Chính trị và Nghệ thuật — Vài suy nghĩ quanh bài viết của Charlie Lynn
07/05/2009 | 2:00 chiều | 31 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: người Việt hải ngoại > Triển lãm VIETNAM VOICES và NAM BANG! > Tự do sáng tạo
Tôi đã đọc bài của Charlie Lynn[1] lần đầu tiên vào ngày 11/04/2009, trong một email do một người bạn của tôi chuyển lại sau khi email đó đã được phát tán rộng rãi trong cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Sydney. Bài của Charlie Lynn chỉ là một ý kiến phản hồi (feedback) về cuộc triển lãm NAM BANG! sau khi ông đến dự buổi lễ khai mạc. Thông thường, tôi không bao giờ phải mất thì giờ và tốn chữ cho một cái ý kiến kiểu như vậy, nhưng vì nó đã được lan truyền nhanh chóng, được một số nhân vật lãnh đạo cộng đồng người Việt tỵ nạn đem ra trích dẫn để giáo huấn đồng bào, và có thể sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại, nên hôm nay tôi đành phải viết ra những nhận định thẳng thắn về nó.
Trong bài viết này, mỗi khi trích bài feedback của Charlie Lynn, tôi sẽ trích từ chính bản dịch của ông Nguyễn Quang Duy,[2] người đã thấy bài viết của Charlie Lynn là “quá sâu sắc và chính đáng”, mặc dù sau đó, có lẽ ông phát hiện nó có điều sai quấy, nên ông lại cho nó là “mang đầy cảm tính cá nhân”. Riêng tôi, tôi thấy bài viết của Charlie Lynn là cả một sự dối trá.
I. Thái độ dối trá về những sự kiện chính trị và lịch sử
Điều nổi bật trong bài của Charlie Lynn là sự dối trá. Trước hết là sự dối trá về những sự kiện chính trị và lịch sử. Để kích động tâm lý oán thù của người Việt tỵ nạn ở Úc đối với Casula Powerhouse (nơi trưng bày loạt tranh 400 bức của Trevor Woodward châm biếm cựu thủ tướng John Howard), Lynn đã biến Howard trở thành một ân nhân của người Việt tỵ nạn tại Úc. Lynn viết:
Nếu không phải nhờ Malcom Fraser và John Howard thì đã không có cộng đồng người Việt tại Úc. Sẽ không có bất kỳ một ‘dư tàn’ nào từ các nghệ sĩ gốc Việt để trưng bầy. Tất cả những điều này không hề được nhắc tới trong cuộc triển lãm Nam Bang.
Với cái giọng trịch thượng hợm hĩnh của một của người da trắng ở vị trí ban ân bố đức, Lynn táo tợn ghép chung John Howard vào với thủ tướng Malcolm Fraser (vị thủ tướng đầu tiên đã quyết định mở cửa đón nhận thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn vào nước Úc năm 1977), với cái bằng chứng dối trá rằng “John Howard là một thành viên chính trong nội các chính phủ Fraser khi quyết định đó ra đời”.
Cái bằng chứng dối trá này của Lynn chỉ có thể đánh lừa những người Việt tỵ nạn hoàn toàn dốt đặc về những sự kiện chính trị và lịch sử của Úc từ năm 1977 đến nay. Sự thật là: John Howard đã chống lại quyết định của Fraser trong việc mở cửa nước Úc đón nhận người Việt tỵ nạn vào năm 1977.
Chính cựu Thủ tướng Malcolm Fraser đã công khai tố cáo bộ mặt thật của John Howard trước báo chí và công luận Úc vào ngày 01/01/2008. Fraser thuật lại rằng, sau cuộc họp nội các ngày 23/05/1977 để đưa ra quyết định đón nhận người Việt tỵ nạn, Howard (lúc ấy là Bộ trưởng Bộ Thương mại và Tiêu dùng) đã tiến đến gần ông trong một hành lang và nói: “We don’t want too many of these people. We’re doing this just for show, aren’t we?” (Chúng ta đâu có muốn nhận quá nhiều những người này. Chúng ta chỉ làm việc này để trình diễn thôi, phải vậy không?).[3]
Khi chính phủ Fraser (đảng Liberal) thoái trào, chính phủ Bob Hawk (đảng Labor) lên nắm chính quyền, thì chính sách đón nhận thuyền nhân vẫn tiếp tục được thực hiện. Thế nhưng, ngày 08/01/1988, lúc Howard làm thủ lãnh đảng Liberal (đối lập), ông lại tuyên bố trên radio trong một cuộc phỏng vấn về chính sách đa văn hoá, rằng nên “giảm bớt mức tiếp nhận di cư từ châu Á”. Lời tuyên bố mang màu sắc kỳ thị ấy của Howard đã gây ra sự chia rẽ trầm trọng trong nội bộ đảng Tự Do và là một vết chàm trong sự nghiệp chính trị của ông, khiến ông mất ghế thủ lãnh vào năm 1989.[4] Cho đến tháng 1/1995, khi ông muốn được trở lại vị trí thủ lãnh đảng Tự Do một lần nữa, thì ông mới chịu công khai thừa nhận rằng lời tuyên bố ấy là “wrong” (sai lầm). Tuy nhiên, sau khi đắc cử ghế Thủ tướng, trong suốt ba nhiệm kỳ liên tục, từ năm 1996 đến 2007, Howard lại ra tay thực hiện đến cùng cái “sai lầm” ấy. Ông đối xử với người tỵ nạn hết sức tồi tệ. Trong hàng ngàn trường hợp người tỵ nạn từ châu Á và Trung Đông bị chính phủ Howard giam giữ vô thời hạn trong các trại tù dành cho “asylum seekers”, có cả những trường hợp của người Việt Nam. Tôi xin nhắc lại ở đây chỉ một trường hợp:
– Tháng 7/2003, một chiếc ghe tên là Hào Kiệt, chở 53 người Việt Nam, sau khi lênh đênh trên biển hơn 2 tháng đã cặp vào đất liền của Úc, nhưng lập tức bị chính phủ Howard cho hải quân kéo thuyền ngược ra đảo Christmas, và bị nhốt vào trại giam ở đó. Mặc cho cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Úc cùng với những người Úc nhân đạo đã hết sức tranh đấu, chính phủ Howard vẫn giam cầm và đối xử rất tàn tệ với số người tỵ nạn ấy. Trong một cuộc phỏng vấn trên Đài Á Châu Tự Do vào năm 2005, ông Đoàn Việt Trung, Tổng thư ký CĐNVTD liên bang Úc, đã xác nhận rằng “Họ đối xử rất là dã man, rất là tệ hại. Cách đối xử của họ chẳng có giống một nước văn minh chút xíu nào cả… đối xử một cách dã man và vô lý.”[5] Sau 3 năm bị cầm tù, những người Việt tỵ nạn xấu số ấy thình lình bị chở ra sân bay, trả ngược về Việt Nam như những kẻ tội phạm. Ký giả Michelle Dimasi mô tả:
Trong những năm dưới chế độ Howard, thổ dân ở đảo Christmas thường không có một cơ hội để nói giã từ với những người tỵ nạn. Khi những người tỵ nạn của tàu Hào Kiệt rời khỏi đảo năm 2006, chẳng hạn, một chiếc xe bus đã chở họ thẳng đến sân bay. Giống như những kẻ tội phạm, họ lập tức bị đẩy lên máy bay.[6]
Điều kinh khủng là John Howard xem việc ngăn chặn thuyền nhân vào nước Úc là một thành tích đáng tự hào của ông. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình ABC ngày 30/8/2004, Howard khoe khoang: “Look, what I’m saying is that people remember of that period that I stopped the boats.” (Xem này, điều tôi đang nói là người ta sẽ nhớ về thời kỳ đó rằng tôi đã ngăn chặn những chiếc thuyền). Ông lặp đi lặp lại điều này trong cuộc phỏng vấn ấy.[7]
Trong suốt ba nhiệm kỳ thủ tướng của John Howard, chính sách tàn nhẫn của ông đối với thuyền nhân đã liên tục bị cựu thủ tướng Malcolm Fraser (trước kia chính là thủ lãnh của John Howard) và nhiều chính trị gia cùng đảng Liberal phản đối kịch liệt. Năm 2000, trong chương trình phát thanh của đài ABC mừng 25 năm định cư của người Việt tỵ nạn, ông Ian Mcphee (cựu Bộ trưởng Bộ Di trú, người đã đích thân thực hiện chính sách mở cửa đón nhận thuyền nhân từ năm 1977 của Malcolm Fraser) khẳng định rằng “the Howard Government stance on Asian immigration continues to offend the contributions of Vietnamese people in Australia” (quan điểm của chính phủ Howard về vấn đề di cư từ châu Á vẫn tiếp tục xúc phạm đến những cống hiến của người Việt Nam trên nước Úc).[8]
Thế mà Charlie Lynn lại lên giọng trịch thượng răn dạy cho người Việt tỵ nạn biết ơn John Howard! Ông viết:
Nếu không phải nhờ Malcom Fraser và John Howard thì đã không có cộng đồng người Việt tại Úc. Sẽ không có bất kỳ một ‘dư tàn’ nào từ các nghệ sĩ gốc Việt để trưng bầy. Tất cả những điều này không hề được nhắc tới trong cuộc triển lãm Nam Bang.
