talawas blog

Chuyên mục:

Đinh Từ Thức – McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh

08/07/2009 | 1:11 sáng | 26 Comments

Tác giả: Đinh Từ Thức

Category: Chiến tranh Việt Nam
Thẻ:

Qua đời trong giấc ngủ sáng 6 tháng 7, 2009, tại thủ đô Washington ở tuổi 93, Robert McNamara từng là Bộ trưởng Quốc phòng lâu nhất, và điều khiển cuộc chiến không đem lại thắng lợi đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ.

Sau khi đắc cử vào tháng 11 năm 1960, người đầu tiên John Kennedy muốn mời làm Bộ trưởng Quốc phòng là Robert Lovett, thuộc Đảng Cộng hòa, vốn là phụ tá Bộ trưởng Chiến tranh dưới quyền Tướng Marshall thời Roosevelt, và Bộ trưởng Quốc phòng thời Truman. Nhưng ông Lovett không nhận, đã giới thiệu McNamara, một chuyên viên thống kê xuất sắc, từng làm việc tại Bộ Quốc phòng thời Đệ nhị Thế chiến, và mới được cử làm Chủ tịch công ty xe hơi Ford một ngày sau khi Kennedy đắc cử.

Tuy hơn Kennedy một tuổi, khi được Tổng thống đắc cử đề nghị chức Bộ trưởng Quốc phòng, McNamara đã kêu lên: “Thưa Tổng thống, đó là điều vô lý, tôi không đủ khả năng” (Mr. President, it’s absurd, I’m not qualified). Nhưng Kennedy đã trả lời: “Này, Bob, tôi cũng không nghĩ rằng có trường nào dạy làm tổng thống” (Look, Bob, I don’t think there’s any school for presidents, either). Sau này, McNamara nửa đùa nửa thật kể lại rằng, khi tới Washington, ông chỉ có thể phân biệt được một đầu đạn nguyên tử với chiếc xe gia đình.

Có lẽ McNamara là người biết mình hơn ai hết. Kết quả là nước Mỹ đã có một Bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh.

Khi vận động tranh cử, John Kennedy đã lớn tiếng nói rằng có một khoảng cách về võ khí chiến lược giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, và chỉ trích Tổng thống Eisenhower về vấn đề này. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của tân Bộ trưởng Quốc phòng là tìm hiểu sự thật, và đề nghị biện pháp để lấp khoảng cách. Chỉ trong ba tuần, McNamara kết luận có khoảng cách thật, nhưng phía mạnh là Mỹ, không phải Liên Xô.

Nhiệm vụ thứ nhì là vụ yểm trợ người Cuba lưu vong đổ bộ tại Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) để giải phóng Cuba. Vì nội vụ đã được CIA chuẩn bị từ thời chính quyền Eisenhower, McNamara tuy có thắc mắc, cũng đồng ý cho tiến hành.

Sau vụ thảm bại tại Vịnh Con Heo, Kennedy yêu cầu McNamara thảo kế hoạch lật đổ chính quyền Cuba bằng lực lượng quân sự Hoa Kỳ. Chỉ trong mười ngày, McNamara đề nghị kế hoạch tấn công gồm 60.000 quân, chưa kể hải và không quân. Nhưng McNamara đe dọa: Chính quyền không bao giờ nên khởi sự, trừ khi có thể hoàn tất, hoặc sẵn sàng chịu hậu quả nếu thất bại. Kế hoạch đã không được thi hành.

Đầu tháng 11, 1961, Tổng thống Kennedy đã cho thi hành một kế hoạch mới, gọi là “Chiến dịch Mongoose” để phá chính quyền Castro. McNamara được chỉ định giúp Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy tìm cách thực hiện kế hoạch bằng các biện pháp như “quấy rối đảo quốc bằng gián điệp, phá hoại, tổng xáo trộn”. Chiến dịch này cũng không có kết quả.

Năm 1962, Phủ Tổng thống và Bộ Quốc phòng lại thảo chiến lược mới chống nổi dậy, để đối phó với điều McNamara gọi là chiến thuật “khủng bố, tống tiền, và ám sát” của du kích quân cộng sản. Kế hoạch này đã tạo ra những lực lượng đặc biệt như Mũ Xanh (Green Berets) và các chiến dịch bán quân sự bí mật hoạt động tại Đông Nam Á, và Nam Mỹ. Kết quả, sự thành công của lực lượng Mũ Xanh chỉ thấy rõ trong phim ảnh do John Wayne đóng.

Trong vụ căng thẳng về hỏa tiễn tại Cuba giữa Mỹ và Liên Xô, ngày 27 tháng 10, 1962, Bộ Tham mưu Liên quân Mỹ đề nghị đổ bộ vào Cuba trong vòng 36 giờ. McNamara cho rằng khi Mỹ tấn công toàn diện Cuba, thì Liên Xô cũng tấn công các giàn hỏa tiễn Mỹ tại Turky. Rồi Mỹ lại phải tấn công các tầu Liên Xô hoặc căn cứ tại Hắc Hải. Đại chiến có thể bùng nổ. Ông nghĩ như thế là nguy hiểm. Ông đề nghị có thể tránh điều này bằng cách gỡ bỏ hỏa tiễn tại Turky trước khi tấn công Cuba. Đây là ý tưởng khá lạ. Người ta thường bố trí thêm võ khí nhằm vào đối phương trước khi tấn công, nhưng Bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh đã chủ trương ngược lại.

Điều đặc biệt là thái độ sợ chiến tranh của McNamara đã tránh được chiến tranh. Kennedy đã dùng ý kiến của McNamara, đề nghị với Khrushchev là Mỹ sẽ gỡ các giàn hỏa tiễn có đầu đạn nguyên tử hướng vào Liên Xô đặt tại Turky, nếu Liên Xô chịu bốc các hỏa tiễn tại Cuba mang về. Khrushchev đồng ý. Thế là, do không biết được các thương lượng trong bí mật, dân Mỹ coi Kennedy như anh hùng đã thắng Khrushchev. Dân Liên Xô coi Khrushchev là anh hùng đã thắng Kennedy.

Là Bộ trưởng Quốc phòng của cường quốc số một về võ khí nguyên tử, khi về hưu, McNamara cho rằng “Võ khí nguyên tử chẳng ích gì cho các mục tiêu quân sự. Chúng hoàn toàn vô dụng – chỉ trừ khi làm cho đối phương sợ mà không dám dùng đến”.

