Vệ quốc ở kỷ nguyên “Biên giới mềm”
01/06/2009 | 3:00 sáng | 40 Comments
Category: Bauxite Tây Nguyên
Thẻ: Toàn cầu hoá > Vệ quốc
Có nhiều định nghĩa “biên giới mềm” và nhiều cách vận dụng nó vào muôn mặt đời sống xã hội. Nếu “Biên giới cứng” theo truyền thống là đường phân định cụ thể giữa hai quốc gia, thì “Biên giới mềm” chỉ ra ảnh hưởng vô hình của một quốc gia, một cộng đồng nào đó lên các chủ thể khác. Chẳng hạn quốc gia Israel chỉ là một dải đất nhỏ hẹp nằm bên Địa Trung Hải, bốn bề thọ địch, nhưng khó ai nghi ngờ sự trường tồn của nó, bởi “biên giới mềm” Do Thái trùm phủ khắp hành tinh.
Dưới làn sóng toàn cầu hóa mãnh liệt đang diễn ra, “biên giới mềm” của nhiều quốc gia gần như được bành trướng một cách hợp pháp hằng ngày hằng giờ. Với những người thủ cựu, họ nhìn nhận toàn cầu hóa như một con ngáo ộp thực dân nhưng lại thiếu khách quan trước lợi ích mà nó mang lại. Chính vì nhân loại đã đi qua hai cuộc thế chiến khủng khiếp để chia chác thị trường nên toàn cầu hóa chắc chắn là lựa chọn hòa bình, ít ra là ở bề mặt. Quan trọng là khi ấy, hòa bình sẽ có tâm thế chủ động. Bất ổn hoặc chiến tranh không còn là giải pháp cuối cùng.
Hơn bao giờ hết, ở kỷ nguyên lạ lẫm này, tôi bỗng thấy việc bảo vệ và xây dựng tổ quốc mà người Việt Nam thường phân biệt rõ rệt thực ra là một. Không còn phải quyết tâm “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Trong vấn đề khai thác hay không khai thác quặng nhôm ở Tây Nguyên, hình như có một lý lẽ “ngầm” nhân danh vệ quốc mà tạm dừng dự án. Lý lẽ ấy vận động rất linh hoạt, nó là xương sống chống lưng cho những vấn đề thiết yếu và không hề thiếu quan trọng của dự án là môi trường sinh thái, không gian văn hóa Tây Nguyên, hiệu quả kinh tế, công nghệ v.v…
Lịch sử luôn là bài học lớn lao cho bất cứ dân tộc nào, song lịch sử sẽ là gánh nặng nếu người ta nhỡ lão lẫn thời đại. Ở môi trường “biên giới cứng”, Tây Nguyên, Việt Bắc hay Điện Biên có thể là chiếc bản lề xoay đổi hẳn cục diện một cuộc chiến “chấn động địa cầu”. Tuy vậy, với “biên giới mềm” các đội quân “tiền tệ/tư bản” đóng đại bản doanh chủ yếu ở thủ phủ và những trung tâm kinh tế của quốc gia bị “xâm lăng”. PCI “made in Japan” chưa xử lý xong, đã có ngay PCI “phẩy” đóng dấu xứ kangoroo. Tư duy “Đánh giặc ở trên rừng” không thể áp dụng máy móc vào thời đại này, thời buổi này, đó là điều chắc chắn.
Vệ quốc lúc nào cũng cao quí, nhưng vệ quốc không đúng chỗ, đúng nơi, đúng lúc, có khi lại trở thành lực lượng cản trở tiến hóa của xã hội. Trong khi nhiều người đang phản đối dự án khai thác quặng nhôm tại Tây Nguyên thì ngay giữa Hà Nội, ngày 22.5.2009 tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông được khởi động. Trung Quốc đã cho vay phần lớn giá trị công trình là 552 triệu Mỹ kim. Họ cũng sẽ trực tiếp thi công theo chuẩn Metro GB của mình. Vậy thì theo logic phản đối kia, công trình này cũng phải dừng ngay lại với những lý do sau: vị trí nhạy cảm về an ninh (thủ đô, trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước), công nghệ Trung Quốc lạc hậu, phá vỡ cảnh quan cổ điển của Hà Nội ngàn năm văn hiến v.v… Thậm chí ở góc độ “để dành cho con cháu”, thì tuyến đường sắt có nhiều lý do dừng lại hơn bô xít vì tiền vay ấy các thế hệ sau phải è cổ ra mà trả nợ cả vốn lẫn lãi.
