talawas blog

Chuyên mục:

Vớ vẩn “Biển Đông” (hay “không Biển Đông”)

22/05/2009 | 12:05 sáng | 35 Comments

Tác giả: Dương Danh Huy

Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

Gần đây có nhiều trao đổi về Biển Đông trên talawas.

Tôi xin phép dùng trang chủ để trả lời một số luận điểm của ông Hoà Nguyễn (http://www.talawas.org/?p=4692). Lý do là trao đổi này không phải không tiêu biểu, và nó nói lên ít nhiều về những trao đổi khác giữa tôi, ông Trương Nhân Tuấn, ông Hoà Nguyễn, và ông Hoàng Trường Sa.

Tuy tôi sẽ nói tới một số chi tiết kỹ thuật, mục đích của bài này là nói về phong cách trao đổi.

Thí dụ 1: Trao đổi về Macclesfield Bank

DDH: “Luật quốc tế không cho đòi chủ quyền d/v bãi ngầm như d/v đảo. Phi không đòi.”

HN: “Thử tìm trên Wiki sẽ thấy Phi-TQ đang tranh chấp tại đó (thêm Đài Loan). Nhưng vì là đảo ngầm nằm dưới nước biển nên không bên nào cho quân trú đóng được. Bãi ngầm này nằm gần TQ hơn VN một chút, nhưng nằm trong TLĐMR 350 HL tính từ VN. Đây là dịp biện minh cho nhà nước VN?”

DDH: Bác Hoà thử tìm nguồn nào nghiêm túc hơn Wiki xem nó nói gì không thay vì nói tôi biện minh cho NNVN.

Thí dụ như bác có thể tham khảo đạo luật 9522 của Philippines: nó không đòi chủ quyền d/v Macclesfield Bank như đối với đảo. Mà cho tới nay cũng không có gì để nói là Phi sẽ đòi Macclesfield Bank như EEZ hay thềm lục địa thuộc bãi cạn Scarborough.

Tôi đã nói “Luật quốc tế không cho đòi chủ quyền d/v bãi ngầm như d/v đảo.” Bác Hoà thử tìm xem tôi nói có đúng với luật quốc thế không thay vì nói tôi biện minh cho NNVN.

Thí dụ 2: Trao đổi về quy chế EEZ và nội thuỷ

HN: “Và nên thấy “lưỡi bò” TQ hiện nay còn tồn tại vì TQ dựa vào: EEZ 200 hl tính từ HS giáp với (hay gần giáp) 200 hl tính từ TS (khi HS, TS coi như của TQ), do đó tạo thành nội thủy rộng choán cả Biển Dông.”

DDH: “Nếu HSTS được EEZ ra tới lưỡi bò hay tới 200 HL thì hoá ra HSTS được hơn 100% hiệu lực. Giả sử HSTS có được 100% hiệu lực đi nữa thì EEZ chỉ ra tới trung tuyến thôi.
Và bác Hoà bị lẫn lộn EEZ với nội thuỷ trong đoạn trên.”

HN: “Tôi không hiểu lầm nội thủy với EEZ. Có khi hai thứ đó trùng lấp nhau, thì dùng một từ cũng đủ.”

DDH: UNCLOS nói rất rõ ràng là nội thuỷ nằm bên trong đường cơ sở, EEZ nằm bên ngoài (cách 12 HL, ra tới tối đa là 200 HL). Làm sao mà “Có khi hai thứ đó trùng lấp nhau” được.

Thí dụ 3: Về Thị Tứ và Philippines

HN: “1/ Nếu là một nước quần đảo như Phi thì đòi EEZ 200 hl từ đảo Thitu (rất gần VN mà xa Phi) được sao?”

DDH: Trên lý thuyết nếu Phi phuốn họ có thể cho Thị Tứ vào đường cơ sở quần đảo để có thêm lý lẽ cho việc đòi 100% hiệu lực cho Thị Tứ, nhưng họ đã không làm thế (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6082/index.aspx).

