những đoàn học sinh các trường trung học Ngô Quyền, Phan Chu Trinh, Trần Phú… ở Hải Phòng trong đoàn quân “văn hay chữ tốt” đi viết sổ gạo thuê cho các tiểu khu (bây giờ là phường) vào hè 1960.
Mọi người dân đều nghèo nhưng người Hoa ở Hải Phòng nghèo lắm, chỉ hơn người ăn mày là có nơi chui ra chui vào, là không phải ngửa tay xin sự bố thí lòng từ bi của ông đi qua bà đi lại mà thôi. Sao vậy? Bởi vì gần 80% người Hoa ở Hải Phòng làm nghề cu-li (sau này chính phủ cộng sản khoác cho chiếc áo “mới” – công nhân – cho đỡ tủi thân phận cu-li cu leo) bốc vác ở cảng Hải Phòng mà ngày xưa gọi là Bến Sáu Kho, làm cu-li đội than, cu-li kéo xe ba gác, bán lạc rang, bán sấu dầm, táo dầm, thạch găng, lục tàu xá, sủi-zìn, bánh bao rong…, một vài gia đình có cửa hàng thuốc Bắc (như ông tôi nhưng sập tiệm vì cụ qua đời), cao lâu (nhà hàng bây giờ)… thì đã phải quốc doanh hết! Tôi đã đi đội than vào những ngày hè (năm 1958, 59,60) để dành tiền mua sách bút và quần áo cho niên học tiếp theo nên hiểu lắm, thương bà con tôi lắm. Ông cha chúng tôi vì nghèo khổ đã tha phương cầu thực sang Việt Nam để tìm miền đất hứa, nhưng số phận chẳng hơn gì, đời cu-li vẫn cứ là cu-li. Đội than cực lắm, nhất là vào mùa hè, trên trời nắng như thiêu như đốt, những đống than, nhất là than luyện, không hiểu sao lại càng tăng sự đốt cháy như lửa. Mặt rát như bị bỏng sau 8 giờ đội than, cho nên phụ nữ thường lấy khăn quấn che kín cả mặt chỉ chừa hai con mắt, y như trong phim hành động Nhật. Ngày mưa cũng chẳng dễ thở gì. Sau cơn mưa, thúng than trên đầu rỏ giọt xuống cổ áo, xuống người, ngứa ngáy như bị sâu róm bò. Khổ ơi là khổ! Tôi xin được là nhờ chú tôi làm thư kí công đoàn cảng đấy, chứ sức vóc lẻo khoẻo lèo khoèo như tôi chả đội nào nhận (nuôi báo cô)! Còn cu-li bốc vác thì mỗi một ca 8 tiếng, ít nhất phải cõng vài trăm bao gạo hay xi măng trên vai với trọng lượng nhẹ nhất là 50kg, nặng là 75kg. Năm 1960 tôi đã thử (vì tiền kiếm nhiều hơn) nhưng chịu. Sức vóc học trò làm sao được! Chẳng như bây giờ có cần cẩu, băng dây chuyền máy, trông mà cũng thấy sướng cho công nhân bốc vác thời hiện đại.
Người Hoa chiếm 80% cu-li bốc vác cảng và cu-li đội than ở Hải Phòng, cho nên khi họ chạy đi, cảng Hải Phòng gần như tê liệt. Chính quyền về các vùng Kiến An, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo tuyển người, nhưng ít người trụ được vì còn khổ hơn vác cày đi bừa. Nông dân quen tự do, muốn làm thì làm muốn nghỉ thì nghỉ, chứ đi làm cu-li giờ giấc phải đúng phăm phắp, chưa đến giờ giải lao dù nắng hay mệt cũng xin mời tiếp tục làm. Chính quyền an ủi, bọn Tàu cút, chúng ta đỡ phải cung cấp lương thực thực phẩm, cuộc sống bà con sẽ đỡ hơn! Chứ người làm bác sĩ, kỹ sư, thày giáo, thư kí… nghĩa là không phải làm việc bằng cơ bắp thì chẳng có là bao. Ít, ít lắm. Của hiếm đấy!
Người lao động chân tay vì quá vất vả và ít được học hành tử tế nên thường thô lỗ trong sinh hoạt. Phải chăng vì tất cả những vất vả, đau khổ trong ngày mà họ gánh chịu không biết chút vào đâu ngoài chất men, sòng bạc và lên đầu vợ con, cho nên đồng bào tôi thô lỗ lắm. Xin lỗi đồng hương người Hoa, tôi đã mạo muội nói ra sự thật vạch áo cho người đời xem mụn nhọt, rôm sẩy, mà chưa được sự đồng ý, lượng thứ cho tôi! Bởi vì sự thật thường đau đớn lắm. Con người ta cởi hết ra, trần như nhộng, chắc chắn chẳng ai đẹp hơn ai, kể cả mấy cô “chân dài” người mẫu mà báo chí Việt Nam ngày nào cũng tốn biết bao giấy mực ca ngợi như những thiên thần, những vị cứu tinh, những tinh hoa giúp các cảnh đời bất hạnh của dân tộc Việt không bằng! Đằng sau những mỹ từ ấy còn nhiều chuyện khó biết, hãy xem phim Chạy án đang chiếu trên VTV4 thì sẽ hiểu một phần (chỉ một phần sự thật thôi) cũng đủ tởm lợm đạo đức tư cách của hoa hậu Việt Nam rồi!
