talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Ai đã làm giàu trong cuộc chiến tranh Trung – Việt? (1)

03/08/2009 | 10:07 sáng | 20 Comments

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Category: Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: >

Trong số báo Xuân 1968 của tập san Tác phẩm Mới, cụ Nguyễn Tuân có bài “Cho giặc bay Mỹ ăn một cái Tết ta”. Với phong cách bậc thày về thể ký, cụ hài hước làm con tính cộng trừ nhân chia: bình quân giá 1 viên đạn súng trường là 5 kí gạo, vậy 1 quả tên lửa SAM I, SAM II, SAM III ( của Liên Xô) tính ra phải đến hàng ngàn tấn gạo, có nghĩa là bằng hàng triệu triệu chiếc bánh chưng ngày Tết. Mà đâu có phải bắn có 1 phát tên lửa là hạ ngay 1 chiếc Thần Sấm, Con Ma đâu. Có khi vài quả may ra mới trúng một chiếc máy bay. Như vậy cứ 1 phi công Mỹ (giặc bay Mỹ) nằm trong khách sạn Hillton Hà Nội thì nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải tung hê lên trời hàng triệu chiếc bánh chưng, tiếc gì mà không phát cho mỗi phi công Mỹ 1/2 chiếc bánh chưng để họ thưởng thức và được tiếng là nhân đạo. Nghe tin (nồi chõ) cụ Nguyễn Tuân bị Tố Hữu “giềng mẻ” cho vài trận cũng đến nơi đến chốn.

Đòm một phát, 5 kí gạo bay lên trời, ùng oàng là hàng tấn gạo ra tro. Một trận đánh nhỏ, hai bên cũng tiêu tốn hàng triệu tấn gạo. Chả thế mấy lão cò sung chuyên xúi các nước đánh nhau để bán hàng là gì. Chiến tranh vài năm là tiêu tốn hàng chục tỉ đô-la Mỹ như không! Có nghĩa là trong chiến tranh, kẻ làm giàu chính là lái súng!

Nhưng theo tôi cuộc chiến tranh Trung – Việt chưa hẳn như vậy. Bởi vì súng đạn (quân trang quân dụng nói chung) của chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là do viện trợ không hoàn lại (?) của các nước XHCN anh em, kể cả Trung Quốc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ còn dư thừa rất nhiều và chiến lợi phẩm chiếm được của Việt Nam Cộng hòa khi Sài Gòn lọt vào tay Bắc Việt. Còn Trung Quốc không phải mua, vì Trung Quốc cũng là 1 trong 5 quốc gia chuyên bán súng xúi các nước choảng nhau.

Vậy ai làm giàu (tuy cò con) trong cuộc chiến chớp nhoáng này? Theo tôi là bọn chủ thuyền (đưa người Hoa, người Việt vượt biên) và công an (chủ yếu là trong Ban Ngoại kiều) CHXHCNVN.

*

Trong ba bài trước, tôi đã kể về việc người Việt gốc Hoa muốn tự cứu mình phải cao chạy xa bay càng sớm càng tốt. Nhưng muốn chạy về “tổ quốc vĩ đại” hay theo đường biển thì cũng phải cần tiền. Không thể tất cả đồ đạc (giường chiếu chăn màn, nồi niêu xoong chảo…) chở bằng xe bò (từng có trên truyền hình những năm 1978-79) hay cho lên thuyền hay sao? Vì thế người Hoa phải bán tất cả những gì mình có để có tiền trang trải cho cuộc đào tẩu và dắt lưng khi đến miền đất lạ.

Sau 25 năm dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, sau những chuyện động trời như cải cách ruộng đất, cải tạo tư bản tư doanh thì tất cả người dân Việt Nam (Việt cũng như Hoa) đều nghèo xơ xác. Ai cũng như nhau, nhất là trong thời kỳ bao cấp. Ngày nay trên báo chí trong và ngoài nước thỉnh thoảng có đề cập thời kỳ ngăn sông cấm chợ, bao cấp…, nhưng ngăn như thế nào, cấm ra làm sao và chế độ tem phiếu có từ bao giờ, tiêu chuẩn ra sao, chắc nhiều người không biết đầy đủ. Nếu có dịp tôi sẽ viết về chuyện này, bởi vì tôi là trong những đoàn học sinh các trường trung học Ngô Quyền, Phan Chu Trinh, Trần Phú… ở Hải Phòng trong đoàn quân “văn hay chữ tốt” đi viết sổ gạo thuê cho các tiểu khu (bây giờ là phường) vào hè 1960.