Người Việt tỵ nạn biết ơn thủ tướng Malcolm Fraser, nhưng không thể nào biết ơn Howard về thái độ tàn nhẫn công khai của ông đối với thuyền nhân. Càng ôn lại những hành động vô nhân đạo của Howard đối với thuyền nhân, thì chúng ta càng thấy rằng Charlie Lynn là một thứ chính trị gia bịp bợm và hỗn láo đối với người Việt tỵ nạn. Có lẽ ông đã khinh thường cái kiến thức lịch sử của chúng ta đến mức tột cùng, thì ông mới dám nói dối trá một cách trắng trợn như vậy. Nên nhớ rằng Charlie Lynn không phải là kẻ dốt nát về chính trị. ông là đảng viên kỳ cựu của đảng Liberal, và là thành viên của Legislative Council (Hội đồng Lập pháp thượng viện) của New South Wales từ năm 1995 cho đến nay.
Điều đáng kinh ngạc là bài feedback dối trá của Charlie Lynn đã được rất nhiều người Việt tỵ nạn hăm hở đón nhận, khen ngợi, dịch ra Việt ngữ (ít nhất đã có 3 bản dịch), và truyền bá cho nhau trên internet, qua email, và trên rất nhiều tờ nhật báo! Thế nhưng, cũng nên biết rằng: cho đến nay, bài feedback của Charlie Lynn chỉ được truyền bá trong cộng đồng người Việt tỵ nạn, nhưng không hề xuất hiện trên bất kỳ tờ báo hay website nào của Úc, kể cả website và blog của chính Charlie Lynn!
II. Chủ ý của Charlie Lynn
Tại sao Charlie Lynn tung ra bài feedback dối trá ấy trong cộng đồng người Việt tỵ nạn? Câu trả lời rất hiển nhiên: ông muốn kích động cho người Việt tỵ nạn giận dữ, và nhân đó ông mượn tay người Việt tỵ nạn để tấn công Casula Powerhouse, trả thù giùm cho ông, vì đó là nơi đã dám trưng bày một tác phẩm châm biếm lãnh tụ John Howard của ông. Tại sao Lynn phải dùng bàn tay của người Việt tỵ nạn? Bởi ông không thể thuyết phục người Úc tấn công Casula Powerhouse chỉ vì một tác phẩm châm biếm John Howard (người đã thất bại ê chề trước cử tri Úc); và vì, đồng thời, ông thấy trong ngày khai mạc NAM BANG! có đoàn người Việt tỵ nạn đang biểu tình phản đối ở trước cổng, ông nắm lấy ngay cơ hội.
Thử phân tích một chút, chúng ta sẽ thấy ngay chủ ý của Charlie Lynn. Bài feedback của ông khá ngắn, trong đó chỉ có bốn đoạn văn ở phần đầu bài là ra vẻ khách quan, để rồi sau đó, hơn nửa số chữ là để nói về John Howard, và số chữ còn lại là để kích động sự hận thù của người Việt tỵ nạn.
Trong câu kết luận của Lynn có 2 ý:
1/ Cuộc triển lãm này là môi trường cho “những kẻ ghét Howard”.
2/ Cuộc triển lãm này là môi trường cho “những kẻ thân cộng”.
Ý thứ nhất là ý chính của Charlie Lynn. Ý thứ hai là ý phụ, chỉ dành riêng để kích động sự hận thù của người Việt tỵ nạn.
Sau buổi khai mạc, Charlie Lynn về nhà và đăng ngay trên blog http://twitter.com/kokodatreks của ông những dòng chữ khá nhẹ nhàng sau đây:
* Veterans Affairs Minister Alan Griffin is shaping up to be the best we have ever had in the portfolio – great speech at Nam Bang exhibition. (Bộ trưởng Cựu chiến binh Alan Griffin đang trở thành vị bộ trưởng tốt nhất mà chúng ta từng có ở chức vụ ấy – bài diễn văn của ông rất hay ở cuộc triển lãm Nam Bang)
* Sean Gladwell’s portrayal of his father Mark, a Vietnam Veteran and old mate, at the Nam Bang exhibition is outstanding. (Bức chân dung do Sean Gladwell vẽ Mark, thân phụ của anh, một cựu chiến binh ở Việt Nam và là một người bạn cũ của tôi, ở cuộc triển lãm Nam Bang thì tuyệt đẹp)
* Nam Bang exhibition should have a Gough Whitlam/Jim Cairns betrayal wall to balance the bilious portrayal against John Howard. (Cuộc triển lãm Nam Bang nên có thêm một bức tường phê phán sự phản bội của Gough Whitlam/Jim Cairns để cân bằng với những bức hoạ biếm nhẽ chống lại John Howard)
* Anti John Howard bile seems out of place at the Nam Bang exhibition at Casula Powerhouse Museum. (Lời lẽ biếm nhẽ chống lại John Howard thì dường như bị lạc đề trong cuộc triển lãm)
Chỉ thế thôi. Ông không hề kết án Casula Powerhouse là “thân cộng” gì cả. Sau đó, Charlie Lynn đã tiếp xúc với báo Sydney Morning Herald, và bày tỏ sự tức giận của ông đối với tác phẩm biếm hoạ của Trevor Woodward. Thế nhưng tờ báo lớn nhất của nước Úc đã không chia sẻ với sự tức giận của ông. Trái lại, họ chế giễu cái lối thưởng thức nghệ thuật của Charlie Lynn. Số báo ra ngày 14/04/2009 có đăng một bài viết ngắn của Sean Nicholls và Emily Dunn dưới nhan đề “Going ape over Howard sketch”[9] (“Phát rồ vì bức vẽ Howard”):
Một cuộc triển lãm tại Casula Powerhouse ở Liverpool về những hậu quả của chiến tranh Việt Nam, được khai mạc bởi ông Bộ trưởng Bộ Cựu Chiến Binh, Alan Griffin, đã làm ông Charlie Lynn, cựu chiến binh kiêm đại biểu thượng viện bảo thủ của tiểu bang NSW, giận dữ, nhưng không phải vì những lý do mà quý vị có thể mong đợi. Cuộc triển lãm Nam Bang! trưng bày tác phẩm của nhiều nghệ sĩ, trong đó có Ray Beattie, Bruce Barber và một bức tranh hết sức bắt mắt của Van Thanh Rudd, cháu trai của Thủ tướng Kevin Rudd, về một tên khủng bố bị nổ tung. Nhưng một loạt tranh châm biếm cựu thủ tướng John Howard lại gây nên “a fuss” (một cơn giận dữ không đáng có). Điểm chủ yếu là một bức tranh vẽ ông John Howard vừa đang đánh rắm vừa tuyên bố chính ông là “Vua của Loài Khỉ” dưới hàng chữ: “George W Bush cần một con khỉ, không có óc. Con khỉ sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ. George trả cho nó nhiều… tiếng tăm.” Lynn, có mặt trong buổi khai mạc, đã bảo với trang The Diary rằng họa sĩ ấy thì “hiển nhiên là một kẻ ghét Howard” mà tác phẩm của anh ta thì “xúc phạm và gây phẫn nộ.” Phil Tolhurst, tổng giám đốc của Hội đồng Thành phố Liverpool, cơ quan chủ quản của viện bảo tàng, thì nói rằng hội đồng thành phố “sẽ không hạn chế sự tự do và quyền sáng tạo nghệ thuật.”
