John Updike – Không là bồ câu (Kì 1)
15/03/2009 | 4:34 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở John Updike – Không là bồ câu (Kì 1)
Category: Chiến tranh Việt Nam, Chính trị - Xã hội, Thế giới
Thẻ: John Updike > nhà văn Mỹ > Trí thức phương Tây và Việt Nam
Hoài Phi dịch
John (Hoyer) Updike (1932-2009) là một trong những cây bút vĩ đại nhất của lịch sử văn học Mỹ.[1] Ông xuất bản hơn hai mươi tiểu thuyết, nhiều tập truyện ngắn và tiểu luận phê bình và là cộng tác viên kỳ cựu của tạp chí The New Yorker danh tiếng. Ngày 27 tháng 1, 2009, khi ông qua đời, nhiều báo tiếng Việt có đăng bài về ông (ví dụ, bài “Nhà văn Mỹ John Updike qua đời”, Công an Nhân dân Online 01/2/2009). Sinh thời, John Updike là một trong thiểu số trí thức cánh tả không phản đối việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Bài viết này cho thấy quan điểm của ông về chính trị Mỹ và về cuộc chiến 1954-1975.
Người dịch
1.
Vào mùa hè năm 1966, tại Martha’s Vineyard[2], nơi không khí mặn ẩm thấm mềm dính thư từ, như thể bị hòa tan trong không khí phi thực thể của đảo, tôi nhận được câu hỏi của một nhóm nhà biên tập người Anh – theo cách mà ba mươi năm trước, một tuyển tập ý kiến về cuộc Nội chiến Tây Ban Nha đã hỏi – “Ông ủng hộ, hay chống lại sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam?” và “Theo ông, cuộc xung đột ở Việt Nam nên được giải quyết như thế nào?” Nếu câu hỏi này được đặt ra ở đất liền, nơi tôi có rất nhiều việc khác phải làm, có lẽ tôi đã không trả lời: nhưng tâm trạng nghỉ ngơi và cách biệt trên đảo khiến tôi ngồi xuống một chiếc bàn làm tạm và đánh máy những dòng sau, với đôi chút bực bội:
Như phần lớn người Mỹ, tôi lo ngại về cuộc phiêu lưu quân sự của chúng ta ở miền Nam Việt Nam; nhưng nói thật, tôi không rõ liệu tâm trạng bất an này có bao nhiêu phần liên quan đến cái giá đắt mà chúng ta phải trả, cả về con người lẫn tiền bạc, và có bao nhiêu phần là về tính chính đáng đạo đức. Tôi không tin là Việt cộng và Hồ Chí Minh có lợi thế đạo đức hơn chúng ta, và tôi cũng không tin rằng các cường quốc lúc nào cũng có thể tránh việc sử dụng sức mạnh của mình. Tôi ủng hộ sự can thiệp của chúng ta nếu như việc đó mang lại một số điều tốt – cụ thể là nếu nó giúp người dân miền Nam Việt Nam có thể tìm kiếm tương lai chính trị cho chính họ. Thật lố bịch khi người ta cho rằng một làng nằm trong vòng kìm kẹp của du kích lại có quyền tự do chọn lựa, hay đem việc chịu khuất phục trước cơn sóng của một tương lai do bọn khủng bố sắp đặt đổ lỗi cho lịch sử. Nhu cầu khẩn thiết là [phải tổ chức được – ND] các cuộc bầu cử trung thực, nơi người dân miền Nam Việt Nam có thể bày tỏ nguyện vọng của mình. Nếu nguyện vọng của họ là ủng hộ chủ nghĩa cộng sản, thì chúng ta nên thu thẻ chip lại và ra về. Chừng nào mà một nguyện vọng như vậy chưa được bày tỏ, và chừng nào mà phía bên kia còn chưa sẵn lòng thỏa thuận, tôi không nghĩ là chúng ta có thể từ bỏ vị trí nặng nề của mình ở miền Nam Việt Nam.