Mọi người dân đều nghèo nhưng người Hoa ở Hải Phòng nghèo lắm, chỉ hơn người ăn mày là có nơi chui ra chui vào, là không phải ngửa tay xin sự bố thí lòng từ bi của ông đi qua bà đi lại mà thôi. Sao vậy? Bởi vì gần 80% người Hoa ở Hải Phòng làm nghề cu-li (sau này chính phủ cộng sản khoác cho chiếc áo “mới” – công nhân – cho đỡ tủi thân phận cu-li cu leo) bốc vác ở cảng Hải Phòng mà ngày xưa gọi là Bến Sáu Kho, làm cu-li đội than, cu-li kéo xe ba gác, bán lạc rang, bán sấu dầm, táo dầm, thạch găng, lục tàu xá, sủi-zìn, bánh bao rong…, một vài gia đình có cửa hàng thuốc Bắc (như ông tôi nhưng sập tiệm vì cụ qua đời), cao lâu (nhà hàng bây giờ)… thì đã phải quốc doanh hết! Tôi đã đi đội than vào những ngày hè (năm 1958, 59,60) để dành tiền mua sách bút và quần áo cho niên học tiếp theo nên hiểu lắm, thương bà con tôi lắm. Ông cha chúng tôi vì nghèo khổ đã tha phương cầu thực sang Việt Nam để tìm miền đất hứa, nhưng số phận chẳng hơn gì, đời cu-li vẫn cứ là cu-li. Đội than cực lắm, nhất là vào mùa hè, trên trời nắng như thiêu như đốt, những đống than, nhất là than luyện, không hiểu sao lại càng tăng sự đốt cháy như lửa. Mặt rát như bị bỏng sau 8 giờ đội than, cho nên phụ nữ thường lấy khăn quấn che kín cả mặt chỉ chừa hai con mắt, y như trong phim hành động Nhật. Ngày mưa cũng chẳng dễ thở gì. Sau cơn mưa, thúng than trên đầu rỏ giọt xuống cổ áo, xuống người, ngứa ngáy như bị sâu róm bò. Khổ ơi là khổ! Tôi xin được là nhờ chú tôi làm thư kí công đoàn cảng đấy, chứ sức vóc lẻo khoẻo lèo khoèo như tôi chả đội nào nhận (nuôi báo cô)! Còn cu-li bốc vác thì mỗi một ca 8 tiếng, ít nhất phải cõng vài trăm bao gạo hay xi măng trên vai với trọng lượng nhẹ nhất là 50kg, nặng là 75kg. Năm 1960 tôi đã thử (vì tiền kiếm nhiều hơn) nhưng chịu. Sức vóc học trò làm sao được! Chẳng như bây giờ có cần cẩu, băng dây chuyền máy, trông mà cũng thấy sướng cho công nhân bốc vác thời hiện đại.

Người Hoa chiếm 80% cu-li bốc vác cảng và cu-li đội than ở Hải Phòng, cho nên khi họ chạy đi, cảng Hải Phòng gần như tê liệt. Chính quyền về các vùng Kiến An, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo tuyển người, nhưng ít người trụ được vì còn khổ hơn vác cày đi bừa. Nông dân quen tự do, muốn làm thì làm muốn nghỉ thì nghỉ, chứ đi làm cu-li giờ giấc phải đúng phăm phắp, chưa đến giờ giải lao dù nắng hay mệt cũng xin mời tiếp tục làm. Chính quyền an ủi, bọn Tàu cút, chúng ta đỡ phải cung cấp lương thực thực phẩm, cuộc sống bà con sẽ đỡ hơn! Chứ người làm bác sĩ, kỹ sư, thày giáo, thư kí… nghĩa là không phải làm việc bằng cơ bắp thì chẳng có là bao. Ít, ít lắm. Của hiếm đấy!