Thí dụ 4: Về ranh giới VN-Indonesia, như phản thí dụ của HN về hiệu lực của các đảo nhỏ

HN: “Đã xảy ra trường hợp tương tự. Nhóm đảo Natuna của Indo, nằm xa về phía Bắc Borneo, vậy mà họ đòi chia bằng trung tuyến với Côn Sơn của VN (hay bờ biển VN), và được vậy.”

HHD: “Đoạn này sai vì thiếu hoặc sai 3 yếu tố quan trọng:
1) Indonesia là quốc gia quần đảo (bác đọc UNCLOS về ý nghĩa của điều này).
2) Indo đòi đảo của họ có 100% hiệu lực so với Côn Đảo, khác với việc đòi HSTS 100% hiệu lực so với đất liền.
3) Indo không thực hiện được đòi hỏi của họ.”

HN: “3/ Xem bàn đồ 1 trong đệ trình của Mã-VN, sẽ thấy đường ranh VN-Indo là trung tuyến giữa Natuna với Côn Sơn, lấn vào trong ranh EEZ 200 hl của VN. Bản đồ này do VN vẽ. Sách của VH-San xác nhận điều này.
Ông Huy chỗ này có biện minh cho VN không?”

DDH: Lại “Ông Huy biện minh cho VN”!

Có nhiều chi tiết bác không biết hay lầm về đàm phán VN-Indo.

Indo có 1 đảo phía Bắc đảo Natuna gọi là Natuna Bắc. Indo đòi ranh giới là trung tuyến giữa đảo Natuna Bắc và Côn Sơn với lý do Natuna Bắc nằm trên đường sơ sỏ của họ. VN không chịu, đòi 1 ranh giới khác xích về phía Nam hơn. Hai bên chia vùng tranh chấp.

Đó là cơ sở của ranh giới.

Mà luận điểm tôi đưa ra (mà bác đang tranh cãi) là: Trong trường hợp EEZ của “đất liền” và đảo nhỏ như các đảo ở HSTS chồng lấn thì các đảo nhỏ không được 100% hiệu lực.

Giả sử ranh giới có là trung tuyến Natuna – Côn Đảo đi nữa thì điều đó cũng không làm cho luận điểm của tôi sai, vì trong văn cảnh ranh giới VN-Indo thì “đất liền” là bờ biển lục địa VN và Borneo chứ không phải Côn Đảo và Natuna.

Tức là phản thí dụ bác đưa ra (ranh giớI VN-Indo) không liên quan tới luận điểm tôi đưa ra.

Vài nhận xét về các phong cách trao đổi

Nói chuyện với các ông Hoà Nguyễn, Hoàng Trường Sa và Trương Nhân Tuấn, tôi thấy hiểu biết của các bác về việc phân định biển có nhiều sai sót hơn của tôi.

Tôi cố gắng đem thông tin tới người trong nước, tới người ở nước ngoài, mà các ông ấy cũng benefit. Nhưng các ông ấy lại hay bảo là tôi “biện minh”, “dọn đường”, “dọn sân”. Khi các ông ấy benefit từ đóng góp của tôi thì chỉ có ông Hoàng Trường Sa ghi nhận hay cảm ơn.

Tôi không hiểu đó là vì hiểu biết của các ông ấy về việc phân định biển có nhiều sai sót hơn của tôi hay là các bác có cách chơi xấu hay là cả hai.

Thí dụ như bài ông Trương Nhân Tuấn viết về Nam Côn Sơn, Tư Chính trên Talawas (http://www.talawas.org/?p=1613) cũng dùng bản đồ tôi sưu tầm, vẽ thêm và công bố trên các kênh của người Việt:

– Bản đồ các lô dầu khí VN là do tôi sưu tầm, tôi vẽ thêm các đảo HS, TS và lãnh hải 12 HL, tôi vẽ thêm EEZ 200 HL, tôi vẽ thêm phạm vi vùng Nam Côn Sơn, tôi vẽ thêm phạm vi vùng Tư Chính. Tức là tôi đã bỏ ra khá nhiều công sức để đem thông tin tới mọi người.

– Bản đồ về các dự luật đường cơ sở Philippines là do tôi sưu tầm và công bố trên VNN cùng với ông Lê Trung Tĩnh của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.