Chính vì thô lỗ cho nên những hàng xóm là gia đình người Việt thường ác cảm. Họ gọi chúng tôi là Tẫu, chứ là Tàu còn là phúc tổ 70 đời như có bạn đọc nào vừa gửi lời nhắn nhủ trong phản hồi! Bởi vì đi vắng thì thôi, hễ về đến nhà là nói to, oang như lệnh vỡ, không những thế còn mở miệng ra là… tỉu (đ.m.), hung hăng, hơi tí muốn khà khịa, đến tôi cũng chờn chợn, có phải vì thế ba bốn đời gia đình tôi toàn lấy vợ Việt! Phải chăng sợ mấy ông bố vợ nghiện rượu, nghiện cờ bạc và hay tỉu-cái-là-ma, hơn nữa tôi không phải là đệ tử của Lưu Linh, chẳng được như Lý Bạch càng say thơ càng hay cho nên không dám nghiện để làm rể với ông hơi tí là tỉu! Lại chẳng có tiền thừa và không có máu tham (của người khác) để vào trò đỏ đen hại vợ hại con, tan cửa nát nhà. Năm 1952, có ông Coóng (Quang) thuê một buồng của bà tôi, đánh bạc thua, ông ta đã gán vợ (rất xinh và hiền lành tử tế lắm) cho nhà thổ. Bọn cơm thày cơm cô đang đêm điệu ông Coóng về nhà để làm chứng có giấy bán vợ! Tôi chứng kiến. Sợ quá xanh mắt và thề không bao giờ đánh bạc từ khi tôi mới 12!
Dân số Trung Quốc từ xưa đến nay vẫn đông nhất thế giới, cho nên bất cứ chỗ nào có người ở trên khắp hành tinh này đều có người Trung Quốc tha phương đi kiếm ăn. Ngay hôm nay đây, có hàng ngàn người dân Trung Quốc (đa số là Thiều Châu và Phúc Kiến) đang làm việc (hợp pháp và bất hợp pháp) tại kinh thành London này. Họ làm nghề gì ở London? Xin thưa, làm cu-li xây dựng cho các cai đầu dài người da trắng! Còn buôn thúng bán mẹt, bán sấu dầm, táo dầm, thạch găng thì ở Anh không có đất dụng võ. Cũng như bà con quê Thái Bình, nơi người đông ruộng ít cho nên ai chả biết câu ca dao đầy miệt thị:
Thái Bình là đất ăn chơi
Tay gậy tay bị khắp nơi tung hoành.
Và nạn đói năm 1945. 2 triệu dân miền Bắc chết thì số người dân Thái Bình đóng góp phải đến gần 50% (không biết có chính xác không, có số liệu điều tra nghiên cứu nào không?).
Từ cuối năm 1978, nhiều gia đình người Hoa đã rục rịch bán tài sản để về “tổ quốc vĩ đại”, nhất là sau khi bài học được tung ra để “dạy cho Lê Duẩn” thì chúng tôi nháo nhào bán tống bán tháo chạy cho mau. Nước đến chân rồi! Chết đến đít! Phen này chậm chân thì tiêu đời! Chợ Sắt đầy người bán các thứ đồ đạc của người Hoa chạy loạn, đủ loại thượng vàng hạ cám, nhưng toàn đàn bà Việt bán (họ là vợ, con của các cu-li, trong đó có cả vợ tôi tham gia chợ cóc đó từ tháng 5-1979 cho đến trung tuần tháng 6-1979!). Tôi yêu văn chương từ thuở học primary Pháp thuộc, càng lớn càng nghiện (mua sách) nặng, cho nên tôi có số sách thật khổng lồ, nay đem sách đi bán chắc chắn sẽ góp một phần không nhỏ cho chi phí chuyến đào tẩu. Đau đớn lắm, những tác phẩm quý của tất cả các tác giả Đông Tây in bằng tiếng Việt từ thời Pháp cho đến 1978, vài ngàn cuốn, tôi phải cho vào bao tải chở bằng xe đạp đưa ra ngay trước cửa hiệu sách của thị xã. Anh cửa hàng trưởng (tôi là khách hàng mua đã 15 năm từ khi ra trường) nhìn tôi mà ứa nước mắt. Anh biết tôi yêu sách như yêu vợ, như máu thịt của tôi mà những ngày này tôi phải cắt từng miếng thịt bán cho thiên hạ lấy tiền, đưa vợ dại con thơ chạy trốn! Trời ơi! Sao oan nghiệt thế! Các giáo viên cấp 3, giáo viên trường trung cấp sư phạm 10+2 (bạn tôi), học sinh khoa văn và học sinh cấp 2, 3 của tỉnh và thị xã nghe tin đến mua ào ào như tằm ăn rỗi. Họ rất ngạc nhiên sao tôi kiếm đâu ra những cuốn sách quý và hiếm như vậy. Xin kể vài đầu sách: Tất cả tiểu thuyết, truyện ngắn của Tư lực Văn đoàn, Thơ Mới in từ thời Pháp thuộc mà giai đoạn ấy cấm đọc! Tôi có cả cuốn Cửa mở của bác Trần Việt Phương (bị cấm lưu hành), cuốn Bông hồng vàng do bác Vũ Thư Hiên dịch từ tiếng Nga (một dịch giả thật tài hoa mà tôi rất kính trọng, nay bác đang ở Pháp), cuốn sách này cấm lưu hành. Nghĩa là tôi toàn sách “độc” nên bán chạy hơn tôm tươi là phải. Giá bán không rẻ, thậm chí đắt và rất đắt, bởi tôi biết giá trị thật của nó mà. Chỉ trong 4 ngày tôi bán được hơn ngàn cuốn sách. Riêng những cuốn tự điển Trung Việt của Văn Tân, Trung Hoa đại từ điển và một số thơ Đường, Tống bằng chữ Hán tôi cho các cậu các dì làm giấy vệ sinh, vì ở Việt Nam lúc ấy loại này cũng hiếm lắm!