Người lao động chân tay vì quá vất vả và ít được học hành tử tế nên thường thô lỗ trong sinh hoạt. Phải chăng vì tất cả những vất vả, đau khổ trong ngày mà họ gánh chịu không biết chút vào đâu ngoài chất men, sòng bạc và lên đầu vợ con, cho nên đồng bào tôi thô lỗ lắm. Xin lỗi đồng hương người Hoa, tôi đã mạo muội nói ra sự thật vạch áo cho người đời xem mụn nhọt, rôm sẩy, mà chưa được sự đồng ý, lượng thứ cho tôi! Bởi vì sự thật thường đau đớn lắm. Con người ta cởi hết ra, trần như nhộng, chắc chắn chẳng ai đẹp hơn ai, kể cả mấy cô “chân dài” người mẫu mà báo chí Việt Nam ngày nào cũng tốn biết bao giấy mực ca ngợi như những thiên thần, những vị cứu tinh, những tinh hoa giúp các cảnh đời bất hạnh của dân tộc Việt không bằng! Đằng sau những mỹ từ ấy còn nhiều chuyện khó biết, hãy xem phim Chạy án đang chiếu trên VTV4 thì sẽ hiểu một phần (chỉ một phần sự thật thôi) cũng đủ tởm lợm đạo đức tư cách của hoa hậu Việt Nam rồi!

Chính vì thô lỗ cho nên những hàng xóm là gia đình người Việt thường ác cảm. Họ gọi chúng tôi là Tẫu, chứ là Tàu còn là phúc tổ 70 đời như có bạn đọc nào vừa gửi lời nhắn nhủ trong phản hồi! Bởi vì đi vắng thì thôi, hễ về đến nhà là nói to, oang như lệnh vỡ, không những thế còn mở miệng ra là… tỉu (đ.m.), hung hăng, hơi tí muốn khà khịa, đến tôi cũng chờn chợn, có phải vì thế ba bốn đời gia đình tôi toàn lấy vợ Việt! Phải chăng sợ mấy ông bố vợ nghiện rượu, nghiện cờ bạc và hay tỉu-cái-là-ma, hơn nữa tôi không phải là đệ tử của Lưu Linh, chẳng được như Lý Bạch càng say thơ càng hay cho nên không dám nghiện để làm rể với ông hơi tí là tỉu! Lại chẳng có tiền thừa và không có máu tham (của người khác) để vào trò đỏ đen hại vợ hại con, tan cửa nát nhà. Năm 1952, có ông Coóng (Quang) thuê một buồng của bà tôi, đánh bạc thua, ông ta đã gán vợ (rất xinh và hiền lành tử tế lắm) cho nhà thổ. Bọn cơm thày cơm cô đang đêm điệu ông Coóng về nhà để làm chứng có giấy bán vợ! Tôi chứng kiến. Sợ quá xanh mắt và thề không bao giờ đánh bạc từ khi tôi mới 12!

Dân số Trung Quốc từ xưa đến nay vẫn đông nhất thế giới, cho nên bất cứ chỗ nào có người ở trên khắp hành tinh này đều có người Trung Quốc tha phương đi kiếm ăn. Ngay hôm nay đây, có hàng ngàn người dân Trung Quốc (đa số là Thiều Châu và Phúc Kiến) đang làm việc (hợp pháp và bất hợp pháp) tại kinh thành London này. Họ làm nghề gì ở London? Xin thưa, làm cu-li xây dựng cho các cai đầu dài người da trắng! Còn buôn thúng bán mẹt, bán sấu dầm, táo dầm, thạch găng thì ở Anh không có đất dụng võ. Cũng như bà con quê Thái Bình, nơi người đông ruộng ít cho nên ai chả biết câu ca dao đầy miệt thị:

Thái Bình là đất ăn chơi

Tay gậy tay bị khắp nơi tung hoành.

Và nạn đói năm 1945. 2 triệu dân miền Bắc chết thì số người dân Thái Bình đóng góp phải đến gần 50% (không biết có chính xác không, có số liệu điều tra nghiên cứu nào không?).

