Tìm hiểu hồ sơ thềm lục địa của Việt Nam
16/05/2009 | 4:00 chiều | 98 Comments
Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Thềm lục địa
I. Khái niệm về thềm lục địa
Thềm lục địa của một quốc gia là phần đất liền của quốc gia đó nối dài ra và chìm dưới đáy biển. Khái niệm về « thềm lục địa » tương đối mới, chỉ có vài mươi năm nay. Chủ quyền về thềm lục địa có từ năm 1942, nguyên nhân do việc khai thác dầu khí : hai nước Anh Quốc (bảo hộ xứ Trinité et Tobago) và Vénézuela đồng ý chia với nhau vùng thềm lục địa có nhiều mỏ dầu khí ở ngoài giới hạn lãnh hải 3 hải lý. Nhưng chính thức là lời tuyên bố của TT Truman ngày 28 tháng 9 năm 1945 : thềm lục địa có thể được xem như là phần đất liền nối dài ra biển, do đó chủ quyền của quốc gia này ở phần lục địa kéo dài là việc tự nhiên. TT Truman tuyên bố quyền tài phán và khai thác tài nguyên thiên nhiên của HK một vùng « thềm lục địa » được giới hạn bởi vùng nước sâu không qua 200 mét.
Bắt đầu thời điểm này, các học thuyết về thềm lục địa được phát triển, theo tiến bộ của kỹ thuật khai thác dầu khí dưới đáy biển, được áp dụng vào thực tiễn qua các công ước về luật Biển.
Công ước Genève 1958 công pháp hóa khái niệm về thềm lục địa, trong lúc các công ước khác về lãnh hải và vùng tiếp cận, về đại dương (biển cả) và việc đánh bắt và bảo vệ hải sản trên biển cả được ký kết và thông qua. Chỉ đến ngày 10-6-1964 công ước về thềm lục địa mới được đi vào hiệu lực sau khi có 22 nước tham gia phê chuẩn.
Chiều rộng của thềm lục địa vào thời điểm đó được xác định một cách đơn giản : là nơi mà độ dốc của bờ triền thềm lục địa thình lình thay đổi. Chiều rộng thềm lục địa được xác định là khoảng cách từ bờ đến vùng nước có độ sâu 200m. Vì thông thường, bờ triền của thềm lục địa thay đổi đột ngột ở khoảng 200 m chiều sâu.
Định nghĩa của thềm lục địa (điều 1) theo công ước 1958 (đi vào thực tế năm 1964) :
- Khu vực dưới đáy biển, tiếp cận với bờ biển, gồm mặt đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cho đến độ sâu 200m. Như thế chiều rộng thềm lục địa có thể xa hơn chiều rộng hải phận 3 hải lý.
- Thềm lục địa có thể kéo dài ra đến nơi mà độ sâu của nước còn có thể cho phép khai thác tài nguyên.
- Thềm lục địa của các đảo cũng được tính theo tiêu chuẩn của thềm lục địa đất liền.
Quyền tài phán và khai thác thềm lục địa của quốc gia được định nghĩa ở điều (2) : các quốc gia duyên hải có quyền chủ quyền như thăm dò và khai thác tài nguyên ở thềm lục địa.
Quyền chủ quyền và quyền được khai thác của các quốc gia duyên hải là một đặc quyền, không một quốc gia nào khác có thể thăm dò và khai thác tài nguyên nếu không có sự đồng ý của quốc gia có chủ quyền.
Quyền chủ quyền của quốc gia ở thềm lục địa là một quyền tự nhiên, không phụ thuộc vào việc chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa hay cần đến một sự tuyên bố nào (như trường hợp các vùng đất hay đảo).
Song song với các quyền hạn, quốc gia duyên hải cũng phải có nghĩa vụ đối với thềm lục địa của mình, gồm các việc : không làm ảnh hưởng đến vùng nước và vùng trời phía trên thềm lục địa, không được cản trở việc đánh cá, tôn trọng tự do hàng hải của tàu thuyền cũng như các hoạt động nghiên cứu khoa học, không được ngăn cản các nước đặt dây cáp ngầm…
Nhưng sự phát triển khoa học kỹ thuật đã cho phép con người khai thác được ở những vùng biển sâu hơn, công ước 1958 về thềm lục địa trở nên lỗi thời. Nhờ khoa học kỹ thuật ngưòi ta nhận ra rằng thềm lục địa không hẵn chấm dứt ở nơi mà bờ triền thay đổi độ dốc, tức khoảng 200 m nước độ sâu, mà nó còn kéo dài ra ngoài, gồm các phần bờ triền, vùng trầm tích và phần bờ rìa thềm lục địa.
Khái niệm về thềm lục địa được xác định lại do luật biển 1982 ở điều thứ 76 : thềm lục địa của một quốc gia duyên hải bao gồm mặt đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, là phần đất tự nhiên của lãnh thổ quốc gia này kéo dài ra biển, cho đến bờ rìa của thềm lục địa.
Thềm lục địa tùy theo địa hình, địa mạo của đáy biển có thể kéo dài rất xa bờ, hay ở rất cận bờ (như trường hợp các hố sâu đến 11.000 m ở phía đông của Phi và Nhật Bản ; ngược lại, vùng thềm lục địa phía Nam VN có thể kéo dài nối liền cho đến Mã Lai và Nam Dương.)
Do đó thềm lục địa pháp lý được thống nhất cho mọi trường hợp : Trường hợp bờ rìa thềm lục địa cách đường cơ bản không quá 200 hải lý thì chiều rộng thềm lục địa pháp lý được xác định ở mức 200 hải lý. Nếu bờ rìa của thềm lục địa xa hơn đường cơ bản 350 hải lý thì bề rộng thềm lục địa được xác định ở 350 hải lý.
II. Phương pháp xác định thềm lục địa mở rộng
Vùng thềm lục địa phía ngoài lằn ranh 200 hải lý được gọi là thềm lục địa mở rộng. Tùy theo cơ cấu địa tầng (tactonique des plaques) thềm lục địa mỗi nơi mỗi khác, chiều rộng thềm lục địa do đó khác nhau. Nhiều quốc gia duyên hải nhưng không mở rộng được thềm lục địa theo như ý muốn. Thí dụ, có những nơi bờ biển Phi Luật Tân vừa ra khỏi bờ vài hải lý thì là hố thẳm (hố Mindanao), không có thềm lục địa. Không có thềm lục địa, hay thềm lục địa quá ít thì không thể mở rộng.
Trường hợp hai quốc gia duyên hải đối diện, việc mở rộng thềm lục địa cũng phải tôn trọng chủ quyền lẫn nhau. Việc phân chia sẽ được chiếu theo điều 76 của bộ Luật Quốc Tế về Biển 1982, theo qui tắc hướng dẫn về Khoa Học và Kỹ Thuật của Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (CLCS/11/Add. 1) và các Qui Định về Thủ Tục của Ủy Ban (CLCS/ 40/ Rev. 1). Thí dụ hai nước duyên hải Việt Nam và Mã Lai là điển hình cho trường hợp này.
Xác định chiều rộng của thềm lục địa là xác định đường bờ rìa phía ngoài của thềm lục địa, gọi là đường ranh giới bên ngoài.
