Vài ý kiến về bài “Đường chữ U (3)”
06/06/2009 | 4:08 sáng | 26 Comments
Category: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Lưỡi bò
Theo đề nghị của ông Nguyễn Nhật Anh, tôi cắt dán và viết lại những quan điểm và lập luận của tôi về bài “TÌM HIỂU Ý NGHĨA TẤM BẢN ĐỒ CHÍN GẠCH (CHỮ U) CỦA TRUNG QUỐC QUA MỘT VÀI KINH NGHIỆM LỊCH SỬ (3)” như sau.
Tôi sẽ chỉ viết nhanh và ngắn gọn về mỗi điểm vì không đủ thì giờ để viết hoàn chỉnh như ông Nguyễn Nhật Anh đề nghị.
Vài ký hiệu:
- (H) = Quan điểm của DDH
- (X) = DDH cho rằng TNT nói đúng
- (Y) = DDH cho rằng đó là điều “ai cũng biết”
Tôi có thể lầm khi ghi hay không ghi X hay Y.
1. Việt Nam cần có quân đội mạnh để đối đầu với TQ. (H, X, Y)
2. Bản đồ lưỡi bò đầu tiên do Hồ Cẩm Tiếp (Hu Jinjie, tổ của Hồ Cẩm Đào) vẽ năm 1914. (Hurng Yu -> Hoàng Việt + Trang Hạ -> H)
3. Bản đồ lưỡi bò được TQ dùng chính thức lần đầu tiên năm 1948. (Jinming + Dexia -> H)
4. Bản đồ lưỡi bò là một bản đồ tuỳ tiện, không có cơ sở lịch sử pháp lý. (H, X, Y)
5. Khi nó ra đời, nó không thể là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. (H, X, Y)
6. TQ không có đủ cơ sở lịch sử, pháp lý để cho đó là vùng biển lịch sử. (H, X, Y)
7. Nếu cho rằng vùng biển như lưỡi bò là biển lịch sử thì không phù hợp với UNCLOS. (H, X?, Y?)
8. Nếu cho rằng vùng biển như lưỡi bò là EEZ, TLD thuộc HSTS thì cũng không phù hợp với UNCLOS. Lý do là đường lưỡi bò vượt quá đường trung tuyến. Nếu là là EEZ, TLD thuộc HSTS thì sẽ vô lý vì sẽ có nghĩa HSTS được hơn 100% hiệu lực. (H)
9. Vì (8), việc TNT cho rằng đường lưỡi bò là do hiệu lực HSTS, là sai. Vì HSTS không thể được hơn 100% hiệu lực. (H)
9.1 TQ lợi dụng sự bạc nhược của VN và ĐNA và diễn giải bản đồ lưỡi bò sao cho phục vụ ý đồ bành trướng. (H, X, Y)
9.2 Mặc dù bản đồ lưỡi bò phi pháp, phi lý, điều đó sẽ chỉ cay đắng thêm cho VN nếu VN để cho TQ thực hiện được nó hay một phần của nó. (H)
10. Việc TNT cho rằng bản đồ lưỡi bò (bản đồ 1 trong bài viết của TNT) có “móc vào” quần đảo Sulu, là sai. Bản đồ chỉ “móc vào” biển Sulu, chỉ “móc” cách quần đảo Sulu 300 km, không thể cho là “móc vào” quần đảo Sulu. Trên thực tế, cái “móc” đó là minh hoạ ranh giới Mã-Phi. (H)
11. Việc TNT cho rằng bản đồ lưỡi bò (bản đồ 1 trong bài viết của TNT) có “móc vào” đảo Natuna, là sai. Trên thực tế, 1 cái “móc” đó là minh hoạ ranh giới Indo-Phi, 1 cái “móc” là minh hoạ ranh giới bắc của Indo. (H)
12. Việc TNT cho rằng năm 1980 TQ đòi đảo Natuna, sau đó nhượng bộ, là sai, hay ít nhất chưa có chứng cớ thuyết phục, thí dụ như tuyên bố, công hàm đòi chủ quyền, phản đối chủ quyền của Indo, hay có hành động gì. Trên thực tế, có chứng cớ ngược lại: BT NG TQ nói không và chưa bao giờ đòi đảo Natuna. Tuy có sách nói Indo thấy có bản đồ TQ bao trùm đảo Natuna, có sách nói Indo thấy có bản đồ có chồng lấn lên EEZ của Natuna. (H)
13. (14) có nghĩa lập luận của TNT, “TQ phải nhượng bộ ở đảo Natuna vì Indo mạnh”, không có đủ cơ sở. (H)
14. Quan điểm của TNT, “Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa?”, là một cường điệu vô lý (H):
- Thứ nhất: Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam. Đối với dân tộc nào trên thế giới thì lãnh thổ cũng là thiêng liêng. Đối với quân đội nào trên thế giới thì một trong những nhiệm vụ cao nhất cũng là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ. Đối với chính phủ nào trên thế giới thì một trong những nhiệm vụ cao nhất cũng phải là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ.
