Vài ý kiến về bài “Đường chữ U (3)”
06/06/2009 | 4:08 sáng | 26 Comments
Category: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Lưỡi bò
Theo đề nghị của ông Nguyễn Nhật Anh, tôi cắt dán và viết lại những quan điểm và lập luận của tôi về bài “TÌM HIỂU Ý NGHĨA TẤM BẢN ĐỒ CHÍN GẠCH (CHỮ U) CỦA TRUNG QUỐC QUA MỘT VÀI KINH NGHIỆM LỊCH SỬ (3)” như sau.
Tôi sẽ chỉ viết nhanh và ngắn gọn về mỗi điểm vì không đủ thì giờ để viết hoàn chỉnh như ông Nguyễn Nhật Anh đề nghị.
Vài ký hiệu:
- (H) = Quan điểm của DDH
- (X) = DDH cho rằng TNT nói đúng
- (Y) = DDH cho rằng đó là điều “ai cũng biết”
Tôi có thể lầm khi ghi hay không ghi X hay Y.
1. Việt Nam cần có quân đội mạnh để đối đầu với TQ. (H, X, Y)
2. Bản đồ lưỡi bò đầu tiên do Hồ Cẩm Tiếp (Hu Jinjie, tổ của Hồ Cẩm Đào) vẽ năm 1914. (Hurng Yu -> Hoàng Việt + Trang Hạ -> H)
3. Bản đồ lưỡi bò được TQ dùng chính thức lần đầu tiên năm 1948. (Jinming + Dexia -> H)
4. Bản đồ lưỡi bò là một bản đồ tuỳ tiện, không có cơ sở lịch sử pháp lý. (H, X, Y)
5. Khi nó ra đời, nó không thể là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. (H, X, Y)
6. TQ không có đủ cơ sở lịch sử, pháp lý để cho đó là vùng biển lịch sử. (H, X, Y)
7. Nếu cho rằng vùng biển như lưỡi bò là biển lịch sử thì không phù hợp với UNCLOS. (H, X?, Y?)
8. Nếu cho rằng vùng biển như lưỡi bò là EEZ, TLD thuộc HSTS thì cũng không phù hợp với UNCLOS. Lý do là đường lưỡi bò vượt quá đường trung tuyến. Nếu là là EEZ, TLD thuộc HSTS thì sẽ vô lý vì sẽ có nghĩa HSTS được hơn 100% hiệu lực. (H)
9. Vì (8), việc TNT cho rằng đường lưỡi bò là do hiệu lực HSTS, là sai. Vì HSTS không thể được hơn 100% hiệu lực. (H)
9.1 TQ lợi dụng sự bạc nhược của VN và ĐNA và diễn giải bản đồ lưỡi bò sao cho phục vụ ý đồ bành trướng. (H, X, Y)
9.2 Mặc dù bản đồ lưỡi bò phi pháp, phi lý, điều đó sẽ chỉ cay đắng thêm cho VN nếu VN để cho TQ thực hiện được nó hay một phần của nó. (H)
10. Việc TNT cho rằng bản đồ lưỡi bò (bản đồ 1 trong bài viết của TNT) có “móc vào” quần đảo Sulu, là sai. Bản đồ chỉ “móc vào” biển Sulu, chỉ “móc” cách quần đảo Sulu 300 km, không thể cho là “móc vào” quần đảo Sulu. Trên thực tế, cái “móc” đó là minh hoạ ranh giới Mã-Phi. (H)
11. Việc TNT cho rằng bản đồ lưỡi bò (bản đồ 1 trong bài viết của TNT) có “móc vào” đảo Natuna, là sai. Trên thực tế, 1 cái “móc” đó là minh hoạ ranh giới Indo-Phi, 1 cái “móc” là minh hoạ ranh giới bắc của Indo. (H)
12. Việc TNT cho rằng năm 1980 TQ đòi đảo Natuna, sau đó nhượng bộ, là sai, hay ít nhất chưa có chứng cớ thuyết phục, thí dụ như tuyên bố, công hàm đòi chủ quyền, phản đối chủ quyền của Indo, hay có hành động gì. Trên thực tế, có chứng cớ ngược lại: BT NG TQ nói không và chưa bao giờ đòi đảo Natuna. Tuy có sách nói Indo thấy có bản đồ TQ bao trùm đảo Natuna, có sách nói Indo thấy có bản đồ có chồng lấn lên EEZ của Natuna. (H)
13. (14) có nghĩa lập luận của TNT, “TQ phải nhượng bộ ở đảo Natuna vì Indo mạnh”, không có đủ cơ sở. (H)
14. Quan điểm của TNT, “Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa?”, là một cường điệu vô lý (H):
- Thứ nhất: Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam. Đối với dân tộc nào trên thế giới thì lãnh thổ cũng là thiêng liêng. Đối với quân đội nào trên thế giới thì một trong những nhiệm vụ cao nhất cũng là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ. Đối với chính phủ nào trên thế giới thì một trong những nhiệm vụ cao nhất cũng phải là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ.
