talawas blog

Chuyên mục:

Tìm hiểu hồ sơ thềm lục địa của Việt Nam

16/05/2009 | 4:00 chiều | 98 Comments

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

I. Khái niệm về thềm lục địa 

Thềm lục địa của một quốc gia là phần đất liền của quốc gia đó nối dài ra và chìm dưới đáy biển. Khái niệm về « thềm lục địa » tương đối mới, chỉ có vài mươi năm nay. Chủ quyền về thềm lục địa có từ năm 1942, nguyên nhân do việc khai thác dầu khí : hai nước Anh Quốc (bảo hộ xứ Trinité et Tobago) và Vénézuela đồng ý chia với nhau vùng thềm lục địa có nhiều mỏ dầu khí ở ngoài giới hạn lãnh hải 3 hải lý. Nhưng chính thức là lời tuyên bố của TT Truman ngày 28 tháng 9 năm 1945 : thềm lục địa có thể được xem như là phần đất liền nối dài ra biển, do đó chủ quyền của quốc gia này ở phần lục địa kéo dài là việc tự nhiên. TT Truman tuyên bố quyền tài phán và khai thác tài nguyên thiên nhiên của HK một vùng « thềm lục địa » được giới hạn bởi vùng nước sâu không qua 200 mét.

Bắt đầu thời điểm này, các học thuyết về thềm lục địa được phát triển, theo tiến bộ của kỹ thuật khai thác dầu khí dưới đáy biển, được áp dụng vào thực tiễn qua các công ước về luật Biển.

Công ước Genève 1958 công pháp hóa khái niệm về thềm lục địa, trong lúc các công ước khác về lãnh hải và vùng tiếp cận, về đại dương (biển cả) và việc đánh bắt và bảo vệ hải sản trên biển cả được ký kết và thông qua. Chỉ đến ngày 10-6-1964 công ước về thềm lục địa mới được đi vào hiệu lực sau khi có 22 nước tham gia phê chuẩn.

Chiều rộng của thềm lục địa vào thời điểm đó được xác định một cách đơn giản : là nơi mà độ dốc của bờ triền thềm lục địa thình lình thay đổi. Chiều rộng thềm lục địa được xác định là khoảng cách từ bờ đến vùng nước có độ sâu 200m. Vì thông thường, bờ triền của thềm lục địa thay đổi đột ngột ở khoảng 200 m chiều sâu.

Định nghĩa của thềm lục địa (điều 1) theo công ước 1958 (đi vào thực tế năm 1964) :

  • Khu vực dưới đáy biển, tiếp cận với bờ biển, gồm mặt đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cho đến độ sâu 200m. Như thế chiều rộng thềm lục địa có thể xa hơn chiều rộng hải phận 3 hải lý.
  • Thềm lục địa có thể kéo dài ra đến nơi mà độ sâu của nước còn có thể cho phép khai thác tài nguyên.
  • Thềm lục địa của các đảo cũng được tính theo tiêu chuẩn của thềm lục địa đất liền.

Quyền tài phán và khai thác thềm lục địa của quốc gia được định nghĩa ở điều (2) : các quốc gia duyên hải có quyền chủ quyền như thăm dò và khai thác tài nguyên ở thềm lục địa.

Quyền chủ quyền và quyền được khai thác của các quốc gia duyên hải là một đặc quyền, không một quốc gia nào khác có thể thăm dò và khai thác tài nguyên nếu không có sự đồng ý của quốc gia có chủ quyền.

Quyền chủ quyền của quốc gia ở thềm lục địa là một quyền tự nhiên, không phụ thuộc vào việc chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa hay cần đến một sự tuyên bố nào (như trường hợp các vùng đất hay đảo).

Song song với các quyền hạn, quốc gia duyên hải cũng phải có nghĩa vụ đối với thềm lục địa của mình, gồm các việc : không làm ảnh hưởng đến vùng nước và vùng trời phía trên thềm lục địa, không được cản trở việc đánh cá, tôn trọng tự do hàng hải của tàu thuyền cũng như các hoạt động nghiên cứu khoa học, không được ngăn cản các nước đặt dây cáp ngầm…

Nhưng sự phát triển khoa học kỹ thuật đã cho phép con người khai thác được ở những vùng biển sâu hơn, công ước 1958 về thềm lục địa trở nên lỗi thời. Nhờ khoa học kỹ thuật ngưòi ta nhận ra rằng thềm lục địa không hẵn chấm dứt ở nơi mà bờ triền thay đổi độ dốc, tức khoảng 200 m nước độ sâu, mà nó còn kéo dài ra ngoài, gồm các phần bờ triền, vùng trầm tích và phần bờ rìa thềm lục địa.

Khái niệm về thềm lục địa được xác định lại do luật biển 1982 ở điều thứ 76 : thềm lục địa của một quốc gia duyên hải bao gồm mặt đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, là phần đất tự nhiên của lãnh thổ quốc gia này kéo dài ra biển, cho đến bờ rìa của thềm lục địa.

Thềm lục địa tùy theo địa hình, địa mạo của đáy biển có thể kéo dài rất xa bờ, hay ở rất cận bờ (như trường hợp các hố sâu đến 11.000 m ở phía đông của Phi và Nhật Bản ; ngược lại, vùng thềm lục địa phía Nam VN có thể kéo dài nối liền cho đến Mã Lai và Nam Dương.)

Do đó thềm lục địa pháp lý được thống nhất cho mọi trường hợp : Trường hợp bờ rìa thềm lục địa cách đường cơ bản không quá 200 hải lý thì chiều rộng thềm lục địa pháp lý được xác định ở mức 200 hải lý. Nếu bờ rìa của thềm lục địa xa hơn đường cơ bản 350 hải lý thì bề rộng thềm lục địa được xác định ở 350 hải lý.

II. Phương pháp xác định thềm lục địa mở rộng 

Vùng thềm lục địa phía ngoài lằn ranh 200 hải lý được gọi là thềm lục địa mở rộng. Tùy theo cơ cấu địa tầng (tactonique des plaques) thềm lục địa mỗi nơi mỗi khác, chiều rộng thềm lục địa do đó khác nhau. Nhiều quốc gia duyên hải nhưng không mở rộng được thềm lục địa theo như ý muốn. Thí dụ, có những nơi bờ biển Phi Luật Tân vừa ra khỏi bờ vài hải lý thì là hố thẳm (hố Mindanao), không có thềm lục địa. Không có thềm lục địa, hay thềm lục địa quá ít thì không thể mở rộng.

Trường hợp hai quốc gia duyên hải đối diện, việc mở rộng thềm lục địa cũng phải tôn trọng chủ quyền lẫn nhau. Việc phân chia sẽ được chiếu theo điều 76 của bộ Luật Quốc Tế về Biển 1982, theo qui tắc hướng dẫn về Khoa Học và Kỹ Thuật của Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (CLCS/11/Add. 1) và các Qui Định về Thủ Tục của Ủy Ban (CLCS/ 40/ Rev. 1). Thí dụ hai nước duyên hải Việt Nam và Mã Lai là điển hình cho trường hợp này.

Xác định chiều rộng của thềm lục địa là xác định đường bờ rìa phía ngoài của thềm lục địa, gọi là đường ranh giới bên ngoài.

Đường ranh giới bên ngoài của thềm lục địa mở rộng được xác định bởi ba yếu tố : Khoảng cách, địa chất và độ sâu. Có 3 cách xác định đường ranh giới bên ngoài thềm lục địa :

1/ Đường ranh giới bắt buộc

a) Áp dụng cho trường hợp địa tầng thềm lục địa rộng hơn 350 hải lý. Đường ranh giới bắt buộc là đường nối các điểm cách đường cơ bản 350 hải lý.

b) Đường ranh giới là đường nối các điểm cách đường đồng đẳng 2.500m một khoảng cách 100 hải lý. Tức là, trước hết xác định đường nước sâu 2500m dọc theo bờ biển của quốc gia, sau đó từ đường nước sâu này (gọi là đường đồng đẳng 2.500m), cộng thêm 100 hải lý. Nối các điểm đầu mút 100 hải lý ta có đường ranh giới bên ngoài thềm lục mở rộng (nhưng không quá 350 hải lý).

