talawas blog

Chuyên mục:

Các phản biện của Dương Danh Huy về ý nghĩa bản đồ chữ U

09/06/2009 | 3:06 sáng | 18 Comments

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

Anh Dương Danh Huy viết bài phản biện phần 3 bài viết của tôi. Anh đưa ra đến hơn 20 lập luận để phản biện nó. Tôi xin có vài ý kiến về các phản biện này. Dưới đây tôi sẽ gọi các phản biện 1, 2, 3, … là các “ý kiến 1, 2 , 3,…”

Về ý kiến 2, anh Huy viết : “Bản đồ lưỡi bò đầu tiên do Hồ Cẩm Tiếp (Hu Jinjie, tổ của Hồ Cẩm Đào) vẽ năm 1914. (Hurng Yu -> Hoàng Việt + Trang Hạ -> H)”.

Bài viết ở đây đã ghi chú đầy đủ nguồn gốc của bản đồ chữ U: “về căn nguyên của của đường chữ U, được Hu Jinjie, một người chuyên vẽ bản đồ người Trung Quốc, vẽ lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1914. Đường chữ U được chính thức vẽ bởi Bai Meichu, một viên chức thuộc nhà nước Cộng hòa Dân Quốc (Republic of China) [7], vào tháng 12 năm 1947.”

Xin ghi chú thêm: Theo tin Tân Hoa Xã, tháng 1 năm 2000, bản đồ này do người Trung Quốc vẽ lần đầu tiên, xuất hiện vào tháng 10 năm 1845, tại thành phố Shijianzhuang, tỉnh Hebei.

Đương nhiên, tin của Tân Hoa Xã thì không có gì chắc chắn. Cũng chính Tân Hoa Xã có lần đã loan báo là đào quật được một số cổ vật như tiền điếu, miểng sành, lọ, hũ… trên một số đảo HS&TS. Việc này chứng minh người Hoa đã ở trên đảo từ thời nhà Tống. Nhưng những cổ vật này chưa bao giờ được trình làng để được kiểm chứng, tương tự tấm bản đồ 1845 kia. Điều này làm ta liên tưởng đến tiểu Phân Mao Lãnh, tiểu Đổ Chú Hà, đề thờ Phục Ba… Tất cả đều là các bằng chứng giả tạo để chiếm đất, chiếm đảo của VN.

Ý kiến thứ 3 nói rằng “bản đồ lưỡi bò được TQ dùng chính thức lần đầu tiên năm 1948 (Jinming + Dexia -> H).” Điều này sai, chính thức là tháng 12 năm 1947, người vẽ là Bai Meichu.

Ý kiến 4 (5,6,7) nói rằng “bản đồ lưỡi bò là một bản đồ tuỳ tiện, không có cơ sở lịch sử pháp lý (H, X, Y).” Không ai phản đối việc này nhưng khi nói nó “tùy tiện” thì phải chứng minh rằng nó “tùy tiện” ở các chỗ nào? Anh Huy chứng minh là nó tùy tiện khi nào ? Qua các bằng chứng gì ? Bài vừa qua của tôi là nhằm chứng minh bản đồ chữ U là một dàn dựng lếu láo, là hỏa mù của Trung Quốc tung ra để lường gạt người Việt để chiếm đảo và biển của Việt Nam.

Ý kiến 8 nói rằng “nếu cho rằng vùng biển như lưỡi bò là EEZ, TLD thuộc HSTS thì cũng không phù hợp với UNCLOS. Lý do là đường lưỡi bò vượt quá đường trung tuyến. Nếu cho là EEZ, TLD thuộc HSTS thì sẽ vô lý, vì điều này sẽ có nghĩa HSTS được hơn 100% hiệu lực (H) 9. Bởi (8), việc TNT cho rằng đường lưỡi bò là do hiệu lực HSTS, là sai. Vì HSTS không thể được hơn 100% hiệu lực (H).”

Anh Huy nên xem các bản đồ mà Việt Nam công bố vào các năm 1977 và 1982 trước khi phê bình tôi viết sai hay đúng. Tôi viết ở đây là nương theo lập trường hợp lý của VN để bênh vực quyền lợi của đất nước mình. Anh nói tôi sai thì không sao, nhưng anh nói thế là sổ toẹt vào lập trường của Việt Nam. Và cũng chính anh cũng đã hăng say dùng UNCLOS để phủ nhận đường cơ bản của Việt Nam, nói rằng đường này “vi phạm UNCLOS”. Trong khi đó, thực tế cho thấy hệ thống đường cơ bản của VN không bị ai chỉ trích, mà các hệ thống đường cơ bản của nhiều nước khác, trong đó có Trung Quốc, mới bị đặt vấn đề.