Đường ranh giới bên ngoài của thềm lục địa mở rộng được xác định bởi ba yếu tố : Khoảng cách, địa chất và độ sâu. Có 3 cách xác định đường ranh giới bên ngoài thềm lục địa :
1/ Đường ranh giới bắt buộc
a) Áp dụng cho trường hợp địa tầng thềm lục địa rộng hơn 350 hải lý. Đường ranh giới bắt buộc là đường nối các điểm cách đường cơ bản 350 hải lý.
b) Đường ranh giới là đường nối các điểm cách đường đồng đẳng 2.500m một khoảng cách 100 hải lý. Tức là, trước hết xác định đường nước sâu 2500m dọc theo bờ biển của quốc gia, sau đó từ đường nước sâu này (gọi là đường đồng đẳng 2.500m), cộng thêm 100 hải lý. Nối các điểm đầu mút 100 hải lý ta có đường ranh giới bên ngoài thềm lục mở rộng (nhưng không quá 350 hải lý).
2/ Đường ranh giới được xác định theo công thức Hedberg : chiều rộng thềm lục địa mở rộng được tính từ “chân của bờ triền” (Foot Of the Slop – FOS) + 60 hải lý.
3/ Đường ranh giới xác định theo Công thức Gardiner : chiều rộng của thềm lục địa mở rộng tính theo tỉ lệ với 1% độ dày của lớp trầm tích. Tức là, thềm lục địa mở rộng 100 hải lý thì lớp trầm tích nơi này phải có độ dày là 1 hải lý.
Các quốc gia duyên hải có thể lựa chọn phương pháp có lợi nhất cho mình hay kết hợp cả ba yếu tố để xác định đường ranh giới bên ngoài thềm lục địa mở rộng.
III. Thềm lục địa mở rộng của Việt Nam
Việt Nam vừa nộp hai Hồ sơ liên quan đến thềm lục địa mở rộng, lần lượt ngày 6 và ngày 7 tháng 5 năm 2009. Hồ Sơ ngày 6 nộp chung với Mã Lai, nội dung trình bày ranh giới hải phận 200 hải lý của mỗi nước cùng với khu vực thềm lục địa mở rộng chung giữa hai nước.
Hồ sơ nộp ngày 7 liên quan ranh giới hải phận 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng của Việt Nam, thuộc khu vực phía bắc biển Đông.
Cả hai Hồ sơ được thiết lập dựa trên tinh thần điều 76, phần thứ 8 của bộ luật Quốc Tế về Biển 1982. Cả hai Hồ sơ được viết bằng tiếng Anh, có thể tham khảo tại trang web Oceans and Laws of the Sea (Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea) trang “Submissions, through the Secretary-General of the United Nations, to the Commission on the Limits of the Continental Shelf, pursuant to article 76, paragraph 8, of the United Nations Convention on the Law of the Sea of 10 December 1982” của Liên Hiệp Quốc:
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/commission_submissions.htm
Chúng tôi có dịch hai hồ sơ này và giải thích sơ lược ý nghĩa của nó, mọi người có thể tham khảo tại http://thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3753 .
1/ Hồ sơ nộp chung giữa Mã Lai và Việt Nam
Hồ sơ gồm hai phần.
Phần một : xác định vùng thềm lục địa mở rộng chung giữa hai nước Việt Nam và Mã Lai. Trên bản đồ 1 là vùng được tô màu cam, ranh giới được định nghĩa theo đoạn 5.1 (*). Tọa độ các điểm xác định đường ranh giới được liệt kê trong bảng 1 (*).

Bản đồ 1: Vùng được tô màu cam trên bản đồ là khu vực "thềm lục địa mở rộng" chung của hai nước Việt Nam và Mã Lai.
Phần hai: Đường ranh giới thềm lục địa mở rộng được vẽ màu cam trên bản đồ 2.
Đường này nằm ngoài khá xa, về phía bắc của khu vực « thềm lục địa mở rộng chung » của VN và Mã Lai. Theo bản đồ, đường ranh giới này ở khoảng giữa bờ VN (Nha Trang – Đại Lãnh) và bờ biển phía bắc đảo Palawan của Phi.
Tọa độ các điểm xác định đường ranh giới này được liệt kê trong bảng 2 và định nghĩa theo đoạn 7.2 (*). Để ý các tọa độ trong bảng 2, các điểm được tính theo công thức Hedberg: chiều rộng thềm lục địa mở rộng được tính từ “chân của bờ triền” (Foot Of the Slop – FOS) + 60 hải lý.
Nhưng ở đây, các điểm “chân bờ triền – FOS” là nằm trên bờ triền nào ?
Theo nội dung bảng 2 (*), 78 điểm xác định đường ranh giới nằm trên các vòng cung mà tâm là các điểm FOS 01, FOS 02, FOS 03, FOS 04, FOS 7 ; bán kính là 60 hải lý.
Như thế, các điểm “chân bờ triền – FOS” cũng sẽ nằm trên các vòng cung có tâm là các điểm trong bảng 2 (*) và có bán kính là 60 hải lý.
Sau khi kiểm nghiệm, các điểm FOS 01, FOS 02, FOS 03, FOS 04, FOS 7 thuộc vùng các đảo Trường Sa của Việt Nam.

Bản đồ 2: Đường màu cam là đường xác định khu vực thềm lục địa mở rộng của Việt Nam.
Như thế, việc ghi nhận đầu tiên là hiệu lực các đảo Trường Sa được tính trong vùng thềm lục địa mở rộng và không tính trong hải phận của các nước (ở đây là Phi Luật Tân va Mã Lai). Vùng « thềm lục địa mở rộng », khoanh màu đỏ theo bản đồ 3, có thể thuộc về Việt Nam (vì đến nay Phi không lên tiếng phản đối). Việc Phi không phản đối có thể do dàn xếp, trao đổi trước. Ở đây, trao đổi là các đảo Trường Sa của VN trong vùng ZEE 200 hải lý của Phi thì không tính hiệu lực.

Bản đồ 3: Vùng khoanh đỏ là khu vực thềm lục địa mở rộng của VN do hiệu lực các đảo Trường Sa.
Một số điều ghi nhận khác là:
– Đường cơ bản Việt Nam vẫn giữ nguyên theo Tuyên Bố 22 tháng 11 năm 1982. Đây là một điều lợi cho VN, vùng nước phía trong đường cơ bản được xem là nội thủy. Đường giới hạn 200 hải lý của VN được đo từ đường cơ bản. Khu vực biển đối diện với Mã Lai, điểm A6 (đảo Hòn Hải, cách bờ 74 hải lý) được làm tâm điểm để tính ranh giới vùng biển phía ngoài 200 hải lý. Điều khiến cho Mã Lai chấp nhận việc này, giải thích tương tự trường hợp của Phi, là do sự thỏa thuận trước. Các đảo thuộc Trường Sa của VN trong khu vùng biển ZEE của Mã Lai, bù lại, không tính hiệu lực.
– VN và Mã Lai có chung một vùng « thềm lục địa mở rộng », là khu vực được giới hạn bởi hai đường ranh giới 200 hải lý của hai nước, khu vực này trên bản đồ 2 tô màu màu cam, chưa được phân định theo Hồ Sơ nộp chung.