2/ Đường ranh giới được xác định theo công thức Hedberg : chiều rộng thềm lục địa mở rộng được tính từ “chân của bờ triền” (Foot Of the Slop – FOS) + 60 hải lý.

3/ Đường ranh giới xác định theo Công thức Gardiner : chiều rộng của thềm lục địa mở rộng tính theo tỉ lệ với 1% độ dày của  lớp trầm tích. Tức là, thềm lục địa mở rộng 100 hải lý thì lớp trầm tích nơi này phải có độ dày là 1 hải lý.

Các quốc gia duyên hải có thể lựa chọn phương pháp có lợi nhất cho mình hay kết hợp cả ba yếu tố để xác định đường ranh giới bên ngoài thềm lục địa mở rộng.

III. Thềm lục địa mở rộng của Việt Nam 

Việt Nam vừa nộp hai Hồ sơ liên quan đến thềm lục địa mở rộng, lần lượt ngày 6 và ngày 7 tháng 5 năm 2009. Hồ Sơ ngày 6 nộp chung với Mã Lai, nội dung trình bày ranh giới hải phận 200 hải lý của mỗi nước cùng với khu vực thềm lục địa mở rộng chung giữa hai nước.

Hồ sơ nộp ngày 7 liên quan ranh giới hải phận 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng của Việt Nam, thuộc khu vực phía bắc biển Đông.

Cả hai Hồ sơ được thiết lập dựa trên tinh thần điều 76, phần thứ 8 của bộ luật Quốc Tế về Biển 1982. Cả hai Hồ sơ được viết bằng tiếng Anh, có thể tham khảo tại trang web Oceans and Laws of the Sea (Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea) trang “Submissions, through the Secretary-General of the United Nations, to the Commission on the Limits of the Continental Shelf, pursuant to article 76, paragraph 8, of the United Nations Convention on the Law of the Sea of 10 December 1982” của Liên Hiệp Quốc:

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/commission_submissions.htm

Chúng tôi có dịch hai hồ sơ này và giải thích sơ lược ý nghĩa của nó, mọi người có thể tham khảo tại http://thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3753 .

1/ Hồ sơ nộp chung giữa Mã Lai và Việt Nam

Hồ sơ gồm hai phần.

Phần một : xác định vùng thềm lục địa mở rộng chung giữa hai nước Việt Nam và Mã Lai. Trên bản đồ 1 là vùng được tô màu cam, ranh giới được định nghĩa theo đoạn 5.1 (*). Tọa độ các điểm xác định đường ranh giới được liệt kê trong bảng 1 (*).

Bản đồ 1: Vùng được tô màu cam trên bản đồ là khu vực "thềm lục địa mở rộng" chung của hai nước Việt Nam và Mã Lai.

Bản đồ 1: Vùng được tô màu cam trên bản đồ là khu vực "thềm lục địa mở rộng" chung của hai nước Việt Nam và Mã Lai.

Phần hai: Đường ranh giới thềm lục địa mở rộng được vẽ màu cam trên bản đồ 2.

Đường này nằm ngoài khá xa, về phía bắc của khu vực « thềm lục địa mở rộng chung » của VN và Mã Lai. Theo bản đồ, đường ranh giới này ở khoảng giữa bờ VN (Nha Trang – Đại Lãnh) và bờ biển phía bắc đảo Palawan của Phi.

Tọa độ các điểm xác định đường ranh giới này được liệt kê trong bảng 2 và định nghĩa theo đoạn 7.2 (*). Để ý các tọa độ trong bảng 2, các điểm được tính theo công thức Hedberg: chiều rộng thềm lục địa mở rộng được tính từ “chân của bờ triền” (Foot Of the Slop – FOS) + 60 hải lý.

Nhưng ở đây, các điểm “chân bờ triền – FOS” là nằm trên bờ triền nào ?

Theo nội dung bảng 2 (*), 78 điểm xác định đường ranh giới nằm trên các vòng cung mà tâm là các điểm FOS 01,  FOS 02,  FOS 03, FOS 04, FOS 7 ; bán kính là 60 hải lý.

Như thế, các điểm “chân bờ triền – FOS” cũng sẽ nằm trên các vòng cung có tâm là các điểm trong bảng 2 (*) và có bán kính là 60 hải lý.

Sau khi kiểm nghiệm, các điểm FOS 01,  FOS 02,  FOS 03, FOS 04, FOS 7 thuộc vùng các đảo Trường Sa của Việt Nam.

Bản đồ 2: Đường màu cam là đường xác định khu vực thềm lục địa mở rộng của Việt Nam.

Bản đồ 2: Đường màu cam là đường xác định khu vực thềm lục địa mở rộng của Việt Nam.

Như thế, việc ghi nhận đầu tiên là hiệu lực các đảo Trường Sa được tính trong vùng thềm lục địa mở rộng và không tính trong hải phận của các nước (ở đây là Phi Luật Tân va Mã Lai). Vùng « thềm lục địa mở rộng », khoanh màu đỏ theo bản đồ 3, có thể thuộc về Việt Nam (vì đến nay Phi không lên tiếng phản đối). Việc Phi không phản đối có thể do dàn xếp, trao đổi trước. Ở đây, trao đổi là các đảo Trường Sa của VN trong vùng ZEE 200 hải lý của Phi thì không tính hiệu lực.

Bản đồ 3: Vùng khoanh đỏ là khu vực thềm lục địa mở rộng của VN do hiệu lực các đảo Trường Sa.

Bản đồ 3: Vùng khoanh đỏ là khu vực thềm lục địa mở rộng của VN do hiệu lực các đảo Trường Sa.

Một số điều ghi nhận khác là:

– Đường cơ bản Việt Nam vẫn giữ nguyên theo Tuyên Bố 22 tháng 11 năm 1982. Đây là một điều lợi cho VN, vùng nước phía trong đường cơ bản được xem là nội thủy. Đường giới hạn 200 hải lý của VN được đo từ đường cơ bản. Khu vực biển đối diện với Mã Lai, điểm A6 (đảo Hòn Hải, cách bờ 74 hải lý) được làm tâm điểm để tính ranh giới vùng biển phía ngoài 200 hải lý. Điều khiến cho Mã Lai chấp nhận việc  này, giải thích tương tự trường hợp của Phi, là do sự thỏa thuận trước. Các đảo thuộc Trường Sa của VN trong khu vùng biển ZEE của Mã Lai, bù lại, không tính hiệu lực.

– VN và Mã Lai có chung một vùng « thềm lục địa mở rộng », là khu vực được giới hạn bởi hai đường ranh giới 200 hải lý của hai nước, khu vực này trên bản đồ 2 tô màu màu cam, chưa được phân định theo Hồ Sơ nộp chung.

2/ Hồ sơ Vùng phía Bắc Việt Nam (VNM-N Area) : Một số điều ghi nhận sau đây:

Theo bản đồ 4 và các dữ kiện đính kèm (*), thềm lục địa VN được mở rộng dựa trên hai tiêu chuẩn : Công thức Gardiner, tính 1% độ dày của trầm thích và Nguyên tắc “chân của bờ triền” (Foot Of the Slop – FOS) + 60 hải lý (Công thức Hedberg).

Bản đồ 4: Khu vực khoanh đỏ (tác giả vẽ thêm) là thềm lục địa mở rộng của VN (miền bắc biển Đông).

Bản đồ 4: Khu vực khoanh đỏ (tác giả vẽ thêm) là thềm lục địa mở rộng của VN (miền bắc biển Đông).

 

– Hồ sơ khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam.

– Tuy nhiên, các đảo thuộc quần đảo HS thì không thấy nhắc nhở đến trong việc xác định đường giới hạn hải phận giữa VN và TQ.