Việc dừng dự án khai thác quặng nhôm Tây Nguyên hiện nay không còn quan trọng bằng việc những người phản đối sẽ tạo tiền lệ xấu cho công cuộc toàn cầu hóa mà nhân dân Việt Nam đã hào hứng và chủ động tham dự. Nhờ vào sự tham dự ấy, từ năm 1986 đời sống của đại bộ phận dân chúng ngày càng được cải thiện. Có thể sẽ có ý kiến hoan nghênh mọi quốc gia trừ… Trung Quốc. Nếu làm được điều này, có lẽ người Mỹ, người Úc, người Tây Âu đã làm trước chúng ta từ lâu rồi.
Quay mặt lại toàn cầu hóa, người Việt Nam chỉ còn con đường bế quan tỏa cảng và viễn cảnh tụt hậu. Quay mặt lại với gã đại tư bản nhà nước giàu sụ mang tên Trung Quốc hàng xóm (đang lăm lăm lợi dụng toàn cầu hóa để mở rộng biên giới mềm ở khắp thế giới), chỉ khiến môi trường sống của đất nước và khu vực bị ô nhiễm bởi thù hận. Không ai có thể chọn cha mẹ, cũng như chẳng quốc gia nào có thể chọn vị trí địa – chính trị dễ chịu. Không phải thế kỷ 21 người Việt Nam mới trở thành láng giềng của Trung Quốc. Hơn một ngàn năm lập quốc bên cạnh họ, tổ tiên Hoàng Việt đã rút ra biết bao nhiêu bài học quí giá: luôn hành xử khôn ngoan, cương nhu đúng lúc và cổ xúy cho hữu hảo.
Yêu cầu ngừng ngay dự án khai thác quặng nhôm Tây Nguyên là hành xử thụ động và dễ dãi nhất mà những người trí thức Việt Nam có thể thực thi, trong muôn ngàn cách yêu nước bền bỉ và chông gai khác như cải cách giáo dục, chấn hưng văn hóa, khơi thông dân trí, kinh bang tế thế, đấu tranh chống tham nhũng… nhằm góp phần mở rộng “biên giới mềm” của đất nước. Đó mới là phương cách vệ quốc hữu hiệu trong kỷ nguyên mới mẻ này.
Thảo Điền, 5.2009
Khủng khiếp thay nếu vũ khí hủy diệt rơi vào tay những kẻ ngông cuồng, và cũng ghê gớm thay nếu chữ nghĩa ngọt ngào nằm ở đầu lưỡi những kẻ có lòng dạ nham hiểm. Sự trộn lẫn đúng/sai hay/dở thành một món hổ lốn và đem ra mời người khác là cách làm nhiều người nhẹ dạ có thể trúng độc.
Đừng lẫn lộn quá trình toàn cầu hóa với những chính sách mà chính quyền Bắc Kinh đang tiến hành đối với Châu Phi hay những nước nghèo khác như Việt Nam. Nếu nhận ra rằng những đại bản doanh tư bản thao túng mọi nền kinh tế là bộ mặt bẩn thỉu của CNTB thì đừng nói rằng nên chấp nhận sự “hữu hảo” của người hàng xóm béo ị với các chính sách nửa tư bản nửa thực dân kia.
Phải hiểu rõ toàn cầu hóa là quá trình diễn ra như thế nào, bản chất của nó là gì, chứ đừng đem những thứ đao to búa lớn ấy ra dọa những người nông nổi. Điều ông nói làm tôi nhớ đến những lời cửa miệng trước đây như “thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản là tất yếu”, “chủ nghĩa tư bản giãy chết” v.v.
sẽ không còn cảnh đẹp như tranh
nếu tây nguyên thành vùng đất đỏ
lúc mất hết biên giới cứng mềm
phản biện sẽ phải bằng hoa ngữ
“Tư tưởng ” của “học giả” Trương Thái Du không có gì mới mẻ, ngoài việc học lại (chưa đến đầu đến đũa) hai cuốn sách nổi tiếng của tác giả Thomas L. Friedman:
The lexus and the olive tree, The world is flat,
và áp dụng một cách một cách lố bịch, sống sượng vào tình hình Vietnam hiện tại.