- Thứ nhì: Vị trí chiến lược của HSTS.
- Thứ ba: Lãnh hải 12 hải lý của các đảo HSTS. Mỗi đảo được khoảng 1500 km2 lãnh hải. Có khoảng chừng 10 đảo HS và khoảng chừng 30 đảo TS có thể được hưởng quy chế lãnh hải. Vậy các đảo HSTS có thể có khoảng chừng 50000 km2 lãnh hải. (Có lẽ ít hơn vì lãnh hảo của các đảo chồng lấn lên nhau).
- Thứ tư: Trong những vùng không chồng lấn lên các vùng biển thuộc nước khác, các đảo có thể được EEZ.
Dù HSTS không có 100% hiệu lực trong việc tính EEZ thì chúng cũng thiêng liêng và quý báu đối với dân tộc Việt Nam chứ không phải những cục đá không giá trị như TNT quan niệm.
15. Về đọan này, “Khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng : Muốn đối phó với « biển lịch sử » của TQ, VN phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982.”, TNT đã viết 1 không chính xác/chủ quan và phi khiêm nhường (H).
Nếu muốn đối phó với vỏ dưa “biển lịch sử” thì chỉ cần lập luận là trong lịch sử TQ không hề tuyên bố và thực thi chủ quyền đối với vùng biển bên trong đường lưỡi bò là đủ. Lập luận đó sẽ thuyết phục với thế giới. Chắc chắn là thế giới, đặc biệt là ĐNA và Âu Mỹ, chẳng bao giờ chấp nhận vỏ dưa “biển lịch sử” của TQ.
Đòi phải tránh cái vỏ dưa đó bằng cách đòi rằng các đảo HSTS phải có 100% hiệu lực EEZ, thềm lục địa không thuyết phục gới thế giới vì
- 15.1 Thế giới trung lập về HSTS thuộc về nước nào.
- 15.2 Thế giới sẽ khó tin là HSTS phải có 100% hiệu lực.
Không những thế, đòi vậy giống như tránh vỏ dưa nhưng cho TQ cái vỏ dừa để TQ phang VN.
Viết không chính xác/chủ quan như thế mà ghi là “Khi hiểu cặn kẽ” thì hơi phi khiêm nhường.
16. TNT cho rằng nếu TQ không thể đòi chủ quyền d/v HSTS thì TQ không thể đòi lưỡi bò. (H, X, Y)
17. Ai cũng biết điều 16, nhưng cần tính tới 2 điều sau (H):
- 17.1 Khó có thể làm cho TQ không thể đòi chủ quyền d/v HSTS. (H)
- 17.2 Với thực trạng 17.1, có cách khác để chống lưỡi bò mà không tổn hại cho chủ quyền d/v HSTS. (H)
18. TNT cho rằng phải hoá giải CH PVD. (H, X, Y)
19. “Ai cũng biết” điều 18, nhưng cách hoá giải TNT đưa ra không có tác dụng hoá giải (H).