1/ Thái độ dối trá của Lynn đối với tác phẩm của Woodward
Khi tiếp xúc với báo Sydney Morning Herald, Lynn đã thuật lại chính xác những câu viết trên bức biếm hoạ của Trevor Woodward: “George W. Bush needed an ape, without a brain. An ape who would sell his soul to the devil himself. George paid him well … fame.” (George W Bush cần một con khỉ, không có óc. Con khỉ sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ. George trả cho nó nhiều… tiếng tăm.”) Nhưng trong bài feedback truyền bá trong cộng đồng người Việt tỵ nạn, Lynn lại bịa thêm vào đó câu “you miserable bastard selfish prick” (mày là cái thằng chó đẻ, mắc dịch, khốn kiếp), để làm cho bài viết dễ gây nóng máu hơn.
Cái đồ quỷ này dính dáng gì tới chiến tranh Việt Nam, tôi tự hỏi? Tôi biết cuộc triển lãm là về những dư tàn của cuộc chiến Việt Nam, nhưng chế giễu sự kiên quyết của ông John Howard vào cuộc chiến chống khủng bố tại Iraq và A Phú Hãn là chuyện quá lạc đề. “George W Bush cần một con vượn không óc. Con vượn sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ… mày là cái thằng chó đẻ, mắc dịch, khốn kiếp” đó là hàng chữ chú thích hình ông John Howard vừa đánh rắm vừa đánh đu từ một cành cây với một tay và tay kia cầm quả chuối. Và còn tệ hơn thế nữa.
Người nghệ sĩ này quả là khùng rồi. Người phụ trách triển lãm đã lầm khi cho kẻ này trưng bày cái túi mật thối của hắn như là ‘nghệ thuật’.
Câu “mày là cái thằng chó đẻ, mắc dịch, khốn kiếp” hoàn toàn không có trong bức tranh ấy. Mời độc giả xem hình chụp dưới đây:

Trong bài viết, ông giả vờ tự hỏi: “Cái đồ quỷ này dính dáng gì tới chiến tranh Việt Nam?” Hỏi như thế là để gây hoang mang cho người Việt tỵ nạn về mục đích của cuộc triển lãm. Thế nhưng, sát ngay bên cạnh loạt tranh ấy có một bản dẫn giải, in chữ lớn, thì ông cố tình không nhắc tới trong bài viết.
Qua bản dẫn giải ấy, chúng ta có thể thấy Trevor Woodward muốn nhấn mạnh những nét sự tương đồng giữa cuộc chiến ở Iraq và cuộc chiến ở Việt Nam, đặc biệt trong thái độ tham chiến của các nhà lãnh đạo chính trị. Ông bắt đầu vẽ loạt tranh này năm 2002, từ lúc Howard bắt tay với Bush và Blair để tiến hành cuộc chiến ở Iraq với lý do giải trừ âm mưu sử dụng “weapons of mass destruction” của Saddam Hussein (mà cuối cùng thì lý do đó chỉ là một điều hoàn toàn dối trá!). Loạt tranh gồm hơn 700 bức, và ông đã chọn ra 400 bức để triển lãm tại NAM BANG! Để vẽ những bức tranh này, Woodward đã theo dõi các báo chí hàng ngày và mô phỏng lại lối trình bày vừa khôi hài (humorous) vừa phi lý (absurd) của báo chí đối với những lời tuyên bố và thái độ của John Howard trong các vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở Iraq. Woodward làm rõ lên cái cách luồn lách tinh vi của nhà chính trị: họ thực hiện các tham vọng của họ trong khi họ bước đi chênh vênh ở giữa sự khôi hài và sự phi lý.
Nhiều bức tranh trong loạt này đã từng được Trevor Woodward trưng bày lần đầu tiên trong cuộc triển lãm LOOKING FOR REMBRANDT tại Mundaring Arts Centre, Nam Úc, từ ngày 27/01 đến 26/02/2006. Ngày 14/12/2005, Trevor Woodward gửi bản sao của một loạt tranh biếm hoạ này đến Thủ tướng John Howard và mời ông Thủ tướng đích thân đến khai mạc cuộc triển lãm. Ngày 25/01/2006, ông Tony Nutt, Principal Private Secretary của John Howard, gửi thư cho Trevor Woodward, cho biết rằng họ đã nhận được những bức biếm hoạ ấy, nhưng Thủ tướng không thể đến để khai mạc cuộc triển lãm. Trong cuộc triển lãm NAM BANG!, bức thư của ông Tony Nutt cũng đã được trình bày ngay bên cạnh bản dẫn giải loạt tranh biếm hoạ của Trevor Woodward.
2/ Thái độ dối trá của Charlie Lynn đối với tác phẩm của Bruce Barber
Không thể mời gọi dư luận của xã hội Úc vào việc bênh vực Howard và trả thù Casula Powerhouse, vì đa số dân Úc đã quá chán ngán Howard (đến nỗi Howard mất cả ghế Thủ tướng lẫn ghế dân biểu địa phương trong cuộc bầu cử tháng 12/2007), Charlie Lynn xoay sang mượn tay của người Việt tỵ nạn.
Là một chính trị gia lõi đời, Charlie Lynn biết cách khích vào chỗ nóng của nhiều người Việt tỵ nạn. Trước hết, để kết tội là NAM BANG! là “thân cộng”, ông ngụy tạo ra một bằng chứng để cho rằng NAM BANG! chỉ tố cáo tội ác của Mỹ mà không tố cáo tội ác của Cộng Sản. Ông viết:
Một trưng bầy khác tả một người lính Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng ‘sỗ sàng’ như vậy ‘Hắn đi tới, xé toạc quần áo của người phụ nữ, lấy con dao cắt ngược lên âm đạo, đến tận vú, và moi hết ruột gan người phụ nữ ra khỏi bộ lòng và vứt đi. Rồi hắn còng người quỳ xuống và lột từng mảnh da ra khỏi thân hình người phụ nữ rồi bỏ cô nằm lại đó… như một dấu hiệu của một cái gì đó.’
‘Khoan đã nào,’ Tôi chợt nghĩ ra ‘Còn những tội ác mà Việt cộng hành lên người dân miền Nam thì sao?‘ Trong khi cái ác độc của Mỹ được phơi bầy trần trụi ra trong các cuộc điều tra về tội ác chiến tranh, thì phía cộng sản chỉ cần bắn chết hết những người lên tiếng. Đó là khác biệt căn bản giữa các xã hội cộng sản và dân chủ.
Những cái ác độc của cộng sản đã được sơn lấp, che giấu khỏi cuộc triển lãm. Nay tôi mới bắt đâu hiểu lý do của cuộc biểu tình ở ngoài.
Chính Charlie Lynn đã gian dối. Trước hết, chính ông che giấu đi những tác phẩm nói lên tội ác và hậu quả của tội ác của CSVN, như “Heaven Net” và “Thuyền Cứu Rỗi” của Nerine Martini; tác phẩm điêu khắc “Hand” mà Lê Thừa Tiến đã thực hiện để tưởng niệm mẹ và em gái của ông bị chết trong vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế; tác phẩm video “Journey” của Mỹ Lệ Thi; tác phẩm video “More than Boat People: The Vietnam Migration Experience Through Women’s Eyes” của Pam Scott…
Kế đến, ông che giấu đi cái tên của tác phẩm và tác giả mà ông nói đến. Đó không phải là “Một trưng bầy khác tả một người lính Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng ‘sỗ sàng’ như vậy…” Nhưng đó chính là tác phẩm bộ ba poster “Remembering Vietnam” của Bruce Barber.