“Hết ông Nguyễn Mạnh Tiến tự xưng CĐNVTD đại diện 90 ngàn người Việt ở Sydney, nay tới ông Hoàng Trường Sa tự cho CĐNVTD đại diện 3 triệu người Việt hải ngoại! Quí vị muốn tự xưng gì hay muốn phất cờ gì thì đó là quyền của quí vị, nhưng xin bỏ cái trò nhận vơ làm đại diện như vậy, vô duyên và trơ trẽn lắm.” (trích ý kiến ông Phạm Quang Tuấn)
Ông PQT có vẻ hiều lầm cụm từ “Cộng Đồng Người Việt Tự Do” (gồm trên 3 triệu người Việt sống khắp thế giới) mà tôi dùng theo nghĩa tổng quát để chỉ mọi người Việt tỵ nạn cộng sản trên thế giới (và đương nhiên ông PQT không thuộc vào cộng đồng này của chúng tôi) với danh xưng đoàn thể “Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại NSW”( gồm 90 ngàn người, cũng không có ông PQT trong đó dù ông đang ở Sydney). Ông Nguyễn Mạnh Tiến là cựu Chủ tịch của CĐNVTD New South Wales (kiêm chủ tịch CĐNVTD Úc Châu) trong một thời gian và đã được chính thức bầu vào chức vụ này qua những cuộc bầu cử công khai, công bằng và hợp pháp, thì rõ ràng là ông ấy KHÔNG tự xưng gì hết vì ông ta chính là Đại diện thực sự của CĐNVTD NSW (và cả Úc châu). Ông ấy không nhận vơ làm đại diện mà là đại diện đàng hoàng, hợp pháp hơn xa mấy trự tự xưng là đại diện nhân dân VN trong chế độ CHXHCN VN (như trự Nông Đức Mạnh, trự Nguyễn Tấn Dũng, trự Nguyễn Minh Triết v.v….) vì mấy trự này chẳng bao giờ được người VN nào bầu ra cả. Đó là trự được “đảng cử, đảng bầu, dân bỏ phiếu”.
Phần tôi, thì chỉ là một thành phần của Cộng Đồng Người Việt Tự Do (tỵ nạn cộng sản) trên thế giới, là dân đen, hoàn toàn không chức tước.
Nếu đứng trên ý nghĩa của « biên giới mềm » mà anh Trương Thái Du định nghĩa thì việc khai thác bô xít ở Tây Nguyên của TQ ảnh hưởng trực tiếp đến VN ít nhất là ba lãnh vực quan trọng : kinh tế, chiến lược và môi trường ; trong khi hệ thống đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông thì chỉ thuần túy ở lãnh vực kinh tế.
So sánh các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên với việc lắp hệ thống đường xe lửa Cát Linh – Hà Đông như thế rất thiếu sót và khập khểnh.
Xin nói thêm về các dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên.
Về kinh tế, các kết luận về tỉ số lợi nhuận hiện nay của nhà nước đưa ra không có con số nào thuyết phục. Các viên chức có trách nhiệm nói là « năm ăn năm thua », tức chưa biết được lời lỗ ra sao.
Về chiến lược, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã lên tiếng cảnh báo đến lần thứ ba, cho thấy việc này cực kỳ hệ trọng, quan hệ đến an ninh quốc gia, tôi không lạm bàn thêm.
Về môi trường, nhiều bài nghiên cứu đã công bố cho thấy các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên sẽ ảnh hưởng lớn đến, làm đảo lộn đời sống người dân bản địa, hệ thống môi sinh của rừng Tây Nguyên và đe dọa các tỉnh hạ lưu sông Đồng Nai và Cửu Long.
Một dự án không đem một lợi lộc kinh tế nào hết, ngoài những tai họa, những đe dọa trăm năm và ngàn năm cho dân VN, tại sao lại thực hiện?
Vì các lý lẽ này mà tôi cũng đã ký tên ủng hộ kiến nghị của quí vị GS Nguyễn Thị Huệ (sic !), Nguyễn Thế Hùng và Phạm Toàn từ những ngày đầu, yêu cầu ngưng ngay các dự án phí lý này !
