Đinh Từ Thức – McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh
08/07/2009 | 1:11 sáng | 26 Comments
Category: Chiến tranh Việt Nam
Thẻ: McNamara
Qua đời trong giấc ngủ sáng 6 tháng 7, 2009, tại thủ đô Washington ở tuổi 93, Robert McNamara từng là Bộ trưởng Quốc phòng lâu nhất, và điều khiển cuộc chiến không đem lại thắng lợi đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ.
Sau khi đắc cử vào tháng 11 năm 1960, người đầu tiên John Kennedy muốn mời làm Bộ trưởng Quốc phòng là Robert Lovett, thuộc Đảng Cộng hòa, vốn là phụ tá Bộ trưởng Chiến tranh dưới quyền Tướng Marshall thời Roosevelt, và Bộ trưởng Quốc phòng thời Truman. Nhưng ông Lovett không nhận, đã giới thiệu McNamara, một chuyên viên thống kê xuất sắc, từng làm việc tại Bộ Quốc phòng thời Đệ nhị Thế chiến, và mới được cử làm Chủ tịch công ty xe hơi Ford một ngày sau khi Kennedy đắc cử.
Tuy hơn Kennedy một tuổi, khi được Tổng thống đắc cử đề nghị chức Bộ trưởng Quốc phòng, McNamara đã kêu lên: “Thưa Tổng thống, đó là điều vô lý, tôi không đủ khả năng” (Mr. President, it’s absurd, I’m not qualified). Nhưng Kennedy đã trả lời: “Này, Bob, tôi cũng không nghĩ rằng có trường nào dạy làm tổng thống” (Look, Bob, I don’t think there’s any school for presidents, either). Sau này, McNamara nửa đùa nửa thật kể lại rằng, khi tới Washington, ông chỉ có thể phân biệt được một đầu đạn nguyên tử với chiếc xe gia đình.
Có lẽ McNamara là người biết mình hơn ai hết. Kết quả là nước Mỹ đã có một Bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh.
Khi vận động tranh cử, John Kennedy đã lớn tiếng nói rằng có một khoảng cách về võ khí chiến lược giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, và chỉ trích Tổng thống Eisenhower về vấn đề này. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của tân Bộ trưởng Quốc phòng là tìm hiểu sự thật, và đề nghị biện pháp để lấp khoảng cách. Chỉ trong ba tuần, McNamara kết luận có khoảng cách thật, nhưng phía mạnh là Mỹ, không phải Liên Xô.
Nhiệm vụ thứ nhì là vụ yểm trợ người Cuba lưu vong đổ bộ tại Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) để giải phóng Cuba. Vì nội vụ đã được CIA chuẩn bị từ thời chính quyền Eisenhower, McNamara tuy có thắc mắc, cũng đồng ý cho tiến hành.
Sau vụ thảm bại tại Vịnh Con Heo, Kennedy yêu cầu McNamara thảo kế hoạch lật đổ chính quyền Cuba bằng lực lượng quân sự Hoa Kỳ. Chỉ trong mười ngày, McNamara đề nghị kế hoạch tấn công gồm 60.000 quân, chưa kể hải và không quân. Nhưng McNamara đe dọa: Chính quyền không bao giờ nên khởi sự, trừ khi có thể hoàn tất, hoặc sẵn sàng chịu hậu quả nếu thất bại. Kế hoạch đã không được thi hành.
Đầu tháng 11, 1961, Tổng thống Kennedy đã cho thi hành một kế hoạch mới, gọi là “Chiến dịch Mongoose” để phá chính quyền Castro. McNamara được chỉ định giúp Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy tìm cách thực hiện kế hoạch bằng các biện pháp như “quấy rối đảo quốc bằng gián điệp, phá hoại, tổng xáo trộn”. Chiến dịch này cũng không có kết quả.
Năm 1962, Phủ Tổng thống và Bộ Quốc phòng lại thảo chiến lược mới chống nổi dậy, để đối phó với điều McNamara gọi là chiến thuật “khủng bố, tống tiền, và ám sát” của du kích quân cộng sản. Kế hoạch này đã tạo ra những lực lượng đặc biệt như Mũ Xanh (Green Berets) và các chiến dịch bán quân sự bí mật hoạt động tại Đông Nam Á, và Nam Mỹ. Kết quả, sự thành công của lực lượng Mũ Xanh chỉ thấy rõ trong phim ảnh do John Wayne đóng.
Trong vụ căng thẳng về hỏa tiễn tại Cuba giữa Mỹ và Liên Xô, ngày 27 tháng 10, 1962, Bộ Tham mưu Liên quân Mỹ đề nghị đổ bộ vào Cuba trong vòng 36 giờ. McNamara cho rằng khi Mỹ tấn công toàn diện Cuba, thì Liên Xô cũng tấn công các giàn hỏa tiễn Mỹ tại Turky. Rồi Mỹ lại phải tấn công các tầu Liên Xô hoặc căn cứ tại Hắc Hải. Đại chiến có thể bùng nổ. Ông nghĩ như thế là nguy hiểm. Ông đề nghị có thể tránh điều này bằng cách gỡ bỏ hỏa tiễn tại Turky trước khi tấn công Cuba. Đây là ý tưởng khá lạ. Người ta thường bố trí thêm võ khí nhằm vào đối phương trước khi tấn công, nhưng Bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh đã chủ trương ngược lại.
