Các phản biện của Dương Danh Huy về ý nghĩa bản đồ chữ U
09/06/2009 | 3:06 sáng | 18 Comments
Category: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Hoàng Sa-Trường Sa
Anh Dương Danh Huy viết bài phản biện phần 3 bài viết của tôi. Anh đưa ra đến hơn 20 lập luận để phản biện nó. Tôi xin có vài ý kiến về các phản biện này. Dưới đây tôi sẽ gọi các phản biện 1, 2, 3, … là các “ý kiến 1, 2 , 3,…”
Về ý kiến 2, anh Huy viết : “Bản đồ lưỡi bò đầu tiên do Hồ Cẩm Tiếp (Hu Jinjie, tổ của Hồ Cẩm Đào) vẽ năm 1914. (Hurng Yu -> Hoàng Việt + Trang Hạ -> H)”.
Bài viết ở đây đã ghi chú đầy đủ nguồn gốc của bản đồ chữ U: “về căn nguyên của của đường chữ U, được Hu Jinjie, một người chuyên vẽ bản đồ người Trung Quốc, vẽ lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1914. Đường chữ U được chính thức vẽ bởi Bai Meichu, một viên chức thuộc nhà nước Cộng hòa Dân Quốc (Republic of China) [7], vào tháng 12 năm 1947.”
Xin ghi chú thêm: Theo tin Tân Hoa Xã, tháng 1 năm 2000, bản đồ này do người Trung Quốc vẽ lần đầu tiên, xuất hiện vào tháng 10 năm 1845, tại thành phố Shijianzhuang, tỉnh Hebei.
Đương nhiên, tin của Tân Hoa Xã thì không có gì chắc chắn. Cũng chính Tân Hoa Xã có lần đã loan báo là đào quật được một số cổ vật như tiền điếu, miểng sành, lọ, hũ… trên một số đảo HS&TS. Việc này chứng minh người Hoa đã ở trên đảo từ thời nhà Tống. Nhưng những cổ vật này chưa bao giờ được trình làng để được kiểm chứng, tương tự tấm bản đồ 1845 kia. Điều này làm ta liên tưởng đến tiểu Phân Mao Lãnh, tiểu Đổ Chú Hà, đề thờ Phục Ba… Tất cả đều là các bằng chứng giả tạo để chiếm đất, chiếm đảo của VN.
Ý kiến thứ 3 nói rằng “bản đồ lưỡi bò được TQ dùng chính thức lần đầu tiên năm 1948 (Jinming + Dexia -> H).” Điều này sai, chính thức là tháng 12 năm 1947, người vẽ là Bai Meichu.
Ý kiến 4 (5,6,7) nói rằng “bản đồ lưỡi bò là một bản đồ tuỳ tiện, không có cơ sở lịch sử pháp lý (H, X, Y).” Không ai phản đối việc này nhưng khi nói nó “tùy tiện” thì phải chứng minh rằng nó “tùy tiện” ở các chỗ nào? Anh Huy chứng minh là nó tùy tiện khi nào ? Qua các bằng chứng gì ? Bài vừa qua của tôi là nhằm chứng minh bản đồ chữ U là một dàn dựng lếu láo, là hỏa mù của Trung Quốc tung ra để lường gạt người Việt để chiếm đảo và biển của Việt Nam.
Ý kiến 8 nói rằng “nếu cho rằng vùng biển như lưỡi bò là EEZ, TLD thuộc HSTS thì cũng không phù hợp với UNCLOS. Lý do là đường lưỡi bò vượt quá đường trung tuyến. Nếu cho là EEZ, TLD thuộc HSTS thì sẽ vô lý, vì điều này sẽ có nghĩa HSTS được hơn 100% hiệu lực (H) 9. Bởi (8), việc TNT cho rằng đường lưỡi bò là do hiệu lực HSTS, là sai. Vì HSTS không thể được hơn 100% hiệu lực (H).”
Anh Huy nên xem các bản đồ mà Việt Nam công bố vào các năm 1977 và 1982 trước khi phê bình tôi viết sai hay đúng. Tôi viết ở đây là nương theo lập trường hợp lý của VN để bênh vực quyền lợi của đất nước mình. Anh nói tôi sai thì không sao, nhưng anh nói thế là sổ toẹt vào lập trường của Việt Nam. Và cũng chính anh cũng đã hăng say dùng UNCLOS để phủ nhận đường cơ bản của Việt Nam, nói rằng đường này “vi phạm UNCLOS”. Trong khi đó, thực tế cho thấy hệ thống đường cơ bản của VN không bị ai chỉ trích, mà các hệ thống đường cơ bản của nhiều nước khác, trong đó có Trung Quốc, mới bị đặt vấn đề.