Trong đó, Bruce Barber phê phán tập đoàn United Technologies chỉ biết lạnh lùng thu lợi nhuận trong việc sản xuất và cung cấp vũ khí cho cuộc chiến ở Việt Nam, đồng thời ông nói đến thân phận người lính Mỹ trong cuộc chiến đó. Ông in lên 3 tấm posters những lời nói mô tả những mặt tốt/xấu của thân phận người lính Mỹ. Đoạn văn ngắn mà Charlie Lynn trích ra để kích động là một đoạn nằm ở dưới chân tấm poster thứ 3. Đó là lời tường thuật của một chiến binh Mỹ trong cuộc điều tra bạch hoá “Winter Soldier Investigation” tại Detroit, Michigan, từ ngày 31/01/1971 đến 02/02/1971. Sau đó, những lời khai đã được in thành cuốn sách Winter Soldier Investigation (nxb Beacon, Boston, 1972). Riêng lời khai này nằm ở trang 74.
Charlie Lynn đã cố tình gạt đi phần quan trọng nhất của bộ poster 3 tấm này. Đó là: cả 3 tấm đều có in đoạn văn sau đây như một mô-típ chủ đạo được tái lập liên tục:
Trong một ý nghĩa to lớn hơn, chúng ta đều là cựu chiến binh của Việt Nam. Những ai đã phục vụ tại Việt Nam đều xứng đáng được đối xử tốt hơn những gì họ đã nhận. Như một quốc gia, chúng ta đã luôn luôn cố gắng làm điều đúng đắn. Chúng ta hãy cố gắng làm điều đúng đắn cho người cựu chiến binh. Chúng ta hãy bắt đầu bằng sự tưởng nhớ. Được khắc ghi trên bức tường cẩm thạch ở Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam tại Buffalo, New York, là những dòng cảm tưởng mà chúng ta nên khắc ghi vào tim mình:
Họ đã đáp lời khi được kêu gọi;
Đã xin một ít và đã nhận ít hơn;
Và sự hy sinh của họ đã làm chúng ta giàu có hơn
Nhưng chúng ta nghèo hơn, lúc họ đã mất đi.
Trong khi tưởng niệm những người quá cố,
Chúng ta ôm lấy những người đang sống.
Bởi vì chúng ta nên nhớ
Nhiều hơn chúng ta vẫn nhớ.
Xin xem ảnh chụp đoạn văn nói trên in trong cả 3 tấm: 
Đoạn văn được in ngay ở chính giữa cả 3 tấm poster của Bruce Barber. Thế nhưng, Charlie Lynn lại chỉ nhặt ra một lời khai của quân nhân Mỹ từ một góc của bức thứ ba, để rồi thổi phồng lên, xuyên tạc nội dung tác phẩm là tố cáo tội ác của Mỹ. Và từ đó, ông kết án luôn cả một cuộc triển lãm, và dùng lời kết án đó để kích động hận thù nơi cộng đồng người Việt tỵ nạn.
III. Nghệ thuật và chính trị
Trước khi quyết định tham gia vào VIETNAM VOICES và NAM BANG! với tư cách một diễn giả, tôi đã biết rõ rằng nội dung của hai cuộc triển lãm ấy sẽ chủ yếu phản ảnh CÁC quan điểm của các cựu chiến binh Úc và Mỹ, và CÁC quan điểm ấy không nhất thiết tương đồng với CÁC quan điểm của người Việt tỵ nạn. Các cựu chiến binh Úc và Mỹ là đồng minh của chúng ta, là những ân nhân đã hy sinh xương máu để góp phần bảo vệ miền Nam Việt Nam. Thế nhưng, phần lớn họ có cảm giác chua chát về cuộc chiến ấy, vì nhiều lý do, và đặc biệt vì sau cuộc chiến, khi trở về nước, họ đã không được dân chúng Úc và Mỹ đón nhận một cách trân trọng, thậm chí có khi họ bị bạc đãi, và do đó họ thấy những sự hy sinh của họ trở thành vô nghĩa. Rất nhiều cựu chiến binh Úc và Mỹ đã mang tâm trạng cay đắng dài lâu, thậm chí nhiều người mang bệnh trầm cảm, nhiều người đâm ra chán chường, bê tha, nghiện ngập và vài người đã tự tử. Cũng có một số cựu chiến binh Úc và Mỹ đã trở thành những nghệ sĩ, những nhà văn, nhà thơ, và tất nhiên họ dùng tác phẩm của họ để bày tỏ những cảm xúc và những quan điểm của họ.
Chính vì tôi biết phần lớn nội dung của hai cuộc triển lãm sẽ biểu lộ tâm lý chán ghét chiến tranh, và tất nhiên ít nhiều sẽ có những ý tưởng không tương đồng với những quan điểm của người Việt tỵ nạn, nên tôi đã quyết định tham gia để nói lên tiếng nói của tôi, một nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn.
Trong hai cuộc triển lãm, có rất nhiều tác phẩm được trưng bày, và mỗi tác phẩm có thể được diễn dịch theo nhiều cách, qua nhiều quan điểm khác nhau, chứ không phải chỉ được hiểu dưới một con mắt độc quyền nào. Tác phẩm nghệ thuật thì khác với sản phẩm tuyên truyền chính trị. Và chính sự khác biệt này đòi hỏi người xem phải mở rộng cái nhìn và chấp nhận những thử thách trong quá trình diễn dịch. Hơn thế nữa, để tiếp cận nội dung một cách công bình và khách quan hơn, người xem còn phải được trang bị những kiến thức và những thông tin cần thiết về quá trình sáng tác.
Thử lấy một ví dụ. Tác phẩm “Memories of the American War: Stories from the other side” (Những ký ức của cuộc chiến tranh Mỹ: những câu chuyện từ phía bên kia) của William Short có thể bị một số người cho là ca ngợi CSVN, vì họ thấy trong đó có những bức ảnh chụp trong nhà và tại nơi làm việc của hai VC nằm vùng, hai thành viên của Mặt trận GPMN, và ba cán bộ CS miền Bắc; và họ thấy có hình một huy chương của CSVN in dấu hiệu cờ đỏ sao vàng, và hình chụp biểu ngữ “Mừng Chiến Thắng Ấp Bắc 1968″, v.v… Thế nhưng, trong con mắt của tôi, đó chỉ là một loạt nhiếp ảnh của một cựu chiến binh Mỹ từ “phía bên này” thử nhìn về “phía bên kia”. Cuối những năm 90, cựu chiến binh William Short đã trở lại Việt Nam để chụp hình và phỏng vấn một số người “phía bên kia” để xem ở “phía bên kia” bây giờ họ nói những gì, bây giờ họ ra sao; và ông đến trận địa cũ để chụp hình những vết tích còn sót lại, chẳng hạn, ông nhặt được một cái huy chương cũ của CSVN, ông thấy một quả mìn của Trung Cộng, những mảnh bom, một cái biểu ngữ mới trên vùng giao tranh ngày xưa , v.v… Nhà nhiếp ảnh chỉ trình bày những gì ông chụp được, và ghi lại những câu nói mà “phía bên kia” nói với ông. Ông không bình luận là đúng hay sai, là thật hay láo. Ông chỉ chụp và chép như một nghệ sĩ. Ông để cho khán giả tự suy nghĩ và xét đoán, bởi vì ông không làm công tác tuyên truyền, và ông tin vào SỰ THÔNG MINH của khán giả.