Về hiệu lực của HS&TS, đứng trên quan điểm luật học, tức theo UNCLOS, thì không ai có thể làm quan tòa để phán quyết ở đây. Trong tranh luận người ta chỉ có thể dựa theo UNCLOS để giải thích mà thôi. Do đó mỗi người có quyền diễn giải theo cách của mình. Nếu dựa lên UCLOS, hiệu lực của HS&TS đã được minh họa cụ thể là các bản đồ của VN công bố các năm 1977 và 1982 (mà tôi đã nhiều lần đưa lên).  Anh Huy nói việc này “vô lý” thì đó là ý kiến của anh, tôi tôn trọng, nhưng rõ rằng đó không phải là ý kiến của phía Việt Nam!

Về hiệu lực đường chữ U anh Huy viết: ” việc TNT cho rằng đường lưỡi bò là do hiệu lực HSTS, là sai. Vì HSTS không thể được hơn 100% hiệu lực. (H)”

Anh Huy “phán” như là quan tòa. Tôi nói thế, nhiều học giả trên thế giới đã nói thế, ý nghĩa bản đồ chữ U của Trung Quốc chỉ có thể đến từ hiệu lực của các đảo trong Biển Đông mà Trung Quốc đã dành của các nước. Bởi vì, nếu Việt Nam có thể giải thích hiệu lực HS&TS theo pháp lý và thực tiễn lịch sử thì Trung Quốc cũng có quyền làm như thế. Nhưng không như Việt Nam có đầy đủ bằng chứng để chứng minh chủ quyền của mình tại HS&TS, phía TQ không có gì cả, ngoài các bằng chứng ngụy tạo!

Bổn phận các học giả Việt Nam đương nhiên là phải lột trần các âm mưu giả dối trong hồ sơ của Trung Quốc và đưa các bằng chứng chứng minh Việt Nam có chủ quyền không thể tranh biện tại HS&TS. Bạch Thư của VNCH năm 1975 đã tổng hợp các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam trong chiều hướng đó và Bạch Thư 1981 của CHXHCNVN cũng đã lập lại như thế. Cá nhân tôi đây chỉ cố gắng đóng góp vào thêm (ở những điểm mà chưa học giả Việt Nam nào nhắc tới) để hồ sơ Việt Nam ngày càng thêm vững chắc.

Ý kiến 10 và 11 về bản đồ minh họa tham vọng của TQ về quần đảo Sulu và Natuna. Anh Huy cho rằng những cái “móc” là minh họa ranh giới Mã-Phi (hay ranh giới của Nam Dương) thì có nhiều điều không vững. Không biết lúc Trung Quốc vẽ bản đồ này Mã và Phi phân định lãnh hải chưa? Tại sao giới hạn hai nước lại vẽ bằng cái “móc”? Tôi nghĩ rằng, ở điểm này, anh Huy nên đọc thêm sách lịch sử Trung Quốc, xem các bản đồ của Trung Quốc vào thập niên 50, để hiểu biết thêm về đòi hỏi lãnh thổ, lãnh hải của Trung Quốc.

Về ý kiến 12 anh Huy viết : “Việc TNT cho rằng năm 1980 TQ đòi đảo Natuna, sau đó nhượng bộ, là sai, hay ít nhất chưa có chứng cớ thuyết phục, thí dụ như tuyên bố, công hàm đòi chủ quyền, phản đối chủ quyền của Indo, hay có hành động gì. Trên thực tế, có chứng cớ ngược lại: BT NG TQ nói không và chưa bao giờ đòi đảo Natuna. Tuy có sách nói Indo thấy có bản đồ TQ bao trùm đảo Natuna, có sách nói Indo thấy có bản đồ có chồng lấn lên EEZ của Natuna. (H)”

Về việc Trung Quốc giành chủ quyền Natuna vào đầu thập niên 80 tôi đã đưa 4 tài liệu để chứng minh. Ở đây tôi không có nhu cầu thuyết phục ai cả. Tôi chỉ đưa ra các dữ kiện, thực ra đó là một tin tức đã được báo chí thời đó ghi nhận. Anh Huy nói tôi sai (thực ra là các học giả mà tôi đã dẫn tên) mà không đưa ra được bằng chứng nào phản biện. Nếu anh Huy đưa được một tài liệu cho rằng Trung Quốc không có giành đảo Natuna đầu thập niên 80 thì phản biện của anh Huy sẽ khoa học hơn.

Về ý kiến 13 anh Huy viết : “Lập luận của TNT, ‘TQ phải nhượng bộ ở đảo Natuna vì Indo mạnh’, không có đủ cơ sở (H).” Thực ra đây không phải là “lập luận”, mà là một thực tế. Các tài liệu tôi đã dẫn đều có ghi nhận việc này. Để tránh dài dòng, tôi làm photo hai trang sách của Eric Denéce để mọi người xem và tự kết luận.

tnt1

tnt2

Về ý kiến 14 anh Huy trích ngang hông bài viết của tôi thế này “Quan điểm của TNT, ‘Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa?’, là một cường điệu vô lý (H).”