– Hồ sơ của Việt Nam thì được sự trợ giúp của Trung Tâm Hải Học Quốc Gia, Southampton, Vương Quốc Anh.

IV. Phản ứng của Trung Quốc

Sau khi các Hồ sơ của Việt Nam nộp thì ngày hôm sau phía TQ gởi 2 công hàm phản đối đến Tổng Thư Ký LHQ. Nội dung hai công hàm này giống nhau, tóm lược như sau :

Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi ở các đảo và vùng nước chung quanh trong biển Nam Trung Hoa. TQ có quyền chủ quyền, quyền tài phán tại các đảo, vùng nước chung quanh cũng như dưới mặt đáy biển và thềm lục địa. Nhà nước TQ thường xuyên lập lại ý kiến này và việc này được sự hiểu biết rộng rãi trong cộng đồng quốc tế… Chiếu theo điều 5 của Phụ Đính I của Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa, TQ trân trọng yêu cầu Ủy Ban không xét Hồ Sơ của Việt Nam (và Mã Lai).

Nguyên văn hai công hàm này tìm đọc ở :

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2009re_vnm.pdf

Đính kèm công hàm có tấm bản đồ chín gạch hình chữ U.

Nhiều người sớm vội cho rằng phản đối của TQ khiến hồ sơ của VN không được cứu xét và VN sẽ mất vùng thềm lục địa mở rộng. Thực ra không có điều gì chắc chắn. Điều 5, phụ đính I : có nội dung như sau : Dans le cas où il existe un différend terrestre ou maritime, la Commission n’examine pas la demande présentée par un État partie à ce différend et ne se

prononce pas sur cette demande. Toutefois, avec l’accord préalable de tous les États parties à ce différend, la Commission peut examiner une ou plusieurs demandes concernant des régions visées par le différend. (Trong trường hợp có tranh chấp về lãnh thổ và lãnh hải, Ủy Ban sẽ không xét hồ sơ của nước có quan hệ đến tranh chấp và không tuyên bố về hồ sơ này. Tuy nhiên, nếu có sự thỏa thuận giữa các quốc gia tranh chấp, Ủy Ban có thể xét một hay nhiều hồ sơ liên quan các vùng có tranh chấp.)

Hành động này của TQ chưa chắc vô hiệu hóa Hồ Sơ của Việt Nam. LHQ sẽ xét yêu cầu của TQ có hợp lý hay không ? Nếu yêu cầu này không hợp lý thì chính yêu cầu của TQ không được cứu xét chứ không phải Hồ Sơ của VN. Và nếu, giả sử hồ sơ VN không được xét, VN vẫn có thể trở lại tuyên bố 1982 (theo bản đồ 5 ở dưới) để đòi hỏi chủ quyền các đảo và vùng biển của mình, tương tự hiện nay TQ không nộp hồ sơ thềm lục địa mở rộng, vì không có « thềm » để mở, như họ vẫn dành Biển Đông qua lý do có chủ quyền các đảo HS&TS (theo công hàm ông Đồng) với bản đồ chữ U.

Nhưng việc phản đối của TQ lần nữa cho thấy cái tai hại của công hàm ông Phạm Văn Đồng đồng thời cũng cho dư luận thế giới thấy sự ngang ngược phi lý của TQ.

Nhưng việc này tạo cho phía VN một cơ hội : VN nên nhân dịp này yêu cầu đưa toàn vụ tranh chấp chủ quyền HS & TS ra trước một trọng tài quốc tế.

V. Kết luận 

1/ Được và mất qua hai hồ sơ thềm lục địa mở rộng của VN :

Nếu ta lấy một thang điểm, từ -5 đến +5 điểm, chủ trương của VN qua Tuyên Bố 22 tháng 11 năm 1982 là 5 điểm. VN được tất cả, vùng biển và thềm lục địa của VN theo bản đồ 5, các quần đảo HS và TS có 100% hiệu lực, vùng nước giữa HS và TS là nội thủy.

Hai hồ sơ của VN vừa qua có thể cho 2 điểm, do giữ được hệ thống đường cơ bản, giữ được hiệu lực một phần các đảo TS, một phần thềm lục địa mở rộng đồng thời khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS.

Bản đồ 5: Minh họa hệ thống đường cơ bản và vùng biển của VN với các đảo HS&TS có hiệu lục 100% (nguồn Vũ Hữu San).

Bản đồ 5: Minh họa hệ thống đường cơ bản và vùng biển của VN với các đảo HS&TS có hiệu lục 100% (nguồn Vũ Hữu San).

2/ Trở lại chủ trương phân chia Biển Đông của quí ông Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn. Nội dung chủ trương này đăng trên talawas như sau :

1. TẠM THỜI gác việc tranh giành các quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa sang một bên để bàn về việc phân chia các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa (continental shelf) ở Biển Đông.

2. Thương lượng với các nước chung quanh Biển Đông (Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Brunei, Phillippines) để chia Biển Đông ra thành những vùng kinh tế của mỗi nước, theo đúng luật biển UNCLOS (United Nations Law of the Sea) [5] và tiền lệ quốc tế, tức là:

(a) Mỗi nước được 1 vùng EEZ 200 hải lý (370 km) tính từ “đường cơ sở” (bờ)

(b) Phía nam Biển Đông có một thềm lục địa rất lớn tên là Sunda Shelf, theo UNCLOS thì các nước quanh đó (kể cả Việt Nam) được tính thêm ra tối đa 350 hải lý.

(c) Khi khu kinh tế hay thềm lục địa của hai nước trùng nhau, thì chia hai theo nguyên tắc vẽ một đường trung tuyến từ ranh giới trên đất liền.

(d) Các đảo (Hoàng Sa, Trường Sa) là đảo nhỏ, không nuôi sống được người, nên không được tính EEZ mà chỉ cho tối đa một lãnh hải (territorial sea) 12 hải lý; tức là, các đảo đó không ảnh hưởng đến việc phân chia EEZ và thềm lục địa.

So sánh với hồ sơ của VN vừa nộp, ta thấy có những điểm sai biệt rất cơ bản:

  • Về hệ thống đường cơ bản, mặc dầu không có ghi lại trong chủ trương ghi lại ở trên, nhưng ý kiến của ông Dương Danh Huy, trên diễn đàn x-café, là chống hệ thống đường cơ bản của VN. Theo ông, hệ thống này không phù hợp với luật Quốc Tế về Biển, do đó phải hủy bỏ. Ý kiến này cũng là ý kiến của ông M. Valencia trong đề nghị giải quyết biển Đông. Tôi đã chống lại ý kiến này, cũng trên x-café. Nhưng thực tế, hồ sơ VN vẫn giữ được hệ thống đường cơ bản trong hồ sơ của mình mà không bị ai phản đối. Nếu chủ trương của ông Huy được áp dụng thì VN mất trọn vẹn vùng biển nội hải, phía trong đường cơ bản, bề dày có nơi lên đến 74 hải lý, diện tích có thể hàng chục ngàn cây số vuông.
  • Về hiệu lực các đảo. Hồ sơ VN chủ trương các đảo TS có hiệu lực (từng phần) trong khi giải pháp của ông Huy thì các đảo không có hiệu lực. Nếu áp dụng giải pháp của ông Huy thì VN bị mất vùng thềm lục địa khoanh đỏ theo bản đồ 3, diện tích ước lượng lên đến vài chục ngàn cây số vuông.