Đó chính là một trong những chỗ KHÓ và thú vị mà nghệ thuật mang đến cho khách thưởng lãm. Những nghệ sĩ sáng tạo tự do đúng nghĩa là những kẻ luôn mong đợi SỰ THÔNG MINH của khán giả, vì thế họ làm ra cái KHÓ, để thử thách khán giả, chứ họ không phải là những kẻ ráng làm ra những tác phẩm dễ dàng cho đại chúng.
Thế nhưng, các chế độ độc tài đều không chấp nhận những cái KHÓ trong nghệ thuật. Họ muốn nghệ thuật phải rõ ràng, dễ dàng, đơn giản như một là một, hai là hai. Chúng ta đều biết rằng cả Hitler và Stalin đều ghét nghệ thuật hiện đại và họ đã ra lệnh phá huỷ hàng trăm tác phẩm giá trị. Đối với cả phát-xít lẫn cộng sản, nghệ thuật chỉ được phép nói một giọng, theo một quan điểm, không được đa nghĩa, không được mang những ẩn dụ khó hiểu. Nếu có một chi tiết được xem là “có vấn đề”, thì tác phẩm bị cấm đoán hay phá huỷ ngay, và tác giả của nó bị nghi ngờ hay bị trừng phạt ngay.
Charlie Lynn là một chính trị gia sống trong nước Úc tự do và dân chủ, nhưng ông lại có một thái độ độc đoán và độc ác đối với nghệ thuật y như phát-xít và cộng sản. Trong bộ ba poster của Bruce Barber, ông Lynn chỉ cần vin vào một chi tiết, là có thể diễn dịch và kết án toàn bộ tác phẩm, bất chấp tất cả những chi tiết khác quan trọng hơn. Thế nhưng, điều đáng buồn là nhiều người Việt tỵ nạn, vốn luôn luôn tuyên bố là yêu tự do và tranh đấu cho tự do, lại dễ dàng tin theo ông Charlie Lynn, và thậm chí có lối hành xử chẳng khác gì Charlie Lynn. Chẳng hạn, như ông Nguyễn Mạnh Tiến đã xác nhận, nhiều người chỉ cần thấy trong chương trình hội thảo của NAM BANG! có bài tham luận “The Communist Party of Australia and Vietnam”, là họ nộ khí xung thiên ngay![10] Họ không cần biết bài tham luận ấy nói gì cả.
Những người nộ khí xung thiên chống đối hai cuộc triển lãm về cuộc chiến Việt Nam ấy đòi hỏi những gì? Họ đòi hỏi rằng những hình ảnh trong đó phải mô tả một cuộc chiến Việt Nam không có máy bay Mỹ thả bom, không có nạn nhân của chất độc màu da cam, không có những hành vi sai trái của những chiến binh Mỹ, không có những chiến binh mắc bệnh tâm thần, không có một ai phản đối chiến tranh. Họ đòi hỏi rằng những hình ảnh trong đó chỉ toàn mô tả những chiến thắng oanh liệt vẻ vang của QLVNCH và đồng minh. Họ đòi hỏi rằng những hình ảnh trong đó chỉ phô bày tội ác của CSVN trong chiến tranh và sau chiến tranh, nỗi đau đớn, ngục tù, và những thảm cảnh của hàng triệu người tỵ nạn liều chết bỏ nước ra đi.
Thế nhưng, không một tổ chức nghệ thuật nào của Úc và Mỹ mà có thể thực hiện được một cuộc triển lãm để thoả mãn những đòi hỏi như thế. Thứ nhất, họ không bao giờ tổ chức tuyên truyền một chiều. Thứ hai, họ muốn tạo cơ hội cho nhiều tiếng nói khác nhau từ mọi góc độ, và cố gắng làm sao bao gồm được mọi quan điểm khác nhau về cuộc chiến. Thứ ba, họ liên lạc với tất cả những nghệ sĩ có tên tuổi mà họ biết, gồm cả người Úc, Mỹ, Pháp,Việt (sống ở Úc và ở nhiều quốc gia khác, kể cả Việt Nam), để mời tham gia. Ai đồng ý tham gia thì gửi bản chụp tác phẩm cho họ để họ tuyển chọn. Tuy nhiên, vì biết người Việt tỵ nạn rất nhạy cảm và hay tổ chức biểu tình chống đối, nên họ không bao giờ tuyển chọn những tác phẩm trực tiếp khiêu khích đối với người Việt tỵ nạn, dù họ sẵn sàng chọn những tác phẩm trực tiếp khiêu khích đối với người da trắng. Cuối cùng, nếu có góc độ nào còn thiếu sót thì họ mới tìm cách bổ khuyết vào, bằng cách liên lạc với nơi này nơi kia để mượn thêm tác phẩm, mời thêm người thuyết trình. Chính vì thế, trước kia họ đã từng mời ông Nguyễn Mạnh Tiến thuyết trình về đề tài “The Vietnam War revisited” (Nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Nam). Họ cũng mượn ông Nguyễn Mạnh Tiến một số hình ảnh thuyền nhân để trưng bày, và họ đã chụp lại những hình ảnh ấy để tiếp tục trưng bày về sau. Họ cũng đã nhận những tác phẩm mang hình lá cờ VNCH từ bà Phạm Ánh Linh để tiếp tục trưng bày, v.v… Và năm nay, họ mượn tác phẩm “Thuyền Cứu Rỗi” của Nerine Martini từ sưu tập của ông Phạm Chí, và họ mời ông ấy viết một bài diễn tả kinh nghiệm và cảm tưởng của thuyền nhân tỵ nạn; họ mời cô Thảo Nguyễn thuyết trình về “Quan điểm của thế hệ sinh ra sau chiến tranh Việt Nam”; và họ mời tôi thuyết trình về nguyên nhân và kinh nghiệm của thảm trạng vượt biển, và về thực trạng CSVN xâm phạm tự do tư tưởng và diễn tả trong nghệ thuật.
Nếu họ không thể tìm ra một bức tranh nào vẽ những trại tù cải tạo, những sự hành hạ, giết chóc, tra tấn của CSVN đối với sĩ quan và công chức VNCH; không thể tìm ra một bức tranh nào về tội ác của CSVN trong vụ Tết Mậu Thân và vô số tội ác khác, thì họ phải làm gì? Họ không thể mướn hoạ sĩ vẽ những điều ấy, vì họ tin rằng tác phẩm phải sinh ra từ cảm hứng tự do chọn lựa của nghệ sĩ. Họ không thể tự tay vẽ ra, vì họ đâu phải là nghệ sĩ. Thế thì họ phải dẹp bỏ cả dự án triển lãm hay sao? Không, họ vẫn tiếp tục dự án của họ, họ điền khuyết vào đó bằng những bài tham luận của người Việt tỵ nạn, và họ tiếp tục hy vọng sẽ bổ sung dần dần khi nhận được thêm những tác phẩm mới. Bởi thế, chính cộng đồng người Việt tỵ nạn nên kêu gọi những nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn đóng góp vào những chỗ ấy.
Từ năm 1997 đến nay, các tổ chức trong cộng đồng người Việt tỵ nạn có đứng ra kêu gọi nghệ sĩ đóng góp vào những chỗ ấy hay không? Có lẽ không. Chỉ có vài nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn tự ý đóng góp, và phải chịu đựng những lời đe doạ, vu khống, chụp mũ. Những người lãnh đạo cộng đồng chỉ biết tổ chức những cuộc biểu tình phản đối, và đòi hỏi rằng Casula Powerhouse phải trưng bày những tác phẩm như thế, nếu không có để trưng bày, thì nên dẹp bỏ luôn tất cả những dự án triển lãm nghệ thuật về chiến tranh Việt Nam cho xong. Thử hỏi, ban giám đốc Casula Powerhouse sẽ làm được gì đối với những đòi hỏi như vậy? Họ không làm gì được cả. Họ không thể đẻ ra những tác phẩm như thế. Họ chỉ mong chờ sự đóng góp từ chính các nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn.
Một câu hỏi khác: liệu những người lãnh đạo cộng đồng hôm nay có thể kêu gọi các nghệ sĩ thực sự có tài năng trong cộng đồng chịu sáng tác những tác phẩm theo yêu cầu của họ để đem vào những cuộc triển lãm tương tự trong tương lai? Câu hỏi này tôi xin để cho họ tự trả lời.