Lý ra phải trích đầy đủ thế này : “Chính sách giữ nước của đảng CSVN hiện nay có khuynh hướng hủy bỏ hiệu lực của các đảo HS và TS, tức tự hủy hoại thân thể, tự đốt nhà của mình. Việt Nam quá “yếu”, không thể bảo vệ lãnh thổ nước mình, mặt khác, công hàm ông Phạm Văn Đồng đã tuyên bố HS&TS là của TQ, thì đòi lại sao được ? Do đó nhà nước CSVN nhất định để mất HS&TS chứ không tìm cách hóa giải công hàm này thông qua một quá trình dân chủ hóa và hòa giải dân tộc. Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa?” Anh Huy trích dẫn và suy diễn lung tung như thế thật là thiếu lương thiện của một trí thức.

Về ý kiến 15, anh Huy phê bình : “Về đọan này, ‘khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng: Muốn đối phó với ‘biển lịch sử’ của Trung Quốc, Việt Nam phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982. TNT đã viết một cách không chính xác/chủ quan và phi khiêm nhường (H).”

Anh Huy nói tôi viết không chính xác nhưng không thấy anh chứng minh là không chính xác chỗ nào ? Về việc “chủ quan”, thực ra bài nghiên cứu nào, của bất kỳ học giả nào, cũng viết chủ quan. Nhưng việc chủ quan hay không thì không ăn nhập gì, quan trọng là điều trình bày đúng hay sai. Ở đây tôi nói bản đồ chữ U của Trung Quốc là ngụy tạo, tôi đưa bằng chứng và lý giải rằng nó là đồ giả, ngụy tạo, là hỏa mù để đánh lạc hướng các học giả Việt Nam (và thế giới) nhằm cướp đảo và biển của Việt Nam. Theo anh Huy thì luận cứ của tôi đúng hay sai ? Chủ quan thì đương nhiên rồi, nếu không “chắc ăn” thì tôi viết ra làm gì? Nếu sai thì xin anh Huy cho biết nó sai ở những chỗ nào. Và việc tôi chủ trương (như các chính phủ VN đã chủ trương) “phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982” thì sai ở đâu, không chính xác ở đâu và “phi khiêm nhường” ở điểm nào?

Các ý kiến 16, 17, 18, 19, 20 anh Huy viết : “TNT cho rằng phải hoá giải CH PVD. (H, X, Y)” điều 19 viết tiếp ‘ai cũng biết’ điều 18, nhưng cách hoá giải TNT đưa ra không có tác dụng hoá giải (H).” Nếu vậy anh Huy nên viết bài phân tích phương pháp của tôi vì sao “không có tác dụng hóa giải”. Nếu anh chỉ phê bình theo cảm tính, không dựa trên bất kỳ một luận cứ khoa học nào thì e rằng việc thảo luận của hai bên không cùng tầng số, là việc mất thì giờ vô ích.

Về ý kiến chót 21 thì cũng có một hai việc phải nói thêm. Việc hóa giải công hàm ông Đồng có nhiều phương pháp. Tôi chỉ đưa ra phương pháp ôn hòa nhất, là đấu tranh để hòa giải dân tộc, đi đến hòa hợp dân tộc, để có sự đồng thuận của cả dân tộc trên những quyết định lớn liên hệ đến đất nước. Phương pháp của tôi tạo lối thoát danh dự cho đảng CSVN, đem lại cảm thông cho dân chúng ở các miền, các bên (cộng hòa và cộng sản), không gây đổ vỡ mất mát hay tạo khoảng trống quyền lực mà việc này sẽ rất nguy hiểm cho Việt Nam. Chắc chắn sẽ có nhiều phương pháp khác, như ý kiến của bác HoangTruongSa vừa đưa lên.

Còn về hiệu lực của HS&TS, lập trường của anh Huy thì anh đã nói nhiều lần : HS&TS không có hiệu lực ZEE, tôi không tiện nói thêm nữa. Ở đây anh Huy viết : “(21.2) Dù VN trong tương lai là ‘dân chủ’ hay ‘cộng sản’ thì vẫn khó mà giành được cái lưỡi bò liếm ngang. Vì vậy giải pháp HSTS không hiệu lực/ít hiệu lực/có hiệu lực theo ý kiến của Toà vẫn tốt hơn đòi 100% hiệu lực cho HSTS và dẫn tới diệt vong cho VN ở Biển Đông (H).”