Về hiệu lực của HS&TS, đứng trên quan điểm luật học, tức theo UNCLOS, thì không ai có thể làm quan tòa để phán quyết ở đây. Trong tranh luận người ta chỉ có thể dựa theo UNCLOS để giải thích mà thôi. Do đó mỗi người có quyền diễn giải theo cách của mình. Nếu dựa lên UCLOS, hiệu lực của HS&TS đã được minh họa cụ thể là các bản đồ của VN công bố các năm 1977 và 1982 (mà tôi đã nhiều lần đưa lên). Anh Huy nói việc này “vô lý” thì đó là ý kiến của anh, tôi tôn trọng, nhưng rõ rằng đó không phải là ý kiến của phía Việt Nam!
Về hiệu lực đường chữ U anh Huy viết: ” việc TNT cho rằng đường lưỡi bò là do hiệu lực HSTS, là sai. Vì HSTS không thể được hơn 100% hiệu lực. (H)”
Anh Huy “phán” như là quan tòa. Tôi nói thế, nhiều học giả trên thế giới đã nói thế, ý nghĩa bản đồ chữ U của Trung Quốc chỉ có thể đến từ hiệu lực của các đảo trong Biển Đông mà Trung Quốc đã dành của các nước. Bởi vì, nếu Việt Nam có thể giải thích hiệu lực HS&TS theo pháp lý và thực tiễn lịch sử thì Trung Quốc cũng có quyền làm như thế. Nhưng không như Việt Nam có đầy đủ bằng chứng để chứng minh chủ quyền của mình tại HS&TS, phía TQ không có gì cả, ngoài các bằng chứng ngụy tạo!
Bổn phận các học giả Việt Nam đương nhiên là phải lột trần các âm mưu giả dối trong hồ sơ của Trung Quốc và đưa các bằng chứng chứng minh Việt Nam có chủ quyền không thể tranh biện tại HS&TS. Bạch Thư của VNCH năm 1975 đã tổng hợp các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam trong chiều hướng đó và Bạch Thư 1981 của CHXHCNVN cũng đã lập lại như thế. Cá nhân tôi đây chỉ cố gắng đóng góp vào thêm (ở những điểm mà chưa học giả Việt Nam nào nhắc tới) để hồ sơ Việt Nam ngày càng thêm vững chắc.
Ý kiến 10 và 11 về bản đồ minh họa tham vọng của TQ về quần đảo Sulu và Natuna. Anh Huy cho rằng những cái “móc” là minh họa ranh giới Mã-Phi (hay ranh giới của Nam Dương) thì có nhiều điều không vững. Không biết lúc Trung Quốc vẽ bản đồ này Mã và Phi phân định lãnh hải chưa? Tại sao giới hạn hai nước lại vẽ bằng cái “móc”? Tôi nghĩ rằng, ở điểm này, anh Huy nên đọc thêm sách lịch sử Trung Quốc, xem các bản đồ của Trung Quốc vào thập niên 50, để hiểu biết thêm về đòi hỏi lãnh thổ, lãnh hải của Trung Quốc.
Về ý kiến 12 anh Huy viết : “Việc TNT cho rằng năm 1980 TQ đòi đảo Natuna, sau đó nhượng bộ, là sai, hay ít nhất chưa có chứng cớ thuyết phục, thí dụ như tuyên bố, công hàm đòi chủ quyền, phản đối chủ quyền của Indo, hay có hành động gì. Trên thực tế, có chứng cớ ngược lại: BT NG TQ nói không và chưa bao giờ đòi đảo Natuna. Tuy có sách nói Indo thấy có bản đồ TQ bao trùm đảo Natuna, có sách nói Indo thấy có bản đồ có chồng lấn lên EEZ của Natuna. (H)”
Về việc Trung Quốc giành chủ quyền Natuna vào đầu thập niên 80 tôi đã đưa 4 tài liệu để chứng minh. Ở đây tôi không có nhu cầu thuyết phục ai cả. Tôi chỉ đưa ra các dữ kiện, thực ra đó là một tin tức đã được báo chí thời đó ghi nhận. Anh Huy nói tôi sai (thực ra là các học giả mà tôi đã dẫn tên) mà không đưa ra được bằng chứng nào phản biện. Nếu anh Huy đưa được một tài liệu cho rằng Trung Quốc không có giành đảo Natuna đầu thập niên 80 thì phản biện của anh Huy sẽ khoa học hơn.
Về ý kiến 13 anh Huy viết : “Lập luận của TNT, ‘TQ phải nhượng bộ ở đảo Natuna vì Indo mạnh’, không có đủ cơ sở (H).” Thực ra đây không phải là “lập luận”, mà là một thực tế. Các tài liệu tôi đã dẫn đều có ghi nhận việc này. Để tránh dài dòng, tôi làm photo hai trang sách của Eric Denéce để mọi người xem và tự kết luận.