Điều đặc biệt là thái độ sợ chiến tranh của McNamara đã tránh được chiến tranh. Kennedy đã dùng ý kiến của McNamara, đề nghị với Khrushchev là Mỹ sẽ gỡ các giàn hỏa tiễn có đầu đạn nguyên tử hướng vào Liên Xô đặt tại Turky, nếu Liên Xô chịu bốc các hỏa tiễn tại Cuba mang về. Khrushchev đồng ý. Thế là, do không biết được các thương lượng trong bí mật, dân Mỹ coi Kennedy như anh hùng đã thắng Khrushchev. Dân Liên Xô coi Khrushchev là anh hùng đã thắng Kennedy.
Là Bộ trưởng Quốc phòng của cường quốc số một về võ khí nguyên tử, khi về hưu, McNamara cho rằng “Võ khí nguyên tử chẳng ích gì cho các mục tiêu quân sự. Chúng hoàn toàn vô dụng – chỉ trừ khi làm cho đối phương sợ mà không dám dùng đến”.
*
Sau chuyến đi quan sát tình hình Việt Nam lần đầu vào tháng Tư 1962, McNamara tuyên bố cuộc chiến Việt Nam có thể giải quyết thắng lợi từ ba tới bốn năm. McNamara không đứng về phe chủ trương đảo chánh loại bỏ Tổng thống Ngô Đình Diệm; ông đồng ý cần áp lực ông Diệm để loại bỏ vai trò của ông bà Ngô Đình Nhu. Ông hối tiếc là Hoa Kỳ đã không cứu xét đề nghị trung lập toàn cõi Đông Dương theo đề nghị của Tướng Charles de Gaulle. Sau chuyến đi Việt Nam quan sát tình hình vào đầu tháng 10, 1963 cùng với Tướng Taylor, McNamara đã đề nghị, và được Kennedy chấp thuận, Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Việt Nam 1.000 quân vào cuối năm 1963. Theo McNamara, vụ Tổng thống Diệm bị giết đã làm Tổng thống Kennedy bàng hoàng, nhưng điều kinh khủng hơn là khoảng trống để lại sau cuộc đảo chính.
Sau khi Tổng thống Kennedy bị ám sát vào 22 tháng 11, 1963, tân Tổng thống Lyndon Johnson hoàn toàn trông cậy vào Bộ trưởng Quốc phòng McNamara về vấn đề Việt Nam. Johnson đã ngỏ ý mời McNamara đứng chung liên danh tranh cử vào năm 1964, nhưng McNamara từ chối. Ông nói không nên bắt đầu cuộc đời dân cử bằng cách tranh cử chức Phó Tổng thống.
Đầu tháng Tám 1964 xẩy ra biến cố còn tranh cãi đến ngày nay, đó là vụ Bắc Việt tấn công tầu Maddox, khiến Quốc hội ra nghị quyết cho Tổng thống được quyền sử dụng biện pháp quân sự đối phó với tình thế khi cần thiết, mở đầu cho Tổng thống Johnson đưa quân Mỹ vào tham chiến ở Việt Nam. Theo quan điểm của McNamara, vụ tấn công tầu Maddox lần thứ nhất vào ngày 2 tháng 8 có bằng chứng rõ ràng đã xẩy ra; vụ thứ hai xẩy ra vào ngày 4 tháng 8 thì không chắc, có thể có sai lầm trong việc nhận tín hiệu báo động.
Năm 1965, Tổng thống Johnson đã quyết định gia tăng chiến tranh tại Việt Nam. Ngoài việc đem hàng chục ngàn, rồi hàng trăm ngàn binh sĩ chiến đấu vào Nam Việt Nam, chiến dịch oanh tạc Sấm Động (Rolling Thunder) đã phát xuất 55.000 phi vụ, thả 33.000 tấn bom xuống Bắc Việt, với 171 phi cơ bị hạ. Năm sau, số phi vụ tăng lên 148.000, với 128.000 tấn bom, và 318 phi cơ bị hạ. Gặp riêng các ký giả ở Honolulu vào tháng Hai 1966, McNamara có vẻ chán nản, cho biết: “Không lượng bom nào có thể chấm dứt được chiến tranh”.
Cho đến 1966, McNamara đã có kế hoạch thiết lập chiến lũy điện tử dọc theo vùng phi quân sự, được gọi là “Đường ranh McNamara” (McNamara Line), nhưng quân Bắc Việt xâm nhập qua ngả Lào và Cao Miên, khiến đường ranh này vô dụng.
Vào thời chiến tranh cao độ, điều khá đặc biệt là, trong khi Bộ trưởng Ngoai giao Dean Rush chủ trương phải chiến thắng bằng quân sự, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara lại chủ trương nên rút lui, hay giải quyết cuộc chiến bằng thương thuyết.
Ngày 19 tháng 6, 1966, McNamara gọi điện thoại cho Tổng thống Johnson: “Càng ngày tôi càng tin rằng chắc chắn chúng ta phải có kế hoạch chấm dứt dội bom Bắc Việt”. Và “Tôi không nghĩ là chúng ta cứ mãi nhìn về tương lai và nói sẽ tăng quân thêm nữa, thêm nữa và thêm nữa – sáu trăm ngàn, bảy trăm ngàn…”
Trong khoảng thời gian từ cuối 1966 sang 1967, McNamara đã phải đối diện với nhiều áp lực phản chiến. Một buổi chiều tới nói chuyện tại lớp của Kissinger ở Đại học Harvard, McNamara đã bị sinh viên biểu tình bao vây, chửi bới, phải bỏ chạy thoát thân. Một lần khác, đi leo núi với gia đình ở Seattle, bị một phụ nữ tới nhổ nước miếng vào mặt, mắng là kẻ có bàn tay vấy máu con nít. Ngay những người rất gần gũi thân thiết, như cựu Đệ nhất Phu nhân Jackie Kennedy cũng một lần nổi giận, đấm ngực McNamara, đòi phải sớm chấm dứt chuyện chém giết ở Việt Nam.