Tòa án nào ở đây mà “theo ý kiến của Toà” thưa anh Huy? Vả lại, anh Huy chủ trương HS&TS không có hiệu lực, nay sao lại có việc “HSTS không hiệu lực/ít hiệu lực/có hiệu lực theo ý kiến của Toà”? Và vì sao dẫn đến diệt vong? Thằng ăn cướp nó vào cướp nhà của mình, mình sợ “diệt vong” nên ra chuồng heo ở và nhường nhà mình cho nó à?

Tóm lại, tôi nhận thấy việc phản biện của anh Dương Danh Huy rất ư là “tình cảm”, toàn bài không thấy đưa một dữ kiện khoa học nào. Anh Huy cố gắng chứng minh TQ không có tham vọng tại Natuna, anh phản bác bài viết của tôi nhằm chứng minh TQ… bị hàm oan.

Bình luận

18 Comments (bài “Các phản biện của Dương Danh Huy về ý nghĩa bản đồ chữ U”)

  1. Dương Danh Huy viết:

    Xin ghi chú thêm: Theo tin Tân Hoa Xã, tháng 1 năm 2000, bản đồ này do người Trung Quốc vẽ lần đầu tiên, xuất hiện vào tháng 10 năm 1845, tại thành phố Shijianzhuang, tỉnh Hebei.

    Bác TNT ghi chú thêm với vẻ

    a) bác ấy đã từng thấy bản tin Tân Hoa Xã 1/2000
    b) bản tin đó nói về bản đồ chữ U.

    Chắc ghi chú của bác TNT là 8 của Peter Kien-Hong Yu:

    [8] Zou, sđd, trang 6. Vào tháng 1 năm 2000, Xinhuashe (New China News Agency) báo cáo rằng bản đồ do người Trung Quốc vẽ lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1845 được phát hiện tại thành phố Shijianzhuang, tỉnh Hebei. Bản đồ thế giới này có đề cập đến quần đảo Nansha, Xisha, và Zhongsha. Mao Trạch Đông (Mao Zedong) đã từng nói rằng Trung Quốc không được bảo vệ trên biển. Điều này có nghĩa là Trung Quốc chỉ an toàn khi các thế lực bên ngoài không thực hiện chính sách “ngoại giao pháo hạm” (“gunboat diplomacy”), nhưng trong hoàn cảnh hiểm nguy, chính sách này có thể được áp dụng. Xem Jiefangjunbao (dưới đây gọi là JFJB) (Bắc Kinh), 9 tháng 4 2001, trang 7.

    Lưu ý là bài Kien-Hong Yu không nói rằng bản đồ 10/1845 là bản đồ lưỡi bò.

    Chắc bác TNT hiểu lầm mới cho rằng chú thích 8 nói về bản đồ lưỡi bò nên mới “chú thích thêm” và nói chuyện “bơm” bản đồ lưỡi bò lên tới TK 19.

    Tôi thấy bác TNT claim nhiều “dẫn chứng” nhưng thật ra là suy diễn 1 chiều không reliable từ bản đồ hay câu chữ.

  2. Dương Danh Huy viết:

    Về ý kiến 13 anh Huy viết : “Lập luận của TNT, ‘TQ phải nhượng bộ ở đảo Natuna vì Indo mạnh’, không có đủ cơ sở (H).” Thực ra đây không phải là “lập luận”, mà là một thực tế. Các tài liệu tôi đã dẫn đều có ghi nhận việc này. Để tránh dài dòng, tôi làm photo hai trang sách của Eric Denéce để mọi người xem và tự kết luận.

    Bác PQT gửi tôi hình 2 trang này. Trong 2 trang này Denéce không có câu nào nói rằng TQ phải nhượng bộ Indo vì Indo mạnh.

    Chỉ có bác TNT suy diễn rằng Denéce nói thế.

    Như bác TNT suy diễn về bản đồ “móc vào” các đảo Sulu, Natunas.

    Và như suy diễn về “Anh Huy cố gắng chứng minh TQ không có tham vọng tại Natuna, anh phản bác bài viết của tôi nhằm chứng minh TQ… bị hàm oan.”

    Gần đây tôi tranh luận với 1 người trên internet.

    Người này bảo (có thể) những v/d biển đảo ngày nay là do VN theo chủ nghĩa tinh thần dân tộc, không thân Tàu, chứ thời VNDCCH thân Tàu và ngoan như thời 50-70 thì đâu có những chuyện như biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, biển đảo như bây giờ.

    Người đó đưa ra lập luận

    50-70: Thân Tàu –> abc
    70-90: Bài Tài —> cde
    90-hiện tại: Không thân hay bài –> fgh

    Những kiểu lập luận đó sai ở chỗ khi có nhiều yếu tố mà chỉ chọn 1 yếu tố mình thích làm nguyên nhân.

