Phỏng vấn giáo sư Nguyễn-Võ Thu-Hương
23/06/2009 | 10:52 chiều | 4 Comments
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Ironies of Freedom > Nguyễn Võ Thu Hương > Tân Tự Do
Nguyễn-Võ Thu-Hương (nhà văn Nguyễn Hương), giáo sư (assosiate professor) Văn hóa – Ngôn ngữ Á châu và Châu Á học của Đại học California, Los Angeles, là tác giả cuốn The Ironies of Freedom – Sex, Culture, and Neoliberal Governance in Vietnam (Nghịch lý của Tự do – Tình dục, Văn hóa, và sự cai trị Tân Tự do tại Việt Nam), do nhà xuất bản University of Washington ấn hành hồi cuối năm 2008.
Sau khi dịch sang Việt ngữ phần Kết luận của tác phẩm nói trên, người dịch đã thực hiện một cuộc phỏng vấn giáo sư Nguyễn-Võ Thu-Hương về cuốn sách và một số vấn đề chánh trị khác. Xin giới thiệu bản dịch và bài phỏng vấn đến độc giả talawas blog.
______________
Cao Hùng Lynh (CHL): Nhan đề cuốn sách là Nghịch lý của Tự do – Tình dục, Văn hóa, và sự cai trị Tân Tự do tại Việt Nam. Xin chị giới thiệu một cách khái quát về thuyết Tân Tự do và sự cai trị dựa trên lý thuyết này. Phải chăng sự cai trị như thế đã đưa đến những hậu quả mà chị gọi là “những nghịch lý của tự do?”
Nguyễn-Võ Thu-Hương (NVTH): Trước hết, xin được nói vài dòng về lối cai trị trong chủ nghĩa Tự do cổ điển từ thế kỷ 18, có nghĩa là lối cai trị chủ đạo của Tây phương trong thời hiện đại. Có một số lý thuyết gia cho rằng lối cai trị này thuyết phục các đối tượng của nó bằng cách tự giới hạn quyền lực ở hai mặt. Một, chủ thuyết Tự do giả định rằng quyền tự do của mỗi cá thể bất khả xâm phạm. Hai, lối cai trị này nhìn nhận rằng địa hạt xã hội-kinh tế vận hành theo động lực riêng, thay vì theo lý lẽ của nhà nước (raison d’état). Đây thật ra là hai mặt của một vấn đề. Nếu mỗi cá thể đều có quyền thể hiện ý chí tự do, thì ta chỉ có thể biết hiện thực xã hội qua một loại tri thức chiêm nghiệm thay vì áp đặt một sự thật tiền nghiệm về nó. Có nghĩa là lối cai trị này thuyết phục bằng chính sự tôn trọng quyền tự do của mỗi cá nhân. Dĩ nhiên đây là mô hình trong lý thuyết, và bối cảnh chủ nghĩa thuộc địa trong suốt thế kỷ 19 và phần lớn thế kỷ 20 cho thấy lối cai trị tự do này đã đòi hỏi một kiểu thể hiện quyền lực rất khác tại các thuộc địa của các đế quốc Tây phương. Và dĩ nhiên là lối cai trị đặt nền tảng trên quyền tự do cá nhân đã đòi hỏi một loại giáo dục rất tỉ mỉ song hành trong các bối cảnh mang tính định chế, từ trường học, cho đến bệnh viện, cho đến xưởng thợ, cho đến nhà tù để tạo ra những chủ thể cá nhân có khả năng tự giám sát hành vi của mình, như Foucault vẫn nói.
Nhưng dù sao đi nữa thì đây vẫn là mô hình cai trị rất đặc thù của chủ nghĩa Tự do qua nhiều giai đoạn, với nhiều mức độ can thiệp khác nhau đến từ nhà nước. Từ thập niên 1980 trở về đây, các lý thuyết gia theo chân Foucault đã chỉ ra một mô hình biến dạng mà họ gọi là Tân Tự do, đặt trọng tâm vào quyền tự do mua bán và tiêu thụ trong một nền kinh tế thị trường. Có nghĩa là nhà nước giảm thiểu tối đa các hành vi can thiệp vào kinh tế, phát triển tối đa quyền tự do thương mại. Luồng sóng Tân Tự do này ta thấy rõ nhất vào thời Tổng thống Ronald Reagan ở Hoa Kỳ và Thủ tướng Margaret Thatcher ở Anh, sau đó lan ra khắp thế giới trong nền kinh tế đang toàn cầu hóa ở mức độ triệt để hơn. Không lâu sau, người ta cũng để ý thấy hai nước triệt để đề cao quyền tự do này lại xây thêm nhiều nhà tù. Ở Mỹ, 7% dân số trưởng thành bị cầm tù trong hình thức này hay hình thức khác, đó là chưa tính các trẻ vị thành niên và các nhà tù dành cho di dân, một tỷ lệ giam cầm mà có người cho rằng chưa từng có trong lịch sử loài người. Vậy chúng ta phải nghĩ gì về hiện tượng mâu thuẫn này?