Ngày 19 tháng 5, 1967, McNamara viết cho Tổng thống Johnson một thư dài phân tích tình hình: “Chiến tranh Việt Nam thất nhân tâm, và nó càng thất nhân tâm khi gia tăng… Hầu hết dân Mỹ cho rằng chúng ta không nên can dự sâu đậm như thế này. Tất cả đều muốn chiến tranh chấm dứt và mong đợi Tổng thống chấm dứt nó. Bất kể thắng hay không”.
Bộ trưởng Quốc phòng mà chán ghét chiến tranh, ông Johnson chịu hết nổi, ông cho rằng McNamara đã âm mưu để ủng hộ con bồ câu Robert Kennedy trong cuộc bầu cử năm 1968. Ông ngấm ngầm dàn xếp, và tuyên bố vào ngày 29 tháng 11, 1967: McNamara sẽ rời Bộ Quốc phòng để làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (World Bank). McNamara ra đi hai tháng sau, 29 tháng Hai, 1968, không biết mình đã từ chức hay bị sa thải.
Khi đã hoàn toàn thất vọng về cuộc chiến, vào tháng Sáu 1967, McNamara đã quyết định thành lập một nhóm sưu tầm và ghi lại tất cả những tài liệu Bộ Quốc phòng có thể có được về Việt Nam từ 1954 đến 1967. Kết quả là chồng tài liệu dầy 7.000 trang, một nửa là văn kiện gốc, một nửa được viết lại, và năm 1971 được viết lại lần nữa khi đăng trên các báo The New York Times, và The Washington Post, được gọi là “Tài liệu mật Bộ Quốc phòng” (The Pentagon Papers).
McNamara đã cho rằng Hoa Kỳ không thể thắng cuộc chiến Việt Nam, vì: “Không hiểu đối phương, không biết giới hạn của võ khí kỹ thuật cao (high-tech weapons), không nói thật với dân chúng, và không nắm vững thực trạng mối đe dọa của cộng sản”. Có lẽ McNamara không biết rằng chính vì không nói thật với dân chúng mà cộng sản thắng trận.
McNamara không tin vào thuyết domino được nói nhiều từ thời Eisenhower. Ông nói: “Tôi chắc là chúng ta đã phóng đại sự đe dọa. Bây giờ tôi nghi ngờ rằng nếu chúng ta không can thiệp thì những con bài domino đã đổ; tôi ngờ rằng cả Á châu đều nằm dưới sự kiểm soát của cộng sản”. Có lẽ ông McNamara đã không nghĩ tới trường hợp: nếu cộng sản Việt Nam không bị ngăn chặn trong 21 năm, nếu họ chiếm cả nước từ năm 54 hay 55, liệu Á châu có như ngày nay không?
Theo McNamara: “Chiến tranh quá nhiêu khê, nó vượt ra ngoài khả năng của trí óc con người để hiểu. Sự phán xét của chúng ta, sự hiểu biết của chúng ta không đầy đủ. Và chúng ta giết người không cần thiết”.
Một Bộ trưởng Quốc phòng phát biểu như thế. Thật vô lý! “It’s absurd!”. Đó chính là lời McNamara tự nói về mình khi được chọn làm Bộ trưởng Quốc phòng.
© Đinh Từ Thức
© talawas blog
Thưa ông Hòa Nguyễn,
Trong ý kiến đầu, ông viết: “Nếu McNamara (và Kennedy, Johnson) không can dự vào VN từ năm 1960, thì thử hỏi miền Nam đứng vững được tới bao lâu sau khi Mặt trận Giải phóng miền Nam được khai sinh vào tháng 12 năm 1960?”
Tôi chỉ muốn chỉ rõ ra vài điều:
– Ông viết (sai): McNamara (và Kennedy) can dự vào VN từ năm 1960, trong khi sự thật TT Kennedy chỉ lên cầm quyền năm 1961, và chỉ có thể bổ nhiệm McNamara năm đó. Điều này khó có thể là “vô tình”, vì nếu “vô tình” thì ông đã nhận ngay, phải thế không?
– Ông không thể nhận, vì trong đoạn văn của ông, trích ở trên, mốc thời gian 1960 quan trọng: nó cho thấy McNamara (Hoa Kỳ) “can dự” vào VN trước khi MTGPMN được “khai sinh” (mãi tháng 12, năm 1960!).
– Trong ý kiến mới nhất ông viết: “Tháng 1 năm 1959, Hội nghị thứ 5 của BCH Trung ương Đảng ra quyết nghị kết hợp đấu tranh chính trị với lực lượng vũ trang, và sau đó MTDTGPMN ra đời vào ngày 20-12-1960 tại xã Tân Lập, tỉnh Tây Ninh”.
– Tôi xin hỏi ông: ngày sinh của “thằng con” MTGPMN là ngày bố mẹ nó (BCH Trung ương Đảng) cho phép nó ra đời hay là ngày nó được đem ra mắt bà con lối xóm?
– Sư thật, như chính ông cho biết, “thằng nhỏ” MTGPMN đã đi lại hoạt động ‘phá làng phá xóm’ từ trước khi nó ra mắt bà con (”… phát động phong trào “Đồng Khởi” từ tháng 2-1959, và tổ chức cuộc nổi dậy ở các huyện thuộc tỉnh Bến Tre vào tháng 1-1960″). Nếu “nó” chưa sinh ra thì khó làm được nhiều chuyện như thế!