2/ Hồ sơ Vùng phía Bắc Việt Nam (VNM-N Area) : Một số điều ghi nhận sau đây:
Theo bản đồ 4 và các dữ kiện đính kèm (*), thềm lục địa VN được mở rộng dựa trên hai tiêu chuẩn : Công thức Gardiner, tính 1% độ dày của trầm thích và Nguyên tắc “chân của bờ triền” (Foot Of the Slop – FOS) + 60 hải lý (Công thức Hedberg).

Bản đồ 4: Khu vực khoanh đỏ (tác giả vẽ thêm) là thềm lục địa mở rộng của VN (miền bắc biển Đông).
– Hồ sơ khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam.
– Tuy nhiên, các đảo thuộc quần đảo HS thì không thấy nhắc nhở đến trong việc xác định đường giới hạn hải phận giữa VN và TQ.
– Hồ sơ của Việt Nam thì được sự trợ giúp của Trung Tâm Hải Học Quốc Gia, Southampton, Vương Quốc Anh.
IV. Phản ứng của Trung Quốc
Sau khi các Hồ sơ của Việt Nam nộp thì ngày hôm sau phía TQ gởi 2 công hàm phản đối đến Tổng Thư Ký LHQ. Nội dung hai công hàm này giống nhau, tóm lược như sau :
Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi ở các đảo và vùng nước chung quanh trong biển Nam Trung Hoa. TQ có quyền chủ quyền, quyền tài phán tại các đảo, vùng nước chung quanh cũng như dưới mặt đáy biển và thềm lục địa. Nhà nước TQ thường xuyên lập lại ý kiến này và việc này được sự hiểu biết rộng rãi trong cộng đồng quốc tế… Chiếu theo điều 5 của Phụ Đính I của Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa, TQ trân trọng yêu cầu Ủy Ban không xét Hồ Sơ của Việt Nam (và Mã Lai).
Nguyên văn hai công hàm này tìm đọc ở :
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2009re_vnm.pdf
Đính kèm công hàm có tấm bản đồ chín gạch hình chữ U.
Nhiều người sớm vội cho rằng phản đối của TQ khiến hồ sơ của VN không được cứu xét và VN sẽ mất vùng thềm lục địa mở rộng. Thực ra không có điều gì chắc chắn. Điều 5, phụ đính I : có nội dung như sau : Dans le cas où il existe un différend terrestre ou maritime, la Commission n’examine pas la demande présentée par un État partie à ce différend et ne se
prononce pas sur cette demande. Toutefois, avec l’accord préalable de tous les États parties à ce différend, la Commission peut examiner une ou plusieurs demandes concernant des régions visées par le différend. (Trong trường hợp có tranh chấp về lãnh thổ và lãnh hải, Ủy Ban sẽ không xét hồ sơ của nước có quan hệ đến tranh chấp và không tuyên bố về hồ sơ này. Tuy nhiên, nếu có sự thỏa thuận giữa các quốc gia tranh chấp, Ủy Ban có thể xét một hay nhiều hồ sơ liên quan các vùng có tranh chấp.)
Hành động này của TQ chưa chắc vô hiệu hóa Hồ Sơ của Việt Nam. LHQ sẽ xét yêu cầu của TQ có hợp lý hay không ? Nếu yêu cầu này không hợp lý thì chính yêu cầu của TQ không được cứu xét chứ không phải Hồ Sơ của VN. Và nếu, giả sử hồ sơ VN không được xét, VN vẫn có thể trở lại tuyên bố 1982 (theo bản đồ 5 ở dưới) để đòi hỏi chủ quyền các đảo và vùng biển của mình, tương tự hiện nay TQ không nộp hồ sơ thềm lục địa mở rộng, vì không có « thềm » để mở, như họ vẫn dành Biển Đông qua lý do có chủ quyền các đảo HS&TS (theo công hàm ông Đồng) với bản đồ chữ U.
Nhưng việc phản đối của TQ lần nữa cho thấy cái tai hại của công hàm ông Phạm Văn Đồng đồng thời cũng cho dư luận thế giới thấy sự ngang ngược phi lý của TQ.
Nhưng việc này tạo cho phía VN một cơ hội : VN nên nhân dịp này yêu cầu đưa toàn vụ tranh chấp chủ quyền HS & TS ra trước một trọng tài quốc tế.
V. Kết luận
1/ Được và mất qua hai hồ sơ thềm lục địa mở rộng của VN :
Nếu ta lấy một thang điểm, từ -5 đến +5 điểm, chủ trương của VN qua Tuyên Bố 22 tháng 11 năm 1982 là 5 điểm. VN được tất cả, vùng biển và thềm lục địa của VN theo bản đồ 5, các quần đảo HS và TS có 100% hiệu lực, vùng nước giữa HS và TS là nội thủy.
Hai hồ sơ của VN vừa qua có thể cho 2 điểm, do giữ được hệ thống đường cơ bản, giữ được hiệu lực một phần các đảo TS, một phần thềm lục địa mở rộng đồng thời khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS.

Bản đồ 5: Minh họa hệ thống đường cơ bản và vùng biển của VN với các đảo HS&TS có hiệu lục 100% (nguồn Vũ Hữu San).
2/ Trở lại chủ trương phân chia Biển Đông của quí ông Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn. Nội dung chủ trương này đăng trên talawas như sau :
1. TẠM THỜI gác việc tranh giành các quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa sang một bên để bàn về việc phân chia các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa (continental shelf) ở Biển Đông.
2. Thương lượng với các nước chung quanh Biển Đông (Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Brunei, Phillippines) để chia Biển Đông ra thành những vùng kinh tế của mỗi nước, theo đúng luật biển UNCLOS (United Nations Law of the Sea) [5] và tiền lệ quốc tế, tức là:
(a) Mỗi nước được 1 vùng EEZ 200 hải lý (370 km) tính từ “đường cơ sở” (bờ)
(b) Phía nam Biển Đông có một thềm lục địa rất lớn tên là Sunda Shelf, theo UNCLOS thì các nước quanh đó (kể cả Việt Nam) được tính thêm ra tối đa 350 hải lý.
(c) Khi khu kinh tế hay thềm lục địa của hai nước trùng nhau, thì chia hai theo nguyên tắc vẽ một đường trung tuyến từ ranh giới trên đất liền.
(d) Các đảo (Hoàng Sa, Trường Sa) là đảo nhỏ, không nuôi sống được người, nên không được tính EEZ mà chỉ cho tối đa một lãnh hải (territorial sea) 12 hải lý; tức là, các đảo đó không ảnh hưởng đến việc phân chia EEZ và thềm lục địa.
So sánh với hồ sơ của VN vừa nộp, ta thấy có những điểm sai biệt rất cơ bản:
- Về hệ thống đường cơ bản, mặc dầu không có ghi lại trong chủ trương ghi lại ở trên, nhưng ý kiến của ông Dương Danh Huy, trên diễn đàn x-café, là chống hệ thống đường cơ bản của VN. Theo ông, hệ thống này không phù hợp với luật Quốc Tế về Biển, do đó phải hủy bỏ. Ý kiến này cũng là ý kiến của ông M. Valencia trong đề nghị giải quyết biển Đông. Tôi đã chống lại ý kiến này, cũng trên x-café. Nhưng thực tế, hồ sơ VN vẫn giữ được hệ thống đường cơ bản trong hồ sơ của mình mà không bị ai phản đối. Nếu chủ trương của ông Huy được áp dụng thì VN mất trọn vẹn vùng biển nội hải, phía trong đường cơ bản, bề dày có nơi lên đến 74 hải lý, diện tích có thể hàng chục ngàn cây số vuông.