*

Sau chuyến đi quan sát tình hình Việt Nam lần đầu vào tháng Tư 1962, McNamara tuyên bố cuộc chiến Việt Nam có thể giải quyết thắng lợi từ ba tới bốn năm. McNamara không đứng về phe chủ trương đảo chánh loại bỏ Tổng thống Ngô Đình Diệm; ông đồng ý cần áp lực ông Diệm để loại bỏ vai trò của ông bà Ngô Đình Nhu. Ông hối tiếc là Hoa Kỳ đã không cứu xét đề nghị trung lập toàn cõi Đông Dương theo đề nghị của Tướng Charles de Gaulle. Sau chuyến đi Việt Nam quan sát tình hình vào đầu tháng 10, 1963 cùng với Tướng Taylor, McNamara đã đề nghị, và được Kennedy chấp thuận, Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Việt Nam 1.000 quân vào cuối năm 1963. Theo McNamara, vụ Tổng thống Diệm bị giết đã làm Tổng thống Kennedy bàng hoàng, nhưng điều kinh khủng hơn là khoảng trống để lại sau cuộc đảo chính.

Sau khi Tổng thống Kennedy bị ám sát vào 22 tháng 11, 1963, tân Tổng thống Lyndon Johnson hoàn toàn trông cậy vào Bộ trưởng Quốc phòng McNamara về vấn đề Việt Nam. Johnson đã ngỏ ý mời McNamara đứng chung liên danh tranh cử vào năm 1964, nhưng McNamara từ chối. Ông nói không nên bắt đầu cuộc đời dân cử bằng cách tranh cử chức Phó Tổng thống.

Đầu tháng Tám 1964 xẩy ra biến cố còn tranh cãi đến ngày nay, đó là vụ Bắc Việt tấn công tầu Maddox, khiến Quốc hội ra nghị quyết cho Tổng thống được quyền sử dụng biện pháp quân sự đối phó với tình thế khi cần thiết, mở đầu cho Tổng thống Johnson đưa quân Mỹ vào tham chiến ở Việt Nam. Theo quan điểm của McNamara, vụ tấn công tầu Maddox lần thứ nhất vào ngày 2 tháng 8 có bằng chứng rõ ràng đã xẩy ra; vụ thứ hai xẩy ra vào ngày 4 tháng 8 thì không chắc, có thể có sai lầm trong việc nhận tín hiệu báo động.

Năm 1965, Tổng thống Johnson đã quyết định gia tăng chiến tranh tại Việt Nam. Ngoài việc đem hàng chục ngàn, rồi hàng trăm ngàn binh sĩ chiến đấu vào Nam Việt Nam, chiến dịch oanh tạc Sấm Động (Rolling Thunder) đã phát xuất 55.000 phi vụ, thả 33.000 tấn bom xuống Bắc Việt, với 171 phi cơ bị hạ. Năm sau, số phi vụ tăng lên 148.000, với 128.000 tấn bom, và 318 phi cơ bị hạ. Gặp riêng các ký giả ở Honolulu vào tháng Hai 1966, McNamara có vẻ chán nản, cho biết: “Không lượng bom nào có thể chấm dứt được chiến tranh”.

Cho đến 1966, McNamara đã có kế hoạch thiết lập chiến lũy điện tử dọc theo vùng phi quân sự, được gọi là “Đường ranh McNamara” (McNamara Line), nhưng quân Bắc Việt xâm nhập qua ngả Lào và Cao Miên, khiến đường ranh này vô dụng.

Vào thời chiến tranh cao độ, điều khá đặc biệt là, trong khi Bộ trưởng Ngoai giao Dean Rush chủ trương phải chiến thắng bằng quân sự, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara lại chủ trương nên rút lui, hay giải quyết cuộc chiến bằng thương thuyết.

Ngày 19 tháng 6, 1966, McNamara gọi điện thoại cho Tổng thống Johnson: “Càng ngày tôi càng tin rằng chắc chắn chúng ta phải có kế hoạch chấm dứt dội bom Bắc Việt”. Và “Tôi không nghĩ là chúng ta cứ mãi nhìn về tương lai và nói sẽ tăng quân thêm nữa, thêm nữa và thêm nữa – sáu trăm ngàn, bảy trăm ngàn…”

Trong khoảng thời gian từ cuối 1966 sang 1967, McNamara đã phải đối diện với nhiều áp lực phản chiến. Một buổi chiều tới nói chuyện tại lớp của Kissinger ở Đại học Harvard, McNamara đã bị sinh viên biểu tình bao vây, chửi bới, phải bỏ chạy thoát thân. Một lần khác, đi leo núi với gia đình ở Seattle, bị một phụ nữ tới nhổ nước miếng vào mặt, mắng là kẻ có bàn tay vấy máu con nít. Ngay những người rất gần gũi thân thiết, như cựu Đệ nhất Phu nhân Jackie Kennedy cũng một lần nổi giận, đấm ngực McNamara, đòi phải sớm chấm dứt chuyện chém giết ở Việt Nam.

Ngày 19 tháng 5, 1967, McNamara viết cho Tổng thống Johnson một thư dài phân tích tình hình: “Chiến tranh Việt Nam thất nhân tâm, và nó càng thất nhân tâm khi gia tăng… Hầu hết dân Mỹ cho rằng chúng ta không nên can dự sâu đậm như thế này. Tất cả đều muốn chiến tranh chấm dứt và mong đợi Tổng thống chấm dứt nó. Bất kể thắng hay không”.

Bộ trưởng Quốc phòng mà chán ghét chiến tranh, ông Johnson chịu hết nổi, ông cho rằng McNamara đã âm mưu để ủng hộ con bồ câu Robert Kennedy trong cuộc bầu cử năm 1968. Ông ngấm ngầm dàn xếp, và tuyên bố vào ngày 29 tháng 11, 1967: McNamara sẽ rời Bộ Quốc phòng để làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (World Bank). McNamara ra đi hai tháng sau, 29 tháng Hai, 1968, không biết mình đã từ chức hay bị sa thải.

Khi đã hoàn toàn thất vọng về cuộc chiến, vào tháng Sáu 1967, McNamara đã quyết định thành lập một nhóm sưu tầm và ghi lại tất cả những tài liệu Bộ Quốc phòng có thể có được về Việt Nam từ 1954 đến 1967. Kết quả là chồng tài liệu dầy 7.000 trang, một nửa là văn kiện gốc, một nửa được viết lại, và năm 1971 được viết lại lần nữa khi đăng trên các báo The New York Times, và The Washington Post, được gọi là “Tài liệu mật Bộ Quốc phòng” (The Pentagon Papers).

McNamara đã cho rằng Hoa Kỳ không thể thắng cuộc chiến Việt Nam, vì: “Không hiểu đối phương, không biết giới hạn của võ khí kỹ thuật cao (high-tech weapons), không nói thật với dân chúng, và không nắm vững thực trạng mối đe dọa của cộng sản”. Có lẽ McNamara không biết rằng chính vì không nói thật với dân chúng mà cộng sản thắng trận.