Đã bị quả đấm bằng trời giáng (xua đuổi) của chính quyền, nay thêm cái đạp là đồ đạc bao nhiêu đời, bao nhiêu năm ki cóp bán đi như thể bán đổ bán tháo, gần như cho không, vì những tin đồn thất thiệt (có phần kỳ thị, bài Hoa) nên không ai mua.
Thời bấy giờ ở miền Bắc nghèo lắm (tôi không biết ở miền Nam ra sao nên không lạm bàn) và mọi thứ đều thiếu, thiếu từ cái nồi, cái bát, cái xe đạp đến manh quần tấm áo, bởi vì mọi thứ đều bán theo phân phối của chế độ mậu dịch. Mua chiếc xe đạp cũng phải lên công an xin đăng kí giấy quyền sử dụng xe, mua chiếc đài thu thanh (to nhỏ) đều phải lên ty/sở bưu điện xin giấy sử dụng, ai không có sẽ bị phạt, nhẹ bằng tiền, nặng thì tịch thu.
Người Hoa ở miền Bắc nghèo như thế đấy nhưng theo như sách báo và người ta kể thì người Hoa Sài Gòn – Chợ Lớn (chứ không phải chợ nhỏ) giàu lắm, giàu đến mức độ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm phải ra những đạo dụ để kìm chế sự thao túng kinh tế miền Nam. Cám ơn ông Tưởng Năng Tiến (tên bút danh nghe thật ngộ) và ông triêu đã chỉ cho biết nguồn gốc tại sao người Hoa miền Nam có cái tên là Ba Tầu. Thì ra các cụ chúng tôi sang Việt Nam bằng thuyền, mà mỗi lần cập bến thường là 3 chiếc. Giàu có và đoàn kết thật! Như vậy Boat People đã có từ mấy trăm năm trước đâu có phải bắt đầu từ năm 1975!
Còn ông cha chúng tôi ở miền Bắc, xuất xứ từ những làng mạc, huyện thị sát ngay biên giới như Phòng Sềnh (Phòng Thành), Tống-hoóng (Đông Hưng)… nên theo đường bộ xâm nhập bất hợp pháp một các dễ dàng. Nhân dân Việt Nam rất hiếu khách cho nên thấy người lạ đến nhà đều vui vẻ tiếp và gọi họ là Khách. Nhưng các vị khách này không chỉ viếng thăm thời gian ngắn mà ở dài dài và thậm chí nhiều người đã lấy vợ Việt nên sau này có tên Khách Trú, có người lại gọi là Chú Khách để chỉ người Hoa ở miền Bắc! Đó là những ông khách thường trú theo như quy định kê khai hộ khẩu tạm trú tạm vắng ở Việt Nam ngày nay.
Thời kỳ bao cấp thiếu thốn đủ thứ, kể cả giấy đi vệ sinh cũng tìm không ra, mua không có, chứ đừng nói những thứ cao siêu như sữa tắm, sữa gội đầu, các loại lotion dành cho phái đẹp bán đầy các cửa hàng, tung bao chiêu để dụ khách như bây giờ, mà vẫn ế, các cô bán hàng ngồi ngáp vặt thường phải lấy quạt xua ruồi bám mép vì chẳng có ma nào đến hỏi. Có nghĩa là có bất cứ cái gì dù second hand hay fourth hand… đều bán được hết. Cái thời mà có chiếc xe đạp cà tàng cũng phải lên đồn công an khu phố (phường) xin đăng kí để được cấp giấy, có chiếc đài thu thanh (điện tử hay bán dẫn) cũng phải lên ty (sở) bưu điện xin giấy mới được quyền sử dụng. Khi mở đài phải mở thật to để mọi người biết đang nghe gì (chứ không phải vì khoe của), chớ có vì pin yếu, ghé sát tai vào đài mà nghe, chắc chắn được công an hỏi thăm liền. Nhẹ cảnh cáo, nặng tạm giam vài ngày và chiếc đài kia bị tịch thu là cái chắc! Nghe đài địch hả? Đài BBC phát thanh tiếng Việt là tối phản động, nhất là tay Đỗ Văn giọng ngọt ngào, truyền cảm, ấm lắm, nhưng toàn phát những lời lẽ độc hại. Tôi có nghe trộm đài BBC từ năm 1960, nghe đã lắm. Hồi xưa cộng sản Việt Nam ghét cay ghét đắng Đỗ Văn, thề tóm được sẽ trị cho ra bã! Không biết người ta đã tóm được bác chưa hay bây giờ đang trải thảm đỏ nồng nhiệt mời bác về mở vài cua (course) tiếng Anh cho con các cốp trước khi du học?