20. Về CH PVD, cần (H):
- 20.1 Nghiên cứu thêm để xác định nó có hiệu lực ràng buộc d/v VN ngày nay hay không. (H)
- 20.2 Nghiên cứu các lý lẽ để phản biện lập luận của TQ. (H)
- 20.3 Trong tình trạng 2 bên chưa đồng ý đưa ra Toà, phải tuyên truyền chống lại tuyên truyền của TQ. (H)
21. DDH không nói gì về “dân chủ” hay “cộng sản”, chỉ nói rằng (H):
- 21.1 Dù VN trong tương lai là “dân chủ” hay “cộng sản” thì CH PVD vẫn có hoặc không có hiệu lực y hệt nhau, và VN vẫn cần làm (20). (H)
- 21.2 Dù VN trong tương lai là “dân chủ” hay “cộng sản” thì vẫn khó mà giành được cái lưỡi bò liếm ngang. Vì vậy giải pháp HSTS không hiệu lực/ít hiệu lực/có hiệu lực theo ý kiến của Toà vẫn tốt hơn đòi 100% hiệu lực cho HSTS và dẫn tới diệt vong cho VN ở Biển Đông. (H)
Ông Nho Thanh viết: “Từ 16/5 đến 1/8, Trung Quốc cấm tất cả các nghề (trừ nghề lưới rê đơn và câu) vào đánh cá trong vùng biển từ 12 độ vĩ Bắc trở lên.”
Từ 12 độ vĩ Bắc tức từ vùng biển ngang với Cam Ranh, nằm ở phía Nam và cách quần đảo Hoàng Sa hơn 200 hải lý. Như thế có nghĩa TQ cấm đánh cá ở vùng biển nằm bên trong đường chữ U, không phải chỉ cấm quanh các đảo họ chiếm, với mục đích chứng tỏ cả vùng đó thuộc chủ quyền TQ.
Để yêu sách chủ quyền ở vùng “lưỡi bò”, mà TQ cho là vùng nước thuộc nội thuỷ của họ, TQ phải thực hiện hai điều:
1/ Tuyên bố vùng nước đó thuộc chủ quyền TQ, như họ đã làm, và mới đây gửi công hàm đến Liên Hiệp Quốc nói rõ điều này, kèm theo bản đồ vẽ đường chữ U.
2/ Thực hiện quyền chủ quyền, kể cả quyền khai thác, tài phán, v.v… Cấm tàu đánh cá các nước khác là để chứng tỏ TQ thực sự có chủ quyền ở vùng biển đó.
Việc TQ “quấy rầy” tàu do thám của Mỹ mới đây ở phía Bắc Hoàng Sa, gần đảo Hải Nam, cũng để chứng tỏ điều đó. Nhưng Mỹ nói là tàu họ vẫn tiếp tục công việc đang làm, như vậy đương nhiên Mỹ bác bỏ yêu sách của TQ.
Nhưng ngư dân VN không thể chống lại tàu tuần tra có vũ trang của TQ đã từng ngang nhiên đụng chìm tàu đánh cá và bắn chết nhiều người Việt vô tội. Tôi nghĩ VN lâm vào thế rất khó xử, không phải chỉ về quyền đánh cá, mà còn về chủ quyền biển thuộc EEZ của mình.
“Tôi nghĩ cần kêu gọi người Việt nghiên cứu thêm để tìm lập luận thuyết phục hơn.” (Trích ý kiến Bác Dương Danh Huy)
Kêu gọi nghiên cứu thêm để làm gì khi ngay cả cái gọi là Chính phủ và Quốc hội nước CHXHCN VN đều không hề là ĐẠI DIỆN cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân VN trong cũng như ngoài nước? Thử hỏi khi Quốc vụ viện (tức Quốc hội) TQ chính thức tuyên bố bằng văn bản thành lập huyện TAM SA (bao gồm cả hai quần đảo HS và TS của VN) thì Quốc hội và Chính phủ nước CHXHCN VN đã làm gì? Không có lấy một Công hàm phản đối và tái khẳng định chủ quyền của VN trên hai quần đảo này. Trái lại chỉ cho một người phát ngôn (Lê Dũng) và một ông Thứ trưởng ngoại giao (Vũ Dũng) phản đối chiếu lệ BẰNG MỒM qua những câu quen thuộc lải nhải nhiều năm. Đồng thời, khi sinh viên học sinh can đảm biểu lộ lòng yêu nước bằng biểu tình lên tiếng về chủ quyền của VN trên HS và TS thì ĐCSVN cho người đàn áp.