Nếu tính theo thang điểm ở trên, phương pháp của ông Huy sẽ là -5 điểm, vì chủ trương này không hề đem lại một lợi lộc nào cho VN ngoài những mất mát rất lớn: mất hệ thống đường cơ bản (tức mất vùng nước nội thủy mà bề dày có nơi ra tới 74 hải lý), mất vùng thềm lục địa mở rộng (bản đồ 3) và chưa chắc lấy lại HS và TS. Điều quan trọng hơn hết, vấn đề tranh chấp với TQ vẫn không thể giải quyết. Việc này thể hiện rõ rệt qua bản đồ đính kèm công hàm phản đối của TQ. Như thế, một giải pháp làm mất đảo, mất biển, mất thềm lục địa… mà không hề đem lại cho VN một lợi ích gì, đe dọa của TQ vẫn còn, người ta có quyền đặt câu hỏi ông Huy và ông Phạm Quang Tuấn đang tranh đấu cho quyền lợi của ai ? Quí độc giả Talawas có lẽ đã hiểu vì sao tôi đã chống kịch liệt, đôi khi với lời lẽ gay gắt, qua những bài vừa rồi trên Talawas. Quí vị cũng thấy bây giờ ai đúng, ai sai ? Hồ sơ của VN vừa nộp, dầu không dành được nhiều lợi ích, nhưng không mất mát, tôi biết chắc là không thể do công lao “la làng” nhiều tháng nay của tôi trên các báo chí. Nhưng điều khẳng định là do công lao và sự hy sinh xương máu của nhiều thế hệ VN. Nhưng không thể do những vận động của ông Dương Danh Huy với sự phụ họa của nhiều người khác trên các “hệ thống” truyền thông.

3/ Về ý nghĩa biển chữ U và công hàm ông Phạm Văn Đồng

Công hàm phản đối của TQ về hồ sơ thềm lục địa mở rộng của VN cho thấy vùng biển mà TQ vạch trong trong bản đồ chữ U là do hiệu quả các đảo HS và TS. Nguyên văn trích từ công hàm phản đối gởi Tổng Thư Ký LHQ ngày 8 tháng 5 năm 2009: China has indisputable overeignty over the islands in the South China Sea and the adjacent waters, and enjoys sovereignty rights and jurisdiction over the relevant waters as well as the sea seabed and subsoil thereof (see attached map). The about position is consistently held by the Chinese gouvernment, and is widely know by the international community.

Tôi có viết thế này trong bài Chủ quyền VN tại bãi Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn:

Đây là hậu quả của một sự sơ suất to lớn, phía VN dường như không hề màng đến các lý lẽ của TQ, sai lầm kéo dài từ năm 1958 đến nay.

Sai lầm vì, các viên chức VN lạc quan đã đành, học giả VN cũng vậy, nhưng thật ra phần lớn đều thiếu tầm nhìn, chỉ giải thích vấn đề theo cảm tính, theo ý muốn của mình mà bất chấp thực tế đã xảy ra như thế nào. Đến hôm nay một số học giả VN vẫn loay hoay với hỏa mù của TQ tung ra, mất thời giờ tìm hiểu và giải thích ý nghĩa tấm bản đồ chữ U, còn gọi là bản đồ 9 gạch hay bản đồ « lưỡi bò », mà không biết rằng đó chỉ diện, là hỏa mù có công dụng đánh lạc hướng VN (và cả thế giới), làm cho phía VN nếu không mất thì giờ thì cũng trở thành khinh địch.

Việc loay hoay này thấy rõ qua buổi « hội thảo biển Đông » vừa qua trong nước. Có người mất không biết bao nhiêu thời gian để tìm hiểu và chứng minh « biển lười bò » không thể là biển lịch sử của TQ v.v… Nhưng các việc đó đều vô ích.

Lần nữa, những gì tôi đã viết đều đúng : biển chữ U là do hiệu lực các đảo HS và TS. Các học giả VN đã mất thì gì vô ích.

Tôi cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lần : chủ quyền của TQ tại hai quần đảo này đến từ công hàm của ông Phạm Văn Đồng và việc này đã được đông đảo dư luận quốc tế công nhận.

Ông Dương Danh Huy, ông Phạm Quang Tuấn và nhiều người khác đã phủ nhận các việc này.

Tôi cho rằng đây là một sai lầm lớn, nếu không nói là chạy trốn sự thật.

Tôi cũng đã cho rằng TQ có thể vịn vào công hàm ông Đồng để đánh VN bất cứ lúc nào. Việc này đã chứng minh ít nhất 2 lần: 1974 tại HS và 1988 tại các đảo TS.

Nhưng một vài điều cần nói thêm, nhân bài viết “Hoàng Sa – Trường Sa, một bài học cho xứ nhược tiểu” trên talawas của Dũng Vũ.

TQ muốn đánh VN để dứt điểm các đảo TS lắm, nhưng họ có dám đánh không ?

Tôi có viết thế này trả lời phỏng vấn các bạn trên x-café 13-9-2008 :

Tôi cho rằng không. Có nhiều yếu tố để tôi phát biểu như thế. Thứ nhất là tương quan khả năng, VN không phải là Iraq và TQ thì còn kém rất xa đối với Hoa Kỳ, không thể đánh một trận mà « ổn định thiên hạ ». TQ chưa chắc thắng nhanh chóng trong khi về lâu dài Việt Nam lại có khả năng làm cho TQ xuất huyết đến chết. Nhưng trường hợp TQ thắng nhanh thì TQ cũng chết trong lâu dài. Tức là cách nào rồi thì TQ cũng thua. Người ta thường ví VN và TQ như môi với răng, nhưng đó là chuyện đã xưa. Ngày nay VN đang ở vị trí yết hầu của TQ. Các nhà chiến lược TQ nên nghiên cứu điều đó để không có những quyết định sai lầm. Thứ hai, về kinh tế, TQ hiện nay bắt buộc phải phát triển trên 10%/ năm mới có thể giải quyết một thị trường nhân công của các tỉnh nội địa là khoảng 16 triệu người một năm. Phát triển dưới 10% là xã hội bất ổn. Vì thế TQ không bao giờ dám phiêu lưu làm một cuộc chiến mà phần thua biết chắc trong tay. Thứ ba là về chính trị. Người ta đã lấy cái gương của Gruzia để răn đe VN nhưng người ta chưa thấy các hậu quả về kinh tế trong tương lai mà Nga sẽ gặp phải. Cuộc « chiến tranh lạnh mới » giữa Nga và Tây Phương này sẽ chấm dứt rất nhanh chóng. Các nước trong NATO không can thiệp vào Gruzia vì Hắc Hải không phải là Địa Trung Hải. Nhưng nếu TQ đánh VN để chiếm hữu biển Đông thì lập tức các nước ASEAN sẽ không ngồi yên. Việc này sẽ lôi kéo theo Nhật Bản và Hoa Kỳ. Vì biển Đông có tầm quan trọng chiến lược như là Địa Trung Hải. Biển này quan trọng cho các nước Châu Âu bao nhiêu thì biển Đông cũng quan trọng như thế cho các nước ASEAN, Nhật Bản. Tư thế của TQ sẽ không an toàn chút nào.

Vì thế tôi cho rằng, ngoại trừ nhóm lãnh đạo TQ có những tính toán sai lầm, TQ sẽ không bao giờ dám đánh VN để chiếm biển Đông.

Hơn nữa, vừa qua HK đã gởi thêm các lực lượng hải và không quân tăng cường vùng biển Thái Bình Dương ngay sau khi có những “đụng chạm” với TQ trên biển Đông.

Theo nguồn tin quân sự Hoa Kỳ (ngày 13-5-2009), Bộ Tư Lệnh Không Quân đã điều động thêm hai phi đội F-22A Raptors đến căn cứ không quân Kadena ở Nhật Bản. Trước đó vào tháng 3, một phi đội F-22A Raptors cũng đã từng được điều động tới đảo Guam trong một thời gian khi xảy ra biến cố tàu khảo cứu đại dương của Hoa Kỳ bị một số tàu Trung Cộng khiêu khích phía nam đảo Hải Nam trên hải phận quốc tế. HK cũng điều động thêm lực lượng không quân tối tân nhất bên cạnh việc chuyển thêm 7 tàu ngầm nguyên tử tới khu vực Thái Bình Dương.