- Thứ nhì: Vị trí chiến lược của HSTS.
- Thứ ba: Lãnh hải 12 hải lý của các đảo HSTS. Mỗi đảo được khoảng 1500 km2 lãnh hải. Có khoảng chừng 10 đảo HS và khoảng chừng 30 đảo TS có thể được hưởng quy chế lãnh hải. Vậy các đảo HSTS có thể có khoảng chừng 50000 km2 lãnh hải. (Có lẽ ít hơn vì lãnh hảo của các đảo chồng lấn lên nhau).
- Thứ tư: Trong những vùng không chồng lấn lên các vùng biển thuộc nước khác, các đảo có thể được EEZ.
Dù HSTS không có 100% hiệu lực trong việc tính EEZ thì chúng cũng thiêng liêng và quý báu đối với dân tộc Việt Nam chứ không phải những cục đá không giá trị như TNT quan niệm.
15. Về đọan này, “Khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng : Muốn đối phó với « biển lịch sử » của TQ, VN phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982.”, TNT đã viết 1 không chính xác/chủ quan và phi khiêm nhường (H).
Nếu muốn đối phó với vỏ dưa “biển lịch sử” thì chỉ cần lập luận là trong lịch sử TQ không hề tuyên bố và thực thi chủ quyền đối với vùng biển bên trong đường lưỡi bò là đủ. Lập luận đó sẽ thuyết phục với thế giới. Chắc chắn là thế giới, đặc biệt là ĐNA và Âu Mỹ, chẳng bao giờ chấp nhận vỏ dưa “biển lịch sử” của TQ.
Đòi phải tránh cái vỏ dưa đó bằng cách đòi rằng các đảo HSTS phải có 100% hiệu lực EEZ, thềm lục địa không thuyết phục gới thế giới vì
- 15.1 Thế giới trung lập về HSTS thuộc về nước nào.
- 15.2 Thế giới sẽ khó tin là HSTS phải có 100% hiệu lực.
Không những thế, đòi vậy giống như tránh vỏ dưa nhưng cho TQ cái vỏ dừa để TQ phang VN.
Viết không chính xác/chủ quan như thế mà ghi là “Khi hiểu cặn kẽ” thì hơi phi khiêm nhường.
16. TNT cho rằng nếu TQ không thể đòi chủ quyền d/v HSTS thì TQ không thể đòi lưỡi bò. (H, X, Y)
17. Ai cũng biết điều 16, nhưng cần tính tới 2 điều sau (H):
- 17.1 Khó có thể làm cho TQ không thể đòi chủ quyền d/v HSTS. (H)
- 17.2 Với thực trạng 17.1, có cách khác để chống lưỡi bò mà không tổn hại cho chủ quyền d/v HSTS. (H)
18. TNT cho rằng phải hoá giải CH PVD. (H, X, Y)
19. “Ai cũng biết” điều 18, nhưng cách hoá giải TNT đưa ra không có tác dụng hoá giải (H).