McNamara không tin vào thuyết domino được nói nhiều từ thời Eisenhower. Ông nói: “Tôi chắc là chúng ta đã phóng đại sự đe dọa. Bây giờ tôi nghi ngờ rằng nếu chúng ta không can thiệp thì những con bài domino đã đổ; tôi ngờ rằng cả Á châu đều nằm dưới sự kiểm soát của cộng sản”. Có lẽ ông McNamara đã không nghĩ tới trường hợp: nếu cộng sản Việt Nam không bị ngăn chặn trong 21 năm, nếu họ chiếm cả nước từ năm 54 hay 55, liệu Á châu có như ngày nay không?

Theo McNamara: “Chiến tranh quá nhiêu khê, nó vượt ra ngoài khả năng của trí óc con người để hiểu. Sự phán xét của chúng ta, sự hiểu biết của chúng ta không đầy đủ. Và chúng ta giết người không cần thiết”.

Một Bộ trưởng Quốc phòng phát biểu như thế. Thật vô lý! “It’s absurd!”. Đó chính là lời McNamara tự nói về mình khi được chọn làm Bộ trưởng Quốc phòng.

© Đinh Từ Thức

© talawas blog

Bình luận

26 Comments (bài “Đinh Từ Thức – McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh”)

  1. Duy_C viết:

    6/ Góp ý về việc thành lập MTGPMN với các cụ Trần Văn Tính, Lê Văn, Nguyễn Hòa….
    Việc thành lập MTGPMN thực ra là để tạo một cái bình phong cho sự hiện diện của quân đội miền Bắc tại miền Nam.
    Thật vậy, theo điều 24 của hiệp định Genève, CS miền Bắc không được xâm nhập quân sự vào miền Nam. Nhưng như đã viết, từ năm 1957 CS Bắc Việt đã khởi động chiến tranh “cách mạng” tại miền Nam qua các vụ ám sát các công chức. Năm 1959 đã thành lập Đại Đoàn 559 nhằm mở đường, vận chuyển vũ khí và nhân sự vào miền Nam. Như thế rõ ràng miền Bắc đã vi phạm hiệp định Genève. Nhưng hiệp định này đã không được tôn trọng trước đó qua việc tổ chức tổng tuyển cử. Nhưng thái độ của HK về hiệp định này mới là điều cần nói.
    HK lo ngại miền Nam sụp đổ do sự phá hoại của CS miền Bắc, thay vì tìm một giải pháp chính trị – việc này dễ dàng vì có đủ bằng chứng miền Bắc vi phạm hiệp định – lại muốn nhảy vào VN mà không nghiên cứu thất bại của Pháp trước đó. Thậm chí, HK gạt bỏ mọi đề nghị về một giải pháp khác tại VN của Pháp, mặc dầu Pháp có đầy đủ tư cách do kinh nghiệm xương máu. HK tuyên bố, vào tháng 6 năm 1961, không tôn trọng hiệp định Genève với lý do là miền Bắc đã không tôn trọng điều thứ 24 vừa nhắc. Như thế HK không bị ràng buộc bởi các điều 16 và 17: không cho phép sự hiện diện của quân đội nước ngoài tài hai miền Bắc và Nam VN. Từ đó trực tiếp can thiệp vào VN. Việc này xảy ra dưới thời Kennedy.
    Như thế, trên giấy tờ, HK chính thức can thiệp tại miền Nam (tháng 6 năm 1961) sau khi MTGPMN khai sinh (20 tháng 12 năm 1960).
    Sự hiện diện của HK tại VN trước ngày MTGPMN “khai sinh” là để thay thế nhân sự của Pháp, dưới dạng “cố vấn”. Pháp rút thì HK thay thế. Sự hiện diện này không hề vi phạm hiệp định Genève.
    Như thế, về lý, MTGPMN được “khai sinh” không có lý do. Giải phóng ai ở đây ? MTGPMN rõ ràng là do… CS miền Bắc đẻ bậy !
    Sau khi MTGPMN chào đời, chiến sự miền Nam tăng cường độ.
    Sẽ góp ý phần sau về cái gọi là “chiến lược graduated escalation của Mỹ” của ông Phạm Quang Tuấn.

  2. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Duy_C viết:”Không thấy tài liệu cho biết « người đầu tiên John Kennedy muốn mời làm Bộ trưởng Quốc phòng là Robert Lovett ».”

    Theo Wikipedia, bố của J.F Kennedy đã giới thiệu R. Lovett, nhưng Lovett từ chối:

    http://en.wikipedia.org/wiki/Robert_A._Lovett

    Và ông Đinh Từ Thức đã dựa vào câu viết này trong bài chủ:
    “After his election in 1960, President-elect John F. Kennedy first offered the post of Secretary of Defense to former secretary Robert A. Lovett; Lovett declined but recommended McNamara. Kennedy then sent Sargent Shriver to approach him regarding either the Treasury or the Defense cabinet post…”
    http://en.wikipedia.org/wiki/Robert_McNamara

    Khi được mời, McNnamara đã chọn bộ Quốc phòng thay vì bộ Tài chính, và nếu về sau McNamara nói hơi khác đi thì cũng dễ hiểu: trong hồi ký người ta không luôn nói đúng hết sự thật.

    Nhưng tôi không nghĩ McNamara “là bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh” mà thái độ ông thay đổi khi cuộc chiến ở VN , do McNamara chủ trương và điều hành, về sau thất bại, bị dư luân Mỹ chống đối. Tuy lúc đầu TT Kennedy và McNamara có vẻ chủ trương “tiến công” hơn là “phòng ngự” trong chiến tranh lạnh với khối LX, nhưng họ muốn theo đuổi cách “đáp ứng mềm dẻo ” hơn là trả đũa lớn, từ chuyện đổ bộ lên vịnh Con Heo (Cuba, 17-4-1961) đến chiến tranh ở Đông Dương : “Kennedy and McNamara rejected massive retaliation for a posture of flexible response.” (theo trang Wiki dẫn trên).

    TT Jonhson ở vào thế phải tiếp tục con đường chiến tranh đã vạch ra của Kennedy & McNamara, vì không thể tỏ ra “mềm yếu” hơn TT tiền nhiệm được dân chúng Mỹ rất ngưỡng mộ, nhất là khi Johnson phải đối đầu với ứng cử viên TT diều hâu như Barry Goldwater.

    Nhưng chính sách của Mỹ lúc đó chỉ muốn bảo vệ miền Nam VN bằng cách ngăn chặn đường xâm nhập của miền Bắc, và thắng chiến tranh du kích trong Nam bằng “ấp chiến lược” (như ở Mã Lai). Nhưng bộ đội chủ lực miền Bắc có thể vào miền Nam qua con đường mở trên nước Lào lúc đó trung lập (nằm trong vùng Pathet Lào kiểm soát), để từ 6295 người trong năm 1961 lên tới 84.800 năm 1966 (theo sách đã dẫn của Lê Xuân Khoa, trang 283). Khi cuộc chiến ở miền Nam trở thành “vận động chiến” với đông quân chính quy và nhiều vũ khí nặng thì các ấp chiến lược phòng thủ thô sơ mất hết hiệu lực. Chiến tranh chống du kích vạch ra ban đầu đã thất bại, điển hình và từ trận Ấp Bắc tháng 1 năm 1963.