Quan sát trường hợp Việt Nam được cai trị trong một cung cách thích nghi khi hội nhập vào nền kinh tế Tân Tự do toàn cầu, tôi kết luận rằng chủ nghĩa Tân Tự do trong kinh tế đòi hỏi một mô hình cai trị mang tính nghịch lý: một mặt, nó phải khuyến khích tự do mậu dịch với bên ngoài, tự do mua bán và tiêu thụ trong nước bằng cách sử dụng một số lối can thiệp vào các vấn đề xã hội như mại dâm bằng một cung cách tương đối không gây khó khăn cho việc tạo các chủ thể có khả năng tự do chọn lựa để có thể ít ra biến thành các chủ thể lựa chọn tiêu thụ các mặt hàng. Nhưng đồng thời, nó cũng phải sử dụng các kỹ thuật đàn áp để có thể tạo các chủ thể lao động (sản xuất) giá rẻ cho nền kinh tế toàn cầu. Từ đó, tôi khái quát hóa lên rằng cơ chế cai trị phù hợp với nền kinh tế Tân Tự do đòi hỏi vừa kỹ năng khuyến khích tự do vừa kỹ năng đàn áp. Khuyến khích ai tự do, đàn áp ai, trong cung cách và lĩnh vực nào thì ta phải nghiên cứu cụ thể điều kiện lịch sử đặc thù của mỗi quốc gia. Hoa Kỳ sẽ đàn áp thành phần dân chúng khác với Việt Nam, và trong một cung cách cũng khác với Việt Nam, một phần vì lịch sử của nó khác Việt Nam (nó không có lịch sử độc đảng độc quyền chính trị và một hệ thống công an như Việt Nam), và vì chỗ đứng chủ đạo của nó trong kinh tế toàn cầu cũng khác với chỗ đứng vòng ngoài của một cựu (và tân) thuộc địa hậu cộng sản như Việt Nam.
CHL: Mô hình cai trị Tân Tự do, như chị mô tả ở trên, khi phát triển tối đa quyền tự do thương mại, đã dẫn đến việc hạn chế / vi phạm các quyền tự do cá nhân. Việc hạn chế / vi phạm này là hậu quả của mô hình cai trị Tân Tự do, hay là một yếu tố cần thiết để nền kinh tế Tân Tự do có thể vận hành một cách hữu hiệu nhất? Dù nằm ở trường hợp nào – hậu quả hoặc yếu tố cần thiết – thì liệu đây có phải là một nội dung mà nhà cầm quyền Hà Nội có thể dùng để biện minh cho các hành động đàn áp của mình? Nếu như vậy, theo chị, sự biện minh ấy có xác đáng hay không?
NVTH: Trong trường hợp này, tôi không nhìn thấy một sự khác biệt đáng nói về sự thiếu tự do trong các lĩnh vực ngoài kinh tế thương mại là ‘hậu quả’ hay là ‘yếu tố cần thiết’ của nền kinh tế Tân Tự do. Khi chỉ vào hiện tượng đàn áp trong cai trị song hành với kinh tế Tân Tự do, đương nhiên là tôi đang đứng vào chỗ đứng của giá trị chính trị dân chủ tự do. Tôi hy vọng phân tích của tôi có thể dùng vào việc phê phán độc tài trong tương quan với kinh tế Tân Tự do ở khắp nơi trên thế giới. Tôi có nhỉn thấy Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam dựa vào mâu thuẫn này trong chính trị và kinh tế Tân Tự do để củng cố mục đích độc quyền chính trị. Đồng thời, nền kinh tế toàn cầu cũng cần một nhà nước có khả năng đàn áp để phục vụ nhu cầu của nó như đã nói ở trên. Không có lý do gì đây là một quan sát đáng nói nếu chúng ta không đang nói từ chỗ đứng của giá trị dân chủ tự do.