    Giả sử TQ có thay đổi về Natunas thì có nhiều yếu tố, quan trọng nhất là TQ không đòi Natuna như họ đòi những đảo khác (nếu có đòi Natuna), chứ không nhất thiết vì Indo mạnh.

    Nhật, Ấn còn mạnh hơn Indo nhưng TQ đâu có nhượng bộ.

  3. Dương Danh Huy viết:

    À, mời các bác tạm nghỉ đọc cãi cọ quan trọng đại sự DDH-TNT để đọc bài của Lê Minh Phiếu và tôi trên VNN về việc TQ cấm đánh cá:

    http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/7160/index.aspx

  4. Dương Danh Huy viết:

    Bác HTS và TNT,

    Trong bản đồ trong bài “Appétits rivaux en mer de Chine”, đường mà tác giả cho là đường yêu sách của VN thật ra là bản đồ các lô dầu khí của cty dầu khí VN.

    1) Nếu cho đó là lập trường của VN (eg của CP, NN) về EEZ, TLD, hay đó là theo tuyên bố 1977, 1982 thì hơi quá đáng.

    2) Thật ra cái lưỡi bò liếm dọc của TQ không thể là EEZ/TLD 1 cách phù hợp UNCLOS vì nó vượt quá trung tuyến rất nhiều. Cái lưỡi bò liếm ngang đã ít vuợt trung tuyến lại còn không bao trùm hết TS, cho nên không thể dùng cái LBLN để nói rằng cái LBLD của TQ là EEZ/TLD 1 cách phù hợp UNCLOS.

  5. Hoàng Trường Sa viết:

    “Anh Huy nên xem các bản đồ mà Việt Nam công bố vào các năm 1977 và 1982 trước khi phê bình tôi viết sai hay đúng. Tôi viết ở đây là nương theo lập trường hợp lý của VN để bênh vực quyền lợi của đất nước mình. Anh nói tôi sai thì không sao, nhưng anh nói thế là sổ toẹt vào lập trường của Việt Nam.” (Trích lời tác giả Trương Nhân Tuấn)
    Đúng vậy. Theo tôi biết, lập trường của VN về hải phận nước CHXHCN VN công bố năm 1977 và 1982 vẽ rõ ràng ranh giới hải phận này BAO TRÙM hai quần đảo HS và TS (rất giống và lớn hơn cả Thềm Lục Địa Mở Rộng của VNCH do cố Thủ Tướng VNCH Nguyễn Bá Cẩn đệ nạp LHQ ngày 13-5-2009). Hải phận này trông giống cái bụng bầu của phụ nữ mà tôi đặt tên l à “cái bụng bầu (của Mẹ) Việt Nam”. Bác Huy thích gọi nó là “cái lưỡi bò liếm NGANG” mặc dầu, khác với “lưỡi bò TQ” (Bác Huy gọi là “lưỡi bò liếm DỌC”) nó chẳng giống cái lưỡi bò chút nào cả.
    Quý vị có thể tham khảo bản đồ hải phận do CHXHCN VN chủ trương vào những năm 1977 đến 1982 (và có lẽ 1997) qua bài “Appétits rivaux en mer de Chine” của Philippe Rekacewicz (janvier 1997) (Sources : Virginie et Sonia Raisson, Lépac, Paris http://www.monde-diplomatique.fr/cartes/spratlymdv1997 ).
    Nhìn vào bản đồ này ta thấy ngay ĐCSVN đã liên tục nhượng bộ về chủ quyền trên hải phận của VN. Trước hết là nhượng bộ TQ trong Vịnh Bắc Bộ khi hủy bỏ giá trị của “đường đỏ” phân định VBB trong Hiệp ước Pháp Thanh 1884 (làm VN mất 11 ngàn kilômét vuông biển) và bây giờ, qua hai báo cáo Bắc và Nam nộp LHQ, TỪ BỎ chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa.

  6. Dương Danh Huy viết:

    Xin sửa comment trước như sau:

    Anh Huy cố gắng chứng minh TQ không có tham vọng tại Natuna, anh phản bác bài viết của tôi nhằm chứng minh TQ… bị hàm oan.

    🙂

    Lại kiểu quy chụp.

    Nếu tôi nói bác sai về TQ đòi đảo Natuna, hay bác không có đủ cơ sở để chứng minh (sách ABC bác nói thì bác chưa trích, có sách viết khác sách ABC, bác chưa đưa ra công hàm, tuyên bố cụ thể), thì trên đời có nhiều khả năng khác ngoài việc “anh phản bác bài viết của tôi nhằm chứng minh TQ… bị hàm oan.”