    Sau chuyến đi VN tháng 12 năm 1963, McNamara đưa ra báo cáo thẩm định tình hình rất bi quan; đến tháng 8 -1964, nhân vụ tàu Maddox, Johnson cho áp dụng chiến lược mới, nhưng căn bản là kế hoạch OPLAN 34A do McNamara và ban tham mưu bộ Quốc phòng lập ra, gồm ba điểm chủ yếu: tấn công đường xâm nhập từ miền Bắc, dội bom miền Bắc mỗi khi quân VNCH và Mỹ bị tấn công nặng, và leo thang quân sự công khai.

    Sau trận ấp chiến lược Bình Giả (Bà Rịa) ngày 28-12-1964 gây thiệt hại nặng cho quân đội VNCH (lúc đó lo chuyện đảo chính hơn tác chiến), tiếp theo là phi trường Pleiku bị tấn công vào ngày 7-2-1965, Mỹ dội bom miền Bắc và đưa quân tác chiến vào miền Nam, theo kế hoạch OPLAN 34A được điều chỉnh lại. Tới lúc đó, McNamara vẫn chịu trách nhiệm điều hành cuộc chiến tranh ở VN (và không cho thấy vì sợ chiến tranh).
    Nhưng khi cuộc chiến trở nên gay go, với lính Mỹ chết trung bình 1000 mỗi tháng và miền Bắc vẫn có khả năng đưa thêm quân vào, McNamara đã tỏ ra xuống tinh thần và thất vọng: không muốn tăng thêm quân, muốn ngừng dội bom miền Bắc, và giao trách nhiệm chiến đâu lại cho lính miền Nam. Sau cùng tháng 11-1967, McNamara tỏ ý muốn từ chức.

    Nhìn chung, TT Kennedy và McNamara lúc đầu đều tỏ ra hăng hái đương đầu với cuộc chiến chống khối LX, ở Cuba hay VN, nhưng cả hai dường như không đủ sức kiên trì theo đuổi lâu dài. Kennedy đã có dự định rút bớt 1000 lính Mỹ ở VN sau ngày 11-11-1963 (nhưng khi lên thay, Johnson đã đảo ngược kế hoạch này).

  3. Duy_C viết:

    Xin được góp ý tiếp.

    4/ Về vai trò của McNamara trong vụ đổ bộ Vịnh Con Heo. Tác giả Đinh Từ Thức viết: “Nhiệm vụ thứ nhì là vụ yểm trợ người Cuba lưu vong đổ bộ tại Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) để giải phóng Cuba. Vì nội vụ đã được CIA chuẩn bị từ thời chính quyền Eisenhower, McNamara tuy có thắc mắc, cũng đồng ý cho tiến hành.”

    Tác giả viết rằng vụ đổ bộ vịnh Con Heo là “Nhiệm vụ thứ nhì” của McNamara.

    Theo một số tài liệu thì cuộc đổ bộ lên Cuba ngày 14 tháng 4 năm 1961 hoàn toàn không có dính dáng gì đến McNamara, mặc dầu ông đã làm Bộ trưởng Bộ QP từ cuối tháng Giêng 1961. Buổi họp quyết định đổ bộ lên Vịnh Con Heo chỉ có 4 người: Kennedy, Lemnitzer (tham mưu trưởng Liên Quân – Chairman of the Joint Chiefs of Staff) cùng giám đốc và phó giám đốc CIA Allen Dulles và Richard Bisell.

    Nguyên nhân thất bại vụ đổ bộ có nhiều lý do, nhưng xin không nói ở đây. Chỉ góp ý với tác giả rằng vụ đổ bộ Vịnh Con Heo không thể là “Nhiệm vụ thứ nhì” của McNamara được.

    5/ Về chiến thuật chống du kích Việt cộng. Tác giả ĐTT viết: ”Năm 1962, Phủ Tổng thống và Bộ Quốc phòng lại thảo chiến lược mới chống nổi dậy, để đối phó với điều McNamara gọi là chiến thuật ‘khủng bố, tống tiền, và ám sát’ của du kích quân cộng sản. Kế hoạch này đã tạo ra những lực lượng đặc biệt như Mũ Xanh (Green Berets) và các chiến dịch bán quân sự bí mật hoạt động tại Đông Nam Á, và Nam Mỹ. Kết quả, sự thành công của lực lượng Mũ Xanh chỉ thấy rõ trong phim ảnh do John Wayne đóng.”

    Thật vậy, đáng lẽ chiến tranh du kích là một yếu tố mấu chốt giải quyết chiến tranh VN.

    HK đến VN trong hoàn cảnh chiến tranh lạnh với LX, nhưng trong khoảng thời gian đó có nhiều biến động lớn trên thế giới đòi hỏi sự can thiệp của HK như khủng hoảng kinh đào Suez, các biến động tại Hung, xung đột Tàu quốc và Tàu cộng tại eo biển Đài Loan, vấn đề phong tỏa Bá Linh v.v… nhưng đặc biệt là sự thành công của LX trong vụ phóng phi thuyền vào không gian, vượt qua HK về kỹ thuật đã làm cho HK chấn động. HK có nhiều việc để lo cùng với việc thiếu hiểu biết về VN.

    Tình hình VN lúc đó, từ năm 1957 đến 1959, Việt cộng đã tổ chức và ám sát tới hơn 8000 nhân viên công chức của chính phủ miền Nam. Từ tháng 6 năm 1959 miền Bắc Việt đã thành lập Đại Đoàn 559 có nhiệm vụ mở đường, đưa người và vũ khí vào miền Nam, không chờ sang năm “khai sinh” thằng con MTGPMN, nói như các cụ Trần Văn Tích, Lê Văn đã góp ý. Nhưng sự giúp đỡ của HK cho chính phủ miền Nam không phù hợp với tình hình trên thực tế. Việc đào tạo quân đội cho miền Nam đã phản ảnh thực tế này. Quân đội miền Nam lúc đó được huấn luyện không nhằm chống trả hay tự vệ một cuộc chiến du kích (và cách mạng) mà chỉ nhằm chống trả một cuộc xâm lăng toàn diện của miền Bắc. Điều này cho thấy tính phản xạ “Triều Tiên” nơi quân đội HK dưới thời Eisenhower. Họ bị ám ảnh việc Trung Cộng mở cuộc xâm lăng biển người.

    Ông McNamara nhìn thấy được việc này, như tác giả ĐTT đã ghi, vào năm 1962. Nhưng đã quá trễ để có thể tổ chức lại đội ngũ quân sự miền Nam. Quân đội miền Nam đã lệ thuộc quá nhiều lối đánh giặc nhà giàu của HK: tùy thuộc quá nhiều vào sự yễm trợ của cơ khí, hỏa lực v.v… Tuy nhiên, các đơn vị thuộc Lực lượng Đặc biệt, Biệt động Quân cũng như nhiều đơn vị khác nhằm chống du kích cũng được thành lập.
    Nhưng đó là về chiến tranh du kích. Còn chiến tranh “cách mạng” thì sao?