Thiếu thốn như thế đấy, ấy thế mà đồ đạc người Hoa bán ra bị chê ỉ chê eo và rất khó bán. Tìm hiểu ra thì bị kẻ xấu đồn thổi. Ai đồn thổi? Kế sách của Lê Duẩn? Chính quyền khu phố? Công an? Hay những người quá khích? Thực hư đến nay chưa có câu trả lời, nhưng những lời đồn ác độc này đã gây khốn đốn cho người Hoa rất nhiều trong thời kỳ ấy.
Lời đồn thổi nhanh như cơn lốc bay vào tai tất cả những người dân lao động Việt Nam từ thành phố đến tận các bản làng hẻo lánh, với nhiều lời ác ý và rất vô lý mà họ vẫn tin, như tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính phủ.
Đồ đạc của của người Hoa rao bán được những kẻ xấu đồn thổi như sau:
Chớ có mua, bọn Tàu thâm lắm, chúng bôi a-xít vào trước khi bán, mang về dùng thì chỉ có hỏng thôi, không những thế còn độc hại nữa! A-xít độc lắm đấy!
Chớ có mua nhà của chúng, chúng chôn mìn ở dưới lòng nhà, mua vào có ngày nổ tung, chết cả nhà. Rẻ chả bõ, mạng người quý hơn chứ!
Căn nhà 2 tầng của gia đình bạn thân của ông chú tôi ở mặt đường rất tiện việc buôn bán ở Hàng Kênh, giá bét nhất cũng phải vài chục nghìn đồng. (Tiền lương hồi ấy thấp lắm, bác sĩ, kỹ sư lương khởi điểm có 60 đ/tháng, ra trường làm việc 14-15 năm lương trong khoảng 70 đến 85 đ/tháng), thịt lợn mui chợ đen 20 đ/kg, gạo lên xuống bất thường như cũng từ 22 đến 25 đ/yến. Ngôi nhà ấy có từ thời Pháp, ấy thế khi rao bán, bao nhiêu người đến xem ưng lắm, đồng ý mua với giá 10 ngàn (thuộc loại giá bèo), chả biết thế nào, ai cũng hẹn đến chồng tiền nhưng 10 người hẹn thì đến 11 người đi mất hút. Cuối cùng, sắp đến ngày thuyền nhổ neo, gia đình ông bạn chú tôi phải bán cho tay trưởng đồn công an khu phố ở sát vách với giá 1 ngàn 700 đồng! Thì ra tay cảnh sát này đe dọa tất cả, hễ ai đến mua nhà của ông C. là đồng lõa, tiếp tay cho bọn phản động sẽ bị xử lí. Đấy, chúng cướp không như thế đó! Ngôi nhà này bây giờ có giá bèo nhất cũng phải 1000 đến 2000 U.D$/ mét vuông chứ chẳng thấp hơn, trong khi đó diện tích không dưới 150 mét! Thảm chưa!
Như đã kể, sách tôi bán đắt hơn tôm tươi, hơn cả thịt bê mới thui, ấy thế mà mấy thứ đồ đạc như xe đạp, máy khâu, giường tủ bàn ghế, quạt điện, nồi niêu xoong chảo,… rất khó bán. Không biết sao, nhiều y bác sĩ trong bệnh viện biết chuyện tôi bán đồ bị ế, nên đã thì thầm với các cô y tá, hộ lí đang thiếu đồ đến nhà tôi để mua những thứ cần dùng. Thật may! Các anh chị đồng nghiệp đã ngầm cứu giúp tôi, mãi sau này tôi mới biết. Thời buổi bấy giờ, người ta không nhân tiện dậu đổ bìm leo, chó iả trèo là tốt lắm rồi, không những thế mà anh chị ấy còn giúp ngầm! Nhân đây tôi xin thành thật cảm tạ tấm lòng nhân ái các anh chị đã dành cho gia đình tôi. Lãnh đạo Đảng và chính quyền bệnh viện mà biết thì cũng phiền! Vì thế so với nhiều người, tôi là diện may mắn lắm, tuy đồ đạc bán gần như cho làm kỉ niệm. Nghe tin về giá cả tiền đóng cho chủ thuyền, thì số tiền tôi có trong tay cũng hòm hòm để trả tiền thuyền cho cả nhà. Thế là chúng tôi đóng gói những gì có thể mang đi, số còn lại không bán được chuyển về quê, rồi lũ lượt đổ về Hải Phòng tìm thuyền như hàng ngàn người Hoa các tỉnh trên miền Bắc để đào tẩu!