- Về hiệu lực các đảo. Hồ sơ VN chủ trương các đảo TS có hiệu lực (từng phần) trong khi giải pháp của ông Huy thì các đảo không có hiệu lực. Nếu áp dụng giải pháp của ông Huy thì VN bị mất vùng thềm lục địa khoanh đỏ theo bản đồ 3, diện tích ước lượng lên đến vài chục ngàn cây số vuông.
Nếu tính theo thang điểm ở trên, phương pháp của ông Huy sẽ là -5 điểm, vì chủ trương này không hề đem lại một lợi lộc nào cho VN ngoài những mất mát rất lớn: mất hệ thống đường cơ bản (tức mất vùng nước nội thủy mà bề dày có nơi ra tới 74 hải lý), mất vùng thềm lục địa mở rộng (bản đồ 3) và chưa chắc lấy lại HS và TS. Điều quan trọng hơn hết, vấn đề tranh chấp với TQ vẫn không thể giải quyết. Việc này thể hiện rõ rệt qua bản đồ đính kèm công hàm phản đối của TQ. Như thế, một giải pháp làm mất đảo, mất biển, mất thềm lục địa… mà không hề đem lại cho VN một lợi ích gì, đe dọa của TQ vẫn còn, người ta có quyền đặt câu hỏi ông Huy và ông Phạm Quang Tuấn đang tranh đấu cho quyền lợi của ai ? Quí độc giả Talawas có lẽ đã hiểu vì sao tôi đã chống kịch liệt, đôi khi với lời lẽ gay gắt, qua những bài vừa rồi trên Talawas. Quí vị cũng thấy bây giờ ai đúng, ai sai ? Hồ sơ của VN vừa nộp, dầu không dành được nhiều lợi ích, nhưng không mất mát, tôi biết chắc là không thể do công lao “la làng” nhiều tháng nay của tôi trên các báo chí. Nhưng điều khẳng định là do công lao và sự hy sinh xương máu của nhiều thế hệ VN. Nhưng không thể do những vận động của ông Dương Danh Huy với sự phụ họa của nhiều người khác trên các “hệ thống” truyền thông.
3/ Về ý nghĩa biển chữ U và công hàm ông Phạm Văn Đồng
Công hàm phản đối của TQ về hồ sơ thềm lục địa mở rộng của VN cho thấy vùng biển mà TQ vạch trong trong bản đồ chữ U là do hiệu quả các đảo HS và TS. Nguyên văn trích từ công hàm phản đối gởi Tổng Thư Ký LHQ ngày 8 tháng 5 năm 2009: China has indisputable overeignty over the islands in the South China Sea and the adjacent waters, and enjoys sovereignty rights and jurisdiction over the relevant waters as well as the sea seabed and subsoil thereof (see attached map). The about position is consistently held by the Chinese gouvernment, and is widely know by the international community.
Tôi có viết thế này trong bài Chủ quyền VN tại bãi Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn:
Đây là hậu quả của một sự sơ suất to lớn, phía VN dường như không hề màng đến các lý lẽ của TQ, sai lầm kéo dài từ năm 1958 đến nay.
Sai lầm vì, các viên chức VN lạc quan đã đành, học giả VN cũng vậy, nhưng thật ra phần lớn đều thiếu tầm nhìn, chỉ giải thích vấn đề theo cảm tính, theo ý muốn của mình mà bất chấp thực tế đã xảy ra như thế nào. Đến hôm nay một số học giả VN vẫn loay hoay với hỏa mù của TQ tung ra, mất thời giờ tìm hiểu và giải thích ý nghĩa tấm bản đồ chữ U, còn gọi là bản đồ 9 gạch hay bản đồ « lưỡi bò », mà không biết rằng đó chỉ diện, là hỏa mù có công dụng đánh lạc hướng VN (và cả thế giới), làm cho phía VN nếu không mất thì giờ thì cũng trở thành khinh địch.
Việc loay hoay này thấy rõ qua buổi « hội thảo biển Đông » vừa qua trong nước. Có người mất không biết bao nhiêu thời gian để tìm hiểu và chứng minh « biển lười bò » không thể là biển lịch sử của TQ v.v… Nhưng các việc đó đều vô ích.
Lần nữa, những gì tôi đã viết đều đúng : biển chữ U là do hiệu lực các đảo HS và TS. Các học giả VN đã mất thì gì vô ích.
Tôi cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lần : chủ quyền của TQ tại hai quần đảo này đến từ công hàm của ông Phạm Văn Đồng và việc này đã được đông đảo dư luận quốc tế công nhận.
Ông Dương Danh Huy, ông Phạm Quang Tuấn và nhiều người khác đã phủ nhận các việc này.
Tôi cho rằng đây là một sai lầm lớn, nếu không nói là chạy trốn sự thật.
Tôi cũng đã cho rằng TQ có thể vịn vào công hàm ông Đồng để đánh VN bất cứ lúc nào. Việc này đã chứng minh ít nhất 2 lần: 1974 tại HS và 1988 tại các đảo TS.
Nhưng một vài điều cần nói thêm, nhân bài viết “Hoàng Sa – Trường Sa, một bài học cho xứ nhược tiểu” trên talawas của Dũng Vũ.
TQ muốn đánh VN để dứt điểm các đảo TS lắm, nhưng họ có dám đánh không ?
Tôi có viết thế này trả lời phỏng vấn các bạn trên x-café 13-9-2008 :
Tôi cho rằng không. Có nhiều yếu tố để tôi phát biểu như thế. Thứ nhất là tương quan khả năng, VN không phải là Iraq và TQ thì còn kém rất xa đối với Hoa Kỳ, không thể đánh một trận mà « ổn định thiên hạ ». TQ chưa chắc thắng nhanh chóng trong khi về lâu dài Việt Nam lại có khả năng làm cho TQ xuất huyết đến chết. Nhưng trường hợp TQ thắng nhanh thì TQ cũng chết trong lâu dài. Tức là cách nào rồi thì TQ cũng thua. Người ta thường ví VN và TQ như môi với răng, nhưng đó là chuyện đã xưa. Ngày nay VN đang ở vị trí yết hầu của TQ. Các nhà chiến lược TQ nên nghiên cứu điều đó để không có những quyết định sai lầm. Thứ hai, về kinh tế, TQ hiện nay bắt buộc phải phát triển trên 10%/ năm mới có thể giải quyết một thị trường nhân công của các tỉnh nội địa là khoảng 16 triệu người một năm. Phát triển dưới 10% là xã hội bất ổn. Vì thế TQ không bao giờ dám phiêu lưu làm một cuộc chiến mà phần thua biết chắc trong tay. Thứ ba là về chính trị. Người ta đã lấy cái gương của Gruzia để răn đe VN nhưng người ta chưa thấy các hậu quả về kinh tế trong tương lai mà Nga sẽ gặp phải. Cuộc « chiến tranh lạnh mới » giữa Nga và Tây Phương này sẽ chấm dứt rất nhanh chóng. Các nước trong NATO không can thiệp vào Gruzia vì Hắc Hải không phải là Địa Trung Hải. Nhưng nếu TQ đánh VN để chiếm hữu biển Đông thì lập tức các nước ASEAN sẽ không ngồi yên. Việc này sẽ lôi kéo theo Nhật Bản và Hoa Kỳ. Vì biển Đông có tầm quan trọng chiến lược như là Địa Trung Hải. Biển này quan trọng cho các nước Châu Âu bao nhiêu thì biển Đông cũng quan trọng như thế cho các nước ASEAN, Nhật Bản. Tư thế của TQ sẽ không an toàn chút nào.