Là một nghệ sĩ, tôi đã không thể sống nổi dưới chế độ độc tài của CSVN. Vì thế tôi đã liều chết, vượt biển ra đi, và sau rất nhiều lần thất bại và chịu đựng hơn 5 năm tù ở các trại Bình Đại, Bến Tre, Cam Ranh, Trần Phú (Nha Trang) và A.30 (Phú Yên), tôi đã đến Philippines năm 1983, rồi cuối năm ấy tôi sang Úc để đoàn tụ với ba và em trai tôi.
Ở Úc, tôi đã dành trọn vẹn cuộc sống của tôi cho nhiều lãnh vực nghệ thuật. Tôi cảm thấy hoàn toàn tự do trong bầu không khí nghệ thuật của Úc, nhưng mỗi khi tôi thực hiện một công trình gì có liên quan đến người Việt Nam, tôi lại cảm thấy ngột ngạt, khó thở, như phải đương đầu với một hệ thống kiểm duyệt của một chế độ độc tài. Hầu hết bạn bè của tôi là những nghệ sĩ người Việt tỵ nạn, trong đó có những người đã đạt được những thành tích đáng kể trong nền nghệ thuật Úc và quốc tế đương đại. Tuy nhiên, cũng như tôi, hầu hết họ đều mang cảm giác ngột ngạt, khó thở khi sinh hoạt trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. Trong cộng đồng này, họ luôn luôn phải đương đầu với nguy cơ bị nghi ngờ, xuyên tạc, chụp mũ, thoá mạ. Đó là lý do tại sao càng ngày họ càng xa lánh. Hậu quả thì rất hiển nhiên. Thử đưa ra một ví dụ rất cụ thể: sau hơn 30 năm định cư ở Úc, nếu bây giờ những người lãnh đạo cộng đồng muốn đứng ra tổ chức một cuộc triển lãm nghệ thuật có giá trị cao, thì họ khó lòng mà nhận được sự hợp tác của những nghệ sĩ người Việt có tài năng, tên tuổi và thành tích thật sự.
Đây là một sự thật. Một sự thật đau lòng. Tôi thẳng thắn nói ra đây để mọi người cùng suy nghĩ.
Tài liệu tham khảo và trích dẫn
[1] http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=6339
[2] http://www.talawas.org/?p=3140
[3] “Howard in war refugee snub: Fraser”, The Australian, January 01, 2008, http://www.theaustralian.news.com.au/story/0,25197,22993100-601,00.html
[4] Paul Kelly (1994). The End of Certainty: Power, Politics, and Business in Australia. Allen & Unwin. pp. 427-428.
[5] Phương Anh, “Câu chuyện của 53 thuyền nhân Việt Nam vượt biển đến Australia”, RFA, 29/03/2005, http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnamese_boatpeople_Australia_PAnh-20050329.html
[6] Michelle Dimasi, “Back to the mainland”, Inside Story, 18 March 2009, http://inside.org.au/back-to-the-mainland/
[7] Kerry O’Brien, “Costello and I are a team: Howard”, ABC, 30/08/2004, http://www.abc.net.au/7.30/content/2004/s1188409.htm
[8] “Vietnamese-Australian community celebrates 25 years”, The World Today Archive – Friday, ABC, 3 November , 2000, http://www.abc.net.au/worldtoday/stories/s207815.htm
[9] Sean Nicholls and Emily Dunn, “Going ape over Howard sketch”, The Sydney Morning Herald, April 14, 2009, http://www.smh.com.au/national/going-ape-over-howard-sketch-20090413-a4tf.html
[10] Nguyễn Mạnh Tiến, Cuộc triển lãm “Nam Bang!” và Cộng đồng Người Việt Tự do Úc châu, Talawas, 06/05/2009, http://www.talawas.org/?p=3902
© 2009 Hoàng Ngọc-Tuấn
© 2009 talawas blog
Bình luận
31 Comments (bài “Chính trị và Nghệ thuật — Vài suy nghĩ quanh bài viết của Charlie Lynn”)
« Trang trước 1 2 3 Trang sau »
Hoà Nguyễn nói: “Chẳng riêng ông (Phạm Quang) Tuấn, mà vài người khác góp ý trong bài này đã đẩy người Việt ở Úc và riêng tôi về phía CS trong nước, ít ra trong cách hành xử. Tôi không nói là “chụp mũ”, khi các ông ấy đã tự cho mình bị chụp mũ (CS).”
Hoà Nguyễn nói như vậy là quá sức hồ đồ. Ông PQT và một vài người khác chỉ so sánh lối suy nghĩ hay hành xử độc đoán của một số người (trong đó có Hoà Nguyễn) là giống như lối suy nghĩ của CS. Nghĩa là có một số người (trong đó có Hoà Nguyễn) chống CS, nhưng đã sử dụng cách phán đoán và hành động giống-như-CS.
Khi ông PQT và một số người đưa ra nhận định đó, họ không hề “đẩy người Việt ở Úc” về phía CS. Họ cũng không thể đẩy ông Hoà Nguyễn về phía CS, trừ khi chính ông chọn lựa như vậy.
Ở Úc có vài trăm ngàn người Việt, mà trong số đó chỉ có một số người phán đoán và hành động giống như CS, tuy họ chống CS. Như thế thì số người đó phải tự xét đoán mình và thay đổi, chứ đừng xem là tất cả người Việt ở Úc ai cũng cực đoan một chiều như mình. Không ai có thể “đẩy” ai về phía nào cả. Ai sai lầm thì nên lắng nghe lời góp ý và hãy tự xem lại mình.
Trong nước, người nào phê phán Nông Đức Mạnh và các đảng viên cao cấp thì bị CS ghép vào tội “chống lại dân tộc”, “chống phá đất nước”.
Ngoài nước, ông PQT phê phán cá nhân các ông Nguyễn Quang Duy, Hoà Nguyễn, Nguyễn Mạnh Tiến và bà Phạm Ánh Linh, thì bị ghép vào tội “chống phá cộng đồng”.
Có gì khác nhau?
Ông Phạm Quang Tuấn viết về phát biểu của ông Nguyễn Mạnh Tiến, chủ tích CĐNV ở Úc: “… làm tôi nhớ thỉnh thoảng mở báo Nhân Dân thấy ngay đầu là hàng chữ “Tiếng nói của Đảng, nhà nước VÀ NHÂN DÂN Việt Nam”..
Ông PQT viết về ý kiến của tôi: “… nhớ tới những cáo buộc văn nghệ sĩ “phản bội tổ quốc”, “phản bội nhân dân””.
Chẳng riêng ông Tuấn, mà vài người khác góp ý trong bài này đã đẩy người Việt ở Úc và riêng tôi về phía CS trong nước, ít ra trong cách hành xử. Tôi không nói là “chụp mũ”, khi các ông ấy đã tự cho mình bị chụp mũ (CS).
Với cái “tâm thần” như thế còn nói gì được nữa, hoạ chăng mượn câu viết của ông Lê Anh Dũng, cũng ở đây nói về con Kangaroo, nhưng chỉ là thành ngữ về tòa án Kangaroo. Không phải nói về tòa án “nhân dân” vì e bị cho là chụp mũ người khác.
Nhân đây, họa sĩ Trần Trọng Vũ góp ý kiến trên báo trong nước (mục spectrum: http://www.thethaovanhoa.vn/174N20090509103019762T133/hoa-si-tran-trong-vu-dung-cuc-doan-voi-tieng-no-o-viet-nam!.htm), ngoài những nhận định chung chung đúng dù áp dụng vào chuyện tương tự ở bất cứ ở đâu, có một ý giống với ông PQT đã nói một lần ở đây: “Tôi cũng được biết rằng khá nhiều người Việt hải ngoại đã tham gia biểu tình chống lại các triển lãm về đề tài Việt Nam ở Mỹ hoặc ở Australia – bất cứ đề tài nào, nội dung nào – lại chính là những người hăng hái đi du lịch Việt Nam nhất, để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài của họ, vốn khó lòng mà thực hiện tốt được như vậy nơi họ đang sinh sống“.