Nhưng nếu ông nói, ông chỉ “lấy mốc 1960 vì tiện gọn” thì tôi cũng đành chấp nhận.
Trân trọng
TB. Sự thật ai cũng biết, là Hoa Kỳ “liên hệ” với VN từ lâu, trễ nhất là từ lúc Nhật Bản (đối thủ của Mỹ) chiếm đóng VN. Lúc đó, chính Hoa Kỳ đã giúp khí giới cho Việt Minh để họ “kháng chiến chống Nhật”. Hoa Kỳ cũng là một trong bốn nước chính thức tham giự vào hội nghị đình chiến Genève. Sau đó, khi đất nước chia đôi, Hoa Kỳ là nước duy nhất giúp chính quyền VNCH di tản đồng bào miền Bắc vào Nam lánh nạn CS v.v.
Chắc ở VN chỉ có mình ông không biết là Hoa Kỳ có “liên hệ” tới VN từ trước khi McNamara lên làm bộ trưởng quốc phòng của Hoa Kỳ!
Xin trả lời ông Nam Phan về chiến lược graduated escalation của Mỹ: sự kiện Mỹ áp dụng chiến lược đó không đồng nghĩa với Bắc Việt mất chủ động hay thua kém về quân sự. Chuyện đó đương nhiên, vì cuối cùng BV đã thắng. Nó chỉ có nghĩa là Mỹ không dùng sức mạnh tối đa (overwhelming force) ngay từ đầu, như trong chiến tranh Iraq 1 và giai đoạn đầu của Iraq 2. Ở VN, chiến lược graduated escalation đã khiến cho BV (và các đồng minh TQ, LX) có đủ thì giờ phản ứng và giữ ưu thế (stay ahead).
Về việc trang bị vũ khí cho QĐVNCH, thời Mậu Thân Mỹ chưa lưu tâm chuyện đó vì họ coi là quân đội Mỹ nắm phần chính trong cuộc chiến, QĐVNCH chỉ là phụ. Chỉ sau này, Nixon rút quân và bắt đầu chính sách “Vietnamization” vào năm 1969 thì QĐVNCH mới bắt đầu được trang bị đàng hoàng (xem diễn văn của Nixon: http://vietnam.vassar.edu/doc14.html). Hiện nay, tình hình Afghanistan cũng tương tự!
Xin trở lại câu chuyện với vài chi tiết nhỏ tồn đọng. Ông Lê Văn cứ quả quyết MTGPMN ra đời năm 1959, và cho tôi cố ý “sửa ngày thành lập MTGPMN thành ra tháng 12 năm 1960”.
Theo Việt Nam 1945-1995 của GS Lê Xuân Khoa, giữa năm 1955 chính phủ Ngô Đình Diệm ở miền Nam phát động chiến dịch “tố cộng” để loại trừ hoạt động của những người CS hay thân cộng ở miền Nam. Đảng Lao động (CS) phản công lại từ năm 1956 bằng những hành động khủng bố và ám sát viên chức chính phủ. Tháng 1 năm 1959, Hội nghị thứ 5 của BCH Trung ương Đảng ra quyết nghị kết hợp đấu tranh chính trị với lực lượng vũ trang, và sau đó MTDTGPMN ra đời vào ngày 20-12-1960 tại xã Tân Lập, tỉnh Tây Ninh với một Ủy ban Lâm thời do Nguyễn Văn Hiếu làm Tổng Thư ký (sách dẫn trang 280).
Điều này có nghĩa là từ 1956 đã có những hoạt động chống đối, phá hoại, “nổi dậy” ở miền Nam có vẻ như “tự phát”, tiếp theo Đảng CS ở miền Bắc quyết định tiến hành chiến tranh giải phóng, và sau đó một tổ chức chính trị không phải gồm toàn người CS được thành lập để lãnh đạo cuộc đấu tranh đánh đổ “chế độ Mỹ-Diệm”(hay để che giấu sự chỉ đạo chiến tranh từ miền Bắc).
Sự liên hệ (hay “can thiệp”) của Mỹ ở VN tôi không biết chắc bắt đầu từ năm nào, nhưng phải trước thời TT Kennedy (tức thời TT Eisenhower). Tôi lấy mốc 1960 vì tiện gọn, và vì lúc đó sự hiện diện của cố vấn Mỹ trong quân đội VNCH đã thấy rõ, lên tới 500 người.
Từ đầu tôi vẫn nghĩ Mỹ đi sau miền Bắc trong các hoạt động quân sự. Chuyện “vũ khí” ông Nam Phan nêu ra tôi cũng có nghe kể: trong cuộc Tổng Công kích Mậu Thân (năm 1968), đa số bộ binh miền Nam còn trang bị súng bắn phát một (Garant, Carbine) thời Pháp để lại, trong khi bộ đội miền Bắc vào thành phố đều sử dụng súng tự động AK-47 (của Tiệp Khắc).
Xin hân hạnh góp ý cùng quý ông Hòa Nguyễn, Lê Văn, Phạm Quang Tuấn.