Từ cuối năm 1978, nhiều gia đình người Hoa đã rục rịch bán tài sản để về “tổ quốc vĩ đại”, nhất là sau khi bài học được tung ra để “dạy cho Lê Duẩn” thì chúng tôi nháo nhào bán tống bán tháo chạy cho mau. Nước đến chân rồi! Chết đến đít! Phen này chậm chân thì tiêu đời! Chợ Sắt đầy người bán các thứ đồ đạc của người Hoa chạy loạn, đủ loại thượng vàng hạ cám, nhưng toàn đàn bà Việt bán (họ là vợ, con của các cu-li, trong đó có cả vợ tôi tham gia chợ cóc đó từ tháng 5-1979 cho đến trung tuần tháng 6-1979!). Tôi yêu văn chương từ thuở học primary Pháp thuộc, càng lớn càng nghiện (mua sách) nặng, cho nên tôi có số sách thật khổng lồ, nay đem sách đi bán chắc chắn sẽ góp một phần không nhỏ cho chi phí chuyến đào tẩu. Đau đớn lắm, những tác phẩm quý của tất cả các tác giả Đông Tây in bằng tiếng Việt từ thời Pháp cho đến 1978, vài ngàn cuốn, tôi phải cho vào bao tải chở bằng xe đạp đưa ra ngay trước cửa hiệu sách của thị xã. Anh cửa hàng trưởng (tôi là khách hàng mua đã 15 năm từ khi ra trường) nhìn tôi mà ứa nước mắt. Anh biết tôi yêu sách như yêu vợ, như máu thịt của tôi mà những ngày này tôi phải cắt từng miếng thịt bán cho thiên hạ lấy tiền, đưa vợ dại con thơ chạy trốn! Trời ơi! Sao oan nghiệt thế! Các giáo viên cấp 3, giáo viên trường trung cấp sư phạm 10+2 (bạn tôi), học sinh khoa văn và học sinh cấp 2, 3 của tỉnh và thị xã nghe tin đến mua ào ào như tằm ăn rỗi. Họ rất ngạc nhiên sao tôi kiếm đâu ra những cuốn sách quý và hiếm như vậy. Xin kể vài đầu sách: Tất cả tiểu thuyết, truyện ngắn của Tư lực Văn đoàn, Thơ Mới in từ thời Pháp thuộc mà giai đoạn ấy cấm đọc! Tôi có cả cuốn Cửa mở của bác Trần Việt Phương (bị cấm lưu hành), cuốn Bông hồng vàng do bác Vũ Thư Hiên dịch từ tiếng Nga (một dịch giả thật tài hoa mà tôi rất kính trọng, nay bác đang ở Pháp), cuốn sách này cấm lưu hành. Nghĩa là tôi toàn sách “độc” nên bán chạy hơn tôm tươi là phải. Giá bán không rẻ, thậm chí đắt và rất đắt, bởi tôi biết giá trị thật của nó mà. Chỉ trong 4 ngày tôi bán được hơn ngàn cuốn sách. Riêng những cuốn tự điển Trung Việt của Văn Tân, Trung Hoa đại từ điển và một số thơ Đường, Tống bằng chữ Hán tôi cho các cậu các dì làm giấy vệ sinh, vì ở Việt Nam lúc ấy loại này cũng hiếm lắm!

Đã bị quả đấm bằng trời giáng (xua đuổi) của chính quyền, nay thêm cái đạp là đồ đạc bao nhiêu đời, bao nhiêu năm ki cóp bán đi như thể bán đổ bán tháo, gần như cho không, vì những tin đồn thất thiệt (có phần kỳ thị, bài Hoa) nên không ai mua.

Thời bấy giờ ở miền Bắc nghèo lắm (tôi không biết ở miền Nam ra sao nên không lạm bàn) và mọi thứ đều thiếu, thiếu từ cái nồi, cái bát, cái xe đạp đến manh quần tấm áo, bởi vì mọi thứ đều bán theo phân phối của chế độ mậu dịch. Mua chiếc xe đạp cũng phải lên công an xin đăng kí giấy quyền sử dụng xe, mua chiếc đài thu thanh (to nhỏ) đều phải lên ty/sở bưu điện xin giấy sử dụng, ai không có sẽ bị phạt, nhẹ bằng tiền, nặng thì tịch thu.