Việc nhà nước Việt Nam dựa vào nghịch lý của Tân Tự do để biện minh cho chính sách đàn áp các quyền tự do dân chủ thì chúng ta chỉ có thể phán xét xem nó có chính đáng hay không từ một giá trị chính trị nào đó, chứ không thể cho rằng nó xác đáng hay không. Đảng Cộng sản và nhà nước Việt nam là một chủ thể. Người quan sát là một chủ thể. Các công dân là những chủ thể. Họ phải quyết định có chấp nhận một thể chế thiếu tự do dân chủ hay không dựa trên quyền lợi và giá trị chính trị của họ. Nếu họ không chấp nhận thì có thể họ phải có quyết định nào đó phù hợp với suy nghĩ chính trị này.
Thường người ta hay giả định rằng khi có kinh tế thị trường thì tự do dân chủ sẽ theo chân. Người ta nhận diện nhiều yếu tố: sự hình thành của một giai cấp tư sản đòi hỏi có tiếng nói chính trị, một nền luật pháp định hình để bảo vệ các quyền tư hữu tách biệt ra khỏi mục tiêu chính trị hạn hẹp của tập đoàn cầm quyền, lưu lượng thông tin sẽ dồi dào hơn và những giá trị bên ngoài sẽ tràn vào, v.v. Tôi nghĩ ở Việt Nam, một yếu tố quan trọng mà nền kinh tế thị trường mang lại cho số đông quần chúng là họ không còn phải hoàn toàn lệ thuộc vào nhà nước trong lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên, công trình quan sát và phân tích của tôi không cho phép tôi tin rằng kinh tế thị trường tự nó nhất thiết phải dẫn đến dân chủ tự do. Nó có thể mang đến những điều kiện thuận lợi nào đó trong những bối cảnh nhất định như vừa nói, nhưng nó không phải là điều kiện đủ để có một thể chế dân chủ tự do. Nếu chỉ nhìn vào lịch sử kinh tế tư bản tại Âu châu, chúng ta cũng không thể từ chối thấy từng chuỗi dài những cuộc tranh đấu gay gắt trong chính trị, xã hội để có thể định chế hóa những giá trị dân chủ tự do. Sau đó là một lịch sử liên tục canh giữ và tranh đấu để duy trì và phát triển những giá trị này trong đời sống chính trị và xã hội. Gần Việt Nam hơn là trường hợp phong trào tranh đấu dân chủ (minju) tại Nam Hàn – một xứ theo kinh tế tư bản và nằm trong quỹ đạo của Mỹ và Tây phương trong cục diện Chiến tranh Lạnh. Suốt hơn 20 năm, tại đây đã xảy ra những đợt tranh đấu dân chủ liên minh giữa các giới trí thức và công nhân rất quyết liệt và đã thường xuyên bị các chính phủ độc tài quân phiệt đàn áp đẫm máu. Theo Stanford Korea Democracy Project thì từ 1970 cho đến 1993, đã xảy ra khoảng 5.000 vụ biểu tình chống đối và đàn áp. Hiện thời, chúng ta lại phải đối diện với một hình thức kinh tế tư bản mang màu sắc Tân Tự do như đã nói với những mâu thuẫn về tự do gay gắt hơn cả nền kinh tế tư bản cổ điển. Dân chủ tự do là một hệ giá trị đòi hỏi ý chí và hành động, nó không phải là một hiện tượng mang tính tất yếu.
CHL: Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn “tất yếu hóa” sự xuất hiện, vai trò lãnh đạo và sự thành công của nó trong hầu hết các lãnh vực khác nhau của đời sống. Gần đây, như chị đã mô tả trong phần Kết luận của tác phẩm nói trên, một lần nữa, thông qua cuộc triển lãm “Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp” được tổ chức vào năm 2006, Đảng Cộng sản Việt Nam lại dùng tính tất yếu để biện minh cho tình trạng thiếu tự do trong thời kỳ bao cấp; theo đó, “việc không có sự chọn lựa trong tiêu thụ hàng hóa được cuộc triển lãm thuật lại như là sự không có lựa chọn trong lãnh vực sáng tác văn nghệ[1]. Điều này cho thấy ngoài việc đồng nhất tự do tiêu thụ hàng hóa với tự do sáng tác, Đảng Cộng sản còn hàm ý rằng “sự dồi dào hiện thời của hàng hóa” nghiễm nhiên là một yếu tố tất yếu sẽ đem lại tự do cho xã hội Việt Nam[2]. Trong khi đó, chị cho rằng “dân chủ tự do là một hệ giá trị đòi hỏi ý chí và hành động, nó không phải là một hiện tượng mang tính tất yếu.” Xin chị vui lòng nói thêm về “tính tất yếu,” và liệu giữa nó và nền chính trị độc tài có mối liên hệ nhân-quả nào không?