Khi ông Trương Nhân Tuấn dùng các bản đồ trên thì ông ấy ghi

“- Bản đồ của Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Dương Danh Duy công bố (minhbien.org). Bản đồ đính kèm luật biển Phi Luật Tân, nguồn Tuần Việt Nam.”

Khi tôi dùng bản đồ ông Trương Nhân Tuấn sưu tầm (http://www.minhbien.org/?p=725) thì tôi ghi

“Trước đây NNC Trương Nhân Tuấn có sưu tầm được một bản đồ Pháp cho vùng này”.

Ngược lại, cũng viết về bãi Tục Lãm, khi ông Tuấn dùng bản đồ tôi vẽ thì ông ấy bảo là bản đồ trên Internet, mặc dù qua trao đổi trên x-café trước đó ông ấy biết là của tôi.

Tôi chỉ ra cho ông Trương Nhân Tuấn hai lần (năm 2008 và 2009) là ông ấy viết lầm là EEZ là 224 hải lý (= 200 hải lý + 12 hải lý lãnh hải + 12 hải lý vùng tiếp giáp). Ông ấy chẳng bao giờ cảm ơn.

Ông Trương Nhân Tuấn tưởng là EEZ 200 HL của VN phình ra ở vùng Tư Chính là nhờ đường cơ sở 1982. Ông Trương Nhân Tuấn tưởng là Mỹ cho là Exxon làm việc với Việt Nam là hợp pháp có nghĩa Mỹ công nhận đường cơ sở 1982 của Việt Nam. Hồi đầu năm tôi chỉ ra cho ông ấy trên X-cafe là nếu không dùng đường cơ sở 1982 của VN mà dùng nhóm Phú Quý thì EEZ 200 HL của VN cũng phình ra như vậy.

Đóng góp của người ta thì mình cứ hưởng, còn người ta thì mình cứ chụp mũ.

Lần đầu tiên ở Nhật, ấn tượng của tôi về người Nhật là đất nước của họ được như vậy là vì họ đàng hoàng với nhau, tốt với nhau, và làm gì thì cũng làm hết sức kỹ.

Trao đổi với các ông Trương Nhân Tuấn, Hoà Nguyễn và Hoàng Trường Sa thì tôi thấy các ông ấy chưa nghiên cứu kỹ về các vấn đề phân định biển, không tốt với tôi, mà thậm chí thiếu đàng hoàng đối với tôi.

Ông Trương Nhân Tuấn đưa ra lý do: việc chơi xấu với tôi là do ông ấy yêu nước quá.

Vì lịch sử hiện đại Việt Nam có quá nhiều chuyện nhân danh yêu nước để chơi xấu cá nhân rồi, tôi không thể tin những kiểu đó. Tôi nghe nói Kinh Thánh nói, đại ý, “Nếu anh nói anh yêu Chúa mà anh không yêu thương anh em của anh thì anh không nói thật”.

Bình luận

35 Comments (bài “Vớ vẩn “Biển Đông” (hay “không Biển Đông”)”)

  1. Nghiêm Quang viết:

    Hồ sơ của Việt Nam tại website Luật Biển LHQ ghi rất rõ ngày chính thức có hiệu lực (entry into force) của Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa Việt Nam-Indonesia là 29/05/2007, ngày đăng ký với LHQ là 15/08/2007.
    (http://www.un.org/Depts/los/LEGISLATIONANDTREATIES/STATEFILES/VNM.htm)

    Lục lọi trên mạng, tôi tìm thêm được 2 bản tin này:
    (http://www.laodong.com.vn/Home/Indonesia-phe-chuan-Luat-phan-dinh-them-luc-dia-giua-Indonesia-voi-Viet-Nam/20073/29946.laodong)
    (http://www.dosm.gov.vn/internal/default.aspx?sMaMnu=0&inLang=1&sMaObj1=2_3&sMaObj2=33&sMaObj3=2)

    Theo đó, luật phân định thềm lục địa với Việt Nam được quốc hội Indonesia phê chuẩn hồi đầu tháng 2/2007 và sau đó tổng thống Yudhoyono của nước này ký ban hành hôm 30/03/2007. Kế tiếp, hai quốc gia tiến hành trao đổi văn kiện phê chuẩn hiệp định tại Jakarta ngày 29/05/2007.