    Lý ra phải trích đầy đủ thế này : “Chính sách giữ nước của đảng CSVN hiện nay có khuynh hướng hủy bỏ hiệu lực của các đảo HS và TS, tức tự hủy hoại thân thể, tự đốt nhà của mình. Việt Nam quá “yếu”, không thể bảo vệ lãnh thổ nước mình, mặt khác, công hàm ông Phạm Văn Đồng đã tuyên bố HS&TS là của TQ, thì đòi lại sao được ? Do đó nhà nước CSVN nhất định để mất HS&TS chứ không tìm cách hóa giải công hàm này thông qua một quá trình dân chủ hóa và hòa giải dân tộc. Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa?” Anh Huy trích dẫn và suy diễn lung tung như thế thật là thiếu lương thiện của một trí thức.

    Thật ra câu bác viết

    “Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa?”

    đứng riêng 1 paragraph. Việc tôi trích nguyên paragraph có 1 câu đó là hoàn toàn hợp lý và lương thiện hơn bác “trích” nó thành chung với 1 paragraph khác.

    Mà trước đó bác không cho rằng HSTS không được hiệu lực là ngược với xương máu VN sao?

  7. Dương Danh Huy viết:

    Các ý kiến 16, 17, 18, 19, 20 anh Huy viết : “TNT cho rằng phải hoá giải CH PVD. (H, X, Y)” điều 19 viết tiếp ‘ai cũng biết’ điều 18, nhưng cách hoá giải TNT đưa ra không có tác dụng hoá giải (H).” Nếu vậy anh Huy nên viết bài phân tích phương pháp của tôi vì sao “không có tác dụng hóa giải”

    Tôi đã nói về nguyên tắc tại sao nó không hoá giải được quá nhiều lần rồi, bác không hiểu hay không chấp nhận thì thôi?

    Theo phương pháp thông thường, người nào đề nghị và cho rằng hoá giải được thì người đó phải chứng minh rằng hoá giải được, chứ sao lại đòi người khác viết bài chứng minh?

    1 người gắn lông chim vào chân heo, hay thiết kế 1 máy bay nào đó, bảo “Bay được”, người khác bảo “Không bay được”, thì người nào phải viết bài chứng minh?

    Tòa án nào ở đây mà “theo ý kiến của Toà” thưa anh Huy?

    “Theo ý kiến của Toà” ở đây là xin ý kiến tư vấn của Toà án Công lý Quốc tế. Tôi đã nói nhiều lần rồi.

    Bác với bác HTS có phản đối gì về xin ý kiến tư vấn của Toà án Công lý Quốc tế về HSTS được bao nhiêu HL không?

  8. Dương Danh Huy viết:

    TNT1: khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng: Muốn đối phó với ‘biển lịch sử’ của Trung Quốc, Việt Nam phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982.

    TNT2: Anh Huy nói tôi viết không chính xác nhưng không thấy anh chứng minh là không chính xác chỗ nào ? …Theo anh Huy thì luận cứ của tôi đúng hay sai ?

    Tôi TNT1 không chính xác.

    Không chính xác là đoạn bôi đậm, vì muốn đối phó với ‘biển lịch sử’ của Trung Quốc thì có cả cách khác(*) chứ không nhất thiết là “phải” như bác nói.

    (*)thí dụ như khă/ng định là trong lịch sử TQ không khẳng định và thực thi chủ quyền trong vùng biển đó.

    Và việc tôi chủ trương (như các chính phủ VN đã chủ trương) “phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982″ thì sai ở đâu, khôn

    Tôi không nói là chủ trương đó riêng nó sai. Tôi nói là bác không chính xác khi nói rằng muốn đối phó với ‘biển lịch sử’ của Trung Quốc thì phải làm như thế.

  9. Dương Danh Huy viết:

    Về TQ không đòi đảo Natuna tôi đã đưa ra dẫn chứng ở đây:

    http://www.talawas.org/?p=5331&cpage=4#comment-2474

    http://www.amazon.co.uk/gp/search?index=books&linkCode=qs&keywords=0765605678
    Trang 147: … the Chinese foreign minister Qian Qichen has told him [Indonesian foreign minister Ali Alatas] that the PRC considers the Natunas to be under Indonesian jurisdiction and has never claimed them.

    Ngoài ra,

    a) Thường thì người nói cái gì tồn tại là người phải chứng minh nó chứ không phải người nói “không tồn tại”.

    b) Khi các sách viết khác nhau về TQ có đòi đảo Natuna hay chỉ đòi các vùng biển, mà bác TNT chỉ lựa sách nói hợp ý mình (lại không trích) làm dẫn chứng thì không khoa học lắm.

    c) So sánh các sách và sự khác biệt rõ ràng giữa việc TQ đòi HSTS, Scarborough, Senkaku và “đòi” Natunas, tôi cho rằng TQ không hay ít nhất không thật sự đòi Natuna.

    d) Tất nhiên bác TNT cứ việc có kết luận khác.