Những đề nghị của bác Huy về việc nghiên cứu về Biển Đông, theo tôi, chỉ là vô bổ khi VN chưa có một chế độ thực sự là đại diện của toàn dân. Bởi vì, như tôi đã nói với bác Huy trên Minh Biện trước đây, việc bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ và lãnh hải là nhiệm vụ của một CHÍNH QUYỀN chứ không phải của cá nhân hay đoàn thể nào. Tôi xin lặp lại ý kiến này ở đây, và xin nói thêm rằng cho tới khi có được một chính quyền THỰC SỰ muốn bảo vệ đất nước (chứ không bảo vệ ĐẢNG như hiện nay) thì việc làm này chỉ có tính RU NGỦ dư luận nhiều hơn là bảo vệ đất nước.
Bác Lê Anh Dũng,
Thảo luận về CH PVĐ trên Talawas nói riêng và của người VN trên mạng nói chung chưa tới trình độ tháp ngà.
V/d CH PVĐ, tôi cũng nghĩ không phải là v/d quan trọng nhất hiện nay.
Nhưng chúng ta vẫn cần kêu gọi người Việt nghiên cứu về CH PVĐ ở trình độ “tháp ngà”. Lý do là thế nào các “tháp ngà viên” TQ cũng sẽ viết bài trên tạp chí học thuật quốc tế, viết sách, viết báo để tranh thủ dư luận rằng CH PVĐ có nghĩa HSTS thuộc về TQ.
Nếu người Việt không có đủ trình độ để viết phản biện thì chúng ta làm gì?
_Im như hến?
_Cho ông Lê Dũng 2, 3, 4, 5 ra bảo: “VN có đầy đủ…”?
_Bảo: “Đó thấy chưa? TQ nói như vậy đó. Đúng là công hàm bán nước rồi”?
_Bảo: “CH PVD chỉ nói về chiều rộng 12 HL của lãnh hải, không nói gì về HSTS”?
_Bảo: “VNDCCH không có thẩm quyền d/v HSTS cho nên CH PVD không có hiệu lực”?
_Bảo: “Đó chỉ là chuyện tháp ngà. Thực tế chính trị quốc tế mới quan trọng”?
_Bảo: “Đó chỉ là chuyện giữa 2 đảng CS độc tài với nhau, không có giá trị ràng buộc nước VN dân
chủ”?
_Bảo: “QH VN đã vô hiệu hoá CH đó rồi”.
_Bảo: “VN thừa kế từ VNCH, các chế độ CS đều là bất hợp pháp, VN không thừa kế từ chúng”?
Tôi nghĩ cần hêu gọi người Việt nghiên cứu thêm để tìm lập luận thuyết phục hơn.
Nhỏ Thanh vừa đọc được mấy dòng tin này trên VnEpress:
“Tàu cá nằm bờ vì ngư trường bị phong tỏa
Mấy ngày nay, các cảng cá ở Đà Nẵng xao xác, ngư dân bàn tán chuyện đi – ở, chuyển đổi nghề. Tháng 3 đến tháng 7 là mùa đánh bắt, nhưng hàng trăm tàu cá đang phải nằm bờ vì ngoài khơi bị… phong tỏa.
Tại các cảng cá Đà Nẵng, câu chuyện người dân bàn tàn xôn xao là thông tin từ 16/5 đến 1/8, Trung Quốc cấm tất cả các nghề (trừ nghề lưới rê đơn và câu) vào đánh cá trong vùng biển từ 12 độ vĩ Bắc trở lên. Tháng 3 đến tháng 7 là chính vụ cá của ngư dân. Đây là những tháng ngày trời yên bể lặng nhất trong năm, nhưng ngư trường quen thuộc nay bị phong tỏa.
….
”
Nhờ các bác cao kiến điều tra giúp xem việc cấm đoán của nhà cầm quyền Trung Quốc như trên đúng sai như thế nào.
Và, nếu đúng, sai, thì nên có phản ứng ra sao.
Theo NT được biết, về việc này, trả lời câu hỏi về lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc tại một số vùng biển trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, từ 16/5 đến ngày 1/8/2009, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng nói: “Việt Nam khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Mọi hành động của nước ngoài đối với hai quần đảo này cũng như trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà không có sự đồng ý của Việt Nam đều là vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các khu vực này”.