Ngày 3 tháng 5 vừa qua, tàu ngầm nguyên tử USS Jacksonville cặp bến quân cảng Pearl Harbor và tới mùa thu này một số tàu ngầm nguyên tử tối tân hơn thuộc thế hệ Virginia-Class như USS Hawaii và USS Texas cũng sẽ tới Nhật. Thời chiến tranh lạnh, tỉ lệ tàu ngầm Hoa Kỳ hoạt động ở Đại Tây Dương chiếm 60% và Thái Bình Dương chiếm 40%. Nay tỉ lệ này đảo ngược lại. Tin tức quân sự cho hay cho đến cuối năm nay 31 tàu ngầm loại tấn công nhanh sẽ hoạt động tại Thái Bình Dương và chỉ còn 22 chiếc hoạt động ở Đại Tây Dương. Trong số này, 18 chiếc đóng tại Pearl Harbor, 3 chiếc tại đảo Guam, 6 chiếc ở California, cho thấy sự thay đổi cách đánh giá tình hình quân sự dài hạn của Hoa Kỳ đối với sự gia tăng sự đe doạ của Trung Cộng mỗi ngày một lộ rõ hơn với khu vực Thái Bình Dương nói chung và khu vực biển Đông nói riêng (tin Cali Today).

Cũng nên nhắc lại, TQ đánh HS của VN năm 1974 vào lúc “đồng minh” đang chuẩn bị “tháo chạy” và đánh TS năm 1988 cũng là thời điểm Liên Xô đang bán cho TQ vũ khí trị giá khá nhiều tỉ đô la và cũng là thời điểm bức tường Bá Linh sắp đổ, là những “thời cơ vàng” cho TQ. Nhưng nay tình thế hoàn toàn bất lợi cho TQ. Tài liệu của Bộ Quốc Phòng HK « Military Power of the People’s Republic of China 2009 » vừa công bố cho thấy sự quan tâm lớn lao của HK về sự phát triển và vũ trang của TQ. HK sẽ không để yên cho TQ muốn làm mưa làm gió trên Biển Đông.

Biển Đông là hải đạo huyết mạch của kinh tế thế giới. Nơi này cũng là hải đạo huyết mạch cho TQ. Vì thế, ngoài những quyết định điên rồ không tính trước của lãnh đạo TQ, xác suất TQ đánh các đảo VN hiện nay là 0%. Do đó các lo ngại của nhiều người VN tuy chính đáng, nhưng hoàn toàn không có căn bản.

(*) tham khảo bảng 1 và bảng 2 và các chi tiết khác tại:

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/submission_vnm_37_2009.htm

© 2009 Trương Nhân Tuấn

© 2009 talawas blog

Bình luận

98 Comments (bài “Tìm hiểu hồ sơ thềm lục địa của Việt Nam”)

  1. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Huy viết:
    “Tức là trong báo cáo VN đã không dùng HS để đòi EEZ hay TLDMR, mà cũng không chấp nhận TQ dùng HS để đòi TLDMR, mà chũng không có gì nói là VN chấp nhận TQ dùng HS để đòi EEZ.”

    Hiểu là VN khước từ dùng HS để đòi EEZ , một hành động thụ động hay tiêu cực (và ông Huy biện minh ). Cũng hiểu được là VN không khẳng định tích cực chủ quyền trên HS , chỉ là sự tránh né để khỏi đụng chạm TQ. Không thấy VN phản đối nếu TQ dùng HS để đòi TLĐMR, vì là trường hợp không xảy ra (TQ không đòi TLĐMR có lẽ vì không đủ điều kiện đòi).Nếu HS và TS được coi như của VN, thì EEZ và TLĐMR của VN phải ra tới hai quần đảo đó theo UNCLOS. Đằng này, ở HS chỉ ra tới nửa quãng đường Tri Tôn, và ở TS không mở TLĐMR ra tới các đảo TS cho là của VN.

    Ông Huy viết: “Các bản đồ báo cáo ghi HS và TS là của VN. Như vậy khá “cứng””.

    Ý nói VN còn ghi được trên bản đồ của mình các tên Hoàng Sa, Trường Sa với chữ Viet Nam trong ngoặc, như thế cũng là “khá cứng” !

    Ông Huy viết :” bản đồ đó chứng minh đường đỏ trong bản đồ là đường trung tuyến bờ-bờ, không tính HS”.’
    Nhưng điều quan trọng là đường trung tuyến vẽ trên giấy như thế có được TQ thừa nhận, hay có giá trị thực tiễn không.

    Đọc thấy trên Minh Biện:
    “Năm 2004 Trung Quốc kéo giàn khoan dầu Kantan 3 tới hoạt động tại khu vực có toạ độ 17°26′42″ Bắc, 108°19′05″ Đông, cách Việt Nam 63 hải lý và cách Trung Quốc 67 hải lý[7], cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa 205 hải lý”.

    Hiểu được TQ tính EEZ rộng 200 hl từ HS !?

  2. Dương Danh Huy viết:

    Mời mọi người xem tin này

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/05/090519_viet_china_sea_claim.shtml

    để thấy đòi nhiều biển cho Hoàng Sa (và Trường Sa) là maximum gain cho ai.

    Đúng là đòi nhiều biển cho HS là thêm đạn cho súng đang trong tay giặc (dù là của ta), đòi nhiều biển cho TS là thêm đạn cho súng mà giặc có thể dùng.

    Còn VN thì được ông Trương Nhân Tuấn cho ăn cái bánh vẽ là trong tương lai thế giới sẽ văn minh hơn, TQ sẽ chịu ra Toà, Toà sẽ phán quyết HSTS là của VN (nếu làm cái thủ tục nghi lễ rùm beng kèn trống bàn giao chủ quyền từ VNCH(!)) cho VN và cho thêm nhiều biển đi kèm với HSTS.

    Ăn bánh vẽ xong hãy ngủ ngon, “À ơi dí dầu, Vì thế, ngoài những quyết định điên rồ không tính trước của lãnh đạo TQ, xác suất TQ đánh các đảo VN hiện nay là 0%. Do đó các lo ngại của nhiều người VN tuy chính đáng, nhưng hoàn toàn không có căn bản.”

  3. Phạm Quang Tuấn viết:

    hoangtruongsa: “tôi thấy rất khó hiểu vì trong bản đồ báo cáo Bắc của VN gửi LHQ thì giới hạn vùng đặc quyền kinh tế EEZ (rộng 200 hải lý) của VN là một đường cong HỞ chạy “song song” với đường sơ sở 1982 của VN từ phía Nam lên hướng Bắc tới vị trí một ĐIỂM cuối (có vẻ cách đều hai đường cơ sở VN và TQ thì đột ngột dừng lại không chịu đi tiếp (!!!).”

    Không có gì khó hiểu cả, như tôi đã nhiều lần giải thích. Đường 200 hl bắt buộc phải dừng ở đó, vì TLĐMR dừng ở đó. Đi thêm thì vào khu mà khoảng cách giữa đường cơ sở VN và Hải Nam hẹp hơn 400 hl, và do đó không còn dư TLĐ để đòi!

    HTS: “Phía VN đã CỐ Ý vẽ đường giới hạn vùng đặc quyền kinh tế của mình DỪNG LẠI ở một ĐIỂM mà KHÔNG DÁM vẽ tiếp vì sợ đụng vào vùng biển quanh khu vực quần đảo HS hiện đang do TQ trấn đóng và tuyên bố chủ quyền, vì nếu tiếp tục vẽ dựa theo quy tắc (trung tuyến) cách đều hai đường cơ sở của hai nước VN và TQ thì đường này phải tiếp tục đi xéo theo hướng Đông để gặp đường (nối dài) của đường giới hạn thềm lục địa nới rộng của VN để tạo ra một vùng KÍN xác định vùng thềm lục địa nới rộng của VN (trong đó có chứa vùng đặc quyền kinh tế EEZ).”