Vì thế tôi cho rằng, ngoại trừ nhóm lãnh đạo TQ có những tính toán sai lầm, TQ sẽ không bao giờ dám đánh VN để chiếm biển Đông.
Hơn nữa, vừa qua HK đã gởi thêm các lực lượng hải và không quân tăng cường vùng biển Thái Bình Dương ngay sau khi có những “đụng chạm” với TQ trên biển Đông.
Theo nguồn tin quân sự Hoa Kỳ (ngày 13-5-2009), Bộ Tư Lệnh Không Quân đã điều động thêm hai phi đội F-22A Raptors đến căn cứ không quân Kadena ở Nhật Bản. Trước đó vào tháng 3, một phi đội F-22A Raptors cũng đã từng được điều động tới đảo Guam trong một thời gian khi xảy ra biến cố tàu khảo cứu đại dương của Hoa Kỳ bị một số tàu Trung Cộng khiêu khích phía nam đảo Hải Nam trên hải phận quốc tế. HK cũng điều động thêm lực lượng không quân tối tân nhất bên cạnh việc chuyển thêm 7 tàu ngầm nguyên tử tới khu vực Thái Bình Dương.
Ngày 3 tháng 5 vừa qua, tàu ngầm nguyên tử USS Jacksonville cặp bến quân cảng Pearl Harbor và tới mùa thu này một số tàu ngầm nguyên tử tối tân hơn thuộc thế hệ Virginia-Class như USS Hawaii và USS Texas cũng sẽ tới Nhật. Thời chiến tranh lạnh, tỉ lệ tàu ngầm Hoa Kỳ hoạt động ở Đại Tây Dương chiếm 60% và Thái Bình Dương chiếm 40%. Nay tỉ lệ này đảo ngược lại. Tin tức quân sự cho hay cho đến cuối năm nay 31 tàu ngầm loại tấn công nhanh sẽ hoạt động tại Thái Bình Dương và chỉ còn 22 chiếc hoạt động ở Đại Tây Dương. Trong số này, 18 chiếc đóng tại Pearl Harbor, 3 chiếc tại đảo Guam, 6 chiếc ở California, cho thấy sự thay đổi cách đánh giá tình hình quân sự dài hạn của Hoa Kỳ đối với sự gia tăng sự đe doạ của Trung Cộng mỗi ngày một lộ rõ hơn với khu vực Thái Bình Dương nói chung và khu vực biển Đông nói riêng (tin Cali Today).
Cũng nên nhắc lại, TQ đánh HS của VN năm 1974 vào lúc “đồng minh” đang chuẩn bị “tháo chạy” và đánh TS năm 1988 cũng là thời điểm Liên Xô đang bán cho TQ vũ khí trị giá khá nhiều tỉ đô la và cũng là thời điểm bức tường Bá Linh sắp đổ, là những “thời cơ vàng” cho TQ. Nhưng nay tình thế hoàn toàn bất lợi cho TQ. Tài liệu của Bộ Quốc Phòng HK « Military Power of the People’s Republic of China 2009 » vừa công bố cho thấy sự quan tâm lớn lao của HK về sự phát triển và vũ trang của TQ. HK sẽ không để yên cho TQ muốn làm mưa làm gió trên Biển Đông.
Biển Đông là hải đạo huyết mạch của kinh tế thế giới. Nơi này cũng là hải đạo huyết mạch cho TQ. Vì thế, ngoài những quyết định điên rồ không tính trước của lãnh đạo TQ, xác suất TQ đánh các đảo VN hiện nay là 0%. Do đó các lo ngại của nhiều người VN tuy chính đáng, nhưng hoàn toàn không có căn bản.
(*) tham khảo bảng 1 và bảng 2 và các chi tiết khác tại:
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf
http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/submission_vnm_37_2009.htm
© 2009 Trương Nhân Tuấn
© 2009 talawas blog
Bình luận
98 Comments (bài “Tìm hiểu hồ sơ thềm lục địa của Việt Nam”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 … 7 Trang sau »
Các bác xem thử
http://www.minhbien.org/?p=901
(tiếp) (xin admin nối với phản hồi trước)
Trong nước rất ít người biết cái công hàm này. Muốn cho họ biết về nó và bàn (tán) về nó, cách tốt nhất là có một thái độ khách quan, khoa học. Lòng yêu nước của mỗi người dân Việt sẽ “do the rest”, không cần phải hét vào tai họ. To giọng gào thét và kêu gọi những giải pháp ngớ ngẩn sẽ “turn off” đa số dân chúng (như là loa phường thời xưa) và họ sẽ coi đó là một chuyện tuyên truyền rẻ tiền, không đáng tin.
Rõ ràng là phía VN đã ngừng lại ở đảo Tri Tôn và không dám đưa quần đảo Hoàng Sa vào vùng này (vì sợ TQ phản đối), trong khi trên mặt địa lý, cấu tạo địa chất cho thấy rõ ràng là HS thuộc vào thềm lục địa của VN.
Không phải vậy đâu.
Trong báo cáo Bắc của VN, Việt Nam đăng ký vùng lên tới trung tuyến giữa đường cơ sở VN và đường cơ sở TQ, không tính quần đảo HS.
Tức là VN không công nhận là HS có vùng đặc quyền kinh tế.
Đường trung tuyến này chạy gần lòng chảo HS.
Không có chuyện ngừng ở đảo Tri Tôn.
Thưa ông hoangtruongsa:
Tôi chưa bao giờ nói gì về đường cơ sở.
Tôi cũng chưa nói gì về công hàm PVĐ, ngoại trừ bác bỏ cái giải pháp ngớ ngẩn của TN Tuấn. Nếu nghĩ ra được cái gì để nói, tôi sẽ đóng góp trong bài “Công hàm PVĐ” là chỗ thích hợp. Việc công hàm đó làm thiệt hại cho VN là chuyện dĩ nhiên, nên ô. DD Huy mới đưa ra đề tài đó. Hóa giải nó ra sao thì cần bàn nghiêm chỉnh. “Tuyên bố kế thừa” này kia chỉ là trò hề để đánh lạc hướng những cố gắng nghiêm túc hơn. Chỉ có Tàu là lợi khi người Việt chúng ta bị hỏa mù và lạc hướng.
Tôi xin mạo muội góp thêm vài ý kiến thô thiển trong vụ tranh biện về hai hồ sơ về thềm lục địa nới rộng do chính quyền nước CHXHCN VN nộp cho Liên Hiệp Quốc gần đây (một chung với Mã Lai Á cho phần biển phía Nam và một riêng cho VN áp dụng cho phần biển phía Bắc).