Còn theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đà Nẵng Trần Văn Hào, hiện có 247 tàu cá của Đà Nẵng nằm bờ. Có nhiều lý do để tàu cá không ra khơi chứ không chỉ vì lệnh cấm biển của Trung Quốc. Có điều là ông không chỉ ra được lý do cụ thể nào. (Cũng theo VnExpress)
Nếu ý kiến của các bác phần nào giúp nhà nước Việt Nam giải quyết được vấn đề, để ngư dân Đà Nẵng lại được ra khơi đánh bắt hải sản thì thật tốt cho họ quá.
“Logic của Việt Nam lẫn Trung Quốc giống nhau như hai giọt nước: ngang ngược, yêu chuộng bạo lực (với nhân dân và kẻ yếu hơn mình), giả dối và dối trá…” (Trích ý kiến của Bác Lê Anh Dũng)
Rất chính xác ! Cũng xin nói thêm là cả đảng CSTQ lẫn đảng CSVN đều không đại diện cho nhân dân TQ và nhân dân VN, và cả hai Chính phủ cùng Quốc hội của TQ và VN không phải là những cơ quan đại diện cho nhân dân hai nước (như trong các quốc gia THỰC SỰ dân chủ tự do) vì chúng KHÔNG được bầu ra qua những cuộc ứng cử và bầu cử công bằng và tự do mà chỉ là thứ “đảng cử, đảng bầu, dân bỏ phiếu”.
Do đó tất cả mọi điều do ĐCSVN ký với ĐCSTQ (như cái Công hàm ô nhục PVĐ, các Hiệp định biên giới 1999, 2000 hay các Thông cáo chung giữa hai bên về việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên v.v…) đối với nhân dân VN (và có thể cả nhân dân TQ) là BẤT HỢP PHÁP và chế độ VN trong mai hậu (khi đã loại bỏ chế độ CSVN hiện tại) có toàn quyền PHỦ NHẬN những ký kết này.
Dù cho ai đó có khăng khăng cho rằng những điều sai lầm của ĐCSVN như Công hàm PVĐ sẽ vĩnh viễn có giá trị không thể đảo ngược (irreversible) nhân dân VN cũng không vì thế mà nhắm mắt chấp nhận những hậu quả tàn hại mà các sai lầm này gây ra cho dân tộc, tổ quốc và những thế hệ con cháu mai sau. Trái lại, tôi tin rằng, vì sự tồn vong của Tổ quốc, nhân dân ta sẽ vùng lên giành lại quyền Dân tộc Tự quyết để tự cứu, và giữ cho Tổ quốc mãi mãi trường tồn, xứng đáng với công lao dựng nước và giữ nước của tiền nhân.
“Quý vị có vẻ loay hoay chật chội trong tháp ngà khi bàn về công hàm PVD…” (LAD) ờ..ờ cái này nghe được quá, chính vì vậy mà hổm rầy bần lão cứ muốn “tả” một một vài câu về chuyện này tỉ như “Hiệu lực và giá trị của những cam kết quốc tế ngoài những hiệp ước” chẳng hạn, tài liệu, án lệ quốc tế thì đầy dẫy trong các giáo trình, bài viết… nhưng nay được nghe Lê Quân “giáo” cho như vậy là bẻ bút (về cái bài này thôi) luôn.
Qúi vị có vẻ loay hoay chật chội trong tháp ngà khi bàn về công hàm PVD.
Giả sử ông Nguyễn Tấn Dũng viết một công hàm Nguyễn Tấn Dũng đồng ý với tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền của Trung Quốc trên ¾ lãnh thổ Việt Nam, và toàn thể phụ nữ Việt Nam thì sao? Gay hơn, nếu toàn thể quốc hội Việt Nam tuyên bố đây là chủ trương lớn của Đảng, và quốc hội hoàn toàn nhất trí thì sao? Một nước Việt Nam khác, thừa kế nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam làm cái gì với công hàm Nguyễn Tấn Dũng?