Sự khó chịu của tôi tăng dần khi tờ New York Times, trong một bài điểm cuốn Authors Take Sides on Vietnam [Các nhà văn chọn phe (phái nào) về vấn đề Việt Nam] in ở Anh, đã dành cho câu trả lời ngẫu hứng của tôi vị trí nổi bật nó chưa hề mong có được. Tôi viết lá thư này cho ban biên tập:
Tôi thấy mình bị nêu tên trên tờ Times vào ngày 18 tháng 9 với tư cách là nhà văn Mỹ duy nhất “ủng hộ không một chút phân vân nào” về sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Làm gì có ai không ít nhất là phân vân về một hành động vô cùng tốn kém, vô cùng tàn ác trong khi thực thi, và không mang lại kết quả có tính quyết định như vậy? Tuyên bố của tôi, để trả lời một câu hỏi từ nước Anh vào tháng Tám năm 1966 viết, “Tôi ủng hộ sự can thiệp của chúng ta nếu như việc đó mang lại một số điều tốt – cụ thể là nếu nó giúp người dân miền Nam Việt Nam có thể tìm kiếm tương lai chính trị cho chính họ.” Trong những năm vừa qua, có nhiều lý do chất chồng khiến người ta nghi ngờ liệu nó [sự can thiệp của Mỹ – ND] có mang lại cái tốt đủ không. Việc ném bom ở miền Bắc có vẻ như vừa vô ích, vừa độc ác, và nên chấm dứt. Sự có mặt ồ ạt của quân đội chúng ta có thể đang nghiền nát thế chủ động của người dân miền Nam mà lẽ ra chúng ta cần khuyến khích. Khủng bố và áp bức tràn lan từ mọi phía, trong chừng mực mà độc giả của báo chí Mỹ có thể thấy được, đã làm suy giảm trầm trọng ý nghĩa của cuộc bầu cử phổ thông mà lẽ ra phải là công cụ khả tín đó. Chắc chắn là lịch sử tham chiến của chúng ta trên mảnh đất này bao gồm cả sự vô lương tâm lẫn ngu xuẩn; chắc chắn là Việt cộng đã khích động thêm những bất mãn và những bất công vốn có thật. Tôi nghĩ thời điểm đó đang tới, cũng như đối với Tây Ban Nha vào năm 1939, khi hòa bình bằng mọi giá, kể cả cái giá sống dưới một chính thể bạo ngược, cũng tốt hơn là tiếp tục cuộc chiến. Những điều này – được trình bày với ý thức về sự ngu dốt của một người đã quá già, còn các con trai lại quá trẻ để phục vụ trong quân đội – là cảm nghĩ hiện thời của tôi: những điều này, theo tôi, cộng với tâm trạng mất tinh thần nói chung trước sự lãng phí khổng lồ các nguồn vật lực, tổn thất sinh mạng ngày càng gia tăng, và ảnh hưởng vô trách nhiệm của nền chính trị đảng phái của chúng ta tới những quyết định được bào chữa bằng máu của con người.
Có thể tôi khác với tất cả các đồng nghiệp bồ câu của mình ở chỗ tôi thừa nhận chính quyền Johnson cố gắng làm điều tốt và đã có được một số quyết định tốt. Bất kỳ người nào không theo chủ nghĩa hòa bình một cách cuồng tín ít nhất cũng phải cân nhắc lập luận là cuộc chiến này, dù xấu xa như vậy, cũng vẫn là tai họa nhỏ hơn trong số các tai họa hiện hữu, [vì người ta tiến hành cuộc chiến này – ND] nhằm chặn trước những cuộc chiến tồi tệ hơn nữa. Tôi không dám chắc liệu lập luận đó có đúng không, nhưng tôi cho rằng nó là lý do khiến những người lãnh đạo tiến hành cuộc chiến, chứ không phải do họ nhằm duy trì sự kinh doanh thịnh vượng hay do sự ngoan cố điên rồ của Tổng thống. Với tôi, lập luận của phe bồ câu như cách nó được trình bày dành quá nhiều sự ghê tởm thẩm mỹ cho Tổng thống, ngay cả khi lập luận đó chưa đạt tới mức hoang tưởng của vở MacBird[3]; thậm chí cả những bài viết hay nhất trong số các tường thuật tiêu cực về các chiến dịch của chúng ta ở miền Nam Việt Nam, chẳng hạn các bài viết sinh động của Mary McCarthy[4], hay tường thuật của Jonathan Schell[5] về vụ san phẳng