(Còn tiếp 2 kì)
© 2009 Lâm Hoàng Mạnh
© 2009 talawas blog
Bình luận
20 Comments (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Ai đã làm giàu trong cuộc chiến tranh Trung – Việt? (1)”)
1 2 Trang sau »
Phản hồi như ông Phạm Quang Tuấn phải gọi là kiểu cãi lý cù nhầy, cãi bằng đủ mọi chữ nghĩa, cãi bằng cách “chẻ sợi tóc làm tám”, cãi áp đặt như “cả vú lấp miệng em”. Kiểu này tôi đã từng thấy quá nhiều trong tập thể người Việt hải ngoại thích tuyên truyền cho chủ nghĩa CS. Không cần dài giòng văn tự, tôi chỉ xin nhắc lại với ông PQ Tuấn một lần chót rằng đây là diễn đàn tự do, dân chủ mở rộng, một khi diễn giả chấm dứt bài thuyết trình thì mọi người có quyền đặt câu hỏi. Thiết tưởng câu hỏi của tôi dính líu đến người dân Hải Phòng và ông Mạnh tự hào là người biết nhiều về cộng đồng phu khuân vác bến cảng cho nên tôi mới thắc mắc, thế thôi. Ông Tuấn không có lý do gì phê phán, ngoại trừ ông muốn kiếm chuyện.
Tôi thấy tức cười và vô duyên tệ khi ông PQ Tuấn cứ một mực xen vào cho bằng được, tôi chẳng cần lý sự tay đôi với ông làm gì cho mệt. Những gì tôi muốn biết, các bạn thân mến đã cung cấp thông tin đầy đủ, tôi thích nhất là câu nhận xét của ông Đỗ Kh. như sau:
“Tôi nghĩ là di dân Việt đến Anh (từ miền Bắc, từ Quảng Ninh, Hải Phòng) cũng trong trường hợp của Úc, tương đối mới và còn lưu luyến với nghiệp nhà nông này (tuy là trồng trọt ở trong nhà và cần nhiều đèn sưởi)”.
Rõ ràng chi có nông dân mới còn lưu luyến với cái nghề trồng trọt, nhận xét này ăn khớp với lời nói ông LH Mạnh, rằng “80% người Hoa làm cu ly bến cảng Hải Phòng bỏ chạy về TQ, khiến cho chính quyền Hà Nội phải tìm cách lấp chỗ trống với những người làm ruộng từ các vùng Kiến An, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo tuyển người, nhưng ít người trụ được vì còn khổ hơn vác cày đi bừa. Nông dân quen tự do, muốn làm thì làm muốn nghỉ thì nghỉ, chứ đi làm cu-li giờ giấc phải đúng phăm phắp …”
Chấm dứt bàn cãi với ông PQ Tuấn. Ông muốn “múa gậy vườn hoang” thì cứ tiếp tục .
Ông Lê Quốc Trinh giả lả nói là ông “không vu khống”: tôi có bảo là ông bất lịch sự vì đã “vu khống” đâu? Tôi bảo là ông bất lịch sự vì đã hỏi lạc đề tức là đụng chạm tới vết thương của người khác.
Ô. LQT chưa trả lời phản thí dụ của tôi. Giả thử ông đang kể lể những chuyện đau khổ của ông và bạn bè gia đình thời 75 cho người Úc (hay Mỹ, hay Pháp, hay người miền Bắc VN) và họ dài dòng hỏi ông về vấn đề buôn bạch phiến trầm trọng trong cộng đồng (người miền Nam tị nạn) của ông (một việc có thật) thì ông nghĩ sao về thiện chí của người hỏi câu đó? Nếu thay vì nhìn nhận là câu hỏi không đúng chỗ, người hỏi còn giả lả “hỏi cho biết mà thôi” thì ông có khinh người đó không?
Ông tự bào chữa là “ông Mạnh, BBT Talawas và các bạn khác” không “cảnh báo” tức là ông đúng. Tôi thì cho là ông Mạnh lịch sự hơn ông và bỏ qua không thèm trả lời loại câu hỏi đó, còn bbt talawas và những người khác không muốn dính vào thì cũng dễ hiểu. Ông hay hung hăng chê người khác là hèn mà không có can đảm nhận lỗi của mình.