    McNamara đã tiếp cận với VN trong thời buổi nhiễu nhương nhất. Nhiễu nhưong này đến từ sự quấy rối của CS, tạm gọi đó là chiến tranh cách mạng. Xã hội miền Nam đảo lộn: nhất đĩ nhì sư tam cha tứ tướng. Khi đĩ trở thành giai cấp cao nhất trong xã hội, trên cả sư, cả cha… chế độ đó chỉ chờ ngày sụp đổ. CS miền Bắc đã thành công, không phải về quân sự, mà về chiến tranh cách mạng, gồm có: ám sát, tuyên truyền, giật dây để thành lập các tổ chức chính trị do họ nắm đầu. Xem cuốn Chung một bóng cờ sẽ thấy rõ rệt thế nào là chiến tranh cách mạng.

    Đọc nhật ký của McNamara ta thấy ông này bị ảnh hưởng rất lớn ở các biến cố Phật giáo do CS miền Bắc giật dây. Do đó ông ta đã có những nhận định hết sức sai lầm, điển hình là vụ Phật giáo, đem đến các quyết định khai tử Đệ Nhất Cộng hòa.

    Cuộc chiến “tuyên truyền” cho thấy đến hôm nay CSVN cũng còn sử dụng rất xuất sắc. Nhưng rốt cục HK cũng thắng, vì xã hội ở đây không có mị dân, nói láo. HK thắng vì phe CS nói láo quá mức. Chết đến nơi, con thuyền XHCN đã mục đến tận bánh lái, nhưng họ đâu có biết? Họ không biết vì chỉ nói láo cho nhau nghe. Còn gì sướng miệng khi được “nổ”? và có gì sướng tai khi được nghe phỉnh? Đến Gorbachev thấy được, muốn cải tổ, thì đã quá muộn.

    Nhưng đó là việc khác. Ở đây chỉ nói đến yếu tố “tuyên truyền” trong chiến tranh cách mạng. McNamara không có nhận thức gì về khía cạnh tuyên truyền của VC. Ông này khá kịp thời nhận ra nguy cơ chiến tranh du kích nhưng lại không thấy nguy cơ của chiến tranh “cách mạng”. Nước Mỹ của ông đã trả giá rất đắt, trên 50 ngàn binh sĩ hy sinh, nhưng ông vẫn không thấy các hệ quả của chiến tranh “cách mạng”. Hồi ký của ông cho thấy việc này. Đương nhiên, miền Nam, với thành phần nhân sự lãnh đạo phần lớn được đào tạo để làm “lính đánh thuê”, do đó đã bị kết liễu như số phận của một “lính đánh thuê”, theo lối viện trợ bao nhiêu thì giữ bấy nhiêu. Không mất mới là lạ.

  4. Duy_C viết:

    Xin được góp ý cùng tác giả Đinh Từ Thức về một số dữ kiện trong bài viết:

    1/ Về tựa đề « McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh ».
    Tôi nghĩ rằng ý kiến này cần thêm nhiều thảo luận. Nhiều tài liệu cho thấy McNamara có thái độ « diều hâu » hơn là « bồ câu » (nếu xem bồ câu là sợ chiến tranh) trong cuộc chiến VN.

    Năm 1964, Thuợng Nghị sĩ Wayne Morse (Dân chủ) đã gọi cuộc chiến VN là « cuộc chiến McNamara ». McNamara không phản biện mà còn hãnh diện vì đã được nhìn nhận như thế, ông hứa sẽ làm mọi cách để thắng cuộc chiến này. McNamara nghĩ rằng sẽ có thể thắng cuộc chiến VN trong 3 hay 4 năm. Ông đã vận dụng mọi phương tiện (cho phép) để đạt đến. Việc này cho thấy McNamara « diều hâu » ngay từ buổi đầu làm Bộ trưởng QP. Nhưng thực tế lần hồi đã chứng minh suy nghĩ của McNamara là sai. Điều quan trọng là McNamara đã thấy cái sai này sớm hơn ai hết (trong nội các Johnson) và có ý định thay đổi chiến lược : rút khỏi VN. Do việc này mà ông bị Tổng thống Johnson « sa thải ».

    Không thể xem McNamara thuộc loại « bồ câu, sợ chiến tranh ». Nếu ông này như thế thì đã không có « cuộc chiến McNamara », tức cuộc chiến VN như đã thấy (từ tháng Giêng 1961 cho đến tháng Hai 1968, với những điểm cao nhất của cuộc chiến). Cũng không thể viện lý do McNamara thấy trước được hậu quả cuộc chiến và muốn theo đuổi qua một hình thức hòa bình khác để thắng mà cho ông ta là « sợ chiến tranh ». Nếu McNamara không bị cách chức, nếu ông này được toàn quyền chỉ đạo cuộc chiến VN, thay đổi chiến lược năm 1967 (hay trước đó với nhiều cơ hội), rút quân HK ra khỏi VN, tìm một phương thức « khác » (như giải pháp trung lập của Pháp, giải pháp cộng sản của Tito v.v…) thì chưa chắc HK đã đi vào con đường thất bại bi thảm (cho cả VN) như đã thấy.

    McNamara là một chuyên gia tài giỏi, có đầu óc thực tiễn, muốn giải quyết vấn đề VN như một bài toán với các dữ kiện có sẵn: làm thế nào để thắng? Nhưng trở ngại của McNamara rất nhiều, đến từ môi trường chung quanh cũng như do bản tính cố chấp cá nhân hay tính kiêu ngạo, không nghe lời người cộng tác dưới trướng. McNamara đã giải bài toán VN như thế với các dữ kiện sai. Đến khi thấy mình sai (điều này quan trọng), muốn điều chỉnh lại, thì gặp sự chống đối của «cấp trên». Nên biết Johnson là một Tổng thống « dốt, ít học » nhất trong lịch sử HK. Theo « phò » một ông vua dốt chưa chắc làm được cơm cháo gì!

    Theo tôi, câu hỏi cần đặt ra là tại sao Kennedy (và sau này, Johnson) lại chọn McNamara, một chuyên gia thuần túy, không có kinh nghiệm chiến trường, vào đảm trách vai trò Bộ trưởng Bộ Quốc phòng?

    Câu trả lời có thể là: a/ Do hiến pháp của HK và b/ tính đồ sộ của bộ quốc phòng.