    Bản đồ của VN đã vẽ một ĐƯỜNG cách đều tạo thành vùng KÍN hình tam giác, y như HTS muốn, vậy mà còn “KHÔNG DÁM” gì nữa? Không những thế báo cáo cũng nói rõ: “The Northern boundary is the equidistance line between the territorial sea baselines of VN and the territorial sea baselines of the PRC”. Không biết HTS có biết đọc tiếng Anh không, hay cũng như TN Tuấn?

  4. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Hoang TRuongsa viết:
    “…việc chia cắt lãnh-hải theo quan niệm “Biển Đông không có đảo” có lẽ đem lại một vùng đặc-quyền kinh-tế EEZ lớn nhất mà nước ta có thể được hưởng .” (Trích Vũ Hữu San, Địa lý Biển Đông) .

    Đây đúng là “cực tiểu hóa thiệt hại”, vì nay khi Tri Tôn thuộc về TQ, vùng biển giữa Tri Tôn và Ly Sơn (hay cù lao Ré) rộng 123 hl được chia ba phần: VN được 41 hl tính từ Ly Son, TQ được 41 hl tính từ Tri Tôn,và khoảng giữa 41 HL là vùng đánh cá chung. Vụ 9 ngư dân Thanh Hóa bị TQ bắn chết xảy ra ở vùng đánh cá chung khi họ đến gần nơi cho là TQ đang lập giàn khoan dầu. Nếu không có, hay không kể HS, EEZ của VN tính từ Ly Sơn sẽ qua khòi Tri Tôn tới 77 hl.
    Nếu không có (hay không kể) HS và TS, TQ sẽ không thể tưởng tượng ra cái “lưỡi bò” bao gồm hai quần đảo đó. Tôi thấy trong một Góp ý ông Huy cho không phải nhờ vậy, vì chính học giả TQ không nói vậy trên diễn đàn quốc tế ! Thật tình tôi thấy ông Huy có nhiều lý, nhưng hai ông Huy va PQ Tuấn dường như muốn thắng lý (bằng mọi cách), chứ không (muốn) tôn trọng sự thật (như khi PQ Tuấn nói về công hàm).

    Năm 1947, thời hải phận mỗi nước chỉ 12 hl, TQ đã đòi HS và TS là của họ (khoảng năm 1930, tranh chấp với Pháp, VN),nhân lúc Pháp và Việt bận chiến tranh, một tướng Quốc dân đảng ở Hoa Nam dùng bút lông khoanh tròn hai quần đảo HS và TS cho là của TQ, để từ đó có cái “lưỡi bò” (bút lông là tôi tưởng tượng, viên tướng kia là nhân vật thật). Dù sao, không HS, TS, không thể tưởng tượng ra được “lưỡi bò” TQ.

  5. Phạm Quang Tuấn viết:

    hoangtruongsa: “Rõ ràng là phía VN đã ngừng lại ở đảo Tri Tôn và không dám đưa quần đảo Hoàng Sa vào vùng này”

    Nói bậy. Đảo Tri tôn ở vĩ độ 15:47, đường EEZ VN vẽ trong đệ trình lên tới 16:00 (theo bản đồ), tức là đi quá đảo Tri Tôn.

    HTS: (a) “Ông Vũ Hữu San khi viết những dòng chữ nói trên chắc chắn là rất đau xót…” (b) “giải pháp của ông Dương Danh Huy có vẻ là sửa soạn dư luận để đảng CSVN từ bỏ chủ quyền trên HS và TS trong tương lai. Điều này đối với tôi hiện này còn là một nghi vấn cần theo dõi để tìm đáp số.” “khuynh hướng của ông Dương Danh Huy, trong thực tế đã giúp cho đảng CSVN phần nào tránh né được búa rìu dư luận…”

    Cùng nói y như nhau, mà một người thì đau xót vì yêu nước, một người thì dọn đường cho CS! Đúng là cái lưỡi không xương. HTS và TNT dường như cùng một lò… hay là…!

    HTS: “Chủ trương của ông TN Tuấn, theo tôi, là muốn dùng giải pháp “cực đại hóa lợi ích” bằng cách tuyên bố chủ quyền thềm lục địa trên cả hai quần đảo HS và TS cho phía VN. Trái lại ông DD Huy (và một số người khác) lại có khuynh hướng đi theo giải pháp “cực tiểu hóa thiệt hại”.”

    “Cực đại hóa lợi ích” mà những lợi ích đó ở đang trong tay kẻ thù thì tức là giúp kẻ thù chứ còn gì nữa! Cũng như thêm đạn cho súng, đổ xăng cho xe tăng, mà súng và xe tăng đang ở trong tay kẻ thù, dù là trên lý thuyết nó của mình!

  6. Phạm Quang Tuấn viết:

    Hòa N: “Tôi nghĩ vì tế nhị mà trong bản đồ của hồ sơ Đệ trình TLĐ Mở Rộng, VN đã không vẽ đoạn trung tuyền nói trên”

    Nói bậy. VN vẽ đầy đủ trung tuyến, từ 200 hải lý tới ranh thềm lục địa, không thiếu gì cả. Đây là bản đồ cho hồ sơ đòi TLĐ, chỉ cần vẽ những chỗ nào có TLĐ để đòi thôi. Ông Hòa có hiểu TLĐ mở rộng là gì không? Là TLĐ ở NGOÀI ranh giới 200 hl. Tức là hai bên bờ hai nước phải cách nhau ít nhất 400 hl, để còn dư TLĐ ở giữa (như trong đệ trình chung Việt-Mã) mà đòi. Chỗ mà ông Hòa nói cách một bên là 123 hl, bên kia 140 hl, cộng lại là 263 hl thì còn TLĐ đâu nữa để mà đòi? Không đòi thì vẽ trung tuyến để làm gì?

  7. Dương Danh Huy viết:

    (TT)

    Sự thật là tôi có nêu ra nhiều giải pháp khác nhau, eg,

    1. HSTS không có EEZ.
    2. Các đảo “không phải rock” được 24, 36, 48 HL gì đó.
    3. Các đảo lớn được nhiều EEZ hơn các đảo nhỏ.
    4. Trong vùng chồng lấn thì các đảo được ít hay zero EEZ. Ngoài vùng chồng lấn thì có thể được nhiều hơn.
    5. Xin ý kiến của Toà.

    Nói theo một số người, mà không hẳn là hoàn toàn vô căn cứ, thì giải pháp của ông Dương Danh Huy có vẻ là sửa soạn dư luận để đảng CSVN từ bỏ chủ quyền trên HS và TS trong tương lai. Điều này đối với tôi hiện này còn là một nghi vấn cần theo dõi để tìm đáp số.

    Bác và những người khác nghĩ kiểu đó thì cũng hơi bất công cho tôi.

    Tôi dám chắc là có không ít người “bên nào đó” cũng nghĩ như bác và các bác kia: “Hiện nay còn là một nghi vấn cần theo dõi để tìm đáp số xem Dương Danh Huy có sửa soạn dư luận chống Đảng hay không.”

    Tôi muốn tập trung vào thông tin khoa học, đem thông tin đó tới cáng nhiều người Việt càng tốt.

    Ai muốn vung búa vung rìu, hay không vung thì là chuyện của họ, không phải chuyện của tôi. Cũng như với phán xét luân lý, lịch sử, vv.

    Cho phép tôi làm điều đó chứ?

    Hãy xét những gì tôi nói có khoa học hay không. Sao lại xét tôi bằng người khác có vung búa vung rìu hay không?

  8. hoangtruongsa viết:

    Xin thành thật cám ơn lời giải thích của hai Bác Hòa Nguyễn và Dương Danh Huy. Bản đồ trong bài báo cáo về thềm lục địa nới rộng của VN do Bác Huy vẽ đã giúp cho tôi thấy rõ vấn đề. Như vậy là trong báo cáo Bắc của VN gửi LHQ ngày 7-5-2009 về thềm lục địa nới rộng, đường giới hạn vùng đặc quyền kinh tế của VN đã DỪNG tại một điểm và không vẽ tiếp là vì lý do tế nhị trong tranh chấp (đang tồn tại) giữa VN và TQ về Hoàng Sa, phía VN không muốn vẽ rõ ra (như Bác Huy đã làm) và xem đó như là phần không thuộc vào đệ trình về thềm lục địa nới rộng (và sẽ được dàn xếp sau với TQ khi bàn về chủ quyền trên HS).
    Một lần nữa xin cám ơn hai Bác. Kính.