Logic của Việt Nam lẫn Trung Quốc giống nhau như hai giọt nước: ngang ngược, yêu chuộng bạo lực (với nhân dân và kẻ yếu hơn mình), giả dối và dối trá. Điều khác nhau là giọt nước Trung Quốc lớn hơn giọt nước Việt Nam cả chục lần. Việt Nam nói chuyện phải trái gì với Trung Quốc khi mọi chuyện làm y chang Trung Quốc? Phân bua cái gì? Việt Nam thuộc về cộng đồng quốc gia nào, nói cho ai nghe?
Tuy nhiên quốc tế sẽ đứng về phe nào có lợi, hoặc ít làm hại cho họ, nếu cần quốc tế sẽ bẻ cong lẽ phải, sự công chính, những lý tưởng, khẩu hiệu cao đẹp. Có phải “thế giới tự do”, và nước Mỹ của tổng thống Jimmy Carter – giải Nobel hòa bình với chính sách ngoại giao nhấn mạnh trên nhân quyền, đã duy trì ghế của chế độ diệt chủng Polpốt, Khiêu Sampan, Iêng Sari tại Liên Hiệp Quốc sau khi Việt Nam dứt điểm Cao Miên?
Cho nên cần bàn để khỏi thiếu sót, nhưng trên thực tế đây không phải là yếu tố mấu chốt.
Ngoài mục A) nêu trên, B) chỉ là giả thiết , C) cũng dựa vào B. Do đó nếu đi theo phương hướng này để giải quyết những rắc rối ở biển Đông như TQ định nghĩa “vùng biển lịch sử”; cần rất nhiều tâm huyết, thời gian, các mối quan hệ và sự thận trọng.
Nếu không cho những gì tôi vừa nêu chỉ là “một tưởng tượng, không thể có”.
Mong ông và quí vị trong Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông thận trọng xúc tiến như là một biện pháp phòng ngừa, hầu chuẩn bị sẵn một trong những kế hoạch xoá bỏ đường chử U đứt khúc; thuận theo chiều hướng được sự ủng hộ của các cường quốc và thế giới (ngoại trừ TQ).
Xin chân thành cám ơn sự tranh luận cùng các bài viết của ông và ông TN Tuấn đã giúp ích cho tôi rất nhiều trong sự hiểu biết về biển Đông.
Xin gởi đến ông Dương Danh Huy một vài suy nghĩ của tôi về sự xuất hiện đường chữ U đứt khúc (quái dị) và biện pháp xoá bỏ nó.
A) Căn cứ vào:
-Đặc tính đứt khúc quái dị của nó.
-Thời điểm xuất hiện đường chữ U đứt khúc là liền kề sau đệ nhị thế chiến.
-Quân đội Tưởng Giới Thạch (TGT ) không trực tiếp chiến đấu với quân đội Nhật trên đất VN trong đệ nhị thế chiến.
-TGT được đồng minh phân công giải giới quân đội Nhật ở Bắc Việt và Bắc Triều Tiên.
B) Giả thiết lập định:
-Đồng minh giao cho TGT kiểm soát an ninh TRÊN MẶT BIỂN thuộc khu vực biển Đông để BẢO VỆ HOÀ BÌNH thế giới trong khu vực này.
C) Biện pháp xoá bỏ:
1)-Chứng minh Trung Quốc (TQ) chưa bao giờ thực hiện vai trò đồng minh giao phó.
Từ bỏ trách nhiệm tất nhiên từ bỏ luôn đối tượng của trách nhiệm. Điều này có nghĩa TQ tự ý xoá bỏ đường chử U đứt khúc không thuộc “trách nhiệm “ của mình.
2)-Chứng minh công hàm của ông Phạm văn Đồng ký ngày 14/9/1958 nằm trong chiều hướng BẢO VỆ HOÀ BÌNH trên biển Đông.
Các chính phủ kế thừa chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà có đủ quyền đơn phương tự rút lại ý kiến khi xác định TQ không thực thi tinh thần trách nhiệm BẢO VỆ HOÀ BÌNH trên biển Đông. (còn tiếp ).