    Điều này hoàn toàn trùng khớp với 2 điểm đã quy định tại điều 6 của hiệp định:
    (a) Hiệp định phải được phê chuẩn phù hợp với thủ tục luật pháp của mỗi bên ký kết.
    (b) Hiệp định sẽ có hiệu lực vào ngày trao đổi các Văn kiện Phê chuẩn.

    Sách của ông Vũ Hữu San hoàn thành trước ngày hiệp định có hiệu lực cho nên rất dễ hiểu nếu ông viết “bản-đồ của Indonesia vẫn vẽ hải-phận như cũ”. Thế nhưng, rất khó chấp nhận khi vào tháng 5/2009, Hòa Nguyễn vẫn chép lại nhận định đó làm cơ sở tranh luận.

    Lời chót của tôi, nếu siêng năng tìm hiểu thì sẽ tiết kiệm rất nhiều thời gian cho những tranh cãi vô ích.

  2. Nghiêm Quang viết:

    Về Macclesfield Bank, Hòa Nguyễn trả lời Dương Danh Huy: “Nếu tôi phải cám ơn thì ômg còn nợ mọi người đọc sự chứng minh điều ông nói là Phi không tranh chấp, khác với lời ghi trong Wikipedia.”

    Xin trích Zhou Keyuan trong Law of the sea in East Asia, trang 47, để ông hiểu rõ hơn:
    … a common Chinese view has considered Scarborough Reef part of the Macclesfield Bank.

    For the Macclesfield Bank, the only claimant is China including Taiwan. However, if Scarborough Reef is to be considered part of the Macclesfield Bank, then recent developments show that the Philippines, having lodged its territorial claim over the reef, has also in effect made a claim over the Macclesfield.

    Đại ý Trung Hoa (lục địa và Đài Loan) là nước duy nhất đòi hỏi chủ quyền ở Macclesfield Bank. Tuy nhiên, quan điểm của Trung Quốc là coi Scarborough Reef như một phần của Macclesfield Bank. Nếu xem xét quan điểm này, tạm cho rằng Phi Luật Tân có đòi hỏi chủ quyền đối với Macclesfield, vì thực tế Phi đang tranh giành Scarborough Reef với Trung Quốc-Đài Loan. Lý do cho lời ghi trong wikipedia là vậy.

    Chú ý chữ “nếu/if” trong câu văn của Zhou Keyuan, tức là theo định nghĩa của quốc tế thì Phi không bất cứ đòi hỏi nào đối với Macclesfield.

    Một lần nữa, Hòa Nguyễn lại cho thấy ông không tham khảo tài liệu kỹ càng.

    link: (http://books.google.com/books?id=Phtox96j5QMC&printsec=frontcover&source=gbs_summary_r&cad=0#PPA47,M1)

  3. Nghiêm Quang viết:

    Tường thuật chính thức của Việt Nam về quá trình đàm phán với Nam Dương cũng có thể tìm thấy tại website Đảng Cộng sản, một lần nữa lại phải nói là kỳ quặc vì thông tin này không xuất hiện từ nguồn Bộ Ngoại giao hay Chính phủ.
    (http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30220&cn_id=109109)

    Vấn đề còn lại trước khi thảo luận chỉ là việc vẽ ra đường ranh đó trên bản đồ. Ông Huy đã vẽ và tôi cũng đã chỉ cho ông Hòa công cụ để tự kiểm chứng. Vậy mà ông Hòa nhất định không so sánh sự khác nhau giữa đường yêu sách của Indonesia và đường ranh kết luận trong hiệp định này. Con số 10% ông Hòa dự trù chỉ hoàn toàn là cảm tính. Tôi xin lỗi vì không tìm thấy từ nào lịch sự hơn 2 chữ “làm biếng” để nhận xét về thái độ tranh luận này.