Là người tham dự Chiến tranh VN khá sớm, dù không đọc được tiếng Anh, cũng không hiểu gì về Graduated Escalation, nhưng tôi thấy ông Hoà Nguyễn nói có phần đúng, ít ra là về vấn đề trang bị vũ khí cho QĐVNCH. Chỉ khi nào bên kia có vũ khí tối tân hơn, làm chúng tôi “ngỡ ngàng” và đôi khi làm người Mỹ “bật ngưả” thì “hắn” mới trang bị cho chúng tôi cái gần tương đương. Khi nào bên kia tăng cường lực lượng để thỏa mãn nhu cầu chiến tranh từ du kích đến cục bộ rồi tổng lực thì bên này mới có viện trợ khả dĩ khuyếch trương Quân lực cả về lượng lẫn phẩm… Tôi có nghe đến cái gọi là chiến lược “be bờ” gì đó (dĩ nhiên tôi cho cả cái chiến lược ngăn chặn CNCS lẫn chiến lược về chiến tranh VN vào một rọ là lỗi của tôi), còn cái chiến lược “bóp tay đứa trẻ cho nó đau đến lúc không chịu nổi thì chịu thua” thì tôi chưa rõ. Chỉ có khác là tôi thấy chúng “bóp” mình trước, và càng ngày càng mạnh.
Ông Lê Văn nói cũng chí lý, “chiến lược nhằm trả lời câu hỏi ‘làm cái gì’ ( what), trong khi chiến thuật trả lời câu hỏi ‘làm thế nào’ (how).” Thế thì cái này (CT) nó “lồng” trong cái kia (CL) đó thôi, cái này (CT)nó “diễn giải” cái kia (CL) một cách cụ thể. Cho nên không thể nói chúng khác nhau hoàn toàn được.
Trân trọng.
Tôi nhận với ông Lê Văn là không tìm đọc kỹ tiểu sử của McNamara (rất dễ tìm trong Wikipedia) nên không biết ông ấy từng mang danh là sĩ quan không quân thời thế chiến 2. Nhưng tiểu sử cũng ghi McNamara vào quân đội với chức đại úy “đồng hóa” mà không thấy nói theo lớp huấn luyện quân sự nào. Ông ấy cũng không trực tiếp tham chiến, và “chắc” là chưa hề lài máy bay quân sự tuy ở trong không quân Mỹ 3 năm. Với việc làm ở phòng “Kiểm tra thống kê” (tạm dịch) trong thời gian đó, chuyên phân tích tính hữu hiệu của máy bay oanh tạc, McNamara không thể biết nhiều, đừng nói là phải giỏi về chiến thuật và chiến lược.
Trích:
“In August 1940 he returned to Harvard to teach in the Business School and became the highest paid and youngest Assistant Professor at that time.Following his involvement there in a program to teach analytical approaches used in business to officers of the Army Air Forces (AAF) he entered the Armed Forces as a captain in early 1943, serving most of the war with the AAF’s Office of Statistical Control. One major responsibility was the analysis of U.S. bombers’ efficiency and effectiveness, especially the B-29 forces commanded by Major General Curtis LeMay in China and the Mariana Islands.[9] He left active duty in 1946 with the rank of lieutenant colonel and with a Legion of Merit.”
(http://en.wikipedia.org/wiki/Robert_McNamara )
Vậy tôi đã không sai lắm khi viết McNamara chưa từng được huấn luyện quân sự. Phần ông Lê Văn nên tìm hiểu thế nào là chiến thuật và chiến lước với nghĩa dùng trong quân sự, quốc phòng.
Với ông Phạm Quang Tuấn tôi đã nhận thấy lối lý luận “trơn như mỡ” từ lâu. Dù sao không thể nói như ông Tuấn: muốn biết điều gì đó thì tìm đọc quyền sách gí đó. Người góp ý ở đây phải có khả năng trích dẫn, tóm lược ý chính, hay ý muốn nói tới từ tài liệu nêu ra.
Như tôi dự đoán, ông Hòa Nguyễn lờ chuyện ông sửa ngày thành lập MTGPMN thành ra tháng 12 năm 1960, đồng thời đổi ngày McNamara (và TT Kennedy) nhậm chức từ 1961 xuống thành 1960.
Làm thế, “vô tình” ông HN đã tạo dây liên hệ “nhân quả”, rằng vì McNamara và Kennedy đưa quân vào Việt Nam trước, nên mới có cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam!
Nhưng rồi, khi trả lời ông PQT, ông HN lại “tỉnh queo” kể lể nhưng thành tích của Mặt Trận từ đầu năm 1959 (“… phát động phong trào “Đồng Khởi” từ tháng 2-1959, và tổ chức cuộc nổi dậy ở các huyện thuộc tỉnh Bến Tre vào tháng 1-1960”)!
Do đó, nếu tôi có vẻ “mỉa mai” thì cũng là để tránh dùng những chữ nặng nề.
Kính chào
TB. McNamara có tham dự Thế chiến II, sau khi Hoa Kỳ nhập cuộc. Ông giải ngũ năm 1946. Lúc đó ông đã mang lon Trung Tá và được thưởng huân chương Legion of Merit, chứ không phải “không được đào tạo về quân sự và tham dự cuộc chiến nào” như ông HN khẳng định.
Ông Hoà Nguyễn nói: “Ông Phạm Quang Tuấn dùng lý luận và dẫn tài liệu mập mờ (không nêu rõ sự kiện cần thiết) đề “phản biện”, nên với tôi là không thuyết phục.”