  9. Dương Danh Huy viết:

    Theo ngu ý của tôi, nhận định nói trên của học giả, cựu Trung Tá Hải Quân VNCH, Vũ Hữu San hoàn toàn dựa vào cái gọi là “minimisation of loss” (cực tiểu hóa thiệt hại) chứ không phải là giải pháp tối ưu (optimal solution) là “maximisation of gain” (cực đại hóa lợi ích) mà đáng lý nước VN ta, qua những bằng chứng lịch sử và pháp lý không thể chối cãi được về chủ quyền trên hai quần đảo HS và TS (đặc biệt là trên HS), phải được hưởng.

    Tôi cũng tin rằng HSTS là của VN, rằng lý lẽ chủ quyền của VN đúng hơn, dù có bị CH PVD gây thiệt hại. Tất nhiên tôi tin rằng VN phải được hưởng chủ quyền d/v hai quần đảo này.

    Nhưng không nên lẫn lộn chủ quyền d/v HSTS với chủ quyền d/v cái lưỡi bò liếm ngang.

    VN không có đủ chứng cớ lịch sử để chứng minh là mình đã xác lập và thực thi chủ quyền đối với cái lưỡi bò liếm ngang. Không thể nói VN có “bằng chứng lịch sử và pháp lý không thể chối cãi” đối với cái lưỡi bò liếm ngang.

    Mà cũng khó thuyết phục được TQ, các nước ĐNA, Toà, các nhà luật học rằng theo luật biển hiện đại thì cái lưỡi bò liếm ngang là của VN.

    Nếu VN theo đuổi cái bánh vẽ “maximum gain” đó sẽ không bao giờ tới đích mà chỉ tới “maximum gain” cho TQ, tới cái lưỡi bò liếm dọc của họ.

    Nếu Toà phán HSTS được x hải lý (hay HSTS có ít EEZ) và VN dành được tất cả các vùng biển của mình không thuộc HSTS, song song với đấu tranh cho HSTS, là điều tối ưu.

    Nếu cho rằng tất cả lưỡi bò là do hiệu lực của HSTS thì quá hại cho VN.

  10. Dương Danh Huy viết:

    (TT)

    Tức là trong báo cáo VN đã không dùng HS để đòi EEZ hay TLDMR, mà cũng không chấp nhận TQ dùng HS để đòi TLDMR, mà chũng không có gì nói là VN chấp nhận TQ dùng HS để đòi EEZ.

    Tuy báo cáo Bắc không vẽ đường trung tuyến X, bản đồ tôi vẽ trên Minh Biện cho thấy đường trung tuyến (gạch chấm) trong báo cáo gần như là nối tiếp của đường trung tuyến X.

    Các bản đồ báo cáo ghi HS và TS là của VN. Như vậy khá “cứng” với TQ. Mà cũng khá hay là Phi cam kết không phản đối. Cũng khá hay nữa là bản đồ báo cáo Nam với Malaysia ghi TS là của VN nhưng không ghi các đảo Malaysia đòi hỏi là của họ. Tôi về chủ quyền d/v đảo trong báo cáo thì như vậy là tốt quá rồi.

    Nếu ai thắc mắc đường trung tuyến X có thật sự là trung tuyến hay là tôi vẽ bậy để “chạy tội cho CS” thì mời xem bản đồ ở cuối bài này:

    http://www.minhbien.org/?p=490

    bản đồ đó chứng minh đường đỏ trong bản đồ là đường trung tuyến bờ-bờ, không tính HS. Và đường trung tuyến X chính là đường đỏ đó.

  11. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoàng Trường Sa,

    Rất mong Bác Huy giải thích rõ hơn về việc Bác cho rằng bản đồ thềm lục địa trong bản báo cáo vùng biển phía Bắc của VN đã dựa vào đường TRUNG TUYẾN giữa hai đường cơ sở của VN và TQ, mà bỏ ra ngoài quần đảo Hoàng Sa (vì VN không cho rằng các đảo ở HS có thềm lục địa).

    Bác xem bản đồ báo cáo Bắc tôi post ở đây sẽ thấy rõ:

    http://www.minhbien.org/?p=901

    Lưu ý đường trung tuyến giữa VN và Hải Nam, chạy gần lòng chảo Hoàng Sa, tạm gọi là đường X.

    Điều này tôi thấy rất khó hiểu vì trong bản đồ báo cáo Bắc của VN gửi LHQ thì giới hạn vùng đặc quyền kinh tế EEZ (rộng 200 hải lý) của VN là một đường cong HỞ chạy “song song” với đường sơ sở 1982 của VN từ phía Nam lên hướng Bắc tới vị trí một ĐIỂM cuối

    Đường EEZ 200 HL của VN chạy từ Nam lên Bắc ngừng ở điểm cuối đó là vì điểm cuối đó nằm trên đường X. Có thể hiểu quan điểm của VN là EEZ phía dưới đường X thuộc về VN, phía trên đường X thuộc về TQ. Đó là tinh thần chia EEZ theo trung tuyến không tính HS.

    Trong khi đường ranh vùng thềm lục địa nới rộng của biển VN lại là một đường HỞ khác chạy nghiêng từ Nam lên Bắc và dừng lại tại một điểm (mà nếu tôi nhớ không lầm thì Bác PQT nói là cách đều thềm lục địa của VN và TQ).

    Báo cáo Bắc nói là đường gạch chấm là trung tuyến giữa đường cơ sở VN và đường cơ sở TQ không tính HS. Đường TLDMR của VN ngừng ở đường trung tuyến đó (đường gạch chấm). Đó là tinh thần chia TLDMR theo trung tuyến không tính HS.

    (CT)

  12. Sony viết:

    Theo dõi bài này, tôi thực sự khâm phục tính kiên nhẫn của ông Dương Danh Huy. Ông Trương Nhân Tuấn tự nhận là nghiên cứu bao nhiêu năm về vấn đề biển đảo mà không hiểu sao lại có thể nói sai bét những điều căn bản như thế. Cách tranh luận của ông cũng chỉ là tung hỏa mù, khi bị hỏi thì trả lời loanh quanh luẩn quẩn, luôn tìm cơ hội để đả kích cá nhân. Thật là mất thời gian của người đọc!

  13. hoangtruongsa viết:

    “Trên bàn thương-thảo quốc-tế, khi đi tìm một chiến-thuật tranh-cãi cho việc thụ-hưởng một vùng biển kinh-tế rộng lớn nào đó, người ta cần nghiên-cứu rõ từng trường-hợp. Căn-cứ vào những họa-đồ, sự hơn thiệt về hải-phận có thể thấy rõ. Cứ như trường-hợp Việt-Nam trong hiện-tình quân-sự, ngoại-giao hiện-tại, việc chia cắt lãnh-hải theo quan niệm “Biển Đông không có đảo” có lẽ đem lại một vùng đặc-quyền kinh-tế EEZ lớn nhất mà nước ta có thể được hưởng .” (Trích Vũ Hữu San, Địa lý Biển Đông).
    Theo ngu ý của tôi, nhận định nói trên của học giả, cựu Trung Tá Hải Quân VNCH, Vũ Hữu San hoàn toàn dựa vào cái gọi là “minimisation of loss” (cực tiểu hóa thiệt hại) chứ không phải là giải pháp tối ưu (optimal solution) là “maximisation of gain” (cực đại hóa lợi ích) mà đáng lý nước VN ta, qua những bằng chứng lịch sử và pháp lý không thể chối cãi được về chủ quyền trên hai quần đảo HS và TS (đặc biệt là trên HS), phải được hưởng.
    Ông Vũ Hữu San khi viết những dòng chữ nói trên chắc chắn là rất đau xót trước khả năng nước ta có thể bị mất cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do sự chiếm đóng của TQ trên toàn bộ quần đảo HS cũng như tại một số đảo ở TS. Chỉ cần nhìn vào Bản đồ thềm lục địa nới rộng (tức là Bản đồ 5 trong bài chủ của ông TNT) do chính ông Vũ Hữu San đề nghị, là thấy ngay.
    Chủ trương của ông Trương Nhân Tuấn, theo tôi, là muốn dùng giải pháp “cực đại hóa lợi ích” bằng cách tuyên bố chủ quyền thềm lục địa trên cả hai quần đảo HS và TS cho phía VN. Trái lại ông Dương Danh Huy (và một số người khác) lại có khuynh hướng đi theo giải pháp “cực tiểu hóa thiệt hại”.
    Cá nhân tôi thực ra khá phân vân không biết trong hai khuynh hướng này, khuynh hướng nào tốt hơn cho nước ta trước thực tế về sức mạnh quân sự, kinh tế và ngoại giao hiện nay của TQ. Tuy nhiên, có một điều tôi cảm nhận rất rõ ràng là khuynh hướng của ông Dương Danh Huy, trong thực tế đã giúp cho đảng CSVN phần nào tránh né được búa rìu dư luận trước sự kiện là HS và TS rất có thể sẽ bị mất vĩnh viễn vào tay Tàu (một phần rất lớn là do sự bất lực của đảng CSVN trước vấn nạn xâm lấn đất biển của TQ trong hơn 35 năm qua, phần khác là thiệt hại do Công hàm PVĐ gây ra). Nói theo một số người, mà không hẳn là hoàn toàn vô căn cứ, thì giải pháp của ông Dương Danh Huy có vẻ là sửa soạn dư luận để đảng CSVN từ bỏ chủ quyền trên HS và TS trong tương lai. Điều này đối với tôi hiện này còn là một nghi vấn cần theo dõi để tìm đáp số.

  14. Hoà Nguyễn viết:

    Ông HoangTruongsa viết:
    “Rõ ràng là phía VN đã ngừng lại ở đảo Tri Tôn và không dám đưa quần đảo Hoàng Sa vào vùng này (vì sợ TQ phản đối), trong khi trên mặt địa lý, cấu tạo địa chất cho thấy rõ ràng là HS thuộc vào thềm lục địa của VN “.

    Điểm cực Bắc của đường ranh EEZ rộng 200 HL của VN, nằm bên ngoài vào cao hơn (về phía Bắc)đảo Tri Tôn, nên nếu từ điểm đó vẽ đường trung tuyền giữa bờ biền VN và đảo Hải Nam, thì đường này sẽ chạy ngang qua quần đảo HS, và đảo Tri Tôn chỉ cách đảo Ly Sơn của VN 123 HL sẽ nằm trong vùng EEZ của VN.
    Vậy mà Tri Tôn cách đường cơ sở VN chỉ 123 HL nay thuộc về TQ, trong khi khoảng cách từ Hải Nam đến một đảo gần nhất ở HS là 140 HL. Tôi nghĩ vì tế nhị mà trong bản đồ của hồ sơ Đệ trình TLĐ Mở Rộng, VN đã không vẽ đoạn trung tuyền nói trên (ông Phạm Quang Tuấn cho không vẽ vì không cần phải vẽ).

    Về địa hình đáy biển HS xin chép một đoạn trong “Địa Lý Biển Đông” của Vũ Hữu San(chương 10.5):

    “Toàn thể khu-vực quần-đảo Hoàng-Sa nổi cao hơn vùng biển vây quanh nó. Nền đất toàn quần-đảo này được nối thẳng vào thềm lục-địa Việt-Nam như đi qua cái cửa ngõ thông vào vùng Cù-lao Ré và bờ biển Quảng-Ngãi. Hành-lang đó khá nông, chỗ sâu nhất chỉ chừng 500m. Trong khi đó, đáy biển đột ngột lại sụt xuống về phía Trung-Hoa, độ sâu lên tới hàng ngàn mét, rồi 2000m, 3000m hay hơn nữa….Nếu mực nước biển hạ xuống chừng 600 tới 700m thì Hoàng-Sa dính vào Việt-Nam như một khối đất liền và xa cách hẳn Trung-Hoa bằng một vùng biển nước sâu”.

  15. hoangtruongsa viết:

    Thưa Bác Dương Danh Huy,

    Rất mong Bác Huy giải thích rõ hơn về việc Bác cho rằng bản đồ thềm lục địa trong bản báo cáo vùng biển phía Bắc của VN đã dựa vào đường TRUNG TUYẾN giữa hai đường cơ sở của VN và TQ, mà bỏ ra ngoài quần đảo Hoàng Sa (vì VN không cho rằng các đảo ở HS có thềm lục địa).
    Điều này tôi thấy rất khó hiểu vì trong bản đồ báo cáo Bắc của VN gửi LHQ thì giới hạn vùng đặc quyền kinh tế EEZ (rộng 200 hải lý) của VN là một đường cong HỞ chạy “song song” với đường sơ sở 1982 của VN từ phía Nam lên hướng Bắc tới vị trí một ĐIỂM cuối (có vẻ cách đều hai đường cơ sở VN và TQ thì đột ngột dừng lại không chịu đi tiếp (!!!). Trong khi đường ranh vùng thềm lục địa nới rộng của biển VN lại là một đường HỞ khác chạy nghiêng từ Nam lên Bắc và dừng lại tại một điểm (mà nếu tôi nhớ không lầm thì Bác PQT nói là cách đều thềm lục địa của VN và TQ).
    Tạm bỏ qua đường giới hạn thềm lục địa nới rộng mà chỉ tập trung chú ý vào đường giới hạn vùng đặc quyền kinh tế EEZ của VN, thì theo tôi, nếu phía VN phủ nhận chủ quyền của TQ ở quần đảo HS (và lẽ đương nhiên cũng phải phủ nhận đường cơ sở của TQ vẽ bọc quanh quần đảo này) mà chỉ thừa nhận đường cơ sở của TQ chạy quanh đảo Hải Nam và lục địa TQ, thì đường TRUNG TUYẾN của hai đường cơ sở của VN và TQ phải là một đường cong (hay đường gãy) chứ không thể là một ĐIỂM (mà tôi đã nói NHẦM là đảo Tri Tôn ở trên đây, thực ra đảo tuy Tri Tôn thuộc HS nhưng ở gần bờ biển VN hơn điểm này rất nhiều, và hiện nay cũng đang bị TQ chiếm đóng). Nói cách khác, theo tôi, phía VN đã CỐ Ý vẽ đường giới hạn vùng đặc quyền kinh tế của mình DỪNG LẠI ở một ĐIỂM mà KHÔNG DÁM vẽ tiếp vì sợ đụng vào vùng biển quanh khu vực quần đảo HS hiện đang do TQ trấn đóng và tuyên bố chủ quyền, vì nếu tiếp tục vẽ dựa theo quy tắc (trung tuyến) cách đều hai đường cơ sở của hai nước VN và TQ thì đường này phải tiếp tục đi xéo theo hướng Đông để gặp đường (nối dài) của đường giới hạn thềm lục địa nới rộng của VN để tạo ra một vùng KÍN xác định vùng thềm lục địa nới rộng của VN (trong đó có chứa vùng đặc quyền kinh tế EEZ). Xin mời Bác Huy tham khảo bản đồ thềm lục địa nới rộng do cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn của VNCH đệ trình LHQ gần đây (mà tôi nghĩ chủ yếu là dựa theo bản đồ của học giả cựu Trung Tá Hải Quân VNCH Vũ Hữu San đề nghị, tức là Bản đồ 5 trong bài chủ của Bác Trương Nhân Tuấn).

1 2 3 4 5 6 7
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>