  10. Dương Danh Huy viết:

    Bổn phận các học giả Việt Nam đương nhiên là phải lột trần các âm mưu giả dối trong hồ sơ của Trung Quốc và đưa các bằng chứng chứng minh Việt Nam có chủ quyền không thể tranh biện tại HS&TS.

    Tôi thiết nghĩ ai cũng biết phải chứng minh rằng HSTS là của VN. Nhưng đó không phải là điều duy nhất có thể phản biện cái lưỡi bò.

    Ý kiến 10 và 11 về bản đồ minh họa tham vọng của TQ về quần đảo Sulu và Natuna. Anh Huy cho rằng những cái “móc” là minh họa ranh giới Mã-Phi (hay ranh giới của Nam Dương) thì có nhiều điều không vững.

    Ý kiến khác nhau thôi. Tôi thấy dù không vững cũng còn vững hơn là bảo nó “móc” 1 quần đảo nằm cách cái móc đó 300 km. Nhưng ai muốn tin gì thì tin.

    Về việc Trung Quốc giành chủ quyền Natuna vào đầu thập niên 80 tôi đã đưa 4 tài liệu để chứng minh. Ở đây tôi không có nhu cầu thuyết phục ai cả. Tôi chỉ đưa ra các dữ kiện, thực ra đó là một tin tức đã được báo chí thời đó ghi nhận. Anh Huy nói tôi sai (thực ra là các học giả mà tôi đã dẫn tên) mà không đưa ra được bằng chứng nào phản biện. Nếu anh Huy đưa được một tài liệu cho rằng Trung Quốc không có giành đảo Natuna đầu thập niên 80 thì phản biện của anh Huy sẽ khoa học hơn.

    Thật ra bác TNT chỉ nói rằng sách ABC nói điều đó và nói rằng đó là tin tức được báo chí ghi nhận. Sự thật là bác TNT chưa hề đưa ra sách ABC nói gì và báo chí nói gì mà chỉ đưa ra bác ấy nghĩ sách báo này nói gì.

  11. Dương Danh Huy viết:

    Về hiệu lực của HS&TS, đứng trên quan điểm luật học, tức theo UNCLOS, thì không ai có thể làm quan tòa để phán quyết ở đây. Trong tranh luận người ta chỉ có thể dựa theo UNCLOS để giải thích mà thôi. Do đó mỗi người có quyền diễn giải theo cách của mình. Nếu dựa lên UCLOS, hiệu lực của HS&TS đã được minh họa cụ thể là các bản đồ của VN công bố các năm 1977 và 1982 (mà tôi đã nhiều lần đưa lên). Anh Huy nói việc này “vô lý” thì đó là ý kiến của anh, tôi tôn trọng, nhưng rõ rằng đó không phải là ý kiến của phía Việt Nam!

    V/d ở đây là lưỡi bò vượt quá trung tuyến cho nên khi bác TNT cho rằng lưỡi bò là EEZ, TLD thì điều đó tương đương với bác TNT cho rằng HSTS được hơn 100% hiệu lực. Và cho rằng HSTS được hơn 100% hiệu lực là vô lý.

    “Phía VN” nào mà cho rằng HSTS được hơn 100% hiệu lực vậy bác?

    Anh Huy “phán” như là quan tòa. Tôi nói thế, nhiều học giả trên thế giới đã nói thế, ý nghĩa bản đồ chữ U của Trung Quốc chỉ có thể đến từ hiệu lực của các đảo trong Biển Đông mà Trung Quốc đã dành của các nước.

    Việc cho rằng HSTS không thể được hơn 100% hiệu lực thì cũng không cần tới “phán như quan toà”.
    V/d ở đây là ngay cả các đảo HSTS cũng không thể tạo ra lưỡi bò vì lưỡi bò lớn hơn vùng biển 100% hiệu lực của HSTS.

  12. Dương Danh Huy viết:

    (TT)
    TNT: Anh Huy nên xem các bản đồ mà Việt Nam công bố vào các năm 1977 và 1982 trước khi phê bình tôi viết sai hay đúng. Tôi viết ở đây là nương theo lập trường hợp lý của VN để bênh vực quyền lợi của đất nước mình. Anh nói tôi sai thì không sao, nhưng anh nói thế là sổ toẹt vào lập trường của Việt Nam.
    Bản đồ 1977 và 1982 nào của VN mà nói rằng lập trường của VN là HSTS được hơn 100% hiệu lực, được EEZ và TLD vượt quá trung tuyến vậy bác?
    Và cũng chính anh cũng đã hăng say dùng UNCLOS để phủ nhận đường cơ bản của Việt Nam, nói rằng đường này “vi phạm UNCLOS”. Trong khi đó, thực tế cho thấy hệ thống đường cơ bản của VN không bị ai chỉ trích, mà các hệ thống đường cơ bản của nhiều nước khác, trong đó có Trung Quốc, mới bị đặt vấn đề.
    Thật ra nhiều nước phản đối trong đó có Mỹ (6/12/1982), TQ (31/11/1982), Đức (12/12/1982), Pháp (5/12/1983). Mỹ không những phản đối mà còn cố ý vi phạm để khẳng định quyền của mình trong vùng VN gọi là lãnh hải và nội thuỷ (Mỹ làm điều này với những nước đòi biển quá đáng).