Tài liệu tôi dẫn để trên web, ai cũng đọc được (miễn đọc được tiếng Anh), do RAND là cơ quan nghiên cứu chiến lược chiến thuật chính thức của quân đội Mỹ (xem http://en.wikipedia.org/wiki/RAND), dùng chữ “graduated escalation” rõ ràng ở ngay tựa đề, và phân tích về sự áp dụng chiến thuật “leo thang từng bước” của Mỹ trong chiến tranh VN và những cuộc chiến khác. Tiếng Anh gọi là “from the horse’s mouth” (từ chính miệng đương sự). Như vậy không hiểu là “dùng lý luận và dẫn tài liệu mập mờ” ở chỗ nào. Còn hàng ngàn tài liệu khác về chiến lược graduated escalation của Mỹ, áp dụng ở VN, nhưng cũng toàn là tiếng Anh, có dẫn cho ông Hòa cũng vô ích vì chắc ông Hòa sẽ thấy càng mập mờ hơn. Ông Hòa chỉ dẫn được một cuốn sách tiếng Việt, và nếu cuốn đó không nói gì đến chiến lược graduated escalation thì cũng không có gì ngạc nhiên.
Về câu hỏi VN sẽ ra sao nếu Mỹ không nhảy vào, tôi vốn không muốn tranh luận về những chuyện “what if” đó nên đã viết giản dị: “khó mà biết”. Ông Hòa cho là mình biết thì, đối với tôi, cũng không có gì lạ!
Trả lời ông Lê Văn:
Tôi không có ý “dạy” ai về gì, chỉ là góp ý ở đây như nhiều người khác, ở mức ngắn gọn nhất trong phạm vi số chữ được phép.
Một người không biết về chiến tranh (như ông Mc Namara không được đào tạo về quân sự và tham dự cuộc chiến nào) tất nhiên không thể giỏi về chiến thuật và chiến lược, nên không cần vạch rõ ra như vậy, với cách viết châm biếm hay mỉa mai (là tôi đọc thấy vậy). TT Kennedy dùng Mc Namara làm bộ trưởng Quốc phòng vì tài tổ chức và óc phán đoán chung của ông ấy, còn chiến thuật, chiến lược sử dụng trong cuộc chiến (đặc biệt) ở VN thời đó là công việc của các tướng lãnh, quân lực, dưới quyền bộ trưởng Quốc phóng (và tổng thống Mỹ). Họ thảo chiến lược, quy định chiến thuật theo ý định, mục đích của cấp trên ở từng giai đoạn chiến tranh
Ông Phạm Quang Tuấn dùng lý luận và dẫn tài liệu mập mờ (không nêu rõ sự kiện cần thiết) đề “phản biện”, nên với tôi là không thuyết phục.
Theo quyển Việt Nam 1945-1975 của Lê Xuân Khoa (phần này dựa nhiều vào sách In Retrospect của McNamara), từ năm 1959 miền Bắc vận chuyển bộ đội tập kết và vũ khí vào miền Nam qua đường Trường Sơn, phát động phong trào “Đồng Khởi” từ tháng 2-1959, và tổ chức cuộc nổi dậy ở các huyện thuộc tỉnh Bến Tre vào tháng 1-1960 (sách dẫn trang 279). Lực lượng quân Giải phóng miền Nam từ cuối năm 1961 là 20.000, chỉ một năm sau đã lên tới 123.000, trong khi cố vấn quân sự Mỹ từ khoảng 500 năm 1960 tăng lên 23.000 năm 1964. Đầu năm 1964, sau chính biến giết ông Diệm, khoảng một nửa dân số và đất đai vùng quê miền Nam nằm dưới kiểm soát của MTGPMN, với mức độ khác nhau. Tháng 12-1963, McNamara báo cáo “Theo đà đó nhiều phần chắc là cộng sản sẽ kiểm soát miền Nam” (trang 284-285) Vậy mà Johnson phải đợi đến sau vụ tàu Maddox bị tấn công mới cho quân Mỹ trực tiếp tham chiến (chính thức từ 7-8-1964). Lúc đầu Johnson chỉ cho dội bom đường xâm nhập của miền Bắc ở Nam Lào. Ngày 7-2-1965, CS tấn công phi trường Pleiku phá hủy 12 máy bay, làm 8 quân nhân chết và trên 100 bị thương, Johnson quyết định leo thang chiến tranh, dội bom miền Bắc đánh phá kho dự trữ đạn dược, đài ra-da, đường và phương tiện vận chuyển…, nhưng đến tháng 10-1968 thì chấm dứt. Ngày 8-3-1965, hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng để bảo vệ phi trường, và quân Mỹ tăng dần cho đến 1968 lên tới 536.000. Nhưng vào thời điểm đó, miền Bắc đã đưa vào đủ quân để mở cuộc Tổng Công kích Tết Mậu Thân chia làm hai đợt vào nhiều thành phố miền Nam trong năm 1968.
Chiến tranh ở Triều Tiên sẽ bàn ở dịp khác.
Còn với giả thuyết nếu Mỹ không tham chiến, miền Nam tất cũng mất sau khi quân Pháp rút, vì tình trạng phe phái, chia rẽ ở miền Nam, trong khi “chính nghĩa quốc gia”, hay ý tưởng về tự do, dân chủ chỉ vừa manh nha, thành hình nhưng chưa vững mạnh. Với nghi vấn cùa ông Tuấn: nếu vậy, VN bây giờ có “đỡ khổ” hơn vì ít tuỳ thuộc vào TQ hơn không, thì chỉ những người từng sống ở miền Bắc thời 1955 và sau 1975 (như ông Phạm Toàn ở đây) mới trả lời chính xác bằng sự chứng kiến và kinh nghiệm bản thân. Nhưng theo những tài liệu đọc được về cuộc Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc, thì vai trò và ảnh hưởng cúa Trung Quốc thời đó lớn lắm (hơn năm 1975).