Chào ông Phạm Quang Tuấn,
Ông đã trách tôi:
…”Ông Lâm Hoàng Mạnh đang cho một cái nhìn rất quý giá (vì ít người viết tới) về đời sống người Việt gốc Hoa ở miền Bắc thời Lê Duẩn, thì bỗng dưng ông LQ Trinh lái rất ngang xương sang việc trồng cần sa thời 2009 mà theo ông thì là do bà con đồng hương đồng gốc của ô. Mạnh. Tôi thấy chẳng ăn nhậu gì cả đến bài và là một thái độ hết sức bất lịch sự, kém văn hóa”…
Cám ơn lời nhắc nhở của ông Tuấn. Xin ông hãy giữ bình tĩnh, ngồi yên đọc lại bài tôi viết. Tôi đã lên tiếng xin lỗi ông Mạnh trước rồi, hơn nữa câu hỏi đó có liên quan nhiều đến người dân Hải Phòng, bởi vì ông Mạnh đã nêu rõ tình hình 80% người cu ly gốc Hoa bị bắt buộc về TQ, và được thế chỗ bằng những người nông dân từ thôn quê lên. Tôi không hề vu khống người Hoa trồng cần sa, yêu cầu ông Tuấn đọc lại cho kỹ, mà tôi chỉ hỏi những nguời nông dân VN làm cu ly đó đời sống họ ra sao, để rồi lại cũng di tản ra hải ngoại như người miền Nam. Hãy nghe các bạn khác tham gia góp ý cho tôi biét nhiều dữ liệu thì thấy tôi không có gì sai trái hết. Nếu thực tôi cố tình bẻ hướng thảo luận, thì ông Mạnh, BBT Talawas và các bạn khác đã cảnh báo rồi, chẳng đợi gì đến ông Tuấn hằn học nhắc nhở .
Vấn đề di dân, vấn đề sắc tộc, lao động buôn bán nơi xứ người, ở đâu mà chẳng có, và theo đó hệ luận đụng chạm với người dân bản xứ là chuyện tất nhiên, nào phải chỉ có ở VN. Đó là lý do tôi đề cập chuyện Nga Sô và phong trào “bài Việt”.
Bây giờ thì rõ ai là người mất văn hoá, thiếu lịch sự!
Mến chào ông.
Chào bạn Thanh Tâm,
Bạn muốn nói gì tôi không hiểu. Tôi xa nhà hơn 30 năm nay, chữ Việt lõm bõm, thường sai chính tả, cho nên mới vào Talawas học đòi “múa búa trước cửa Lỗ Ban”. Bạn mượn hình ảnh dĩa salad và câu ca dao ngụ ý muốn nói gì? Trên diễn đàn Talawas này mọi ý kiến đều được tôn trọng, nếu chính bản thân người viết cũng có lòng tự trọng.
Đề nghị bạn giải thích rõ hơn.
Cám ơn nhiều,
Thưa ông Lê Quốc Trinh,
Phụ nữ chúng tôi rất thích ăn món sà-lát (salad) gọi nôm na là món nộm rau sống. Có nghĩa là trộn tất nhiều loại rau lại để làm món rau thập cẩm trong bữa ăn. Hồi xưa sống ở nhà quê, lớn lên phải sống trong rừng vì chiến tranh nên đã nhiều lần thèm món salad phải tự ra đồng hay bờ ao bờ ruộng hoặc vào rừng hái lá, không ít lần nhặt nhầm phải lá ráy.
Hình như ông cũng thích món salad thì phải.
Ca dao có câu:
Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
Nhưng đôi khi câu ca dao này có phần chưa đúng.
Chúc ông thật vui.
Chào các bạn,
Cám ơn các bạn Nhỏ Thanh, 1mitee, Vũ Quang Khải, trinhthuongnhan va bạn Đỗ K. đã cung cấp khá nhiều thông tin và dữ liệu để tôi hiểu rõ vấn đề “bài Hoa” thời kỳ chiến tranh Trung-Việt 1979, và lai lịch những người Việt “trồng cỏ cần sa” tại hải ngoại.
Hình như bất kỳ quốc gia nào đi vào con đường Cộng Sản đều ít nhiều có đụng độ mãnh liệt về chủ quyền, biên giới, vấn đề di dân, sắc tộc (nhất là Nga Sô gần đây). Tin tức trên báo chí hôm nay lại cho thấy Nga Sô đang lục đục biên giới với Georgia lần nữa, cũng vì vùng trái độn trong dó có di dân người Nga cư ngụ.
Qua vụ dàn xếp giữa Nga Sô và Trung Quốc về v/d đóng cửa chợ Vòm, sau khi phát giác hai tỷ đô la tiền hàng lậu nhập từ TQ, tôi thấy rõ vì Nga là một nước lớn có quân sự hùng mạnh nên TQ đành lép vế. Người Việt buôn bán trong chợ Vòm cũng rất đông, từ mấy năm nay dư luận người Nga không mấy hài lòng hình ảnh chợ Vòm, nơi hàng lậu bán công khai làm thiệt hại ngân quỹ Nga Sô. Tình hình căng thẳng vì có nạn “bài Việt” do nhóm trọc đầu Nga gây ra, ám sát và đả thương du học sinh Việt Nam. Và chính quyền Hà Nội dường như cũng im lặng chịu thua.
Chào thân ái,
Ông Lâm Hoàng Mạnh đang cho một cái nhìn rất quý giá (vì ít người viết tới) về đời sống người Việt gốc Hoa ở miền Bắc thời Lê Duẩn, thì bỗng dưng ông LQ Trinh lái rất ngang xương sang việc trồng cần sa thời 2009 mà theo ông thì là do bà con đồng hương đồng gốc của ô. Mạnh. Tôi thấy chẳng ăn nhậu gì cả đến bài và là một thái độ hết sức bất lịch sự, kém văn hóa. Khác nào một người Việt miền Nam đang kể về những kinh nghiệm đau đớn của họ thời 75 cho người Úc, bỗng một người Úc hỏi một câu về tình trạng buôn lậu bạch phiến ở Cabramatta! (Cabramatta – khu người Việt đa số từ miền Nam – có một thời được báo chí gọi là “thủ đô bạch phiến của Úc”.)