Qua sự phân tích của quý Bác Phạm Quang Tuấn, Trương Nhân Tuấn và Dương Danh Duy về cơ sở kỹ thuật mà phía VN đã dựa vào để vẽ hai bản đồ về thềm lục địa nới rộng kèm theo hai hồ sơ nói trên, tôi nhận thấy hình như những gì cả 3 Bác kêu gọi chính phủ VN cần làm để bảo vệ chủ quyền về thềm lục địa nới rộng của VN đều đã được chính phủ VN sử dụng MỘT PHẦN nhưng không trọn gói như sau:
1) Kêu gọi của Bác TNT rằng VN nên giữ nguyên đường cơ sở lãnh hải VN (như trong tuyên bố vào năm 1982 gửi LHQ) đã được đáp ứng, nhưng rất tiếc là phía VN đã không dựa hoàn toàn vào đường cơ sở này để vẽ 200 hải lý cho vùng đặc quyền kinh tế của VN trong bản đồ thuộc hồ sơ vùng biển phía Bắc. Rõ ràng là phía VN đã ngừng lại ở đảo Tri Tôn và không dám đưa quần đảo Hoàng Sa vào vùng này (vì sợ TQ phản đối), trong khi trên mặt địa lý, cấu tạo địa chất cho thấy rõ ràng là HS thuộc vào thềm lục địa của VN. Trái hẳn lại với VN, Phi Luật Tân đã tuyên bố vùng thềm lục địa của Phi dựa hẳn vào đường cơ sơ lãnh hải của Phi mà hoàn toàn không ngại đụng chạm với chủ quyền của VN trên quần đảo Trường Sa (hiện do VN chiếm đóng 21 đảo). Bác TNT đã ca ngợi đều này và hình như đã bảo đây là do sự thương thuyết trước giữa VN và Phi. Theo tôi, đây là một thiệt thòi của phía VN do thực tế VN cần phải kiếm đồng minh trược sự hung hăng xâm lấn Biển Đông của TQ.
2) Kêu gọi của hai Bác DDH và PQT là nên bỏ đường cơ sở 1982 của VN (vì nó không tuân thủ đúng các đòi hỏi của UNCLOS ở một vài vị trí), rằng để loại bỏ cái vùng lưỡi bò phi lý của TQ, VN nên tạm thời bỏ ra ngoài đòi hỏi chủ quyền trên HS và TS (chỉ yêu cầu LHQ giải thích rõ ràng về bề rộng có thể đòi hỏi từ các đảo ở HS và TS, mà hai Bác nghĩ chỉ có thể là 12 hải lý) mà tập trung vào việc giành chủ quyền trên vùng đặc quyền kinh tế EEZ (rộng 200 hải lý) và thềm lục địa nới rộng (350 hải lý) cũng được đáp ứng MỘT PHẦN. Phía VN đã sử dụng đường cơ sở 1982 (như đã nói trong phần 1), đã tuyên bố chủ quyền một cách yếu ớt trên HS, TS và đã tập trung vào chủ quyền trên EEZ và thềm lục địa nới rộng.
Theo tôi, hai báo cáo của VN cho vùng biển phía Bắc và phía Nam, tuy cũng không quá tệ vì đã thẳng thắn phủ nhận cái lưỡi bò phi lý của TQ và cương quyết đòi phần biển mà VN phải được hưởng dựa theo các điều luật quy định trong Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, nhưng VN cũng đã bị thiệt thòi rất nhiều so với các nước như Phi Luật Tân chẳng hạn. Bởi vì trong khi Phi đòi vùng đặc quyền kinh tế của họ bao trùm khu vực chứa nhiều đảo ở TS của VN (mà VN không chống đối vì cần có đồng minh trong mục tiêu chung chống lưỡi bò TQ) thì trái lại VN đã im lìm từ chối không tuyên bố các đảo ở Hoàng Sa thuộc vào vùng đặc quyền kinh tế của VN (mà địa thế cũng như lịch sử đã chúng tỏ quá rõ là thuộc chủ quyền của VN) vì sợ TQ phản đối. Kết quả là dù có cẩn thận như thế, cuối cùng phía VN cũng bị TQ chống mạnh mẽ dựa vào bản đồ lưỡi rồng (mà họ đã và đang tranh thủ để thế giới công nhận, oái oăm thay cũng một phần dựa trên chủ quyền mà họ tuyên bố trên HS, TS mà theo họ nói đã được nước VNDCCH thừa nhận qua Công hàm PVĐ). Đây rõ ràng là một thiệt hại to lớn do Công hàm PVĐ gây ra mà có lẽ mọi người đều thấy.
Tranh cãi với Trương Nhân Tuấn là việc mất thì giờ vô bổ. Đó là lý do tôi không muốn có thêm ý kiến gì với bài viết của ông cho đến khi bị gọi đích danh.
1. Chủ trương “biển Đông không có đảo” nếu chưa toàn bích thì ít ra cũng là một giải pháp tốt cho Việt Nam mà người bình thường có thể nhận thấy. Tôi đã trích dẫn một người bình thường như vậy, mà lòng yêu nước và hiểu biết về Biển Đông của ông khó thể chối cãi. Thay vì mộng tưởng là “cây hoa tím trong vườn chân lý cho dẫu mùi thơm thất lạc trên cánh mũi của loài người”, mời Trương Nhân Tuấn chịu khó đọc lại lần nữa:
“Trên bàn thương-thảo quốc-tế, khi đi tìm một chiến-thuật tranh-cãi cho việc thụ-hưởng một vùng biển kinh-tế rộng lớn nào đó, người ta cần nghiên-cứu rõ từng trường-hợp. Căn-cứ vào những họa-đồ, sự hơn thiệt về hải-phận có thể thấy rõ. Cứ như trường-hợp Việt-Nam trong hiện-tình quân-sự, ngoại-giao hiện-tại, việc chia cắt lãnh-hải theo quan niệm “Biển Đông không có đảo” có lẽ đem lại một vùng đặc-quyền kinh-tế EEZ lớn nhất mà nước ta có thể được hưởng .” (Trích Vũ Hữu San, Địa lý Biển Đông).
2. Muốn hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng, lại phiền ông Tuấn nên tìm các giáo trình về “droit public” để phân biệt 2 khái niệm “Etat” và “Nation” trước khi đề ra giải pháp.
Tôi thán phục sự kiên nhẫn của Dương Danh Huy khi phải giảng đi giảng lại mấy vấn đề nầy.
Tôi cũng không đồng ý với điểm này của ông Phạm Quang Tuấn:
Mà ông dùng lý lẽ gì để nói rằng lưỡi bò là do HS-TS? Chỉ là những lý lẽ BẤT HỢP PHÁP, luật biển không hề có, chỉ có Tàu cho là đúng!
Chỉ có ông Trương Nhân Tuấn dám cho rằng đường lưỡi bò là do hiệu lực của các đảo HSTS.
Ngay cả các học giả TQ viết trên tạp chí quốc tế cũng không dám cho là như thế. Vì nếu cho là rằng đường lưỡi bò là do hiệu lực của các đảo HSTS thì người ta sẽ cười bể bụng.
Lý do là nếu đường lưỡi bò là do hiệu lực của các đảo HSTS thì các đảo này phải có hiệu lực hơn 100% so với đất liền.
Tôi không đồng ý với ông Phạm Quang Tuấn ở điểm này:
Tốt hơn hết là độc giả nên quên hết (completely ignore) bài này của TN Tuấn.