20. Về CH PVD, cần (H):
- 20.1 Nghiên cứu thêm để xác định nó có hiệu lực ràng buộc d/v VN ngày nay hay không. (H)
- 20.2 Nghiên cứu các lý lẽ để phản biện lập luận của TQ. (H)
- 20.3 Trong tình trạng 2 bên chưa đồng ý đưa ra Toà, phải tuyên truyền chống lại tuyên truyền của TQ. (H)
21. DDH không nói gì về “dân chủ” hay “cộng sản”, chỉ nói rằng (H):
- 21.1 Dù VN trong tương lai là “dân chủ” hay “cộng sản” thì CH PVD vẫn có hoặc không có hiệu lực y hệt nhau, và VN vẫn cần làm (20). (H)
- 21.2 Dù VN trong tương lai là “dân chủ” hay “cộng sản” thì vẫn khó mà giành được cái lưỡi bò liếm ngang. Vì vậy giải pháp HSTS không hiệu lực/ít hiệu lực/có hiệu lực theo ý kiến của Toà vẫn tốt hơn đòi 100% hiệu lực cho HSTS và dẫn tới diệt vong cho VN ở Biển Đông. (H)
[…] Dương Danh Huy viết bài phản biện phần 3 bài viết của tôi. Anh đưa ra đến hơn 20 lập luận để phản biện nó. […]
Ông Lê Anh Dũng viết câu sau đây làm tôi giật mình đánh thót, đọc lại lần thứ nhì phải lấm lét trước sau.
“Giả sử ông Nguyễn Tấn Dũng viết một công hàm Nguyễn Tấn Dũng đồng ý với tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền của Trung Quốc trên ¾ lãnh thổ Việt Nam, và toàn thể phụ nữ Việt Nam thì sao?” (tôi nhấn mạnh).
Phụ nữ nói chung và Việt Nam nói riêng, bấy lâu chỉ có quen lãnh đủ chứ chưa bao giờ là lãnh hải cả để các ông sĩ phu hai nuớc tự tiện sang nhượng hay là sở hữu.
Có phụ nữ Việt Nam nô lệ bán sang Trung Quốc hay là Cam Bốt, có phụ nữ bán ngay trong nước và có phụ nữ không bán đi đâu hết, chỉ giữ làm nô lệ trong nhà, nhưng hẳn không phải là trường hợp được đề cập ở đây.
Thử tưởng tượng Hồ Cẩm Đào tuyên bố kiểu này với cá nhân con gái ông thôi, ông sẽ phải năn nỉ cô ta đặt va-ly xuống và đừng bỏ nhà bố mẹ. Còn tuyên bố với phu nhân thì tôi sợ ông sẽ lãnh luôn tô canh (chẳng lành) vào người hay vào mặt, số phận sẽ hẩm hiu hơn là cả đồng chí Triệu Tử Dương.
Phụ nữ Việt Nam tốt nhất (đẹp nhất chứ) là để yên cho họ tự làm chủ lấy, và không phải của ai mà có thể này nọ công hàm.
Nhân tiện xin giới thiệu với Talawas website này đăng quyển sách của ông Lưu Văn Lợi về chủ quyền VN ở HSTS:
http://songchampls.vnweblogs.com/post/9597/161761
Bản đánh máy này là công trình thứ nhì của nhóm Cộng tác viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.
Công trình thứ nhất của nhóm Cộng tác viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông là bản đánh máy tiếng Việt của UNCLOS:
http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=4272
Trước đó, với tiền của người đóng góp, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông đã thực hiện bản đánh máy quyển “Tập San Sử Địa 29: Đặc Khảo Hoàng Sa Trường Sa”:
http://www.minhbien.org/?p=391
Hy vọng những công trình này và các công trình trong tương lai của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông và nhóm Cộng tác viên sẽ là đóng góp thiết thực cho những người quan tâm về HSTSBD.
Bác Nho Thanh & Hoà Nguyễn,
Đây là bài Lê Minh Phiếu và tôi viết chung trên VNN về việc TQ hà hiếp ngư dân VN:
http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/7160/index.aspx
Cảm ơn bác Dũng Vũ.
Tôi nghĩ, ông Huy nên trao đổi với người có thẩm năng thì mới thực tế và hữu hiệu.Tôi có biết một GS người Ðức chuyên gia về Völkerrecht, hiểu nhiều về Estoppel và vấn đề biên giới. Nếu ông Huy muốn tìm hiểu thông tin nơi ông ấy, tôi sẽ giúp ông liên lạc.