NVTH: Tất cả các đảng cộng sản đều cho rằng lịch sử mang tính tất yếu. Có hai lý do.
Một là Mác và các môn đồ của ông gọi chủ thuyết Mác là “xã hội chủ nghĩa khoa học” để phân biệt với những lý thuyết xã hội chủ nghĩa trước đó mà Mác gọi là “xã hội chủ nghĩa không tưởng.” Không hề thoát khỏi tư tưởng Khai sáng, Mác đã khoa học hóa cái nhìn của ông về sự vận hành của lịch sử loài người, có nghĩa là giả định lịch sử chuyển biến theo những quy luật nào đó – trong trường hợp này thì là sự vận hành của quan hệ sản xuất mang tính biện chứng: phương pháp sản xuất ở mỗi thời kỳ quyết định quan hệ sản xuất (thí dụ giai cấp tư bản và giai cấp công nhân), quan hệ sản xuất ở hạ tầng cơ sở tương tác với chính trị và văn hóa ở thượng tầng cơ sở, dẫn đến hình thái xã hội, nảy sinh mâu thuẫn và thay đổi trong phương pháp sản xuất, v.v. Những lý thuyết gia Mác-xít thường lưu ý chúng ta về phương pháp luận biện chứng. Nhưng biện chứng luận trong trường hợp này thật ra chỉ có công dụng của một loại nước hoa làm sang cho một lý luận đã tự khoa học hóa một cách thô thiển, vì biện chứng luận không hề thay đổi cái nhìn Mác-xít về tính tất yếu của vận hành lịch sử tiến đến một kết cục hợp lý là xã hội cộng sản. Đây là sử quan hướng về mục đích sau cùng (teleology) của tư tưởng Khai sáng.
Hai là Lê-nin, trong mong muốn làm cách mạng, đã thay thế giai cấp vô sản bằng đảng cộng sản trong tiến trình của lịch sử. Có nghĩa là nếu trước đó trong chủ thuyết Mác, giai cấp vô sản đóng vai tuồng chủ thể thay đổi lịch sử như nó tất yếu phải thay đổi (ý chí của chủ thể lịch sử này trùng lắp lên vận hành tất yếu của lịch sử – đây là nghịch lý rất lớn trong chủ thuyết cách mạng vô sản), thì bây giờ trong chủ thuyết Lênin-nít, đảng cộng sản chính là chủ thể làm cho ý chí này hình thành. Đảng là hiện thân của ý chí chủ thể trong một lịch sử tất yếu.
Còn đoạn phân tích trong quyển sách nhắc đến cuộc triển lãm “Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp” chỉ lưu ý bạn đọc nhà nước đã tán dương sự hội nhập của Việt Nam vào kinh tế thị trường toàn cầu, đánh tráo tự do lựa chọn hàng hóa với tự do bằng cách nhìn nhận và đặt vào quá khứ cái thời mà người ta thiếu sự lựa chọn tiêu thụ hàng hóa vì khan hiếm trong nền kinh tế chỉ huy và bao cấp. Tôi không nghĩ hành vi này liên quan đến khái niệm ‘tất yếu’ như đã nói ở trên. Đây là một trò ảo thuật giản đơn hơn lý luận ‘tất yếu’ rất nhiều. Ý họ chỉ muốn mọi người cảm thấy mình đang có tự do vì đang có thể chọn lựa mua mì-chín hay iPhone khi không còn khan hiếm hàng hóa. Dĩ nhiên ảo thuật gia nhà nước muốn ta nhìn vào khả năng mua mì-chín từng ký lô mà quên đi rằng tự do tiêu thụ khi có tiền cũng không nhất thiết cho ta cái quyền mua một quyển sách nào đó dạy tranh đấu bất bạo động trong tiến trình đi từ độc tài đến dân chủ, như vừa thấy trong vụ tịch thu quyển sách của Gene Sharp trong cuộc xét nhà luật sư Lê Công Định.
Về tương quan giữa tất yếu và độc tài tôi nghĩ nó nằm trong một đề tài rộng hơn. Hiện tôi đang cố viết một quyển sách khác liên quan đến tương quan giữa tri thức luận / bản thể luận và chính trị, nhất là tri thức luận của chủ nghĩa duy vật và chính trị độc tài. Có lẽ xin trả lời về đề tài này trong một câu hỏi khác vì khó tóm tắt trong khuôn khổ của chủ nghĩa tất yếu.