– Dự án tuyến đường sắt Hà Đông – Cát Linh không đủ sức chi phối VN như một loại “biên giới mềm”, vì vốn xây dựng sẽ được sớm hoàn trả do các nguồn thu ngay chính trên công trình khi đi vào khai thác.
– Trên lãnh vực kinh tế của việc khai thác bôxit Tây Nguyên, các nhà chuyên môn đã nói nhiều rồi, tôi chỉ xin nêu một lo ngại sau: “Với cái nghèo đang đeo đẳng VN chúng ta hiện nay, liệu sau khi xây cất xong các công đoạn sản xuất, chúng ta có lại rao bán 49% cổ phần khai thác như đang toan tính ở Dung Quất?” Đây mới đích thị là một “biên giới mềm” tầm cỡ.
Nếu điều này xảy ra, tôi mong nhà nước VN sẽ bán được cho một đối tác nào đó hầu có thể góp tiếng với VN để giảm thiểu thiệt hại xảy ra ở Biển Đông (liệu có ai khác đi mua cái dây chuyền sản xuất của TQ không nhỉ?)
Vài lời trao đổi để “chấp nhận khai thác bôxit Tây Nguyên hay dừng lại”.
Biên giới mềm là hệ quả tất yếu của “toàn cầu hoá”. VN là một nước nghèo, rất cần được đón nhận làn gió “toàn cầu hoá”. Do đó, người Việt dẩu có tinh thần “vệ quốc” hay không cũng phải chấp nhận và làm quen với khái niệm “biên giới mềm”. Tôi rất đồng tình với ông T.T Du về quan điểm này.
Xin góp ý thêm với ông một số vấn đề sau:
-“Biên giới mềm” trong một phạm trù nào đó, là một công cụ hữu ích trên lãnh vực vệ quốc trong thời đại ngày nay; nếu cấp lãnh đạo quốc gia biết điều hoà các lợi ích của các “ông chủ biên giới mềm”. Khi chúng ta để ai đó được độc quyền hay gần như độc quyền “biên giới mềm” thì tất yếu chúng ta phải lệ thuộc vào kẻ đó. Trên danh xưng là quốc gia chúng ta mất chủ quyền…
-Tình hình kinh tế thế giới hiện nay ai cũng biết chỉ còn TQ trụ lại khá vững. Trong vòng 10 năm tới, nếu VN vội vàng với những dự án lớn cùng lối đấu thầu thiếu minh bạch, TQ sẽ gần như trở thành ông chủ độc quyền “biên giới mềm” tại VN. ( còn tiếp).
Hết ông Nguyễn Mạnh Tiến tự xưng CĐNVTD đại diện 90 ngàn người Việt ở Sydney, nay tới ông Hoàng Trường Sa tự cho CĐNVTD đại diện 3 triệu người Việt hải ngoại! Quí vị muốn tự xưng gì hay muốn phất cờ gì thì đó là quyền của quí vị, nhưng xin bỏ cái trò nhận vơ làm đại diện như vậy, vô duyên và trơ trẽn lắm.
“Trong vấn đề khai thác hay không khai thác quặng nhôm ở Tây Nguyên, hình như có một lý lẽ “ngầm” nhân danh vệ quốc mà tạm dừng dự án” (Lời ông Du)
Ối ông Du ơi là ông DU! Có vô số lý lẽ “nổi” để phải tạm ngừng dự án chết tiệt này. Chưa cần phân tích yếu tố AN NINH – QUỐC PHÒNG hay MÔI TRƯỜNG. Chỉ cần xét về hiệu quả KINH TẾ thôi thôi thì dự án Bauxite TN đã không thể chấp nhận được rồi.
Nếu đã đọc những bài viết trong (www.bauxitevietnam.info), ông phải biết những luận chứng kinh tế của dự án, ví dụ, “… theo ông Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng báo cáo trước Quốc hội, (giá thành sản xuất) đã lên tới 362 USD/tấn alumin (nhôm oxit). Trong khi đó, cũng theo báo cáo của Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, giá nhôm trên thị trường hiện nay là 1426 USD/tấn, đồng nghĩa với giá alumin sẽ tương đương là 1426 USD x 14% (lấy cao nhất) = 199,64 USD/tấn, làm tròn số là 200 USD/tấn cho dễ nhớ.