Nhân đây cũng xin cám ơn ông Lâm Hoàng Mạnh. Ông Mạnh có thể tự hỏi ông là ai chứ theo thiển ý dựa theo những gì tôi đã đọc thì ông là người Việt 100%, người Hoa xx %, và người Anh yy %. Tức là ông hơn người khác rất nhiều %. Dù rằng ông không còn muốn là người Việt hay người Hoa nữa.
Thông tin của các ông Vũ Quang Khải (Úc) và trinhthuongnhan (Canada), hay Nhỏ Thanh (liên kiết Hungary) về nguồn gốc Hoa-Việt hay Việt-Việt của tội phạm trồng cần sa ở nước ngoài không mâu thuẫn mà là bổ sung lẫn nhau. Tôi nghĩ là di dân Việt đến Anh (từ miền Bắc, từ Quảng Ninh, Hải Phòng) cũng trong trường hợp của Úc, tương đối mới và còn lưu luyến với nghiệp nhà nông này (tuy là trồng trọt ở trong nhà và cần nhiều đèn sưởi).
Tại Mỹ, tội phạm được nhắc tới gần đây là gian lận thuốc… tây, Medicare, cũng ra tiền vậy mà khỏi phải tưới, bón. Đường dây phân phối thuốc lắc ở Tây Nam Hoa Kỳ, từ Texas đến Cali cũng có nhiều người Việt nắm giữ, thuộc thế hệ 1 rưỡi hay thế hệ hai.
Mặt “tích cực” duy nhất của chính sách bài Hoa trong thập niên 80 là nhân cơ hội này, một số lớn người Việt-Việt đã đăng ký vượt biên bán chính thức dưới dạng Hoa kiều. Tôi có gia đình sau nhiều lần tham gia đi chui thất bại đã mua giấy tờ giả Hoa kiều và trước khi tập trung ra biển còn học cả tiếng Quảng. Ra đến nước ngoài rồi thì mâu thuẫn trầm trọng trở lại. Tuy nhiên, tinh thần Bắc (dù Hoa hay Việt) và tinh thần Nam (dù Việt hay Hoa) vẫn cao hơn là tinh thần dân tộc, như điển hình ở Hong Kong khiến chính quyền địa phương phải lập trại riêng cho thành phần đi từ Bắc và thành phần đi từ Nam sau khi xô xát và ẩu đả tập thể.
Nói thêm, đối với người Hong Kong thì Nam hay Bắc, Hoa-Việt hay Việt-Việt, thì cũng là Việt cả. Một viên chức địa phương than phiền với tôi năm 1986 là thân nhân của ông ở Quảng Châu sang đến đây còn không được, bị bắt và trả về Trung Quốc ngay trong khi Hong Kong phải nhận người Việt và những người này còn có cơ hội sang Anh!
Thân phận người dân TQ cũng như VN chẳng khác gì nhau dưới chế độ CS, chỉ là những con chốt thí khi cần thiết cho những mục đích riêng tư của người CS. Thời chiến hay bình hy sinh vài vạn người hay hơn nữa quan chức CS chẳng hề áy náy lương tâm. Những ai sống cùng thời với ông Lâm Hoàng Mạnh ở miền Bắc tất hiểu luật pháp có đó, ấm no hạnh phúc nghe đó nhưng dân hãi cái liềm cái búa của Đảng hơn bất cứ thứ gì trong trời đất nên đói rách thế mấy, bị bưng bít kềm kẹp thế mấy cũng không dám hó hé.
Sinh mệnh của dân thực tế cuối cùng là những viên gạch xây lâu đài, cung điện nguy nga tráng lệ cho kẻ khác.
Thử nhìn tài sản của các lãnh tụ gọi là tư bản Tây phương với các quan chức mệnh danh là CS thì mới thấy một trời một vực. Và cứ liếc nhìn ô vuông màu xanh lá mạ bên phải thì mới thấy câu hỏi của ông LHM đã được trả lời thỏa đáng.
Tôi làm việc trong cảnh sát Úc, là chuyên viên thông phiên dịch cho các cuộc điều tra tội phạm, nên tôi biết khá rõ về thành phần người Việt chuyên trồng marijuana ở Úc. Phải nói là hơn 90% dân trồng “cỏ” ở Úc là dân đến từ Hải Phòng.
Cách đây mới mấy ngày, cảnh sát Úc vừa bắt được 1 tổ chức trồng và buôn bán “cỏ” gồm cả trăm người Việt. Từ đầu năm đến nay họ đã bắt được gần 50 địa điểm trồng “cỏ” tại gia trong các vùng định cư của người Việt đến từ miền Bắc, mà đại đa số là dân Hải Phòng.
Than ôi!