Xin bác giúp liên lạc ông này.
Trong Quỹ Nghiên cứu Biển Đông có anh Lê Minh Phiếu, hiện đang làm PhD luật. Thỉnh thoảng anh Lê Minh Phiếu và tôi cũng bàn về v/d CH PVĐ. Ngoài ra trong QNCBĐ còn có 1 người có bằng Master về công pháp quốc tế, 1 luật sư khá nổi tiếng và anh Hoàng Việt là giảng viên ĐH Luật SG.
Nếu bác giúp chúng tôi liên lạc được GS này thì rất quý.
Tuy vậy, thiết nghĩ, ông đừng nên đưa vấn đề quá chuyên môn lên bàn trên talawas, bởi thiếu người chuyên môn. Mặt khác, cần cẩn thận, vì như đã có lần đề nghị, không phải thông tin nào cũng đáng đưa ra ngoài; đối phương có thể khai thác, có hại cho ta.
Đúng vậy, mặc dù 1 phần tôi muốn khích thích nghiên cứu thêm về CH PVĐ, và cũng muốn chỉ ra những lý lẽ không vững, nhưng tôi cũng không nói ra hết những gì tôi nghĩ, vì thế nào cũng có người dùng 1/2 vấn đề 1 cách có hại cho VN trong tuyên truyền.
Vấn đề CH PVD có lẽ chỉ còn nằm ở chỗ tòa có thể tính đến yếu tố Estoppel và Vertrauensprinzip (nguyên tắc tin tưởng) như ông Dương Danh Huy lo ngại. Tuy vậy, thiết nghĩ, ông đừng nên đưa vấn đề quá chuyên môn lên bàn trên talawas, bởi thiếu người chuyên môn. Mặt khác, cần cẩn thận, vì như đã có lần đề nghị, không phải thông tin nào cũng đáng đưa ra ngoài; đối phương có thể khai thác, có hại cho ta.
Tôi nghĩ, ông Huy nên trao đổi với người có thẩm năng thì mới thực tế và hữu hiệu.Tôi có biết một GS người Ðức chuyên gia về Völkerrecht, hiểu nhiều về Estoppel và vấn đề biên giới. Nếu ông Huy muốn tìm hiểu thông tin nơi ông ấy, tôi sẽ giúp ông liên lạc.
“Logic của bác HTS rất vui: “Đòi ít hiệu lực cho HSTS là có lợi cho TQ”, “Kêu gọi nghiên cứu thêm về CH PVD là ru ngủ”.” (Trích ý kiến Bác DDH)
Tôi chưa bao giờ đưa ra ý kiến là “đòi ít hiệu lực cho HSTS là có lợi cho TQ” như Bác Huy đã phán. Tôi chỉ đưa ra ý kiến rằng TỪ BỎ chủ quyền trên HSTS khi không VẼ HSTS vào các bản đồ trong các báo cáo gửi LHQ về thềm lục địa mở rộng của VN là chỉ làm lợi cho Phi Luật Tân (và TQ). Điều này quá rõ ràng vì khi ta từ bỏ chủ quyền của hai quần đảo này, không đưa chúng vào hồ sơ thềm lục địa mở rộng mà chỉ tuyên bố một cách mơ hồ, như đề thêm hai chữ VN trong dấu ngoặc trong hình vẽ của HS và TS trên bản đồ, là ta đã làm SUY YẾU trầm trọng tuyên bố chủ quyền trên HSTS trong tương lai. Trái hẳn với CSVN, tuyên bố về hồ sơ thềm lục địa mở rộng của VNCH do cố Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn đệ trình LHQ đã vẽ rõ ranh giới TLĐMR của VNCH bao trùm cả hai quần đảo HSTS.