Bác Huy giảng đi giảng lại quá nhiều lần, mỗi lần bác ấy viết gọn hơn một chút (chắc vì thấy tốn giờ quá), cuối cùng giống telex hay texting. Thực ra tôi nghĩ chuyện đó không cần thiết đối với người không muốn hiểu.
Đôi câu về PH DDH (06/06/2009,4:06 chiều):
“Bác (HTS) đã không hiểu mục 19, 20 và 21…” điều ấy thì hiển nhiên quá rồi, không hiểu hay đọc không kỹ mà cứ viết, cứ nói…không lạ khi thấy PQT nhiều khi phát bẳn, nhưng tôi cũng phải thưa điều này, những trình bày của ông DDH có thể có đủ các tính chất của văn học nghiên cứu, thảo luận đại khái như thận trọng, không quả đoán, tôn trọng quan điểm khác mình và nhất là luôn luôn hoa nhã… nhưng chỉ thiếu sự minh bạch, thiếu dến nỗi đôi khi trở thành rối rắm! Tôi xin lỗi về những nhận định có thể có phần hơi bất công với ông chăng.
Bác HTS
Bác đã không hiểu mục 19, 20, 21 và những gì tôi đã viết trên Talawas, X-Cafe và Minh Biện về CH PVD.
Tạm minh hoạ với thí dụ sau để nói về 1 khía cạnh của v/d:
Nếu Iraq dưới Saddam có tuyên bố, công hàm, hành động nào tạo ra 1 legally binding international obligation cho Iraq thì luật quốc tế sẽ không công nhận CP Iraq ngày nay và trong tương lai đơn phương ruồng bỏ international obligation đó. (Đơn phương có nghĩa đối tượng của international obligation không chấp nhận việc Iraq ruồng bỏ).
Vì vậy, giải pháp bác TNT đưa ra, có vẻ có nhiều thiếu sót về khía cạnh luật quốc tế về tiếp nối quốc gia, thừa kế quốc gia.
“Bác Huy chấp nhận rằng nhân dân VN phải chịu sống với cái Công hàm PVĐ”
V/d không phải DDH hay HTS hay TNT hay BBT Talawas hay độc giả Talawas có chấp nhận hay không mà là luật quốc tế có đòi hỏi VN phải chấp nhận hay không.
Đó là điều cân nghiên cứu thêm để xác định chính xác.
Cái giải pháp của ông Trương Nhân Tuấn (mà ông Hà Minh đã gọi là giải pháp “Cá Tháng Tư”, nhưng tôi nghĩ nên gọi là giải pháp “Úm ba la” thì thích hợp hơn – “Úm ba la ta không thừa kế” một cái, là công hàm PVĐ được “hóa giải”) đã được DD Huy (http://www.talawas.org/?p=4412 và nhiều chỗ khác) và tôi (http://www.talawas.org/?p=2000) bác bỏ nhiều lần bằng logic và sự kiện. Ông TNT và ủng hộ viên Hoàng Trường Sa không bao giờ trả lời nổi những phản biện ấy mà chỉ nhắc đi nhắc lại nó như một câu thần chú. Thôi thì… coi như là một cái long running joke là tốt nhất.
Đối với một vấn đề phức tạp: phức tạp về pháp lý, phức tạp về thực tế tương quan lực lượng, phức tạp về những tranh chấp chằng chịt không phải chỉ có giữa Trung Quốc và Việt Nam… như vấn đề Hoàng Sa Trường Sa mà giải pháp để giải quyết của độc giả HTS phản ảnh rất đúng đắn cái lập trường như tôi đã có lần đề cập là cùng một lúc phải dương cao hai ngọn cờ: SÁT THÁT và SÁT CỘNG
mà ông tin là cực kỳ giản dị, “hiệu quả”(!), mọi khó khăn sẽ bị “triệt tiêu” ngay v..v… một giải pháp “one size fits all” thần diệu như thế mà không chịu “dám” (chơi) cứ bàn cãi dông dài mãi, thì “buồn ơi đến bao giờ”?
Xin thú thực rằng câu cú của ông rối rắm quá, tôi “tả” lại theo một “giản thể” như thế không biết có được trung thực không, nếu như đúng thì chỉ còn biết cực kỳ thán phục tinh thần hồn nhiên đơn sơ của ông thôi.