Về ý kiến 14 anh Huy trích ngang hông bài viết của tôi thế này “Quan điểm của TNT, ‘Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa?’, là một cường điệu vô lý (H).”
Lý ra phải trích đầy đủ thế này : “Chính sách giữ nước của đảng CSVN hiện nay có khuynh hướng hủy bỏ hiệu lực của các đảo HS và TS, tức tự hủy hoại thân thể, tự đốt nhà của mình. Việt Nam quá “yếu”, không thể bảo vệ lãnh thổ nước mình, mặt khác, công hàm ông Phạm Văn Đồng đã tuyên bố HS&TS là của TQ, thì đòi lại sao được ? Do đó nhà nước CSVN nhất định để mất HS&TS chứ không tìm cách hóa giải công hàm này thông qua một quá trình dân chủ hóa và hòa giải dân tộc. Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa?” Anh Huy trích dẫn và suy diễn lung tung như thế thật là thiếu lương thiện của một trí thức.
Về ý kiến 15, anh Huy phê bình : “Về đọan này, ‘khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng: Muốn đối phó với ‘biển lịch sử’ của Trung Quốc, Việt Nam phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982. TNT đã viết một cách không chính xác/chủ quan và phi khiêm nhường (H).”
Anh Huy nói tôi viết không chính xác nhưng không thấy anh chứng minh là không chính xác chỗ nào ? Về việc “chủ quan”, thực ra bài nghiên cứu nào, của bất kỳ học giả nào, cũng viết chủ quan. Nhưng việc chủ quan hay không thì không ăn nhập gì, quan trọng là điều trình bày đúng hay sai. Ở đây tôi nói bản đồ chữ U của Trung Quốc là ngụy tạo, tôi đưa bằng chứng và lý giải rằng nó là đồ giả, ngụy tạo, là hỏa mù để đánh lạc hướng các học giả Việt Nam (và thế giới) nhằm cướp đảo và biển của Việt Nam. Theo anh Huy thì luận cứ của tôi đúng hay sai ? Chủ quan thì đương nhiên rồi, nếu không “chắc ăn” thì tôi viết ra làm gì? Nếu sai thì xin anh Huy cho biết nó sai ở những chỗ nào. Và việc tôi chủ trương (như các chính phủ VN đã chủ trương) “phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982” thì sai ở đâu, không chính xác ở đâu và “phi khiêm nhường” ở điểm nào?
Các ý kiến 16, 17, 18, 19, 20 anh Huy viết : “TNT cho rằng phải hoá giải CH PVD. (H, X, Y)” điều 19 viết tiếp ‘ai cũng biết’ điều 18, nhưng cách hoá giải TNT đưa ra không có tác dụng hoá giải (H).” Nếu vậy anh Huy nên viết bài phân tích phương pháp của tôi vì sao “không có tác dụng hóa giải”. Nếu anh chỉ phê bình theo cảm tính, không dựa trên bất kỳ một luận cứ khoa học nào thì e rằng việc thảo luận của hai bên không cùng tầng số, là việc mất thì giờ vô ích.
Về ý kiến chót 21 thì cũng có một hai việc phải nói thêm. Việc hóa giải công hàm ông Đồng có nhiều phương pháp. Tôi chỉ đưa ra phương pháp ôn hòa nhất, là đấu tranh để hòa giải dân tộc, đi đến hòa hợp dân tộc, để có sự đồng thuận của cả dân tộc trên những quyết định lớn liên hệ đến đất nước. Phương pháp của tôi tạo lối thoát danh dự cho đảng CSVN, đem lại cảm thông cho dân chúng ở các miền, các bên (cộng hòa và cộng sản), không gây đổ vỡ mất mát hay tạo khoảng trống quyền lực mà việc này sẽ rất nguy hiểm cho Việt Nam. Chắc chắn sẽ có nhiều phương pháp khác, như ý kiến của bác HoangTruongSa vừa đưa lên.
Còn về hiệu lực của HS&TS, lập trường của anh Huy thì anh đã nói nhiều lần : HS&TS không có hiệu lực ZEE, tôi không tiện nói thêm nữa. Ở đây anh Huy viết : “(21.2) Dù VN trong tương lai là ‘dân chủ’ hay ‘cộng sản’ thì vẫn khó mà giành được cái lưỡi bò liếm ngang. Vì vậy giải pháp HSTS không hiệu lực/ít hiệu lực/có hiệu lực theo ý kiến của Toà vẫn tốt hơn đòi 100% hiệu lực cho HSTS và dẫn tới diệt vong cho VN ở Biển Đông (H).”
Tòa án nào ở đây mà “theo ý kiến của Toà” thưa anh Huy? Vả lại, anh Huy chủ trương HS&TS không có hiệu lực, nay sao lại có việc “HSTS không hiệu lực/ít hiệu lực/có hiệu lực theo ý kiến của Toà”? Và vì sao dẫn đến diệt vong? Thằng ăn cướp nó vào cướp nhà của mình, mình sợ “diệt vong” nên ra chuồng heo ở và nhường nhà mình cho nó à?