Tôi cho rằng những kêu gọi nghiên cứu về Biển Đông nói chung và về Công hàm PVĐ của Bác Huy, trong khi BỎ QUA việc lên tiếng tố cáo với toàn dân sự tắc trách chối bỏ nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải VN của ĐCSVN cũng như không kêu gọi toàn dân giành lại quyền Dân tộc Tự quyết từ trong tay ĐCSVN để thực sự đấu tranh với TQ bảo vệ chủ quyền của VN ở HSTS và Biển Đông là hành động có tính ru ngủ toàn dân. Bởi vì, nó chỉ có tính tháp ngà vô bổ và sẽ đánh lạc hướng dư luận về những mục đích nói trên mà đối với tôi mới là chính yếu. Tóm lại, tôi không đồng ý với chủ trương của Bác Huy là bớt “hồng” thêm “chuyên”.
tôi chưa biết rõ nhưng đoán rằng tiền lệ DDH nêu ở http://www.minhbien.org/?p=188 về tranh chấp giữa Denmark và Norway, lời phát biểu của thủ tướng Norway bị cho là có ý nghĩa có lẽ vì có thiếu sót này
Phán quyết của Toà về tranh chấp Đông Greenland giữa Denmark và Norway không dựa vào Norway thiếu chứng cớ lịch sử mà vào tính chất của phát biểu của bộ trưởng NG Norway trong context.
CH PVĐ có thể, (và tôi nhấn mạnh là “có thể” chứ không phải “mặc nhiên”, và chưa ai khẳng định được là “không thể”) làm cho VN mất hết quyền có từ các chứng cớ lịch sử.
Nếu TQ dùng CH PVD để lập luận về HSTS thì chúng ta không thể chỉ phản biện bằng những chứng cớ lịch sử thời Nguyễn, Pháp. Đây là thiếu sót trong thảo luận về HSTS trong nước.
Mà nếu phản biện bằng cách nói “Các CP VN CS là bất hợp pháp” thì cũng không thuyết phục với thế giới. Đây là thiếu sót trong thảo luận về CH PVĐ ở nước ngoài.
Logic của bác HTS rất vui: “Đòi ít hiệu lực cho HSTS là có lợi cho TQ”, “Kêu gọi nghiên cứu thêm về CH PVD là ru ngủ”.
Vậy mà TQ ngu quá, lại đi đòi nhiều hiệu lực cho HSTS, không biết đó là có lợi cho VN, hại cho TQ.
Và “CSVN” cũng ngu luôn, không kêu gọi nghiên cứu thêm về CH PVD để ru ngủ dân tộc VN.
(TT)
Bởi vì, có lẽ chẳng làng nước lại cho rằng các giấy tờ như bằng khoán đất, chúc thư đúng thủ tục, giấy thuế, hoặc các tài liệu khách quan khác (giấy tờ giao dịch, buôn bán, gia phả dòng họ khác…) lại kém giá trị hơn cái thư tay một chiều đó.
Với cách suy nghĩ như trong ví dụ trên, tôi hoàn toàn đồng ý với DDH là “CH PVĐ… không phải là v/đ quan trọng nhất hiện nay”, và cũng tán đồng với các điểm DDH nêu ra ở mục 20 v/v giải quyết công hàm này. Tôi cũng cho rằng lập luận của bà Từ Đặng Minh Thu và GS Monique Chemillier-Gendreau không phải là thiếu tính thuyết phục trừ khi ta không trưng được các chứng cứ lịch sử, tài liệu khách quan khác (hoặc có nhưng chưa có tính thuyết phục) để phản biện thêm (tôi chưa biết rõ nhưng đoán rằng tiền lệ DDH nêu ở http://www.minhbien.org/?p=188 về tranh chấp giữa Denmark và Norway, lời phát biểu của thủ tướng Norway bị cho là có ý nghĩa có lẽ vì có thiếu sót này). Do đó, việc chính hiện nay là ta cần tập trung công sức sưu tập các chứng cứ pháp lí, lịch sử, các tài liệu khách quan… chứng minh chủ quyền của mình đ/v HS TS và công bố cho thế giới biết, trong khi đó cố gắng bổ khuyết, hoàn chỉnh hơn lập luận của bà TĐMT. Dĩ nhiên, đối với v/đ HS TS tôi cũng không mơ mộng là VN có thể giành HẾT chủ quyền thuộc về mình vì chắc chắn rằng ta không thể nào có đầy đủ chứng cớ đã chiếm hữu và thực hiện sự chiếm hữu HÀNG TRĂM đảo lớn nhỏ của 2 q/đ này.