  4. Nghiêm Quang viết:

    Lần nào phản hồi, ông Hòa cũng viện dẫn theo ông Vũ Hữu San, sau thoả hiệp đạt được năm 2003 VN không công bố hiệp định hay bản đổ phân ranh. Indo đưa ra bản đồ vẫn như cũ.(a)

    Tôi vẫn khẳng định ghi nhận của ông Vũ Hữu San là đúng, tuy nhiên phải thấy rằng (a) không đồng nghĩa với việc yêu sách của Indonesia đã được chấp nhận (b).

    Tranh cãi về phân định ranh giới, có trong tay bản hiệp định là coi như sẽ có đầy đủ thông tin. Chánh phủ Việt Nam không công bố, hơi kỳ quặc, nhưng không thể giấu vì người ta vẫn tìm thấy ở kho lưu trữ LHQ (UNTC). Một nguyên tắc cần biết rằng hầu như mọi hiệp định giữa các quốc gia hay các tổ chức quốc tế đều được nộp lưu trữ tại đây với bản Anh ngữ và bản viết bằng ngôn ngữ của nước liên quan.

    Hơn nữa, point 25 trong hiệp định nầy cũng đồng thời là một điểm trong phân định ranh giới thềm lục địa Nam Dương-Mã Lai năm 1969, vậy mà đến năm 1979 mới được vẽ trên bản đồ Mã Lai. Cho nên việc Nam Dương chưa đưa ra bản đồ mới sau thỏa hiệp đạt được năm 2003 với Việt Nam, không nói lên được điều gì.
    (http://en.wikipedia.org/wiki/Indonesia-Vietnam_border)

    (ct)

  5. Dương Danh Huy viết:

    (TT)

    Tôi dự trù nếu có xê dịch sẽ chừng 10%, tính phỏng chừng khi xem bản đồ số 2 trong Đệ trình chung Mã Việt. Ông Huy cho nhiều hơn, vậy hãy chứng minh.
    Tóm lại, những chứng cớ, bản đồ dẫn chứng đều là những thứ hỏa mú, để che đậy cái gì?

    Thật sự là tôi đã vẽ năm ngoái, và sau đó biết là bản đồ cũng đã được đăng trong sách VN năm 2004 (ông Vũ Hữu San gửi tặng tôi quyển này), và tôi có thể nói là bác Hoà dự trù sai.

    Điều tôi muốn nói ở đây là trong thảo luận về Biển Đông có trường hợp

    1. Không chịu khó tìm số liệu, tài liệu.

    2. Không xử lý những số liệu, tài liệu mình có nghiêm túc. Thí dụ như không kết hợp bản đồ

    http://www.minhbien.org/?p=428

    và toạ độ ông Nghiêm Quang dẫn.

    3. Dự đoán.

    4. Người khác bảo dự đoán của mình sai thì mình bảo là họ biện minh cho NN CSVN.

    5. Thách họ chứng minh.

    6. Họ chứng minh (*).

    7. Lần sau lại làm y như vậy.

    (*) Trong đề tài này, nếu ai muốn BBT làm trọng tài thì cứ yêu cầu, tôi có thể gửi bản đồ cho BBT.

  6. Dương Danh Huy viết:

    Nhưng khi đòi chứng minh, ông Huy giới thiệu 3 bản đồ của công ty dầu trên “Minh Biện”,vẽ đường ranh Indo-VN giống nhau đi qua các lô từ 29 đến 06. Các hình vẽ đó không nói lên được đường ranh Indo yêu sách đã thay đổi.

    Tôi đã nói như sau:

    Bản đồ trong bài của Lê Minh Phiếu và tôi:
    http://www.minhbien.org/?p=428
    có vẽ trước đây Indo đòi gì

    Rõ ràng, nếu bác muốn biết hiệp định VN-Indo khác với trước đây Indo đòi gì thì bác có thể so sánh bản đồ ở http://www.minhbien.org/?p=428 với những bản đồ Indonesia hiện nay, hay bản đồ báo cáo CLCS, hay những bản đồ của QNCBD hay Minh Biện, eg,

    http://www.minhbien.org/?p=901

    Hay bác có thể tự vẽ đường ranh giới dùng những toạ độ ông Nghiêm Quang dẫn.