CHL: Và đây là “câu hỏi khác” để chị tiếp tục trình bày: Đề tài của cuốn sách chị đang viết – tương quan giữa tri thức luận / bản thể luận và chính trị độc tài – sẽ làm sáng tỏ tương quan giữa tất yếu và độc tài mà chị chưa nói hết trong câu hỏi trên?
NVTH: Tôi đang cố gắng thực hiện công trình nghiên cứu lý luận về tính vật chất và phi vật chất trong thế giới đương đại. Tôi muốn tìm hiểu xem cung cách người ta nhìn cũng như sử dụng tính vật chất như thế nào khi nó đã bị chi phối bởi 2 hiện tượng liên quan đến toàn cầu hóa đang diễn ra khắp nơi trên mặt đất.
Thứ nhất, nền kinh tế toàn cầu ngày càng bị ảo hóa, hay ‘ma hóa.’ Hãy tạm gọi nó là “kinh tế ma” (spectral economy) hay “kinh tế của cái chết” (necro-economics). Kinh tế sản xuất và mua bán hàng hóa vật chất bây giờ chỉ còn một phần rất nhỏ của tổng số lưu lượng kinh tế. Phần còn lại là thị trường mua bán vốn, tiền tệ, v.v. Trong 3 ngày thì lưu lượng tiền mua bán các sản phẩm tài chính (dựa trên giá trị ảo của sinh hoạt đầu cơ) bằng một năm tổng sản lượng quốc gia của Mỹ. Chúng ta đã nhìn thấy tầm cỡ và hậu quả của nền kinh tế này trong đợt khủng hoảng tài chánh hiện đang xảy ra trên toàn thế giới, gây ra cơn khủng hoảng tư bản lớn nhất kể từ đợt Depression ở thập niên 1930. Ngay cả trong từng món hàng hóa vật chất thì cũng đã bị lồng những cái bóng vào trong đó. Thí dụ, một đôi giày Nike, người ta có thể trả lương cho nhân công tại Việt Nam hay Indonesia một ngày dưới 2 đôla, vắt kiệt sức sống của công nhân, nhưng sẽ trả ngôi sao thể thao Michael Jordan trên 30 triệu để quảng cáo cho món hàng. Như thế số tiền bỏ ra để sản xuất món hàng vật chất rất nhỏ so với tiến trình lồng vào nó một cái bóng. Trong trường hợp này, cái bóng của thân thể Michael Jordan cường tráng đi theo đôi Nike như một bóng ma, che đi cái bóng của người lao lực tạo ra sản phẩm.
Thứ hai là sự có mặt nổi bật của cái chết trong chính trị (necropolitics) hiện đại, và những bóng ma trong lịch sử sau đó. Một mặt, chính trị trong thời hiện đại được tổ chức xoay quanh mục tiêu bảo vệ sự sống. Nếu trước đó, quyền lực của nhà vua trong một thể chế quân chủ là quyền giết chết những thần dân nào đó, thì từ sau thế kỷ 18 và những biến cố như cuộc các mạng Pháp, quyền tự chủ đời sống coi như phân phát ra cho mỗi người dân trong tư cách là một chủ thể độc lập. Mỗi chủ thể cá nhân đều đương nhiên có quyền sống và chỉ giao lại một số quyền cho nhà nước để sự sống của nó được bảo vệ. Quyền lực của nhà nước hiện đại nằm trên cơ sở lý luận này, cho dù đó là một nhà nước dân chủ tự do hay nhà nước xã hội chủ nghĩa. Phận sự chính của nhà nước hiện đại là bảo vệ an ninh sự sống cho cá nhân và cộng đồng bằng bằng những biện pháp kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, y tế và sức khỏe, v.v. Một mặt khác, nhiều nhà phê phán lý luận cũng đã chỉ ra rằng chính trị hiện đại đẫm máu hơn tất cả những loại chính trị trước nó. Ta cứ thử nhìn vào những biến cố chính trị từ cuối thề kỷ 18 đến nay. Thuộc địa, chiến tranh, cách mạng, trại tập trung, diệt chủng, khủng bố. Bắt đầu ở giây phút biểu tượng nhất của điểm khởi đầu chính trị hiện đại là cuộc Cách mạng Pháp năm 1879, chúng ta đã thấy mâu thuẫn này. Một mặt, cuộc cách mạng này chặt đầu vua để trả lại chủ quyền sống tuyệt đối cho mỗi chủ thể công dân. Mặt khác, nó cai trị bằng cái chết và sự khủng bố của cái chết hơn bất cứ thể chế nào trước đó. Foucault có thể cho rằng chính vì chính trị hiện đại phải biện minh cho chính nó bằng tư tưởng đề cao quyền sống, cho nên cái chết trở nên một vũ khí hay phương tiện cai trị cực kỳ hiệu quả. Agamben có thể cho rằng mâu thuẫn này có mặt ngay trong định nghĩa chính trị theo truyền thống Hy Lạp (chính trị phải mang đến “đời sống tốt,” thay vì chỉ mang đến “đời sống”), và sau đó là trong lịch sử Tây phương, chờ ngày hình thành trên bình diện rộng lớn của thời hiện đại, điển hình là trong hiện tượng trại tập trung như của Đức Quốc xã.