Tóm lại, tôi nhận thấy việc phản biện của anh Dương Danh Huy rất ư là “tình cảm”, toàn bài không thấy đưa một dữ kiện khoa học nào. Anh Huy cố gắng chứng minh TQ không có tham vọng tại Natuna, anh phản bác bài viết của tôi nhằm chứng minh TQ… bị hàm oan.
[…] mới nhất của Trương Nhân Tuấn, như thường lệ, có những lỗi lầm sơ đẳng và thiếu sót trầm trọng về […]
Về vấn đề Hoàng Sa, ông Tuấn nhận xét:
“…Nhưng khó khăn cho phía VN là TQ đã công bố bản đồ lãnh hải năm 1996, xác định vùng biển Hoàng Sa, đòi hỏi ZEE 200 hải lý cho các đảo ở đây. Đây là việc không thể chấp nhận cho VN, một mặt HS thuộc chủ quyền của VN mà TQ xâm lăng bằng bạo lực, mặt khác các đảo ở đây đều nhỏ hơn các đảo Bạch Long Vĩ và Cồn Cỏ rất nhiều, chúng phần lớn chỉ là các rạng san hô, bãi cát nhấp nhô trên mặt biển. Như trên đã viết, lãnh đạo CSVN đã chấp nhận thiệt thòi để các đảo Bạch Long Vĩ và Cồn Cỏ là để vô hiệu hóa hiệu lực các đảo HS và TS.
Để giải quyết tình trạng này có hai trường hợp : 1/ phân chia hải phận và bỏ qua sự hiện hữu của các đảo HS. 2/ Giữ nguyên trạng biển Đông ; chờ đợi một giải pháp quốc tế cho HS.
Trường hợp 1 chỉ có thể thực hiện nếu TQ đồng ý. Trường hợp 2 chỉ có thể thực hiện nếu TQ không xây dựng căn cứ quân sự trên các đảo HS và khai thác bừa bãi trong vùng biển.
Nhưng không có dấu hiệu gì cho thấy TQ sẽ giải quyết bằng các phương cách như thế. Tình trạng họ đang xây dựng các căn cứ đồ sộ cho tàu ngầm, xây phi đạo cho phi cơ chiến đấu… trên các đảo, khai thác bừa bãi ở vùng biển này cho ta thấy việc đó. Vì thế VN cần phải «quốc tế hóa» vấn đề HS. Quốc tế hóa có nhiều ý nghĩa, mỗi người dân có thể thực hiện trong khả năng của mình. Về phía nhà cầm quyền thì phải vận động cho các nước công nhận chủ quyền của VN tại HS, hoặc ít nhất, phủ nhận chủ quyền của TQ tại đây. Sau đó là đưa nội vụ ra trước một tòa án quốc tế…”
Xin giới thiệu một bài viết hay của ông Trương Nhân Tuấn, không hiểu sao chưa từng được nhắc tới trên diễn đàn talawas:
“Tham luận: Vấn đề tranh chấp Biển Đông”
(Đàn Chim Việt, 29-09-2008)
Tôi chú ý điểm c, phần 5/Đề nghị phương hướng giải quyết, theo đó ông Tuấn viết:
“Việt Nam cũng nên thiết lập một hồ sơ kéo dài thềm lục địa, đến 350 hải lý, phù hợp với tinh thần của công ước Biển 1982, (…). Ở điểm này VN có lợi hơn các nước khác trong vùng vì thềm lục địa của VN lài, là phần kéo dài của lục địa.
Việc làm trên cũng nhằm “vô hiệu hóa” ảnh hưởng các đảo Trường Sa do Trung Quốc chiếm đóng. Việt Nam có lý do để đòi hỏi các đảo này không được hưởng các qui chế đã ấn định trong luật biển 1982.
(…)
Phần biển VN do đó sẽ lớn hơn tất cả các nước trong vùng, vì thuận lợi địa lý như chiều dài, do hệ thống đường cơ bản, do thềm lục địa mở ra thuận lợi không có hố sâu chặn lại như các nước khác… Đương nhiên là sẽ không quan trọng bằng nếu như Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về VN. Nhưng trước mắt Việt Nam có thể khai thác vùng biển của mình đồng thời ngăn chận được tham vọng vô lý của Trung Quốc.
Việc phản đối hay đe dọa của Trung Quốc chắc chắn sẽ có nhưng không còn quan trọng. Lý lẻ của Trung Quốc sẽ là Việt Nam khai thác trên một vùng có chồng lấn với thềm lục địa của các đảo Trường Sa mà Trung Quốc đang đòi chủ quyền. (…)”