    Hiến pháp của HK qui định quân đội phải đặt dưới quyền chỉ huy của dân sự. Tức là Tổng thống và Bộ trưởng Bộ QP có trách nhiệm về điều hành và các hoạt động của Bộ QP. Bộ QP HK còn là một « cơ quan » hết sức lớn. Năm 1961, Bộ QP HK đã có đến 4 triệu rưởi người, gồm 3,5 triệu quân nhân và 1 triệu dân sự. Ngân sách dành cho Bộ QP vào các năm chiến tranh lạnh cũng hết sức lớn, so với tỉ giá đô la thì không kém nhiều so với con số gần 650 tỉ hiện nay. Như thế, nhân vật « dân sự » nào sáng giá nhất vào lúc đó có thể đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ QP mà Kennedy có thể chọn lựa? Tôi nghĩ rằng Kennedy (và Johnson, vì lý do liên tục – như Obama hiện nay) không có nhiều lựa chọn.

    Lịch sử khó có con đường nào khác mà không qua McNamara. Đó là thiển ý của tôi, hy vọng tác giả và quí vị chỉ giáo thêm.

    2/ Về dữ kiện ai giới thiệu McNamara cho Kennedy? Theo tác giả Đinh Từ Thức là do Robert Lovett. Tác giả cũng cho rằng « người đầu tiên John Kennedy muốn mời làm Bộ trưởng Quốc phòng là Robert Lovett ».
    Theo hồi ký của McNamara thì không phải Robert Lovett đã giới thiệu ông với Kennedy. Người giới thiệu là John Kenneth Gallbraith, cùng nhóm bạn bè với McNamara trong Harvard.

    Cũng theo hồi ký này, Kennedy, qua đại diện là Sargent Shriver – em rể của Kennedy, đề nghị với McNamara chức vụ đầu tiên không phải là quốc phòng mà về kinh tế.

    Không thấy tài liệu cho biết « người đầu tiên John Kennedy muốn mời làm Bộ trưởng Quốc phòng là Robert Lovett ».

    3/ Về vụ khủng hoảng Nga-Mỹ về vấn đề Cuba, tác giả Đinh Từ Thức viết như sau: “Trong vụ căng thẳng về hỏa tiễn tại Cuba giữa Mỹ và Liên Xô, ngày 27 tháng 10, 1962, Bộ Tham mưu Liên quân Mỹ đề nghị đổ bộ vào Cuba trong vòng 36 giờ. McNamara cho rằng khi Mỹ tấn công toàn diện Cuba, thì Liên Xô cũng tấn công các giàn hỏa tiễn Mỹ tại Turky. Rồi Mỹ lại phải tấn công các tầu Liên Xô hoặc căn cứ tại Hắc Hải. Đại chiến có thể bùng nổ. Ông nghĩ như thế là nguy hiểm. Ông đề nghị có thể tránh điều này bằng cách gỡ bỏ hỏa tiễn tại Turky trước khi tấn công Cuba.”

    Tác giả phê bình thái độ của McNamara như sau: “Đây là ý tưởng khá lạ. Người ta thường bố trí thêm võ khí nhằm vào đối phương trước khi tấn công, nhưng Bộ trưởng Quốc phòng sợ chiến tranh đã chủ trương ngược lại.”

    Có thể những dòng phê bình này chỉ là suy nghĩ nối dài của tác giả Đinh Từ Thức trong lập luận McNamara “sợ chiến tranh” mà thôi.
    Đặt giả thuyết ông McNamara “không sợ chiến tranh”, thì ông sẽ làm thế nào?

    Nên biết chiến lược phòng thủ của HK từ thập niên 1950 (hay của TT Eisenhower) là đặt trọng tâm vào lực lượng vũ khí hạt nhân. Kennedy lúc ra ứng cử, slogan xương sống của cuộc tranh cử là chỉ trích kịch liệt Eisenhower đã “lơ là” lực lượng hạt nhân, làm cho HK kém Liên Xô. Điều này cho thấy Kennedy cũng ảnh hưởng nặng lý thuyết phòng thủ quốc gia trên sức mạnh vũ khí hạt nhân (và Liên Xô cũng không khác).

    Quyết định đặt tại Cuba các dàn hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân của LX sẽ là một đòn “chiếu tướng” ngặt nghèo, có thể bức tử HK (do thế tiên hạ thủ vi cường), nếu nó hoàn tất.

    Hành động này của LX cũng để trả đũa HK đã dựng các dàn hỏa tiễn tại Thổ Nhĩ Kỳ, ở sát sườn LX, dồn LX vào thế “rút súng sau”. HK không thể không có phản ứng. Nhưng phản ứng cách nào? Vụ việc đã xảy ra không đơn thuần như tác giả đã viết. Nhưng tóm lược là HK không có phương pháp nào hóa giải nước cờ này của LX, ngoài việc hăm dọa, theo lối Kim Dung là đồng ư qui tận, cả hai cùng chết. LX rốt cục nhượng bộ, cho các chiếc thuyền chở các hỏa tiễn đang trực chỉ Cuba quay lái trở về. Đương nhiên trong ngoại giao thì bánh ít đi bánh qui lại. HK tháo gỡ các dàn hỏa tiễn tại Thổ đang chĩa vào LX để “lại quả”.

    Ai thắng ai, HK hay LX, trong vụ khủng hoảng hỏa tiễn Cuba khó mà xác định. Tôi cho rằng nhờ những nhận định chính xác của McNamara mà thế giới đã trách được cuộc chiến hạt nhân tàn khốc. Người thắng trước tiên là các nước đứng ngoài vậy.

    Nếu ông McNamara “không sợ chiến tranh”, cương ẩu, có lẽ lịch sử chấm dứt từ năm 1962, không theo lối (rất sai) của Fukuyama, mà tất cả sẽ lập lại lịch sử, bắt đầu từ thời đồ đá!

  5. Phạm Quang Tuấn viết:

    Tôi đã đưa ra những câu hỏi hết sức cụ thể để yêu cầu ông Hòa Nguyễn dẫn chứng những lời ông nói về tôi:

    1. Tôi không đọc kỹ tài liệu RAND nên hiểu sai ở chỗ nào?
    2. Sau này đọc kỹ lại thì hiểu khác như thế nào?
    3. Tôi “lý luận trơn như mỡ” ở chỗ nào?

    Ô. Hòa không trả lời mà chỉ nói loanh quanh. Câu 1 và 2 thì ông nói: “Tôi chỉ đối ứng lại một lần khi bị công kích cá nhân ba hay mười lần”. Vậy xin ông Hòa kể rõ ra cho biết tôi công kích cá nhân ông ba hay mười lần như thế nào?

    Câu thứ 3 thì ông vẫn không trả lời mà lại bảo tôi tìm đọc chuyện Kin Dung!

    Lần sau, ông Hòa nên suy nghĩ kỹ hơn trước khi viết, để khỏi phải lẩn tránh vụng về như vậy khi bị đối chất.