làng Bến Súc[6], thì chúng cũng dựa quá nhiều vào các mô tả châm biếm sĩ quan Mỹ và những hình ảnh kì cục về sự áp đặt văn hóa. Sự phản đối [của phe bồ câu] có vẻ quá phản thân (reflexive), quá pop [thái độ châm biếm hiển nhiên – ND]; Tôi thấy được in chung cùng tuyên bố của tôi, còn có các tuyên bố dớ dẩn của Jules Feiffer[7] và Norman Mailer[8]. Cũng như W.H. Auden[9], tôi hi vọng chúng ta sẽ đạt được “một nền hòa bình được thỏa thuận, trong đó Việt cộng phải là một phe,” và điều này sẽ được thực hiện càng sớm càng tốt; và cũng giống W.H. Auden, tôi nghĩ rằng việc đề nghị nhà văn [phát biểu] về các vấn đề chính trị thực ngu xuẩn. Như Auden đã nói, không những quan điểm của [giới cầm bút – ND] chúng tôi “không hề có nhiều thẩm quyền hơn bất kỳ một công dân được học hành tương đối tử tế nào,” mà trong trường hợp của tôi, ít nhất tôi cảm thấy rằng nhu cầu nghề nghiệp của mình đòi hỏi quyền tự do ngôn luận và tự do thể hiện khiến tôi thiên vị một chính phủ mà hiến pháp bảo đảm những quyền đó. Tôi hiểu rằng điều mà với tôi là thiết yếu, thì rất có thể đối với một nông dân đang ở bên bờ vực của sự chết đói, chỉ là một sự xa xỉ trừu tượng.
Lá thư của tôi mặc dù có vẻ đã khá dài, thực ra còn một trang nữa, nhưng tờ Times đã cắt bỏ, và trong phần đó tôi viết, khi thấy nỗ lực của mình chẳng đi tới đâu cả, rằng “tôi sẽ vui sướng được miễn cho cái trách nhiệm là phải có ý kiến về sự tham chiến [của Mỹ] ở Việt Nam” và “quả thực là tôi sẽ rất mừng nếu được miễn mọi bổn phận của một người sống tại một cường quốc hiện đại, trong khi đương nhiên là vẫn tiếp tục thụ hưởng những ích lợi do nó mang lại,” nhưng “tôi không thể giả vờ tin, dù biết nếu làm được như vậy thì tiện cho tôi, rằng việc rút quân đơn phương khỏi miền Nam Việt Nam là phục vụ cho quyền lợi của dân tộc hay vì hòa bình.” Thậm chí tôi còn đưa ra một đề nghị cụ thể:
“Một đề nghị cụ thể của tôi là Tổng thống Johnson từ bỏ việc tranh cử vào năm 1968. Với công việc cuối cùng đó, ông ta sẽ chấm dứt đời hoạt động cho đất nước, bao gồm cả năm năm tại cơ quan quyền lực cao nhất. Rồi sau đó, dưới quyền của một Tổng thống mới, đảng nào cũng được, chừng nào mà vai trò của chúng ta ở miền Nam Việt Nam vẫn còn là kết quả không tránh khỏi do vị trí của chúng ta trên thế giới mang lại, thì nó [việc Mỹ tham chiến – ND] vẫn sẽ tiếp tục; đến chừng nào mà nó là hậu quả đặc biệt do những lỗi lầm mà bộ máy lãnh đạo hiện thời tiếp tục tự gây ra, thì nó nên chấm dứt.
2.
Động đến cuốn Authors Take Sides on Vietnam cũng đồng nghĩa với việc hít thở những luồng hơi độc của một thời kỳ u ám và gây nhiều tranh cãi. Những câu trả lời vớ vẩn của Mailer và Feiffer có đoạn viết thế này: “Sự thật là, có lẽ chúng ta cần một cuộc chiến. Nó có thể là liều thuốc bổ mới được bào chế cho nước Mỹ. Từ Lydia Pinkham[10] đến Việt Nam trong sáu mươi năm, nếu không thì [nước Mỹ] toi mất” (Mailer), và “Giải pháp cho vấn đề này đơn giản tới mức tôi thấy kinh ngạc là chưa có ai khác nhận ra nó. Lyndon Johnson nên lên kênh truyền hình quốc gia và nói với người dân Mỹ, ‘Tôi đã hành động ngu xuẩn.'” (Feiffer). Hai mươi năm trước, tôi không để ý đến ý tưởng vui nhộn hay ho này của James Purdy[11]: “Việt Nam thật khủng khiếp đối với những người chết và những người bị thương vô tội, nhưng như thế vẫn còn hơn là làm một người Mỹ chỉ sống với mớ hổ lốn trên Đại lộ Madison, quảng cáo cho một quê hương và một vị Chúa trời.”