Nếu thật vậy, những người thường hăng hái về VN cũng nên tự xét lại coi mình có từng tham gia vào những cuộc biểu tình như thế không(không có ý chụp mũ ai).
Đọc qua hơn 15 phát biểu của ông Hòa Nguyễn liên quan đến chuyện “Nam Bang” này thì tôi phải thán phục và công nhận ông này kỳ công góp ý, cho dù không biết gì rõ ràng về chuyện này, đọc được vài bài chưa biết đúng hay sai, mà cứ ý kiến loạn lên như có vẻ là người hiểu biết lắm. Nhưng ông ta cứ tiếp tục những giọng điệu nửa ngây thơ, nửa khẳng định, nửa không dám tự tin, rồi tới mức tôi không im được!
Ông Hòa Nguyễn bảo: “Các ông Hoàng Ngọc-Tuấn, Phạm Quang Tuấn, vài người khác, trong đó theo ông Nguyễn Quang Duy ít nhất là một du học sinh từ VN, sau cùng không phải chống lại cuộc biểu tình của cộng đồng người Việt ở Úc, mà chống lại chính cộng đồng người Việt ở Úc. Điều này thấy quá rõ trong dẫn chứng, lập luận của các ông.”. Tôi chả hiểu được ông Hoà Nguyễn!
Theo tôi đọc và hiểu khá rõ là ông Tuấn lên tiếng phê bình thái độ của TỔ CHỨC CĐNV chứ có phải là cộng đồng người Việt đâu! Sự ngu xuẩn hoặc cố tình bóp méo này giống như cộng sản VN kết án bất kỳ ai chống lại Đảng CSVN là chống lại tổ quốc!
Chạy bỏ một chế độ thối nát, độc tài và vô nhân đạo qua tới các nước tự do mà vẫn chưa thoát được những loại người mệnh danh tự do nhưng vẫn cứ tiếp tục cái trò lẻ tẻ thiếu văn hoá và lòng tự trọng như thế này! Cực chán!
Rốt cuộc ông Hoà Nguyễn biến câu chuyện “Nam Bang” thành chuyện đả kích qua lại giữa ông HN-T và cộng đồng chớ chẳng phải chuyện bộp chộp và nông nổi của đám “đại diện cộng đồng”.
Tệ hại hơn ông lại “phỏng đoán” rằng ông HN-T là “cổ động viên” hoặc “bảo trợ” cho “Nam Bang” và bởi thế, ông HN-T lên tiếng trong bài phỏng vấn trên tờ Việt Luận là để “đập” đám đại diện cộng đồng (vì ông Tuấn thuộc phe “Nam Bang”) chớ chẳng phải là vì cái đám đại diện cộng đồng là một đám lau nhau, bộp chộp và chẳng biết phải trái là gì.
Tôi e rằng ông Hoà Nguyễn này chẳng hề đọc bài tham luận của ông Tuấn hoặc cùng lắm là lướt qua cho có lệ hoặc khả năng đọc và cảm nhận của ông có vấn đề nên ông mới ý kiến như vậy.
Ngoài ra, ông Hòa viết: “Các ông Hoàng Ngọc-Tuấn, Phạm Quang Tuấn, vài người khác, […] sau cùng không phải chống lại cuộc biểu tình của cộng đồng người Việt ở Úc, mà chống lại chính cộng đồng người Việt ở Úc.”
Đọc câu này, không khỏi nhớ tới những cáo buộc văn nghệ sĩ “phản bội tổ quốc”, “phản bội nhân dân” mà ta đã thấy trong loạt bài về Nhân Văn- Giai Phẩm đã đăng trên talawas.
Hình như ông Hòa Nguyễn không đọc thư trước của tôi, nên xin nhắc lại một lần nữa. Nếu chỉ biểu tình thì không sao, nhưng CĐNVTD Úc (xin viết đầy đủ, chữ hoa vì đây là cái danh hiệu của một tổ chức chính trị, để phân biệt với cộng đồng người Việt nghĩa chung, mà Hoàng Ngọc-Tuấn và nhóm Tiền Vệ cũng là thành phần) tìm đủ cách để ẢNH HƯỞNG việc sáng tác và CÔ LẬP các nghệ sĩ đi ra ngoài cái lề rất hẹp của họ. Như đã viết, họ “chụp mũ VC trên báo hay bằng rỉ tai, làm áp lực lên gia đình (cha mẹ, vợ chồng) để lợi dụng tình yêu gia đình và óc dĩ hòa vi quí của người Việt, đòi nghệ sĩ sửa đổi hay rút bỏ tác phẩm, viết thư hay email riêng kêu gọi tẩy chay các hoạt động của văn nghệ sĩ trái ý họ, v.v.”
Về chuyện CĐNVTD Úc/NSW tự xưng là “đại diện chính thức của khoảng 90 ngàn người Việt sinh sống tại tiểu bang NSW Úc Châu” như trong bài của ông Nguyễn Mạnh Tiến, câu đó làm tôi nhớ thỉnh thoảng mở báo Nhân Dân thấy ngay đầu là hàng chữ “Tiếng nói của Đảng, nhà nước VÀ NHÂN DÂN Việt Nam”. Cả hai chỉ là những sự nhận vơ trơ trẽn, vô căn cứ.
Ông Hoà Nguyễn nên đọc kỹ lại đi. Ông Duy nói chuyện du sinh là để phân trần với ông NguyenKhoi về câu nói “Ưu tiên hàng đầu của chúng tôi ngày hôm nay là đấu tranh chống văn hoá vận Việt cộng.” Và chính ông Duy cũng lạc đề ở chỗ này, vì ông NguyenKhoi không hề đề cập tới chuyện du sinh. Tuy lạc đề, ông Duy cũng không hề nói là có du sinh tham gia vô triển lãm Nam Bang! Đây là đoạn ông Duy viết:
Thưa ông NguyenKhoi
“Chỉ một lần tôi đã viết: “Ưu tiên hàng đầu của chúng tôi ngày hôm nay là đấu tranh chống văn hoá vận Việt cộng.”
“Một cách cụ thể, chắc ông cũng nhận ra, ở Úc chúng ta không phân biệt người cũ (tị nạn) hay người mới (du sinh). Cách đây ít năm ông Đoàn Viết Trung, chủ tịch CĐNVTD liên bang lúc đó, ra thông báo kêu gọi đồng hương mở cửa đón các em du sinh. Khi em gặp hoạn nạn chúng ta sẵn sàng giúp đỡ các em.”
Ông Hoà Nguyễn nói: “Là người ở Úc, ông Duy biết rõ hơn người ở xa về ai là ai ở Úc”.
Ông Duy ở Melbourne, cách xa Sydney gần 1000 cây số, chưa hề tiếp xúc với nhóm nghệ sĩ Việt hiện nay ở Sydney, cũng chưa hề bén mảng tới Casula Powerhouse để xem thử. Thế thì ông Duy cũng chẳng biết gì hơn ông Hoà. Cũng chỉ nghe lóm.
Rất đồng ý với nhiều điều nêu ra bởi Nguyên Khôi và Nguyen NguyenChi, xin đóng góp thêm vài điều:
– Do hạn chế của mục “Góp ý” – 1500 chữ, các góp ý nên được xem như cách nhiều người mù tả voi. Tả tới, tả lui và tổng hợp lại thì có lẽ con voi trông giống con chó hơn.
– Dùng dao mổ trâu để giết gà, xem tranh Tàu với con mắt Hy Lạp; công án thiền sẽ trở nên ngớ ngẩn, ngu si và cần gửi Đỗ Kh. đi Tây Bá Lợi Á cho Staline cùng Hitler cải tạo.