Nếu độc giả đọc, hiểu và nhớ bài này và những bài khác của ông Trương Nhân Tuấn thì tốt hơn.
(tiếp)
KẾT LUẬN:
Tốt hơn hết là độc giả nên quên hết (completely ignore) bài này của TN Tuấn. Bài này đầy sai sót, viết bởi một tác giả không rành tiếng Anh nên không có khả năng đọc hai bản đệ trình của VN và VN-Mã, do đó phải dùng suy diễn, ức đoán từ bản đồ. Muốn tìm hiểu nhanh, xin đọc ở http://www.talawas.org/?p=4372, và nếu có thì giờ, đọc thẳng hai bản đệ trình, cũng không dài lắm. Câu quan trọng nhất trong bản Việt-Mã là đoạn 5.1 (14 dòng), tả cái đa giác ABCD trong bản đồ của tôi. Câu quan trọng nhất trong bản của riêng VN là đoạn “The Northern boundary is the equidistance line between the territorial sea baselines of Vietnam and the territorial sea baselines of the People’s Republic of China; the Eastern and Southern boundaries are the outer limits of the continental shelf as defined”, tả tam giác EFG trong bản đồ của tôi. TN Tuấn nên nhờ ai dịch ra tiếng Việt hai đoạn đó để khỏi đoán bừa.
1. TN Tuấn vẫn khăng khăng: “Đường ranh giới thềm lục địa mở rộng vẽ màu cam trong bản đồ 2 là do hiệu lực từ các đảo TS”.
Tôi đã đưa ra 5 luận điểm, mà chỉ cần MỘT TRONG 5 luận điểm đó là đánh đổ được khẳng định trên của TNT. Ông DD Huy tán thành cả 5 luận điểm đó và đưa ra một luận điểm mạnh hơn nữa: “Quy định cơ bản nhất về thềm lục địa mở rộng là nó PHẢI NẰM NGOÀI PHẠM VI 200 HL từ đường cơ sở. Đó là ý nghĩa của từ “mở rộng”. Vùng báo cáo Nam không cách TS hơn 200 HL cho nên không thể là báo cáo về TLDMR dựa trên TS”.
Tóm lại, có 6 luận điểm đánh đổ câu của TN Tuấn. TN Tuấn KHÔNG trả lời được bất cứ cái nào mà chỉ nói vòng vo thật dài, không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận. Tung hỏa mù!
2. Về việc làm lợi cho Tàu:
Bài của tôi (http://www.talawas.org/?p=4372) đã tóm tắt và vẽ hai vùng TLĐMR mà VN đang đòi. Nhìn vào sẽ thấy ngay là những đòi hỏi này rất hợp lý. Rồi tôi nhắc tới hai cái thư phản đối của TQ, căn cứ vào lưỡi bò. Xem qua là thấy ngay sự vô lý, hống hách của TQ.
Bài của TNT thì, thay vì nói về sự vô lý của thư phản đối của TQ, lại biện hộ rằng đó là hậu quả tất nhiên của HS-TS và công hàm PVĐ. Như vậy là đánh lạc dư luận (công chúng không theo rõi kỹ sẽ cho rằng thư phản đối chỉ là một phần của cái saga HS-TS, không đáng quan tâm hay công phẫn lắm). Mà ông dùng lý lẽ gì để nói rằng lưỡi bò là do HS-TS? Chỉ là những lý lẽ BẤT HỢP PHÁP, luật biển không hề có, chỉ có Tàu cho là đúng! Gọi là tuyên truyền, nối giáo cho giặc là không có gì quá đáng.
Nhưng hành động của quí ông : Phạm Quang Tuấn, Nghiêm Quang và Dương Danh Huy rõ ràng bênh vực cho quyền lợi của Tàu và các nước khác trong vùng.
🙂
Ba ông này không biết ông nào bênh vực quyền lợi cho nước nào: TQ, Phi, Mã, Bru. Hẳn có ít nhất 1 ông bênh ít nhất 2 nước.
Còn gông Vũ Hữu San, hạm trưởng trong tận Hoàng Sa cũng cho là không có EEZ cho HSTS là có lợi nhất cho VN, giống 3 ông kia.
Ông Hoà Nguyễn chũng cho là nếu các đảo HSTS không được hay được ít hiệu lực thì có lợi cho VN hơn.
Ông Trương Nhân Tuấn thì cho dân Việt Nam ăn cái lưỡi bò liếm ngang vẽ, trên đường đi đến diệt vong cho Việt Nam ở Biển Đông, đi đến cái lưỡi bò liếm dọc của Trung Quốc.
Thềm lục địa thì ông ấy bảo không cần đăng ký, giữ “hồ sơ” HSTS là được rồi. Bánh vẽ thứ nhì.
Về công hàm Phạm Văn Đồng thì ai chẳng muốn giải hoá nó. Có điều người ta nói cần nghiên cứu thêm thì ông Trương Nhân Tuấn bảo đó không phải là muốn giải hoá.
Thay vào đó, ông ấy bảo bây giờ làm lễ nghi long trọng, kèn trống rùm beng, tuyên bố chỉ thừa kế từ VNCH, không thừa kế từ VNDCCH hay CHCDCNVN. Cứ như là Toà hat luật quốc tế sẽ chấp nhận giải hoá.
Lại 1 cái bánh vẽ nữa.
Tôi cảm thấy nói chuyện với ông Phạm Quang Tuấn thì sẽ rất mất thì giờ mà không đi đến đâu. Hai bên có những nhận thức rất khác nhau về kỹ thuật xác định ranh giới thềm lục địa mở rộng, về ý nghĩa của của luật biển cũng như việc xác định thềm lục địa hai nước đối diện. Hai bên cũng trái ngược nhau quan điểm về hiệu lực các đảo HS và TS. Tôi sẽ rất vắn tắt trong góp ý này và sẽ ngừng ở đây. Đúng sai, nay mai ý nghĩa của các bản đồ cũng được những người trách nhiệm trong nước giải thích.
– Về màu nâu màu vàng, nếu ông PQ Tuấn chịu khó nhìn các bản bản đồ trong hồ sơ VN – Mã Lai nộp chung thì sẽ biết tôi muốn nói gì.
– Thềm lục địa của một quốc gia được định nghĩa theo khoản 3, điều 76 luật Biển 1982 : thềm lục địa của một quốc gia là phần đất của quốc gia đó chìm dưới đáy biển. Về việc phân chia thềm lục địa của hai nước đối diện (hay kế cận) được qui định ở điều 83 và 84 của luật Biển 1982. Trường hợp Mã Lai và VN vùng thềm lục địa liên quan hai nước sẽ phải là vùng tô màu cam trên bản đồ. Theo điều 83, phần 1, việc phân định thềm lục địa giữa hai quốc gia đối diện hay kế cận, ở đây là VN và Mã Lai, thì phải theo đường lối thuơng thảo, phù hợp với công pháp quốc tế, để có một giải pháp công bằng.
– Ý nghĩa của đường ranh giới thềm lục địa mở rộng, vẽ màu cam trong bản đồ 2 và tọa độ các điểm xác định này được ghi trong bảng 2 (tham khảo trên trang nhà LHQ http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf ). Vùng biển và thềm lục địa mà đường ranh giới này vạch ra chỉ liên quan đến VN và Phi mà không liên quan đến Mã Lai (vì theo điều 76, khoản 3, vùng thềm lục địa ở đây là phần đất nối dài của Phi (vùng đảo Palawan) và Việt Nam.