“Bị” đọc những ý kiến loại “đảng dạy dân” của ông Hòa Nguyễn (HN) đã lâu, nhưng chưa bao giờ tôi có ý định “phản hồi”, nhưng lần này được ông chiếu cố trực tiếp tôi cũng xin được tiếp chuyện.
1.
Ông dạy: “Ai đã không biết gì về chiến tranh thì không thể là chiến lược gia… giỏi, điều này rất dễ hiểu”.
Sự thật, tôi viết: “McNamara không biết gì về chiến thuật quân sự đã đành, nhưng quả thật là một chiến lược gia… tồi!”
Chiến thuật và chiến lược là hai thứ khác nhau hoàn toàn. Chiến lược nhằm trả lời câu hỏi: “làm cái gì?” (what), trong khi chiến thuật trả lời câu hỏi: “làm thế nào?” (how).
Thí dụ A.
Chiến lược của Trung Quốc: Để khống chế Việt Nam về mặt quân sự, phải kiểm soát cho bằng được Cao nguyên Trung phần (What).
Chiến thuật (How): Bỏ tiền ra mua quyền khai thác mỏ bô-xít, chỉ dùng công nhân TQ, một thời gian sinh con đẻ cái, là có thể đóng “chốt” ở đó!
Thí dụ B.
Vị tư lệnh (chiến lược gia) nhất định phải chiếm lại thành phố Ban Mê Thuột, nếu không sẽ mất cả cao nguyên. Chiếm lại bằng cách nào là do các sĩ quan tác chiến (chiến thuật gia).
Qua các thí dụ kể trên, có lẽ ta đã thấy rõ: chiến lược gia giỏi không cần giỏi chiến thuật v.v.
2.
“Nếu McNamara (và Kennedy, Johnson) không can dự vào VN từ năm 1960, thì thử hỏi miền Nam đứng vững được tới bao lâu sau khi Mặt trận Giải phóng miền Nam được khai sinh vào tháng 12 năm 1960?”
Trước hết, xin sửa lại nhưng dự kiện cụ thể (facts) mà ông HN “vô tình” đưa ra sai: Đảng CS miền Bắc ký sắc lệnh thành lập MTGPMN từ năm 1959, chứ không phải tháng 12 năm 1960.
Câu hỏi của ông NH là: “miền Nam đứng vững được tới bao lâu sau khi Mặt trận Giải phóng miền Nam được khai sinh (nếu không có McNamara)?”
Trả lời của tôi:
Nếu hiểu là MTGPMN chỉ là tấm bình phong cho cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt (được hưởng viện trợ quân sự gần như vô giới hạn của Liên Xô và Trung Cộng) thì khó nói là miền Nam sẽ đúng vững được bao lâu, NẾU không có viện trợ quân sự của Hoa Kỳ!
Tuy nhiên, với sự viện trợ quân sự “dè dặt” từ phía chính quyền Kennedy – từ vài ngàn cố vấn quân sự vào năm 1960, lên đến 16.000 khi TT Kennedy bị ám sát vào cuối 1963 – mà quân đội CS (MTGPMN cộng với quân đội Bắc Việt) cho đến cuối năm 1963 cũng chỉ mới ghi được một chiến thắng đáng kể, là trận Ấp Bắc.
Điều này cho thấy, ít nhất vào giai đoạn đó CS miền Bắc cũng chưa có thể – hay chưa muốn? – tấn công ào ạt, khi quân lực VNCH còn khá yếu, và quân đội Hoa Kỳ chưa hiện diện đáng kể ở miền Nam.
Điều này có lẽ tuy thuộc nhiều yếu tố, trong đó có sự “bật đèn xanh” của các “đàn anh” khi Liên Xô và TC còn đang cò cưa tranh giành ảnh hưỏng đối với Hà Nội, và có thể cả yếu tố “nội tại” là lòng dân miền Bắc cũng không muốn chiến tranh.
Việc Hoa Kỳ – McNamara – “leo thang” chiến tranh, theo thiển ý, chính là cơ hội bằng vàng cho những kẻ chủ chiến ở Hà Nội vậy.
3.
Còn vài chuyện nữa, nhưng ông Phạm Quang Tuấn đã trả lời tỉ mỉ, không cần phải nói thêm vào.
Ông Hoà Nguyễn nói: “sử sách ghi Mỹ đã từng bước leo thang để đáp ứng với cường độ chiến tranh tăng cao do do miền Bắc VN chủ động gây ra”. Sự thực ngược lại. Leo thang từng bậc (Graduated Escalation) là một chiến lược của Mỹ đã có và áp dụng ngay từ đầu, từ thời Kennedy và trước đó, chứ không phải chỉ là phản ứng theo miền Bắc VN. Xin xem RAND Corporation memo “Some Thoughts on Graduated Escalation” (1965) (http://www.rand.org/pubs/research_memoranda/2006/RM4844.pdf).(RAND là think tank của quân đội Mỹ). Graduated Escalation là áp dụng sức mạnh tăng lên từng bậc để làm áp lực, giống như bóp tay một đứa trẻ cho tới khi nó kêu đau chịu thua. Mục tiêu tối hậu là gây ra sự sợ hãi ở mọi đối thủ, làm cho họ cứ thấy Mỹ nhúc nhích là sợ Mỹ leo thang nên không dám chống. Tuy nhiên, ở VN chiến lược thất bại, vì Mỹ không ngờ rằng Bắc Việt không kêu đau mà lại phản ứng bằng cách leo thang theo Mỹ. Sau chiến tranh VN thì hầu như không còn ai ở Mỹ nhắc tới “Graduated Escalation” nữa, vì lý do dễ hiểu.