Người Hoa ở miền Bắc nghèo như thế đấy nhưng theo như sách báo và người ta kể thì người Hoa Sài Gòn – Chợ Lớn (chứ không phải chợ nhỏ) giàu lắm, giàu đến mức độ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm phải ra những đạo dụ để kìm chế sự thao túng kinh tế miền Nam. Cám ơn ông Tưởng Năng Tiến (tên bút danh nghe thật ngộ) và ông triêu đã chỉ cho biết nguồn gốc tại sao người Hoa miền Nam có cái tên là Ba Tầu. Thì ra các cụ chúng tôi sang Việt Nam bằng thuyền, mà mỗi lần cập bến thường là 3 chiếc. Giàu có và đoàn kết thật! Như vậy Boat People đã có từ mấy trăm năm trước đâu có phải bắt đầu từ năm 1975!

Còn ông cha chúng tôi ở miền Bắc, xuất xứ từ những làng mạc, huyện thị sát ngay biên giới như Phòng Sềnh (Phòng Thành), Tống-hoóng (Đông Hưng)… nên theo đường bộ xâm nhập bất hợp pháp một các dễ dàng. Nhân dân Việt Nam rất hiếu khách cho nên thấy người lạ đến nhà đều vui vẻ tiếp và gọi họ là Khách. Nhưng các vị khách này không chỉ viếng thăm thời gian ngắn mà ở dài dài và thậm chí nhiều người đã lấy vợ Việt nên sau này có tên Khách Trú, có người lại gọi là Chú Khách để chỉ người Hoa ở miền Bắc! Đó là những ông khách thường trú theo như quy định kê khai hộ khẩu tạm trú tạm vắng ở Việt Nam ngày nay.

Thời kỳ bao cấp thiếu thốn đủ thứ, kể cả giấy đi vệ sinh cũng tìm không ra, mua không có, chứ đừng nói những thứ cao siêu như sữa tắm, sữa gội đầu, các loại lotion dành cho phái đẹp bán đầy các cửa hàng, tung bao chiêu để dụ khách như bây giờ, mà vẫn ế, các cô bán hàng ngồi ngáp vặt thường phải lấy quạt xua ruồi bám mép vì chẳng có ma nào đến hỏi. Có nghĩa là có bất cứ cái gì dù second hand hay fourth hand… đều bán được hết. Cái thời mà có chiếc xe đạp cà tàng cũng phải lên đồn công an khu phố (phường) xin đăng kí để được cấp giấy, có chiếc đài thu thanh (điện tử hay bán dẫn) cũng phải lên ty (sở) bưu điện xin giấy mới được quyền sử dụng. Khi mở đài phải mở thật to để mọi người biết đang nghe gì (chứ không phải vì khoe của), chớ có vì pin yếu, ghé sát tai vào đài mà nghe, chắc chắn được công an hỏi thăm liền. Nhẹ cảnh cáo, nặng tạm giam vài ngày và chiếc đài kia bị tịch thu là cái chắc! Nghe đài địch hả? Đài BBC phát thanh tiếng Việt là tối phản động, nhất là tay Đỗ Văn giọng ngọt ngào, truyền cảm, ấm lắm, nhưng toàn phát những lời lẽ độc hại. Tôi có nghe trộm đài BBC từ năm 1960, nghe đã lắm. Hồi xưa cộng sản Việt Nam ghét cay ghét đắng Đỗ Văn, thề tóm được sẽ trị cho ra bã! Không biết người ta đã tóm được bác chưa hay bây giờ đang trải thảm đỏ nồng nhiệt mời bác về mở vài cua (course) tiếng Anh cho con các cốp trước khi du học?

Thiếu thốn như thế đấy, ấy thế mà đồ đạc người Hoa bán ra bị chê ỉ chê eo và rất khó bán. Tìm hiểu ra thì bị kẻ xấu đồn thổi. Ai đồn thổi? Kế sách của Lê Duẩn? Chính quyền khu phố? Công an? Hay những người quá khích? Thực hư đến nay chưa có câu trả lời, nhưng những lời đồn ác độc này đã gây khốn đốn cho người Hoa rất nhiều trong thời kỳ ấy.