Ở thời điểm của chúng ta hôm nay, thì nền kinh tế ma Tân Tự do phải được chính trị bảo vệ bằng nhà tù ở khắp nơi; bằng công an ở Việt Nam và Trung Quốc; bằng xe tăng ở Thiên An Môn; bằng M-16/AK-47/Uzi ở Tây Tạng, Miến Điện, Do Thái/Palestine, Phi châu; bằng tàu chiến Trung Quốc ở Nam Hải; bằng trấn nước/water-boarding và giải độ/rendition ở những vùng kiểm soát hoặc ảnh hưởng của Mỹ; bằng smart bombs ở Iraq, bằng drones và bunker buster bombs ở A-Phú Hãn và Pakistan. Đồng thời, thử thách lại kinh tế toàn cầu và chính trị hiện đại cũng chính là cái chết hằng loạt như 9/11 ở World Trade Center.
Trong bối cảnh kinh tế và chính trị thời đại chứa đầy cái chết, thì ta phải nhìn lịch sử như thế nào? Lịch sử ở đây nằm trong cả ý nghĩa quá khứ, lẫn ý nghĩa sử quan. Chúng ta phải sử dụng phương pháp lý luận-tri thức và bản thể luận-nào để thấy cả sự sống lẫn cái chết trong kinh tế và chính trị cùng một lúc?
Tôi nghĩ có thể đặt lại một cách nhìn lịch sử không chỉ trong khuôn khổ của một quốc gia mà còn phải nhìn nó trong tình trạng di dân. Di dân đã trở nên hiện tượng phổ biến nếu không muốn nói là phổ quát ở thời đại chúng ta, vì kinh tế toàn cầu và vì những xung đột chính trị, lịch sử. Khái niệm quốc tịch do đó không còn có thể đặt nền tảng trên khái niệm lãnh địa quốc gia cứng nhắc như cũ. Ngay cả khái niệm dân tộc là một chủ thể sống với tự do trong ý quyết như Pheng Cheah đã chỉ ra, có nghĩa là khái niệm một cộng đồng chính trị tự quyết, cũng phải được nhìn bằng một cách khác. Nó gồm những ai? Chúng ta có thể nhìn thấy sự có mặt của nó như thế nào khi tư bản toàn cầu và các nhà nước hậu thuộc địa độc tài tước đi quyền tự quyết của cộng đồng dân tộc đó? Lãnh địa, cộng đồng dân tộc, tất cả đều bị thách đố phải vượt ra ngòai tính vật chất của lãnh thổ.
Chúng ta cần một cách tiếp cận, một lọai tri thức luận mới cho phép chúng ta chẳng những thấy vật thể trước mặt-hàng hóa,chính trị, lãnh địa, cộng đồng, lịch sử-mà còn những cái chết và bóng ma nằm bên trong chúng.
Duy vật không còn là một phương pháp luận thích hợp cho thế giới hôm nay. Và rất có thể nó chưa từng là phương pháp lý luận thích hợp cho chính cả thời đại sinh ra nó.