Ông Hòa viết “Ở Triều Tiên, Mỹ đã ồ ạt đổ quân ngay từ đầu” cũng sai. Mỹ cũng đã dùng chiến lược graduated escalation, nhưng vì Bắc TT đổ quân vào quá nhanh nên chỉ vài tuần là leo tới đỉnh. Xin xem tài liệu RAND đã dẫn.
Khó mà biết VN sẽ ra sao nếu Mỹ không nhảy vào. Chắc chắn sẽ là CS, nhưng CS như thế nào, tùy thuộc vào TQ bao nhiêu? Đó là những câu hỏi không thể trả lời chắc chắn, nhưng có thể ước đoán.
Ông Lê Văn (LV) viết: “McNamara không biết gì về chiến thuật quân sự đã đành, nhưng quả thật là một chiến lược gia… tồi”.
Ai đã không biết gì về chiến tranh thì không thể là chiến lược gia… giỏi, điều này rất dễ hiểu. Mỹ vào thời McNamara không phải “hùng hổ mang quân vào Việt Nam” như LV nói, mà sử sách ghi Mỹ đã từng bước leo thang để đáp ứng với cường độ chiến tranh tăng cao dần do miền Bắc VN chủ động gây ra, và Mỹ trước sau chỉ tham chiến thụ động do đó khó đi tới chiến thắng. Ở Triều Tiên, Mỹ đã ồ ạt đổ quân ngay từ đầu, và đã chiến thắng (hay ít ra không thất bại chua cay như ở VN).
Theo LV, “Johnson cũng là một Tổng thống… đại cù lần”, nhưng có lẽ vì muốn thương thuyết với miền Bắc sau Tết Mậu Thân (và nếu làm vậy, miền Nam có thể mất sớm hơn). Phải nhờ Nixon (và Kissenger) mà miền Nam tồn tại thêm được mấy năm nữa, khiến một số người sống ở miền Nam được hưởng một số lợi dù ngắn ngủi, như ông Mai Thái Lĩnh đã nói thay họ: “do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng. Nếu không có nền giáo dục nhân bản, khai phóng, chịu ảnh hưởng của nền văn minh phương Tây đó, làm sao tôi có thể trở thành người bất đồng chính kiến trong một xã hội mà sự nô lệ về tư tưởng là tiêu chí căn bản để tiến thân?”
Nếu McNamara (và Kennedy, Johnson) không can dự vào VN từ năm 1960, thì thử hỏi miền Nam đứng vững được tới bao lâu sau khi Mặt trận Giải phóng miền Nam được khai sinh vào tháng 12 năm 1960? Lúc đó chế độ VNCH ở Sài Gòn còn rất non trẻ về mọi mặt vì chỉ mới thành lập được có 5 năm. Hỏi thế tôi không hề cho chế độ miền Bắc “ưu việt” hơn, được nhân dân VN tự ý chọn lựa (cho cả nước).
McNamara không biết gì về chiến thuật quân sự đã đành, nhưng quả thật là một chiến lược gia… tồi! Hùng hổ mang quân vào Việt Nam, tiếng là giúp miền Nam (VNCH) chống lại xâm lược từ miền Bắc, nhưng thật ra là hỗ trợ miền Bắc cũng cố lập luận tuyên truyền là miền Nam đang bị Mỹ xâm lược!
Nhưng chính Johnson cũng là một Tổng thống… đại cù lần. Mới tháng 10 năm 1963, McNamara còn tuyên bố (sau lần đi “tham quan” Việt Nam) là tình hình quân sự rất tốt đẹp, có thể rút 1000 (trong số có 16.000) cố vấn quân sự về nước. Nhưng chỉ một năm sau, ông lại đòi tăng quân số Hoa Kỳ cần ở Việt Nam lên đến nửa triệu. Nhưng Johnson cũng vẫn tin. Đúng là chuyện khó tin mà có thật!
Do đó chữ “absurd” ở đây là trạng từ hỗ trợ cho hình dung từ “tồi dở”, mô tả khả năng của McNamara, và cả của TT Johnson: tồi dở đến độ “absurd”.
(Xem phim the Fog of War, ta còn khám phá là ông là một kép “độc” hạng… bét! Dù phim được giải Oscar cũng chẳng có nghĩa lý gì. Kissinger còn được Nobel Hòa Bình cơ mà. Đúng là… absurd!)
Toàn bộ phim tài liệu “The Fog of War” của Errol Morris về Mc Namara (1 giờ 46 phút) ở đây,
http://www.informationclearinghouse.info/article12990.htm
có liên kết để tải về.
Một lãnh đạo quân sự mà cuối đời xét lại việc làm trong hồi ký 1995 còn rớm nước mắt là trong phim tài liệu 2003 “The Fog of War”, nếu Hoa Kỳ không là siêu cường thì tôi đã là tội phạm chiến tranh thì việc này cũng “absurd” không kém!
Các ông Bộ trưởng Quốc phòng Dick Cheney và Don Rumsfeld có “absurd” thế đâu?
Ông Henry Kissinger thì khỏi nói rồi, nhưng bà Ngọai trưởng Madeleine Allbright thì cũng vậy, khi được hỏi là 500.000 người Iraq thiệt mạng (trong đó đại đa số là trẻ em) vì cấm vận phong tỏa của Hoa Kỳ, bà vẫn giữ vững như đồng lập trường đó là cần thiết.
Đúng là “absurd”!