Ngược lại với những gì tờ Times viết, tôi không phải là người duy nhất không theo phe bồ câu. James Michener, một chuyên gia lâu năm về Châu Á, đưa ra một giải thích địa-chính trị trải dài từ Thái Lan tới Úc, để giải thích tại sao “[Xuất phát – ND] từ kinh nghiệm quá khứ và mối quan ngại cho tương lai mà tôi quyết định ủng hộ lập trường của chính phủ mình [Mỹ] ở Việt Nam.” Còn Marianne Moore[12] thì trả lời theo nhịp thơ đặc trưng của bà, “Theo tôi, để mặc cộng sản lên thống trị và chấp nhận để cho kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu là vô trách nhiệm một cách thiển cận. Chúng ta có thể dùng vũ lực để áp đặt việc đàm phán được không? Winston Churchill cho rằng nhân nhượng vô nguyên tắc sẽ chẳng giải quyết được cái gì cả.” Vẫn có lý như thường lệ, W.H Auden viết:
“Đương nhiên chiến tranh bao giờ cũng khủng khiếp và thối nát, nhưng những người đòi hỏi việc rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam ngay lập tức cũng không lương thiện khi họ giả vờ là mục đích của mình chỉ do nhân đạo. Họ tin rằng, dù đúng hay sai, là nếu cộng sản thắng thì tốt hơn. Câu trả lời của tôi cho câu hỏi của quý vị là tôi tin vào việc một nền hòa bình được đàm phán, trong đó Việt cộng phải là một lực lượng, là điều có thể, nhưng chưa phải lúc này, và do vậy, than ôi, quân đội Mỹ vẫn phải ở lại Việt Nam cho đến khi điều đó xảy ra.”
Có rất nhiều tranh cãi trên sách báo vào năm 1966 về việc Trung Quốc là mối đe dọa toàn cầu, và về Việt cộng: ai có thể lường được là Việt cộng, với những gì còn lại sau cuộc Tổng Tiến công Mậu Thân, lại bị Bắc Việt trắng trợn lờ đi sau khi xâm chiếm thành công miền Nam, hoặc ngờ rằng Trung Quốc lại trở thành một người bạn bất đắc dĩ của Mỹ và đồng thời là kẻ thù của một dân tộc Việt Nam thống nhất và hiếu chiến?
Lá thư biện hộ tôi gửi cho tờ Times – trong đó tôi đổ tội cho chính mình, với lòng ăn năn ngang một nạn nhân của Hồng Vệ binh, vì đã quan tâm đến tự do ngôn luận – chấm dứt mọi tuyên bố của tôi về vấn đề Việt Nam trước công chúng. Sự hữu dụng của tôi trong vai trò là người viết xã luận không thường kỳ cho mục “Talk of the Town” [“Chuyện ở huyện”] trên tờ The New Yorker cũng chấm dứt sau đó vài tháng, với mấy dòng ngắn cho mục “Ghi chú và Bình luận” về thông báo gây ngạc nhiên của Tổng thống Johnson vào cuối tháng Ba năm 1968 là ông không tái tranh cử – đúng như tôi đã từng đề nghị. Bài viết ngắn của tôi ca ngợi quyết định của Johnson là
“một thắng lợi của trí tưởng tượng, vì chỉ bằng cú [không tái tranh cử] này, ông ta đã tăng cường tính khả tín cho quá trình tìm kiếm hòa bình và nâng cao phẩm giá chính quyền của mình trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ này, đồng thời buộc nước Mỹ phải nghiêm túc với tiến trình bầu cử. Không có ông, chính trường Mỹ dường như khá vắng vẻ; và về vấn đề Việt Nam, những khả năng lựa chọn thực sự có thể hạn chế hơn chúng ta tưởng. Dẫu vậy, những cơ hội và lựa chọn mới đã được [Johnson – ND] tạo ra, và chúng ta chỉ có thể biết ơn về món quà bất ngờ này.”