  6. Hoà Nguyễn viết:

    Trả lời ông Phạm Quang Tuấn.
    Trái với thói quen của ông Tuấn theo tôi thấy thường chỉ trích hay công kích cá nhân người viết hơn nội dung bài viết (hay làm cả hai cùng lúc), tôi chỉ đối ứng lại một lần khi bị công kích cá nhân ba hay mười lần. Và chỉ “điểm” vừa tới, không bao giờ muốn đi xa.

    “Lý luận trơn như mỡ” là tôi bắt chước cách nói của nhà văn võ hiệp lớn Kim Dung của Hongkong được nhiều người VN đọc: “miệng trơn như bôi mỡ”. Một thành ngữ tôi hiểu là vừa khen vừa chê khả năng của một người nói thế nào cũng được. Ông thử tìm đọc tác phẩm ông ấy.

  7. Đỗ Kh. viết:

    Ông Hòa Nguyễn chính xác, M16E1 được phân phát từ 1964 và cải tiến thành M16A1 năm 1967. Xin lưu ý, Chữ “E” trong “M16E1” để chỉ những vũ khí thử nghiệm, trường hợp này ở một mức độ lớn và phổ biến vì nhu cầu chiến tranh nhưng (tôi) không nên đi vào chi tiết quan liêu hành chánh của Bộ Quốc phòng Mỹ mà lý sự. Ông Hòa Nguyễn đúng.

    Năm 1968, vào đợt 2 Tổng Công Kích lúc tháng 5, tôi còn được dịp tác xạ (lon nước) với vũ khí cá nhân của đại úy McKay, cố vấn trưởng Giang đoàn 27 Hải thuyền Xung phong VNCH, là 1 khẩu M14. Khẩu này khi nổ văng mù mịt, không biết là đi đâu! Tôi lúc đó là 1 thằng bé 1m50 và 35 ký nhưng quân nhân Việt của Giang đoàn cũng le lưỡi khi tác xạ, ngay cả tác xạ ở thế nằm và súng đặt, đó là chưa nói phải lê nó theo trên người, xách Carbine khỏe hơn nhiều và khi bắn còn điều chỉnh được và biết đạn đến chỗ nào.

    Qu‎ý vị nào có nhu cầu thử nghiệm ngày nay, nếu ghé Las Vegas, Nevada, có thể đến xạ trường địa phương thuê và so sánh M16, M4, M14, Garand, BAR, AK… các loại, và cả đại liên cá nhân. Mỗi khẩu thuê mướn tốn vài chục USD và nếu có tự bỏ tiền túi ra mua đạn mới thấm thiá việc bắn liên thanh nói chung tốn phí đến chừng nào mà kết quả là chẳng trúng gì!

    Chuyện đáng nói là than phiền như ở đây giống một thiếu niên 18 trách bố không mua cho xe con Lexus “giống như của bố lái”. Thứ nhất, tao là bố mày; và tao đã mua cho mày một cái Dylan! Bạn mày nó đi một cái xe đạp Trung Quốc! Nhưng nó có một đôi giày Adidas ba gạch xịn hơn con nhiều, chừng nào bố cho con một cặp Nike để con còn đỡ phải tủi thân đây?

    Tại Quảng Trị 1972, một đại tá Mỹ đã nhẹ nhàng nhắc với một chỉ huy VNCH (tôi không nhớ có phải là tướng Lân?) , ông có biết là ông hiện giờ đang cầm trong tay và điều động hỏa lực hùng mạnh nhất thế giới (hải pháo và phi pháo của Hạm đội 7, Không quân chiến lược B52)? Ông có biết không?

    Ở Afghanistan, giai đoạn đầu kháng chiến (1978) và cho đến khi Hồng quân rút khỏi, các Mujahid nhiều người còn sử dụng súng trường Lee-Enfield bắn mỗi viên lại phải lên đạn bằng tay (bolt action) của thời Đệ nhất Thế chiến. Tôi không có con số chính xác bao nhiêu %… nhưng nhìn các ảnh chụp của giai đoạn thấy còn rải rác. Vậy mà họ vẫn thắng được quân đội cộng sản!

  8. Phạm Quang Tuấn viết:

    Hoà Nguyễn chọt ngang: “Sau cùng, dường như sau khi đọc kỹ tài liệu tự giới thiệu, cách nhìn của ông Tuấn đã thay đổi nhiều.”

    Ông Hòa nói rằng trước đó thì tôi không đọc kỹ nên hiểu sai, và sau này đọc kỹ lại thì hiểu khác. Vậy xin ông Hòa cho biết tôi đã hiểu sai như thế nào, bây giờ hiểu khác như thế nào. Cũng nhân tiện xin ông Hòa cho bết là tôi “lý luận trơn như mỡ” ở chỗ nào?

    Ông Hòa nên chịu khó tập trung vào vấn đề đang trao đổi, thay vì tập trung vào nói xấu cá nhân một cách bâng quơ và lươn lẹo, chỉ vì người ta không đồng ý với mình.

  9. Hoà Nguyễn viết:

    Nhờ Ông Đỗ Kh. tôi biết tên đúng của súng cá nhân bộ binh miền Nam trang bị trước 1968 là Garand.
    Nhưng M16 được quân đội Mỹ sử dụng từ năm 1964, chứ không phải năm 1967 như Đỗ Kh. nói:
    ” The M16 entered U.S. Army service in 1964″.
    http://en.wikipedia.org/wiki/M16_rifle

    Trong các cuộc chiến tranh đã xảy ra, ưu thế của Mỹ và đồng minh là vũ khí, hoà lực, còn cái dũng cảm, sẵn sàng đổi mạng (và địa thế thuận lợi) là ở phía bên kia. Khi nào bị mất ưu thế hỏa lực đó (có lẽ phải từ gấp đôi trở lên) là phía Mỹ thua. Một căn cứ Mỹ hay của miền Nam có 10 khẩu pháo và đủ đạn để bắn (vu vơ) ra 10 phương không lợi hại bằng 1 khẩu pháo đặt ở đâu đó không ai biết chắc bắn một số đạn giới hạn vào một vị trí cố định có toạ độ được biết chính xác.

    Thử xét trận đánh Ấp Bắc ở Mỹ Tho vào ngày 2-1-1963 mà theo Nguyễn Đức Phương trong “Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập” đã diễn tiến như sau. Phía MTGP tham dự là hai đại đội thuộc tiểu đoàn Tây Đô, thêm một trung đội và một khẩu đội trang bị súng cối 60 ly. Phía VNCH là lực lượng hành quân của sư đoàn 7 bộ binh, trong đó 1 tiểu đoàn được trực thăng vận, và thêm nhiếu thiết vận xa M-113. Về sau còn được tiểu đoàn 8 nhảy dù đến tăng viện. Kết quả trận đánh theo báo cáo của sĩ quan cố vấn Mỹ : VNCH chết 63, bị thương 109, Mỹ chết 3 bị thương 6, VC chết 41, bị thương không rõ, tù binh 36.
    Như vậy, dù nắm ưu thế về trang bị, hỏa lực và quân số, phía VNCH cũng không thắng rõ rệt (nếu không nói bị thiệt hại nhiều hơn với 4 trực thăng rớt).