  13. Dương Danh Huy viết:

    Bác TNT,
    Có lẽ không cần viết 1 bài để trả lời bài này, nên tôi sẽ trả lời bằng phương tiện “comments”.
    Anh Dương Danh Huy viết bài phản biện phần 3 bài viết của tôi. Anh đưa ra đến hơn 20 lập luận để phản biện nó.
    Thật ra 21 điểm trong bài “VÀI Ý KIẾN VỀ BÀI “ĐƯỜNG CHỮ U (3)” của tôi không khải là lập luận để phản biện bài của bác. Đó chỉ là những ý kiến của tôi, 1 phần những ý kiến đó là đồng ý với bác, 1 phần là phản biện, 1 phần không phải đồng ý hay phản biện.
    Tôi cũng không có nhu cầu viết bài đó nếu ông Nguyễn Nhật Anh không yêu cầu.
    Thêm nữa, trong bài tôi đã nói rõ ràng ”Tôi sẽ chỉ viết nhanh và ngắn gọn về mỗi điểm vì không đủ thì giờ để viết hoàn chỉnh như ông Nguyễn Nhật Anh đề nghị.”
    Ý kiến thứ 3 nói rằng “bản đồ lưỡi bò được TQ dùng chính thức lần đầu tiên năm 1948 (Jinming + Dexia -> H).” Điều này sai, chính thức là tháng 12 năm 1947, người vẽ là Bai Meichu.
    Tôi nói được dùng chính thức năm 1948, bác TNT vô tình hay lẫn lộn với vẽ năm 1947.
    2 sự kiện khác nhau này có trong bài của Jinming và Dexia như tôi nói, trên tạp chí luật học Ocean Development & International Law.
    DDH: nếu cho rằng vùng biển như lưỡi bò là EEZ, TLD thuộc HSTS thì cũng không phù hợp với UNCLOS. Lý do là đường lưỡi bò vượt quá đường trung tuyến. Nếu cho là EEZ, TLD thuộc HSTS thì sẽ vô lý, vì điều này sẽ có nghĩa HSTS được hơn 100% hiệu lực (H) 9. Bởi (8), việc TNT cho rằng đường lưỡi bò là do hiệu lực HSTS, là sai. Vì HSTS không thể được

  14. Nghiêm Quang viết:

    Không biết lúc Trung Quốc vẽ bản đồ này Mã và Phi phân định lãnh hải chưa?

    Ranh giới Mã-Phi chủ yếu nhằm phân chia hải phận giữa bang Sabbah, đảo Bornéo của Malaysia và quần đảo Sulu của Philippines. Cơ sở cho việc phân định này là 2 văn bản ký kết dưới thời thuộc địa:
    Hiệp định Paris 1898 giữa TBN và Hoa Kỳ về việc xác định lãnh hải của Philippines.
    Thỏa ước Washington 1930 giữa Hoa Kỳ và Anh Quốc xác định đường biên giữa Quần đảo Philippines và bang Bắc Bornéo

    (nguồn:http://en.wikipedia.org/wiki/Malaysia-Philippines_border)

    Không có gì lạ khi các bản đồ chữ U, vốn xuất hiện sau thời điểm 1930, minh họa một phần đường ranh giới Mã-Phi, theo các hiệp định-thỏa ước nêu trên. Bản đồ chữ U không có nhiệm vụ vẽ toàn bộ đường ranh giữa các quốc gia khác, không có liên quan đến Trung Quốc.

    Lịch sử nhóm đảo Sulu từ thế kỷ 17 cũng chỉ có bóng dáng người TBN, Pháp, Mỹ mà không phải người Hoa. Thế nên, xác suất để Trung Quốc giành chủ quyền nơi đây là gần như không có.

  15. Phùng Tường Vân viết:

    À, có thế chứ, ông TNT sao không cứ bình tĩnh hoà nhã như vậy mà tranh luận thì có phải là hay hơn không nào. Nếu ta chẳng học được phong thái người xưa “người quân tử tranh luận với người khác thì không khác khi thi bắn cung, vái mà chào nhau trước khi bước lên thí đài” thì một thái độ hòa nhã, tương kính thiết nghĩ cũng là một đòi hỏi tối thiểu có phải không ạ?

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>