Theo quyết định vào phút chót, qua điện thoại, do sự quan ngại của người biên tập, một phần trong câu cuối cùng sau dấu chấm phảy đã bị cắt bỏ: “Chúng ta không thể tiếp tục nói là rốt cuộc có thể ông ta [Johnson] đã đúng.” Tôi đành nhượng bộ [việc cắt bỏ câu đó – ND] – dầu sao thì những bài viết vô danh này đại diện cho tiếng nói của tạp chí, không phải của tôi. Sau sự việc này, tôi nhường mục “Notes and Comment” cho những cây bút khác thiên tả hơn.
(Còn nữa)
Nguồn: http://www.commentarymagazine.com/viewarticle.cfm/on-not-being-a-dove-7529?search=1
[1] Theo: http://en.wikipedia.org/wiki/John_Updike
[2] Nơi nghỉ mát của rất nhiều nhân vật nổi tiếng. http://en.wikipedia.org/wiki/Martha%27s_Vineyard
[3] MacBird! là vở kịch nổi tiếng do Barbara Garson viết vào năm 1966, nhằm châm biếm Tổng thống Johnson và vợ ông ta (bà Bird Johnson), so sánh họ với cặp vợ chồng Macbeth trong vở kịch nổi tiếng cùng tên của Shakespeare. Theo: http://en.wikipedia.org/wiki/MacBird.
[4] Mary Therese McCarthy (1912-1989) là nhà văn, nhà phê bình và nhà báo Mỹ nổi tiếng. Theo: http://en.wikipedia.org/wiki/Mary_McCarthy_(author).
[5] Phóng viên Mỹ nổi tiếng, tác giả của rất nhiều cuốn sách về chính trị thế giới và về chiến tranh. Theo: http://en.wikipedia.org/wiki/Jonathan_Schell.
[6] Để biết thêm về vụ làng Bến Súc, xem: http://www.newyorker.com/archive/1967/07
/15/1967_07_15_028_TNY_CARDS_000291433; http://www.history.army.mil/books/Vietnam/90-7/ch3.htm; hoặc http://www.zmag.org/zmag/viewArticle/13962.
[7] Jules Ralph Feiffer (1929- ): nhà văn và nhà biếm họa Mỹ: http://en.wikipedia.org/wiki/Jules_Feiffer.
[8] Norman Kingsley Mailer (1923-2007): tiểu thuyết gia, nhà báo, nhà viết kịch và đạo diễn phim người Mỹ. Ông đã hai lần được giải Pulitzer. Theo: http://en.wikipedia.org/wiki/Norman_Mailer.
[9] Wystan Hugh Auden (1907-1973): nhà thơ Anh-Mỹ. Ông cũng viết tiểu luận và kịch bản phim. Theo: http://en.wikipedia.org/wiki/W._H._Auden.
[10] Lydia Estes Pinkham (1819-1883): nổi tiếng nhờ công ty “bào chế” thảo dược chữa các chứng đau liên quan đến kinh nguyệt của phụ nữ. Cú lừa ngoạn mục nhất của công ty này là khuyến khích các nữ khách hàng trao đổi thư từ với bà Pinkham và họ đã tin tưởng vào điều đó cho đến năm 1905, hơn 20 năm sau khi Lydia Pinkham qua đời, tạp chí Ladies’ Home in một bài báo có kèm theo ảnh ngôi mộ của bà thì mọi việc mới được sáng tỏ. Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Lydia_Pinkham (ND).
[11] James Otis Purdy (1923- ) là nhà văn, nhà thơ và nhà viết kịch gây nhiều tranh cãi ở Mỹ. Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/James_Purdy.
[12] Marianne Moore (1887-1972): nhà thơ và nhà văn Mỹ theo trường phái hiện đại chủ nghĩa. Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Marianne_Moore.
Bình luận
Không có bình luận (bài “John Updike – Không là bồ câu (Kì 1)”)