– Đường ranh giới nói trên được xác định theo công thức theo công thức Hedberg: chiều rộng thềm lục địa mở rộng được tính từ “chân của bờ triền” (Foot Of the Slope – FOS) + 60 hải lý.
– Điều 121 của luật biển xác định một đảo có lãnh hải, có vùng kinh tế độc quyền và thềm lục địa như trên đất liền. Các đảo TS, một số được nhìn nhận là đảo, do đó có quyền hưởng các điều đã định ở trên. Vì vậy, đường ranh giới thềm lục địa mở rộng vẽ màu cam trong bản đồ 2 là do hiệu lực từ các đảo TS.
– Theo điều 83, phần 1, việc phân định thềm lục địa giữa hai quốc gia đối diện hay kế cận, ở đây là VN và Phi, thì phải theo đường lối thuơng thảo, phù hợp với công pháp quốc tế, để có một giải pháp công bằng. Trường hợp Việt và Phi, hai bên đã có những thỏa thuận trước : các đảo TS của VN trong vùng nước ZEE của Phi thì không tính hiệu lực.
– Cuối cùng, về hiệu lực các đảo HS & TS. Quan điểm của tôi, HS và TS có hiệu lực 100%, được thể hiện qua các tuyên bố của VN trong quá khứ, minh họa qua bản đồ 5. Quan niệm này không cần giải thích dài dòng : HS&TS là của VN. Theo tinh thần luật Biển 1982, các đảo này có hiệu lực. Đối với tôi, tất cả những gì quan hệ đến quyền lợi của đất nước thì mình phải có bổn phận bênh vực. Lằn ranh quốc – cộng không hiện hữu. Điều mà tôi ngạc nhiên, tại sao lại có những người VN, ở đây có ông Phạm Quang Tuấn, sau đó có thêm ông Nghiêm Quang và ông Dương Danh Huy, lại nhất quyết chống quyền lợi của đất nước mình một cách cuồng nhiệt như thế ? Những người này không muốn các đảo HS&TS có hiệu lực. Động lực nào thúc đẩy họ như vậy ?
– Về bản đồ 9 gạch hay chữ U của TQ. Đương nhiên, nếu các đảo HS và TS thuộc TQ, dựa trên hiệu lực các đảo họ có thể tuyên bố chủ quyền tại phần lớn biển Đông. Các tuyên bố của VN, nhất là tuyên bố 1989 về các bloc dầu khí, đã dành hầu hết biển Đông, không khác bản đồ chữ U của TQ. Phía VN có lý vì HS và TS thuộc VN. Trong khi chủ quyền của TQ tại các quần đảo này thì lại do công hàm của ông Đồng. Tôi có đưa giải pháp hóa giải công hàm ông Đồng để khẳng định chủ quyền của VN và phủ định tư thế pháp lý của TQ thì ông PQ Tuấn và những người vừa nói chống đối kịch liệt. Hình như mấy ông không muốn công hàm của ông Đồng được hóa giải. Lý do nào quí ông làm thế ?
Ông PQ Tuấn nói tôi « pro » Tàu, điều này cần phải chứng minh nhiều lắm, cái tên Trương Nhân Tuấn chưa đủ. Nhưng hành động của quí ông : Phạm Quang Tuấn, Nghiêm Quang và Dương Danh Huy rõ ràng bênh vực cho quyền lợi của Tàu và các nước khác trong vùng.
Bác Hoà Nguyễn viết:
Nhưng thấy ở TS, Mã & Việt không tính hiệu quả của các đảo TS (chỉ tính EEZ 200 hl từ đường cơ sở mỗi nước).
Đúng quá.
Nếu trong Đệ trình chung Mã Lai chấp nhận EEZ của VN như thế, tức Mã chấp nhận đường cơ sở của VN đã vẽ.
Không có nghĩa là Mã chấp nhận đường cơ sở 1982 của VN đâu.
Nếu đường cơ sở của VN gần bờ hơn thì VN & Mã vẫn có thể đăng ký chung vùng đó. Vì vậy không thể kết luận là đăng ký chung là công nhận đường cơ sở 1982 của VN.
Theo ông TNTuấn là có lợi cho VN.
Thật ra không có lợi đáng kể cho EEZ hay TLD VN.
Đúng là ĐCS 1982 claim nhiều nội thủ hơn. Nhưng chẳng nước nào công nhận. Nếu VN sửa lại cho phù hợp với UNCLOS thì có thể claim vùng đó là EEZ, vừa bảo đảm quyền lợi kinh tế (định nghĩa của EEZ) vừa được chấp nhận.
Điều ông TN Tuấn cho là “có lợi” cho VN chỉ làm VN thành 1 nước không tôn trọng UNCLOS.
Nhưng khi những nước khác, như TQ, Mỹ…, do không chấp nhận đường cơ sở của VN nên không chấp nhận EEZ VN đòi, thì đệ trình chung Mã – Việt sẽ mất đi giá tri. Trong trường hợp này, thỏa thuận riêng giữa hai nước Việt – Mã không được nhiều nước , hay quốc tế, chấp nhận.
TQ thì khỏi nói rồi.
Nhưng tôi hy vọng ít nước phản đối báo cáo của VN-Mã.
Lý do là dù đường cơ sở 1982 của VN không phù hợp với UNCLOS, nó cũng không làm EEZ hay thềm lục địa của VN lấn ra biển đáng kể.
3. Tại sao đường ranh TLĐ (đường da cam phía Bắc, khoảng vĩ độ Khánh Hòa-Phú Yên) được VN-Mã vẽ vào bản đồ 2? Lý do giản dị là họ muốn chứng minh rằng vùng claim chung VN-Mã (tô màu cam) nằm TRONG đường ranh đó và do đó có thể claim được.
Đúng. Đường cam (ranh giới thềm lục địa) trong báo cáo chung không phải là đường claim của VN-Mã. Nó chỉ là ranh giới TLDMR để chứng minh là vùng tô hồng mà VN-Mã claim là hợp lý. Trong báo cáo, VN-Mã không claim vùng ông TN Tuấn khoanh đỏ.
4. Thực ra, nếu muốn claim TLĐ cho TS thì ai dại gì mà claim theo công thức Hedberg (60 hl từ FOS) . Chỉ cần claim EEZ 200 hải lý là được luôn cái TLĐ của EEZ đó, rộng gấp mấy lần mà không phải lui cui đo đạc, tính toán, “đệ trình UNCLOS” gì cả!
Đúng.
5. Dù không phân tích kỹ như trên thì cũng biết ngay … suốt trong hai bản đệ trình không có bản nào viết rằng cái đa giác màu đỏ trong bản đồ 3 của TNT là “khu vực thềm lục địa mở rộng của VN do hiệu lực các đảo Trường Sa” cả.
Đúng.
Điều lạ là ông Trương Nhân Tuấn nói mình nghiên cứu 9 năm, hay chê bai người khác, mà lại sai gần hết. Còn ông Phạm Quang Tuấn, không biết nghiên cứu mấy năm, mà lại đúng hết trong 5 điểm trên.