    Nghiêm Quang cho tọa độ đường phân ranh, cho cả cách tính tọa độ, để mọi người bàng quan nghĩ là cho nhiều lắm ! Nhưng nếu vẽ thì chỉ được đường ranh như trong bản đồ của Minh Biện, chứ không chứng minh được yêu sách Indo đã thay đổi.

    Có thật là bác đã vẽ trước khi nói điều trên không đó?

  7. Phạm Quang Tuấn viết:

    3. Hòa Nguyễn: “Nghiêm Quang cho tọa độ đường phân ranh, cho cả cách tính tọa độ, để mọi người bàng quan nghĩ là cho nhiều lắm ! Nhưng nếu vẽ thì chỉ được đường ranh như trong bản đồ của Minh Biện, chứ không chứng minh được yêu sách Indo đã thay đổi.”

    Ông Hòa vẽ thử chưa mà sao nói bậy thế? (Trắng mà nói là đen thì có gọi là nói bậy được không nhỉ?)

    Mà lạ, chính ông Hòa hỏi đường ranh ở đâu, NQ lẳng lặng giúp info chính xác, ông Hòa KHÔNG NHỮNG KHÔNG CÁM ƠN MÀ CÒN MỈA MAI ông NQ: “[cho tọa độ] để mọi người bàng quan nghĩ là cho nhiều lắm !”, “Đây là trường hợp cho thấy về “phong cách tranh luận”: dùng cả đống tài liệu không liên quan hay chỉ tương tự, trùng hợp để loè mắt mọi người là có chứng cớ nhiều, mới và giá trị (?)”. Loại người gì mà ăn nói như vậy nhỉ?

    Đúng là vớ vẩn thật!

  8. Phạm Quang Tuấn viết:

    1. Hoà Nguyễn nói: “[trích Vũ Hữu San] Năm 1972, Indonesia và chính quyền Sài Gòn đàm phán 1 vòng, quan điểm của Indonesia là phân định theo trung tuyến giữa các đảo xa nhất của hai bên, quan điểm của Sài gòn là trung tuyến giữa bờ biển Việt Nam và Bornéo, hai quan điểm tạo nên vùng chồng lấn rộng khoảng 37,000km2”. Từ đó, ông Hòa nói rằng VN chỉ được 10% đòi hỏi của mình, Indonesia đươc 90%, kết luận là VN thua thiệt.

    Dễ thấy quan điểm này vô lý. Chẳng hạn một anh Mỹ đi Ai Cập mua cái áo, chủ tiệm đòi $100, anh Mỹ trả $50, kỳ kèo một hồi chủ tiệm chịu bán $55. Như vậy có phải là anh Mỹ được lợi 90% không? Dĩ nhiên là không, nếu một người bản xứ biết giá có thể mua cái áo đó với giá $10! Khi tính ai lợi ai hại, phải tính xem điểm khởi đầu mỗi bên có hợp lý không.

    VNCH năm 1972 đã đòi hỏi trung tuyến giữa bờ biển Việt Nam và Bornéo, đòi hỏi này không phù hợp với UNCLOS 1982. Do đó bảo rằng VN “nhượng bộ 90%” thì cũng như bảo anh chủ tiệm nhượng bộ 90% cho du khách Mỹ.

    2. Hòa Nguyễn: “Ông Huy cho đường ranh sau cùng thay đổi khác yêu sách Indo, là điều đáng mừng. Nhưng khi đòi chứng minh, ông Huy giới thiệu 3 bản đồ của công ty dầu trên “Minh Biện”,vẽ đường ranh Indo-VN giống nhau đi qua các lô từ 29 đến 06.”