  10. Đỗ Kh. viết:

    Ông Nam Phan và ông Hòa Nguyễn trong các phản hồi trước cho người đọc cảm tưởng (rất phổ biến trong một số dư luận) là về mặt trang bị vũ khí, Hoa Kỳ đã cư xử dè sẻn và không xứng đáng với VNCH, nếu không nói là bần tiện. Ở đây tôi xin chỉ đề cập đến phạm vi cụ thể này mà không bàn đến chính sách hay chiến lược của tổng thống này hay bộ trưởng kia. Tôi cũng xin giới hạn ở vũ khí cầm tay của bộ binh cho đến 1968 như các thí dụ đã được đưa ra để điển hình.

    Dĩ nhiên, cho đến thời điểm này miền Bắc không có chiến xa, thiết giáp tại mặt trận, không có hải pháo, phi pháo và địa pháo cũng không được hùng hậu bằng miền Nam. A, nhưng mà người Mỹ chơi xấu, không cho ta AK 47 bắn liên thanh! Chuyện trực thăng, phi cơ oanh tạc, tàu chiến, xe bọc sắt của Hoa Kỳ quân viện cho miền Nam có bắn được liên thanh hay phải bắn từng viên một đì đoàng, tôi cũng xin không nói đến.

    Trước hết, nếu Hoa Kỳ không trang bị cho miền Nam AK 47, là vì Hoa Kỳ không có AK 47 hay là tương đương. Thời Đệ nhị Thế chiến, vũ khí cá nhân (cầm tay) của bộ binh Mỹ là súng trường Garand (dùng đạn súng trường mạnh 30-06) Carbine M1(dùng đạn súng trường nhẹ .30 C). Hai loại này là súng bắn từng viên. Bên cạnh, ngay trong đơn vị cấp tiểu đội, có súng bắn liên thanh là tiểu liên Thompson, M3A1 (dùng đạn súng ngắn.45, tầm gần). Cấp tiểu đội hay trung đội, có trung liên BAR, cũng liên thanh nhưng dùng đạn tầm xa 30-06. Đại liên thì đã là vũ khí cộng đồng.

    Pháp, Anh, Đức, Liên Xô cùng thời cũng trang bị tương đương, nghĩa là trung liên + súng trường + súng trường nhẹ (carbine) + tiểu liên. Súng ngắn là súng tự vệ, cũng xin không đề cập, chuyện hài là trong cả chiến tranh Thái Bình Dương, chỉ có một người bị thương vì súng ngắn và là do ông ta sơ ý tự bắn vào chân.

    Năm 1944 và ở mức thử nghiệm muộn màng, quân đội Đức đề ra một khái niệm vũ khí bộ binh cá nhân mới, là “súng tấn công” (Sturmgewehr). Bố là súng trường và mẹ là tiểu liên, khẩu này dùng một loại đạn lai căng mới và như thế, thay vì dùng 4 thứ súng và 3 thứ đạn như trước, nay chỉ cần 1 thứ đạn chung và 2 loại súng, súng tấn công và trung liên.

    Chế độ Quốc xã cáo chung nhưng 1 trung sĩ Hồng quân dựa vào đó mà phát minh 1 vũ khí bền hơn và rẻ hơn, đơn giản và tiện dụng. Khẩu AK (Automat Kalashnikov) ra đời năm 47 và sẽ để lại dấu ấn trên thế kỷ, trong tay các lực lượng quân sự khắp nơi và ngay cả trên cờ hay huy hiệu của các phong trào tranh đấu và giải phóng như là 1 biểu tượng. Giờ AK47 và các phiên bản Tiệp, Hung, Trung Quốc, Israel, Ai Cập v.v… vẫn là vũ khí phổ biến nhất thế giới.

    Đến 1957, quân đội Mỹ chuyển sang khái niệm “súng dài tấn công” (assault rifle) này, khẩu M14 dùng đạn mới .308 nhưng là một thất bại kỹ thuật khi sử dụng trên chiến trường Việt Nam. Trong 10 năm ngắn ngủi, cuối đời M14 phải sửa đổi thành súng bắn từng viên vì không hiệu quả lúc bắn mù mờ liên thanh. Ngoài ra, đây là 1 vũ khí lớn và nặng hơn Garand, Carbine và Thompson, không phù hợp với vóc người Việt.

    Đến 1967 khẩu M16 (đạn .223) mới chính thức là vũ khí của quân đội Mỹ và khi Mậu Thân đến, một thiểu số đơn vị Mỹ vẫn sử dụng M14 trong khi một số nhỏ đơn vị VNCH đã được phân phối M16.

    Ông Nam Phan có “ngỡ ngàng” trong thời gian khá sớm của chiến tranh, nếu phải lựa chọn giữa võ trang “gần tương đương” và hỏa lực tổng quát của VNCH hoặc “vũ khí tối tân hơn” của bên kia thì tôi nghĩ ông sẽ chọn hỏa lực của miền Nam, chứ chẳng dại gì mà đổi yểm trợ của B52 lấy (tên lửa) B40 hay là Hạm đội 7 để lấy AK 47.

  11. Hoà Nguyễn viết:

    Cách ông Lê Văn “phản bác” ngày khai sinh của MTGPMN tôi cho là cù nhầy, sau khi thấy có từ “đại cù lần” dùng cho TT Mỹ Johnson. Cho nên sau góp ý này tôi không “cãi” gì nữa.

    Thật sự ai cũng biết, và có bằng chứng hẳn hoi, John F. Kennedy chính thức làm TT Mỹ ngày 20-1-1961, và lịch sử ghi ông (lúc đầu) tiếp tục đường lối của TT Eisenhower ở Đông Dương (đặc biệt ở Lào và VN). Nói tiếp tục (và mở rộng) sự can dự quân sự vì trong thời TT Kennedy số cố vấn Mỹ trong quân đội VNCH tăng lên tới 16.300, và cho lực lượng đặc biệt Mỹ vào miền Nam VN (trước chỉ hoạt động ở Lào). TT Kennedy cũng là người cho dùng chất hóa học khai hoang ở VN. Tóm lại, sự can dự của Mỹ vào chiến tranh ở VN thời Kennedy trực tiếp hơn với cường độ cao hơn thời Eisenhower (để đáp ứng với hoạt động ngày càng tăng của “VC” theo người Mỹ gọi).

    Vậy nếu cần viết chính xác thì: TT Kennedy (và McNamara, Johnson) can dự vào chiến sự ở VN 20 ngày sau năm 1960.

    Sau cùng, dường như sau khi đọc kỹ tài liệu tự giới thiệu, cách nhìn của ông Tuấn đã thay đổi nhiều.

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>