Mác ở thế kỷ 19 cũng đã nhìn thấy cái bóng ma của hàng hóa, cái mà Mác gọi là commodity fetish. Nhưng cái sai của Mác, như Jacques Derrida đã phê phán trong quyển Những bóng ma của Mác, là Mác đã khiên cưỡng bằng mọi giá mang những vận hành xã hội trở về với nền tảng của những quan hệ sản xuất hàng hóa vật chất chuyển đổi theo từng thời kỳ, đến sự giải quyết sau cùng của mô hình cộng sản trong sử quan dẫn đến telos mang tính quy luật như đã bàn ở trên. Một khiên cưỡng trong lý luận với những hậu quả cụ thể nghèo đói và độc tài toàn trị ở nhiều nơi trên thế giới, vì nó đòi hỏi bạo lực cưỡng ép lòng tin vào một sự thật xã hội kết luận từ khiên cưỡng lý luận này. Sau thế kỷ 19, sau phương pháp sản xuất kiểu Ford đầu thế kỷ 20, sau cơn toàn cầu hóa mới nhất bắt đầu từ thập niên 1970 rải các công đọan sản xuất ra khắp thế giới trong hình thức tích lũy vốn uyển chuyển đặt trọng tâm vào ý thức hệ tiêu dùng, thì phương pháp luận của Mác càng khiên cưỡng hơn nữa.
CHL: Xin được đặt câu hỏi cuối: theo Nghịch lý của Tự do, cùng một lúc, Việt Nam vừa “xin gia nhập tổ chức WTO, một hành động có tính biểu tượng về sự hội nhập hoàn toàn của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, một nền kinh tế đặt nền tảng trên học thuyết kinh tế tân tự do,” vừa thực hiện “hành động bắt bớ tràn lan” các nhà tranh đấu cho dân chủ, sau đó ghép họ vào tội “tuyên truyền chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa,” và chị đã nhận định rằng “Việt Nam đang mang hai bộ mặt khi ta nói đến vấn đề tự do” và “không bộ mặt nào có tính chất lừa mị”[3]. Nhận định này phải chăng xuất phát từ “một cách tiếp cận, một loại tri thức luận mới,” như chị đã nói, “cho phép chúng ta chẳng những thấy vật thể trước mặt (…) mà còn những cái chết và bóng ma nằm bên trong chúng“? Nếu đúng thế, chị vui lòng nói thêm về “loại tri thức luận mới” này.
NVTH: Tôi nghĩ để thấy mâu thuẫn này ở Việt Nam hiện thời hay ở chủ nghĩa Tân Tự do toàn cầu, chúng ta không cần một loại tri thức luận tinh tế đến thế. Để phác họa bức ảnh về mối tương quan giữa cai trị và kinh tế Tân Tự do, ta không cần nhiều pixels đến vậy. Cách tiếp cận trong quyển Nghịch lý của Tự do thuộc về hậu cấu trúc luận. Nếu ta mường tượng ra cấu trúc luận nhìn xã hội như một cấu trúc đang quay, tác động của cấu trúc chuyển động trong mỗi bối cảnh cục bộ sẽ rất phức tạp và có khi mâu thuẫn với cái gọi là cấu trúc kia. Còn hậu cấu trúc luận mang thêm vào yếu tố ngẫu nhiên trong sự chuyển động đó. Lịch sử, do đó giảm hẳn tính tất yếu, mặc dù vẫn có mặt của những khía cạnh mang tính cơ cấu.
Còn cách nhìn mà tôi đang tự đẩy từ khởi điểm của hậu cấu trúc luận ở công trình đang thực hiện là một phương pháp may ra cho phép ta nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ thấy những bóng ma, những đường gân, những vụn xương, những vết bợn còn đọng lại từ những cuộc xuất huyết kinh tế hay lịch sử trong quá khứ hay đang diễn ra. Tôi hy vọng nó cho phép ta khôi phục không phải nguyên bản mà là tình trạng nửa có nửa không, nửa sống nửa chết của cái đã/đang bị giết, bị xóa, bị chối. Máu sau khi lau có khi mình còn ngửi ra mùi.
Vũng Tàu, tháng Tư – tháng Sáu, năm 2009
(Cuộc phỏng vấn được thực hiện qua e-mail.)
[1] Nguyễn-Võ Thu-Hương,The Ironies of Freedom – Sex, Culture, and Neoliberal Governance in Vietnam, University of Washington Press, trang 244
[2] Sách đã dẫn, trang 245
[3] Sách đã dẫn, trang 245 – 246
Bình luận
4 Comments (bài “Phỏng vấn giáo sư Nguyễn-Võ Thu-Hương”)
Cai trị Tân Tự do tại Việt Nam?
Tôi chưa được đọc cuốn sách của GS Hương. Tuy nhiên, thiển ý cảm thấy có điều gì đó bất an khi gán một chủ thuyết rất hoành tráng “tân tự do” cho cung cách cai trị hiện tại ở VN, bất kể nội dung nó như thế nào.