    Chắc Hòa N cận thị nặng hơn tôi, vì tôi thấy đường ranh trên MB đề rõ là “INDONESIAN CLAIM” chứ không phải “VN-INDONESIA BOUNDARY”

    (ct)

  9. Hoà Nguyễn viết:

    Đây đúng là kỹ thuật tranh cãi hỏa mù với lời lẽ kém lịch sự, như vớ vẩn, làm biếng, nói bậy. Cho nên là góp ý chót của tôi về đề tài này. Vấn đề đặt ra cuối cùng trong tranh chấp Indo-VN là:

    1/ Indo yêu sách chia theo trung tuyến giữa đảo Natuna Bắc, cách Borneo của Indo 320 km, và đảo Côn Sơn cách bờ biển VN chừng 95-97 km. Đây rõ là bất lợi cho VN (nên VN đề nghị lấy trung tuyến giữa bờ biển hai nước).
    2/ Theo ông Vũ Hữu San, sau thoả hiệp đạt được năm 2003 VN không công bố hiệp định hay bản đổ phân ranh. Indo đưa ra bản đồ vẫn như cũ.

    Ông Huy cho đường ranh sau cùng thay đổi khác yêu sách Indo, là điều đáng mừng. Nhưng khi đòi chứng minh, ông Huy giới thiệu 3 bản đồ của công ty dầu trên “Minh Biện”,vẽ đường ranh Indo-VN giống nhau đi qua các lô từ 29 đến 06. Các hình vẽ đó không nói lên được đường ranh Indo yêu sách đã thay đổi.
    Nghiêm Quang cho tọa độ đường phân ranh, cho cả cách tính tọa độ, để mọi người bàng quan nghĩ là cho nhiều lắm ! Nhưng nếu vẽ thì chỉ được đường ranh như trong bản đồ của Minh Biện, chứ không chứng minh được yêu sách Indo đã thay đổi.

    Điều cần là vẽ được trung tuyến giữa Côn Sơn và Natuna Bắc, rồi so sánh với đường ranh hiện nay, để thấy đường ranh Indo đã “xích vế phía Nam” như ông Huy nói ra sao. Tôi dự trù nếu có xê dịch sẽ chừng 10%, tính phỏng chừng khi xem bản đồ số 2 trong Đệ trình chung Mã Việt. Ông Huy cho nhiều hơn, vậy hãy chứng minh.

    Tóm lại, những chứng cớ, bản đồ dẫn chứng đều là những thứ hỏa mú, để che đậy cái gì?

  10. Dương Danh Huy viết:

    Bác Nghiêm Quang,

    Ít khi gặp người biết nghiêm túc và nhiều về tranh chấp Biển Đông như bác.

    Nếu bác không ngại liên lạc tôi thì xin mác email huydanhduong at gmail dot com.

    Cảm ơn bác.

  11. Nghiêm Quang viết:

    Tôi không hề dẫn cả lố chứng cớ như Hòa Nguyễn nói. Tất cả những gì tôi dẫn là nội dung bản hiệp định phân giới thềm lục địa Việt Nam-Indonesia, từ nhiều nguồn tìm kiếm khác nhau từ dễ tới khó: wikipedia, bài Dương Danh Huy và kho lưu trữ LHQ (UNTC). Không chịu thử tìm (làm biếng?) thì đương nhiên không thấy.

  12. Nghiêm Quang viết:

    Câu tôi viết trích từ “Biển Đông”: ” Việt-Nam chưa bao giờ công-bố tọa-độ hay bản-đồ vùng biển phía Nam, còn bản-đồ của Indonesia vẫn vẽ hải-phận như cũ”.
    Nghiêm Quang đưa cả lố chứng cớ, nhưng trong đó không có bản đồ mào chỉ đường ranh theo hiệp định. Phải hiểu lời của ông VH-San có giá trị vào lúc ông viết sách, và có lẽ còn giá trị cho tới bây giờ, về phần bản đồ.

    Hòa Nguyễn rất vui tính khi viết những dòng trên. Trong hiệp định đã chỉ rõ đường ranh thềm lục địa là các đoạn thẳng nối 6 điểm với tọa độ được ghi rõ. Không khó, tuy có thể mất thời gian một chút, để xác định các điểm nầy trên bản đồ, nhờ công cụ sau: http://boulter.com/gps/?c=06+05.48+-+105+49.125

    Công bố tọa độ các điểm mà đường ranh đi qua sẽ chính xác hơn rất nhiều so với việc đính kèm bản đồ trong hiệp định. Và nhờ đó, ông có thể tự kiểm chứng liệu bản đồ của Dương Danh Huy có đáng tin cậy hay không.