Lời đồn thổi nhanh như cơn lốc bay vào tai tất cả những người dân lao động Việt Nam từ thành phố đến tận các bản làng hẻo lánh, với nhiều lời ác ý và rất vô lý mà họ vẫn tin, như tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính phủ.

Đồ đạc của của người Hoa rao bán được những kẻ xấu đồn thổi như sau:

Chớ có mua, bọn Tàu thâm lắm, chúng bôi a-xít vào trước khi bán, mang về dùng thì chỉ có hỏng thôi, không những thế còn độc hại nữa! A-xít độc lắm đấy!

Chớ có mua nhà của chúng, chúng chôn mìn ở dưới lòng nhà, mua vào có ngày nổ tung, chết cả nhà. Rẻ chả bõ, mạng người quý hơn chứ!

Căn nhà 2 tầng của gia đình bạn thân của ông chú tôi ở mặt đường rất tiện việc buôn bán ở Hàng Kênh, giá bét nhất cũng phải vài chục nghìn đồng. (Tiền lương hồi ấy thấp lắm, bác sĩ, kỹ sư lương khởi điểm có 60 đ/tháng, ra trường làm việc 14-15 năm lương trong khoảng 70 đến 85 đ/tháng), thịt lợn mui chợ đen 20 đ/kg, gạo lên xuống bất thường như cũng từ 22 đến 25 đ/yến. Ngôi nhà ấy có từ thời Pháp, ấy thế khi rao bán, bao nhiêu người đến xem ưng lắm, đồng ý mua với giá 10 ngàn (thuộc loại giá bèo), chả biết thế nào, ai cũng hẹn đến chồng tiền nhưng 10 người hẹn thì đến 11 người đi mất hút. Cuối cùng, sắp đến ngày thuyền nhổ neo, gia đình ông bạn chú tôi phải bán cho tay trưởng đồn công an khu phố ở sát vách với giá 1 ngàn 700 đồng! Thì ra tay cảnh sát này đe dọa tất cả, hễ ai đến mua nhà của ông C. là đồng lõa, tiếp tay cho bọn phản động sẽ bị xử lí. Đấy, chúng cướp không như thế đó! Ngôi nhà này bây giờ có giá bèo nhất cũng phải 1000 đến 2000 U.D$/ mét vuông chứ chẳng thấp hơn, trong khi đó diện tích không dưới 150 mét! Thảm chưa!

Như đã kể, sách tôi bán đắt hơn tôm tươi, hơn cả thịt bê mới thui, ấy thế mà mấy thứ đồ đạc như xe đạp, máy khâu, giường tủ bàn ghế, quạt điện, nồi niêu xoong chảo,… rất khó bán. Không biết sao, nhiều y bác sĩ trong bệnh viện biết chuyện tôi bán đồ bị ế, nên đã thì thầm với các cô y tá, hộ lí đang thiếu đồ đến nhà tôi để mua những thứ cần dùng. Thật may! Các anh chị đồng nghiệp đã ngầm cứu giúp tôi, mãi sau này tôi mới biết. Thời buổi bấy giờ, người ta không nhân tiện dậu đổ bìm leo, chó iả trèo là tốt lắm rồi, không những thế mà anh chị ấy còn giúp ngầm! Nhân đây tôi xin thành thật cảm tạ tấm lòng nhân ái các anh chị đã dành cho gia đình tôi. Lãnh đạo Đảng và chính quyền bệnh viện mà biết thì cũng phiền! Vì thế so với nhiều người, tôi là diện may mắn lắm, tuy đồ đạc bán gần như cho làm kỉ niệm. Nghe tin về giá cả tiền đóng cho chủ thuyền, thì số tiền tôi có trong tay cũng hòm hòm để trả tiền thuyền cho cả nhà. Thế là chúng tôi đóng gói những gì có thể mang đi, số còn lại không bán được chuyển về quê, rồi lũ lượt đổ về Hải Phòng tìm thuyền như hàng ngàn người Hoa các tỉnh trên miền Bắc để đào tẩu!