Với suy nghĩ rằng mọi luật lệ cao xa cũng không thể nào quá trái ngược với “lẽ thông thường” (common sense), tôi xin đóng góp về v/đ CH PVĐ bằng một ví dụ đời thường tương tự:
Nhà họ Huỳnh tôi được ông bà để lại một mảnh vườn ven sông cùng với một cồn đất ngoài sông. Lúc trước, anh em nhà tôi bất hoà không thể làm ăn chung đến nỗi nhờ làng nước giải quyết hộ. Làng nước chia đôi mảnh vườn, nhóm Huỳnh A nhận phần phía Bắc, nhóm Huỳnh B nhận phần phía Nam cùng với cái cồn đất (do cồn gần phần phía Nam hơn). Nhân lúc chưa có quy định của làng nước về ranh đất mở rộng ra sông, nhà hàng xóm phía Huỳnh A đã tự ra yết thị về ranh đất mở rộng có bao gồm cả cái cồn. Phía Huỳnh A, do được nhà hàng xóm này giúp đỡ khi tranh chấp với Huỳnh B nên đã mau mắn viết thư tán đồng yết thị đó. Hiện nay, sau khi “giải quyết nội bộ” anh em họ Huỳnh xoá ranh cùng làm ăn chung và đang tranh chấp cái cồn đất với nhà hàng xóm kia. Họ dùng thư của nhóm Huỳnh A làm cơ sở, nhiều anh em trong nhà cho rằng mình sẽ thua vì cái thư này. Có anh em khác bình tĩnh hơn, cho rằng đây chỉ là một thư đơn phương, không phải cam kết có hai bên kí tên trước làng nước, hơn nữa lúc viết thư Huỳnh A không trực tiếp làm chủ cái cồn. Do đó, nếu có thể tìm được “bằng khoán đất”, “giấy đóng thuế”, di chúc ông bà làm đúng thủ tục pháp lí hay ít ra là gia phả của dòng họ, đặc biệt là của người ngoài, các giấy tờ giao dịch, buôn bán với người khác… cho thấy cái cồn thuộc nhà họ Huỳnh thì chẳng sợ gì cái thư tay kia. (còn tiếp)
TQ lưu hành trong nước họ bản đồ đường chữ U đứt khúc đã lâu. Dựa theo các tìm hiểu của ông DD Huy và nhiều học giả VN khác thì đó chỉ là láo khoét, không có cơ sở lịch sử như họ bảo “vùng biển lịch sử”. Mới đây, khi TQ đưa vấn đề này ra với quốc tế, theo tôi, người VN cần xem lại cái “chữ U” này cẩn thận hơn.
TQ chưa đủ sức mạnh để coi thường quốc tế, dựng nên một câu chuyện từ không nói thành có. Tham vọng HSTS đối với họ “song song” với tham vọng chữ U.Tuy nhiên, theo tôi, chiến lược của họ là sở hữu đường chữ U trước, nhân đó mới hợp lý để chiếm HSTS.
Xoá bỏ được đường chữ U trước là chúng ta xoá bỏ được tiền đề để TQ chiếm HSTS. Giả sử chúng ta làm được điều này rồi thì chúng ta còn vướng công hàm ông PVĐ.
Thưa bác LA Dũng, cách giải quyết của bác là “mạnh được yếu thua”. Có thể VN sẽ mạnh lên, lấy lại được HSTS và biển Đông. Bác không thể cấm TQ (cộng hoà hay cộng sản) dạy cho con cháu họ VN đã cướp mất biển đảo của TQ. “Sự ổn định trên biển Đông sẽ là một tỷ lệ nghịch với sự mạnh yếu của TQ”. Chúng ta có làm phiền cho hậu thế chúng ta không nhỉ?
Thưa bác HTSa, tôi cho rằng dẫu người Việt chúng ta vì một lý do nào đó choảng nhau đến mức diệt vong, một chính quyền mới không phải của người Việt nhưng lãnh thổ quốc gia mới này là lãnh thổ cũ của VN. Chắc chắn chính quyền mới này phải lo trả nợ cũ của VN đồng thời buộc phải gánh hết mọi quan hệ quá khứ đối với quốc tế nếu họ muốn được sự thừa nhận của quốc tế.