Như vậy, hai công trình Tân Rai và Nhân Cơ, nếu theo tính toán hiện nay, đã lỗ (362 USD – 200 USD) x 1.200.000 tấn/năm = 194,4 triệu USD/năm.” ( “Bộ Trưởng Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên quyết theo canh bạc bauxite” – Phạm Viết Đào).
Nếu có những số liệu khác, xin ông Du nói cho cả làng biết.
Tôi không đồng ý với nội dung phần lớn các bài viết của ông, tuy nhiên tôi luôn mong thấy bài của ông trên TALAWAS,vì sau đó bao giờ cũng có những cuộc tranh luận rất sôi nổi và vui (funny). Đó là lý do tại sao tôi nói: Xin cảm ơn ông Du và mong ông sớm có bài viết mới.
Giá anh Du viết những bài như thế này cho lãnh đạo và dân Trung Quốc nghe thì hay quá nhỉ. Bảo với họ là biên giới mềm quan trọng hơn, hãy trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam; thậm chí trả lại Quảng Đông, Quảng Tây cho Việt Nam nữa. Anh cũng nhắc họ nên biết hối lỗi, đừng mang tàu, thuyền, súng đạn ra giết ngư dân Việt nam nữa.
Anh không đi khuyên kẻ cướp bỏ thói cướp giật đi, lại đi khuyên người bị cướp hãy nhẫn nhục kiếm ăn bằng cách khác để bù vào của cải bị cướp. Thật, kiến thức của anh dùng lầm chỗ, cho nhầm người rồi.
Mà anh bỏ mấy cái khái niệm lạ hoắc đi nhé; “Hoàng Việt” là cái quái gì vậy?
Thống thiết thêm lời gửi bác Du
Sao nỡ tung thêm mãi hỏa mù?
Những gì bác nói: cơ tâm hết
Do động cơ nào hỡi bác Du?
Bác Thái Du kia thật quá đà
Quỷ biện gạt người gạt cả ta.
Hỏi bác có tin điều bác nói
Non nước tan tành bác sướng a?
Bài này, theo ngu ý của tôi, có chỗ đúng và chỗ sai. Chỗ đúng là việc tác giả kêu gọi người Việt khắp nơi chú trọng tới yếu tố “biên giới mềm” để bảo vệ Tổ quốc. Tác giả đã đưa ra trường hợp rất đúng của Do Thái. Tuy nhiên, tác giả đã sai rất lớn khi đưa ra trường hợp bauxite Tây Nguyên và việc toàn cầu hóa cùng việc chống Tàu (hay hữu hảo với Tàu) như là những mặt của “biên giới mềm”.
Tôi nghĩ, cũng gần giống như Do Thái, biên giới mềm của VN hiện nay có thể nói là bao trùm toàn thế giới với hơn 3 triệu người Việt Tự Do (tỵ nạn cộng sản) sống trên khắp hoàn vũ. Có thể nói là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Cộng đồng Người Việt Tự Do không bao giờ ngừng phấp phới bay trên quả đất này. Nếu VN có một chế độ thực sự dân chủ và tự do thì đây là lực lượng hùng hậu (sống trong “biên giới mềm” của VN) sẽ giúp đắc lực cho VN trong cuộc vệ quốc trước áp lực xâm lấn đất biển của Tàu. Rất tiếc nước ta hiện còn dưới chế độ độc tài toàn trị của ĐSCVN nên sức mạnh này đã không hội tụ được.
Khác với tác giả Thái Du, tôi cho rằng việc nhiều người Việt chống lại khai thác bauxite ở Tây Nguyên là vô cùng đúng đắn về mọi mặt từ ô nhiễm môi trường tới an ninh quốc phòng. Việc TQ xây đường xe lửa Cát Linh – Hà Đông không thể đem so sánh với việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên được. So sánh như thế là rất khập khiễng.
Không có “cứng” thì lấy đâu “mềm”?
Không còn gì cả thì làm sao nói chuyện toàn cầu hóa với địa phương hóa?
Ông Thái Du lại chơi trò đánh tráo khái niệm, rồi tung hỏa mù chữ nghĩa rồi.
Bác THÁI DU này hoạt như du,
Tung đủ bụi kia lẫn hỏa mù
Làm ra so sánh: tổ khập khiễng
Cái tâm đã ố, cái đầu u (mê)!