(Còn tiếp 2 kì)

© 2009 Lâm Hoàng Mạnh

© 2009 talawas blog

Bình luận

20 Comments (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Ai đã làm giàu trong cuộc chiến tranh Trung – Việt? (1)”)

  1. Phạm Quang Tuấn viết:

    Tôi cũng không hứng thú gì chuyện này nữa nhưng ông LQ Trinh nói một câu quá sức vui nên không… tự kiềm được :). Vậy là theo ông thì ông có quyền hỏi người khác chuyện trồng cần sa, nhưng người khác không được hỏi về buôn bạch phiến. Logic thật tuyệt!

  2. chanqua viết:

    “(… ông Mạnh cũng đang kể ra những cái xấu xa nhất của CS), tôi bênh vực ông Mạnh, vậy là tôi thích tuyên truyền cho chủ nghĩa CS!” Logic kiểu gì thế ông (Phó) GS PQT?!!!!!

  3. Lê Quốc Trinh viết:

    Thôi đủ rồi ! Tôi chẳng có hứng thú gì mà phản biện với ông PQ Tuấn cho mất thì giờ. Khuyên ông nên tìm sách học thêm vài bài vỡ lòng để hiếu “cần sa” và “bạch phiến” khác nhau ra sao.

    Chào ông,

  4. Phạm Quang Tuấn viết:

    Lê Quốc Trinh nói: “Kiểu này tôi đã từng thấy quá nhiều trong tập thể người Việt hải ngoại thích tuyên truyền cho chủ nghĩa CS.”

    Và kiểu này (như ở trên) tôi cũng đã từng thấy quá nhiều. Nó gọi là kiểu ad hominem fallacy hay nôm na là “chụp mũ”. Đang từ một chuyện không dính dáng gì đến thân cộng hay chống cộng (vì, dù sao, ông Mạnh cũng đang kể ra những cái xấu xa nhất của CS), tôi bênh vực ông Mạnh, vậy là tôi thích tuyên truyền cho chủ nghĩa CS! Logic của ông Trinh là: hắn nói trái mình (về bất cứ chuyện gì), vậy là hắn thân cộng!

    À, ông Trinh vẫn chưa trả lời cái phản ví dụ về bạch phiến của tôi nhé!

  5. Trường Xuân Triệu viết:

    Kính chào bác Lâm Hoàng Mạnh,

    Được đọc bài viết mang tính hồi tưởng về những tháng năm gian truân của bác và đồng bào của bác tại Hải Phòng, tôi rất trân trọng.

    Thưa bác, tôi quê Hà Nội, và tuy cũng là anh “bộ đội giải phóng miền Nam (nhập ngũ 1968)” nhưng may mắn thay cũng có chút phúc đức ông bà dành cho nên tôi nên cũng sớm nhìn ra và thấu hiểu bản chất các chú phỉnh: từ Mác-Lê, Xít-Mao, tới cả “Bác Hồ”, do vậy khi được bác mô tả thảm cảnh của người Việt gốc Hoa tại Hải Phòng và miển Bắc những năm 1977-1979 thì tôi lại nhớ lại những điều mắt thấy tai nghe khi ấy tại Hà Nội.

    Đọc xong phần Một bài viết của bác, tôi thừa nhận tính trung thực trong lời kể về hoàn cảnh người Hoa tại Bắc VN của bác, và rất thán phục sự chân thành tới xúc động mà lời kể chuyện của bác tác động tới tâm tình người đọc. Tôi nhận định như vậy, là do tôi cũng là một người trong cuộc, nhưng không phải thuộc phía công cụ nhà cầm quyền, mà là người vô tình chứng kiến thảm họa ấy của Hoa kiều tại Hà Nội.

    Ấy là, vào khoảng tháng 5 năm 1977, khi tôi mới chuyển ngành ra dân sự, do chưa có xe đạp để đi làm nên tôi có ra chợ trời Hà Nội (phố Thịnh Yên) để tìm mua một chiếc xe đạp. Tại cổng ra vào chợ, tôi có gặp hai thanh niên người Hoa đang rao bán một chiếc xe Phượng Hoàng (nam) còn mới, với giá 550 đồng. Những người mua vây xúm xít chung quanh, nhưng chỉ có đám buôn bán trả giá 400, 430, 450… đồng. Tôi thấy không ai trả sát giá tiền mà hai người bán đòi, nên đã trả họ 500 đồng, và họ liền bán cho tôi. Dù đã được chủ nhân đưa giấy tờ đăng ký xe, nhưng do cẩn thận nên tôi vẫn đòi họ trình chứng minh thư và hộ khẩu thường trú khi biên giấy bán xe thì tôi mới trả tiền, do vậy họ đã mời tôi về nhà họ ở phố Yên Phụ (Ba Đình-HN) để cho tôi kiểm tra sổ hộ khẩu.