Thời 1978-1979 tôi đang là một công nhân ở Cảng Saigon, làm việc ở Kho 5 bên Khánh Hội. Cơ quan tôi thuộc nhà nước (Bộ Ngoại Thương) và người phó giám đốc là một đảng viên hơn 30 năm tuổi đảng. Ông ấy đi theo “cách mạng” thời 1945 bên Cam bốt.
Chỉ vì vợ ông ấy là người Việt gốc Hoa nên ông bị sa thải, vợ ông là một cán bộ cấp cao ở một cơ quan khác cũng bị đuổi. Họ có hai người con trai dang học trung học đều phải bỏ học.
Cả gia đình phải ra khỏi Saigon, (họ không hồi hương về Trung Cộng) và lên vùng Long Khánh làm rẫỵ. Lần về thăm vừa rồi tôi có ý định tìm thăm nhưng không muốn đến cơ quan cũ mà những người quen biết thì không ai biết đích xác địa chỉ ở đâu cả.
Hồi đó có Thứ Trưởng Ngoại Thương là Lý Ban cũng bị sa thải (cho “về hưu” sớm) làm nhân viên rất ngạc nhiên vì ông này rất năng động, hay qiải quết công việc nhanh chóng. Cơ quan chỉ giải thích là “quá khứ” ông Lý Ban có vấn đề, có người lại nghi ông ta là “gián điệp của bọn bành trướng, chui sâu, leo cao”.
NGoài ra, ở cơ quan tôi cũng có hai tài xế; người tài xế gốc Hoa bị sa thải, anh kia người Việt được giữ lại.
Bài Hoa thời đó đúng là “chính sách, chủ trương lớn” của đảng cộng sản Việt nam.
Gửi ông Lê Quốc Trinh,
Tôi rời Việt Nam năm 1982, sang Canada tị nạn và hành nghề thông dịch viên tòa án đã gần 20 năm nay.
Bài Hoa thời kỳ 79-81 mà tôi chứng kiến khi còn ở Việt Nam là chính sách của Đảng và Nhà Nước, bây giờ gọi là “chủ trương lớn” đấy ông Trinh ạ, không phải tin đồn đâu.
Còn chuyện trồng cần sa ở Canada thì đại đa số là người Việt thuần túy. Cứ 100 người đến từ Việt Nam bị bắt vì tội trồng/mua bán cần sa thì chỉ có vài người Việt gốc Hoa. Lý do đơn giản là người Việt gốc Hoa đến tị nạn tại Canada rất sớm, trong thập niên 80, và nhanh chóng tạo dựng lại cuộc sống ổn định, nhờ vào cộng đồng người Hoa rất lớn có từ lâu đời tại Canada; trong khi chuyện người Việt đổ xô đi trồng cỏ thì mới xảy ra có 10 năm lẻ.
Bác Lê Quốc Trinh,
Chẳng phải là chỉ người Việt có xuất phát điểm từ cảng Hải Phòng mới trồng cỏ đâu bác ạ.
Và cũng chẳng phải là bà con ta chỉ trồng cỏ ở Canada đâu.
Hy vọng tin sau đây sẽ thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của bác phần nào:
http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1972
Cám ơn tác giả Lâm Hoàng Mạnh về loạt bài rất hay và xúc động viết về hoàn cảnh của người Việt gốc Hoa Miền Bắc bị kẹt giữa hai lằn đạn dưới thời bài Hoa của ông Lê Duẩn.
Kính mời ông Mạnh và quý vị thưởng thức bài dưới đây của nhà văn Lâm Chương, một nhà văn quân đội VNCH, cũng là người Việt gốc Hoa như ông Mạnh và cũng họ Lâm như ông, nhưng sống tại Miền Nam tự do, viết về hoài niệm cuộc đời ông: Cơ ngơi ngày cũ (Lâm Chương).
Mến chào ông Mạnh,
Xin lỗi cho phép tôi cắt ngang lời ông một tý nhé. Tôi muốn kiểm chứng vài chuyện cho chắc, như sau:
– Theo lời ông Mạnh thì ĐCS VN hay chính quyền Hà Nội không có lệnh công khai ép buộc người Hoa phải di tản (bỏ nhà về TQ). Tất cả chỉ vì nghe tin đồn xung quanh về “bài học TQ” mà cộng đồng người Hoa phải khăn gói ra đi?
– Nếu 80% người Hoa sống nghề cu-ly ở bến cảng Hải Phòng, sau này bỏ đi hết, cho nên từ đó chính quyền phải chiêu dụ người Việt từ thôn quê vào thế chỗ. Ông Mạnh có thể cung cấp thêm vài tin tức liên quan về người Việt Hải Phòng (bến cảng). Tôi nghe phong phanh rằng những người đó khi di tản qua Canada hay Anh Quốc, Úc Đại Lợi, thường sống bằng nghề “trồng cỏ” (cây Marijoanna). Tháng rồi ở Canada cảnh sát làm một chiến dịch đại quy mô bắt gần trăm người liên quan đến “nghề trồng cỏ”. Họ kiếm tiền rất nhiều, hàng năm thường về VN “rửa tiền” sống đế vương và được tặng danh hiệu “vua cỏ”. Cuộc sống của họ khi còn ở bến cảng Hải Phòng ra sao?
Cám ơn ông Mạnh,