Lâu nay giới cầm quyền VN chỉ quảng cáo là lấy chủ nghĩa Mác-Lê, tư tưởng HCM làm kim chỉ nam; thêm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” kiểu “mèo trắng mèo đen” chứ dân chúng chưa nghe nói đến từ “cai trị Tân Tự do”.
Nếu nay có thêm một “cai trị Tân Tự do” rất ư sang trọng thì dân VN lại khổ thêm nữa rồi!
Tất cả các nghịch lý đều có cái lý của nó. Đó là lý do tại sao chúng tồn tại. Mảnh đất hoang mang đó là chốn dụng võ của tư tưởng.
Về những hình thái khác nhau của bạo lực, xin đừng quên tất cả những câu hỏi cơ bản nhất của loài người cho tới nay vẫn chưa có giải đáp thỏa đáng. Vì vậy, vẫn còn một số lớn tin mình đang nắm chân lý tuyệt đối trong tay. Chân lý tuyệt đối có nghĩa nó duy nhất đúng và tạo ra những loại trừ mang tính lý luận làm nền tảng cho bạo lực được cho phép. 9/11 chỉ là một biến tướng của Inquisition thời xưa, nói vậy để chỉ ra những vấn đề tự ngàn xưa vẫn chưa được giải quyết. Để tự vệ trước những kiểu bạo lực tự cho phép, Karl Popper đề xuất “không chịu đựng những kẻ không muốn chịu đựng” (not to tolerate the intolerants). Phản ứng ra sao lại là phản ảnh trung thực nhất của giới cầm quyền hay là tinh thần người dân đã bầu ra cái chính quyền đương thời (tất nhiên, ở trong môi trường người dân có quyền chọn lựa chính quyền), trong trường hợp này; làm trước, suy nghĩ sau. Cái xảy ra gần đây là điều khác biệt cơ bản nhất giữa độc tài và dân chủ; sự bất tín nhiệm chính quyền đương thời và quyền lựa chọn một chính quyền tốt hơn.
Điều tôi muốn nói là có sự khác nhau cơ bản giữa bạo lực đàn áp và bạo lực tự vệ. Tôi không có ý bào chữa cho các hình thức tra tấn của bạo lực tự vệ, mà muốn chỉ ra sự lựa chọn cho ta cơ hội điều chỉnh sai lầm, theo tôi, một cách thiết thực nhất.
Lời phản hồi chỉ dựa qua bài phỏng vấn, tôi chưa đọc cuốn sách của giáo sư.
Tất yếu bản thân nó là nghịch lý khởi thủy từ sự nhập nhằng giữa quá khứ và tương lai. Lịch sử không cho ta được một tiên đoán chắc chắn nào ngoài sự phỏng đoán. Về điều này, thuyết hỗn độn (chaos theory) làm tốt hơn thuyết lịch sử. Ta chỉ có thể rút ra được một bài học; độc tài, theo thời gian, ngụy trang khéo léo hơn tiền nhiệm của nó trong quá khứ. Sự liên quan giữa độc tài và tất yếu nằm ngay ở chỗ cả 2 đều dựa trên nghịch lý (paradox) để vận hành. Nếu nói về nghịch lý, việc tồn tại một chính thể luôn luôn dân chủ tự do hoàn hảo bản thân nó đã là một nghịch lý. Chính nơi đây thuyết Tân Tự do gãy khi đánh đồng độc tài với dân chủ thật sự; sự lựa chọn có được bảo đảm hay không.
Tôi cũng không đồng ý với nhận định tay ảo thuật gia quên khuấy việc kiểm soát tư tưởng. Có thể hắn tồi trong tất cả những gì liên quan đến thực tế, nhưng về trò ảo thuật, hắn là bậc thầy. Như tôi đã nói đâu đó trong talawas này, bản hiến pháp bất thành văn mới là bản chính thức dùng nội địa. Việc lôi con thỏ từ cái nón dù trong nón có thỏ hay không, nếu tôi không lầm, đã được Stalin hoàn hảo từ lâu. Để con thỏ thú nhận nó bao giờ cũng ở trong nón hay bất cứ chỗ nào tay ảo thuật muốn cũng không phải chuyện khó. Cuốn sách Gene Sharp chỉ là một liên hệ lỏng lẻo để thực tế hóa trò ảo thuật thì, hay thay, lại làm nhiều người tin. Thêm một bằng chứng về khả năng “trên cả tuyệt vời” của hắn.