Hôm qua đọc “Những người trồng cây” của Phạm Việt Vinh được biết rằng để san phẳng được Bức Tường Bá Linh, xoá sổ Cộng Hòa Dân Chủ Đức, giới trí thức ở cả Đông lẫn Tây Đúc đã phải lao tâm khổ tứ đến như thế nào để gây phong trào, nhân tổ chức từ bí mật đến công khai, giáo dân, đả cường quyền… chịu không biết bao nhiêu là cùm xích, đầy ải trước khi phất được ngọn cờ của tự do, thống nhất trên Bức Tường Ô Nhục mới thấy rằng dân tộc Đức nói riêng, các dân tộc khác ở Đông Âu nói chung là thiếu những khối óc vừa lớn vừa giản dị cỡ các ông HTS, LXK… nếu không đâu có phải chịu nhiều mất mát, hy sinh lớn lao đến như thế!
Tôi xin được mạn phép có vài ý kiến về các mục 19, 20, 21 trong bài của Bác Huy:
Bác Huy chấp nhận rằng nhân dân VN phải chịu sống với cái Công hàm PVĐ dù rằng ai cũng biết nó không hề là Ý CHÍ và NGUYỆN VỌNG của toàn dân ta ở Miền Bắc nơi mà ông Hồ và ĐCSVN ngự trị vào thời điểm năm 1958 khi đảng Lao Động (tức ĐCSVN) thò bút ký cái công hàm ô nhục này. Đó là chưa kể đến nhân dân Miền Nam vào lúc đó, không những trên pháp lý là những chủ nhân của HSTS mà chính quyền đại diện cho họ luôn luôn khẳng định chủ quyền.
Cách giải quyết của Bác Huy là dựa hẳn vào quan điểm này. Bảo rằng không có cách hóa giải Công hàm PVĐ, theo tôi, là không đúng. Chỉ tiếc là nhân dân ta chưa ý thức sự nguy hại của nó (mà chính Bác Huy cũng cho là độc vô cùng, hơn nhiều người tưởng). Giải pháp hóa giải nó như ông TNT đề nghị theo tôi là cách nói ôn hòa nhất, nhưng thực tế cho thấy cách giải quyết RỐT RÁO nhất cho sự nguy hại của Công hàm PVĐ là PHỦ NHẬN tính hợp pháp của chế độ đã ký nó. Nếu toàn dân ta mà ý thức được sự nguy hại vô bờ bến, đưa đến mất HSTS và Biển Đông (và sau đó là mất nước) để vùng lên loại bỏ ĐCSVN và thành lập một chế độ mới không thừa nhận là hậu thân của chế độ VNDCCH hay CHXHCN VN do ĐCSVN tiếm quyền cai trị từ năm 1945 đến nay, thì mọi ký kết làm thiệt hại cho VN do ĐCSVN thực hiện sẽ đương nhiên bị TRIỆT TIÊU (trong đó có Công hàm PVĐ) trên mặt pháp lý quốc tế, ít nhất là về lý thuyết. Bởi vì mọi điều luật cuối cùng cũng phải dựa vào nguyện vọng của người dân thay vì vào ý chí của một nhóm người không đại diện ai cả như ĐCSVN.
Cuối cùng thì mọi chuyện cũng phải được giải quyết dựa vào sức mạnh của hai phía VN và TQ. Nhưng khi đối đầu với một kẻ địch mạnh như TQ mà VN lại được “lãnh đạo” bằng những kẻ đã tình nguyện làm hại Tổ quốc như ĐCSVN (khi ký Công hàm PVĐ) thì thử hỏi kết quả sẽ ra sao? Do đó, cho rằng dù VN có dân chủ hay không Công hàm PVĐ vẫn có hậu quả như nhau là SAI, bởi vì nó chỉ giữ nguyên tình trạng nếu toàn dân ta KHÔNG từ bỏ tính hợp pháp của các chế độ do ĐCSVN cầm quyền, nhưng trái lại sẽ bị triệt tiêu khi ta từ bỏ cái quá khứ ô nhục này bằng một cuộc ĐỔI ĐỜI thực sự. Vấn đề là liệu dân ta có thể hoặc có dám làm hay không?