    Tới nhà họ, tôi mới được mục kích chuyện bán tống bán tháo đồ dùng và tài sản để đi Hồng Kông tị nạn. Thực tình, khi tôi nhìn gia sản của gia đình người Hoa này, tôi rất sửng sốt, vì tuy họ không giàu có so với người miền Nam nhưng xét ra còn giàu có hơn gia đình tôi, bà con họ hàng tại làng Mai Động, hay với dân Hà Nội khi ấy rất nhiều. Chẳng hạn, gia đình anh thanh niên bán xe cho tôi còn có những tiện nghi như giường tủ, bàn ghế, quạt điện, radio… chưa kịp bán. Đặc biệt, khi tôi đang chờ anh ta biên giấy bán xe đạp và nhìn gia đình anh ta dọn cơm trưa thì tôi thêm sửng sốt bởi bữa ăn rất thịnh soạn.

    Như có duyên phận với nhau, khi tôi đối chiếu tên tuổi trong đăng ký xe, tên người đăng ký hộ khẩu, tên người đứng bán xe đều chính xác và trả tiền đầy đủ, thì anh ta đã nhờ tôi đi tìm mua giùm anh ta vài chiếc đồng hồ đeo tay của Nhật Bản. Tôi đã dẫn anh ta đi tìm mua, và tôi càng ngạc nhiên là giá đồng hồ đắt hơn thị trường mà anh ta cũng mua, lại còn mua cả hơn chục chiếc đồng hồ trong có nửa ngày. Sau khi mua và nhờ thợ kỹ thuật kiểm tra xong, anh ta đã trả hoa hồng hậu hĩnh cho tôi, và tôi đã dùng số tiền ấy mua được hai chỉ vàng 9999 cho vợ mình.

    Thực tình mà nói, khi tôi mang hai chỉ vàng và chiếc xe Phượng Hoàng về nhà, thì cả nhà tôi đều hồ hởi vì thấy xe quá mới và rẻ. Riêng vợ tôi, khi cầm hai chỉ nhẫn vàng thì cô ấy không biết nó là vàng thật, lại tưởng tôi trêu đùa, mua hàng mỹ ký (hàng nhái) về nghịch ngợm, nên đã quang xuống nền nhà, nói “rõ khỉ, anh lại trêu em”… (Lương tôi chuyển ngành khi ấy có 64 đồng, mà vàng thì khoảng 150 hay 160 đồng một chỉ gì đó, không thể nhớ chính xác).

    Ngoài kỷ niệm đã khiến tôi như bước vào một thế giới mới ấy, tôi còn có một người bạn lính họ Vương là người Hoa, nhà tại ngay sát gò Đống Đa, phố Tây Sơn, Hà Nội. Cũng từ anh bạn lính này, tôi biết được thím dâu của anh ấy là thím Lý Bội Lan. Thím sống tại 83B Nguyễn Lâm, quận 10, Sài Gòn. Và, từ những ân nhân này, tôi đã thay đổi hầu hết tư tưởng và cách sống.

    Thưa bác Lâm và các qúy anh chị bạn đọc Talawas, nếu có cơ hội tôi sẽ viết kỹ về họ, những đại diện người Hoa mà tôi thân thiết và mang ơn. Vì, thực sự mà nói tôi học được rất nhiều điều mới mẻ và tốt đẹp từ họ. Những kiến thức ấy giúp tôi vượt khỏi kiếp lầm than của một anh lính bị nhồi sọ và thiếu thốn kiến thức cần thiết cho cuộc đời.

    Đức quốc 6.8.2009

    T.X.Triệu Quyết Thắng
    E-Mail: trieuquyetthang@yahoo.de

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>