    Nếu tìm được hiệp định phân giới nào chỉ có bản đồ mà không có định nghĩa đường ranh cùng tọa độ các điểm mà đường nầy đi qua, xin Hòa Nguyễn cho tôi biết.

    ***

    Lời nói của ông Vũ Hữu San vẫn còn giá trị tới bây giờ, vì theo hiểu biết của tôi, không thể tìm bản hiệp định đang nói trên website của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Nhưng như vậy thì không có nghĩa là vô phương tìm thấy nội dung văn bản đó. Dựa trên suy diễn cá nhân để tranh luận một vấn đề mình không nắm tài liệu là thái độ không nghiêm túc.

  13. ChieuAnh viết:

    Bác Phạm Quang Tuấn:

    “Kết quả đều là công chúng không hiểu ai đúng ai sai, đâu là sự thật. Vì tung hỏa mù có lợi cho họ như vậy, nên giảng morale chung chung hoàn toàn không ích lợi mà còn KHUYẾN KHÍCH họ tung hỏa mù thêm.

    Nếu lúc ấy tôi chỉ giảng morale chung chung cho cả hai ông TNT, DDH hãy “cool down” vì lợi ích của VN thì tôi (và nhiều độc giả khác) đã không biết những gì tôi biết bây giờ.”

    Cám ơn bác đã “tham chiến” để chia sẻ more facts. 🙂 Ý kiến của tôi không nhằm “giảng morale chung chung” mà là lời nhắc nhở nho nhỏ của một người quan tâm đến vấn đề.

    Có hai hướng đi khác nhau trong tranh luận: Phục vụ lợi ích cá nhân hay phục vụ lợi ích tập thể.

    Mọi hình thức tung hỏa mù hay personal attacks dứt khoát không phục vụ lợi ích tập thể.

    Như đã nói, “…Chúng ta phải luôn luôn nhớ là chúng ta đang đương đầu với một thế lực cực kỳ thông minh, nham hiểm và xảo trá ở Bắc Kinh và những kẻ sẵn sàng làm tay sai cho chúng ở Hà Nội!”, trong trường hợp chưa xem, tôi xin giới thiệu với các bác hai tư liệu quý để chúng ta biết rõ thêm về thế lực này.

    http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/090507_suthatquanhevntq.htm

    Những hành động gần đây của TQ cho thấy chính sách/chủ trương của họ đối với VN không hề thay đổi trong 60 năm qua.

    Sự che dấu của NN-VN mỗi thời mỗi khác nhưng sự thật vẫn là sự thật!

    Tư liệu đầu tiên xuất bản bằng bốn thứ tiếng: Vietnamese, English, French và Spanish. Tôi có toàn bộ để đảm bảo là “no truth lost in the translation!”:-)

  14. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoà,

    Thật ra, ai cũng biết để đi đến thỏa hiệp, sau cùng mỗi bên phải nhượng bộ ít nhiều. Nếu Indo được 90% điều họ yêu cầu ban đầu là điều ông San,hay tôi, muốn nói. Cho VN thắng lọi 10%, nhưng so với yêu sách ban đầu có cần biện minh thêm ?

    Nếu bác muốn nói Indo được 90% điều họ yêu cầu ban đầu thì là bác muốn nói sai.

    Bác có thể tự kiểm chứng bằng bản đồ tôi dẫn và tọa độ ông Nghiêm Quang dẫn.

  15. ChieuAnh viết:

    Bác Dương Danh Huy:

    “V/d là có những ý kiến khác kiểu “dọn sân”, “biện minh”, “có vẻ là sửa soạn dư luận để đảng CSVN từ bỏ chủ quyền trên HS và TS trong tương lai”, vv.”

    Mong những ý kiến nhằm “sửa soạn dư luận để đảng CSVN từ bỏ chủ quyền trên HS và TS trong tương lai” tiếp tục bị phơi bày cho tất cả cùng thấy.

    Đây là một hành động phản bội Tổ quốc, phản bội sự hy sinh xương máu của bao thế hệ trước!

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>