Chấn thương của Việt Nam quá lớn, làm sao chúng ta có thể hồi phục chỉ trong vài thế hệ? Không biết sẽ ra sao nếu cứ tiếp tục như hiện nay, chả lẽ tự trấn an bằng luật phản phục của Lão Tử. Những quá khích, tha hóa, băng hoại ở trong cũng như ngoài nước chỉ là những biểu hiện ngoài da của nội tạng, đương nhiên phải xảy ra. Những con buôn, kên kên chính trị ở đâu và đời nào chả có. Để giải quyết, hàn gắn chuyện cũ, xây dựng ứng xử mới không thể đứng từ dancing Tour d’ivoire ở Chợ Lớn thời Bảy Viễn, nhân danh những giá trị phổ cập, những điều này không sai nhưng dị ứng bởi đa số quần chúng; mà cần thâm cảm bằng con tim, đi bằng đầu óc và rất nhiều thời gian, kiên nhẫn, dã tràng xe cát biển Đông (dù nhiều khi cũng cần nói thẳng như Re-gân chỉ bức tường và cá với Gọc-ba-chốp là có ngon thì dẹp cái đồ thổ tả này đi, chắc Gọc-ba-chốp có cười tủm “fallacy”).
Kangaroo là một con vật đỏm đáng, rất ngựa, đi đâu cũng xách ví đầm, có gì sai xin chỉ giáo.
Hoà Nguyễn nói:
“Việc các ông quay qua đả kích tổ chức, cả cá nhân, trong CĐNV ở Úc là không công bằng, vì cuộc biểu tình không nhắm vào tổ chức nào, cá nhân nào trong các ông”.
Đây là một cách nói thiếu văn minh và không biết thế nào là tôn trọng lẽ phải và công bình.
Nếu CĐNV ở Úc và một số cá nhân đã phản đối người Úc một cách không đúng đắn, thì bất kỳ ai ở nước Úc cũng cần phải lên tiếng để phê phán, góp ý mà rút kinh nghiệm, tránh những sai lầm về sau.
CSVN đã đối xử tàn tệ với những người bất đồng chính kiến. Nhưng khi dư luận quốc tế lên tiếng, thì CSVN nói rằng “yêu cầu quý vị đừng can thiệp vào chuyện nội bộ của VN, chúng tôi đâu có đụng đến quý vị.”
Lý sự của Hoà Nguyễn cũng giống y như vậy, theo kiểu “chúng tôi đụng tới người khác, chớ đâu có đụng tới các anh mà các anh phàn nàn”.
Thì ra Cộng và chống Cộng cũng xài chung một kiểu lý sự.
Trả lời ông Nguyễn Thiệp hai điều.
1/Trong một bài viết, ông Nguyễn Quang Duy có lời nhắn gửi một du học sinh đến từ VN (cho biết ông đã từng cho DHS ở trọ và hiểu tình cảm họ). Là người ở Úc, ông Duy biết rõ hơn người ở xa về ai là ai ở Úc (hay ở đây).
2/ Chuyện ông HNT không là thành viên Nam Bang chẳng liên hệ gì với lý lẽ của tôi, vì đó chỉ là một phỏng đoán:(cùng lắm) có thể ông HNT là một trong những “sponsor” hay cổ động viên cho Nam Bang. Điểm chính là cuộc biểu tình không dự định chống hay đã chống ông HNT. Nhưng sau khi HNT đả kích họ qua bài phỏng vấn xuất hiện đầu tiên ở đây, thì nếu CĐNV ở Úc đối đáp lại với ông HNT cũng không phải là điều bất ngờ, hay bất thường.
Đỗ Thúc Sinh đề nghị “khi cuộc triển lãm này mở ra nên ghi chú rõ là chỉ dành cho giới trí thức biết hội họa, nghệ thuật chứ không dành cho dân ngu cu đen”. Đây là một đề nghị rất kỳ lạ. Các nước văn minh người ta không xem ai là “dân ngu cu đen” cả. Ai yêu thích và am hiểu nghệ thuật thì đến xem, ai không thích thì đi xem thể thao. Còn những em bé VN sanh ra và lớn lên ở Úc thì đều được học thưởng thức visual arts từ bậc tiểu học trở lên đàng hoàng. Không có ai là “dân ngu cu đen” đâu mà lo. Chỉ có những kẻ mang tham vọng chính trị muốn chung quanh toàn là dân ngu cu đen để mà dễ xỏ mũi, lợi dụng.
Giải thích về nhiếp ảnh của William Short thì bị kết án là “dùng kiến thức của mình để binh vực cho William Short”. Đó chính là cái thái độ phản trí thức mà một số người rất ưa sử dụng để đánh lừa đồng bào và chụp mũ giới trí thức. Nếu CĐNVTD muốn hợp tác với trí thức và văn nghệ sĩ thì không nên có thái độ như vậy.
Theo dõi câu chuyện này từ đầu, tôi thấy Hoà Nguyễn chỉ chuyên đoán mò và tung hỏa mù.
1- Tôi đọc kỹ mà không hề thấy ông Duy nói chỗ nào có “ít nhất là một du học sinh từ VN”.
2- Nếu vạch ra sự dối trá của ông Úc Charlie Lynn tức là chống cộng đồng người Việt ở Úc, thì hóa ra nên binh vực sự dối trá đó để ủng hộ cộng đồng người Việt ở Úc?
3- “Cuộc biểu tình hôm đó chẳng liên quan gì đến” ông HNT và nhóm Tiền Vệ? Sao lại không? Báo VL đã chất vấn tại sao ông HNT đã thuyết trình ở đó. Ông HNT đã giải thích rành mạch mà còn bị báo chí chụp mũ tưng bừng đấy.
4- Ý kiến ông Phạm Quang Tuấn là ý kiến độc giả. Sao Hoà Nguyễn lại ghép chung với ý kiến tác giả thành một rọ?
5- Nếu ông HNT là thành viên của ban tổ chức Nam Bang, thì tại sao họ còn mời ông ấy đến để thuyết trình?
Tục ngữ VN có câu rất hay, “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”.
Không biết từ bao nhiêu thập kỷ, bao nhiêu thế hệ qua, CSVN đã “triệt để” tận dụng mọi loại hình nghệ thuật để phục vụ cho công tác tuyên truyền của họ, biến nghệ sĩ và nội dung nghệ thuật thành những công cụ cho mục đích này. Ngay cả những buổi hoà nhạc “bác học” cũng là để đánh bóng cho họ, cũng là một chiêu thức tuyên truyền, chứ không quan tâm đến chất lượng nghệ thuật và văn hoá của những tác phẩm này. (Đương nhiên nếu nội dung “phản động” thì còn lâu mới được trình bày).
Xuyên qua cuộc triển lãm này và những lần trước đó, thái độ của tổ chức CĐNV ở NSW đã phản ánh khá rõ sự ảnh hưởng của cách nhìn, thái độ và ngay cả sự thiếu văn hoá trọng việc tôn trọng nghệ thuật của chế độ CSVN.
Tôi lấy làm lạ là một mặt họ (tổ chức CĐNV tại NSW) hô hào chống CSVN, một mặt họ “áp dụng triệt để” những cách thức của CSVN mà họ đang hô hào chống lại!
Đỗ Thúc Sinh ơi,
Một cuộc triển lãm như thế này là để cho mọi người cùng tham dự triển lãm và thưởng ngoạn!
Tại sao lại bắt một nghệ sĩ ngoại quốc có bổn phận phải sáng tác theo ý của một nhóm người nào đó? Sao tôi đọc thấy giống như CSVN lên án phim “Xích Lô” trước đây quá vậy, chỉ vì phim này chỉ nhìn một góc khuất của xã hội VN là CSVN lên án và kiểm duyệt ngay!
Nếu ĐTS đến Sydney Opera House mua vé nghe nhạc của Bela Bartók, vì không (hay chưa) quen thưởng ngoạn loại nhạc này vì mình là “dân ngu cu đen” cho nên phản đối thì bạn hơi bị giống Stalin ngày xưa đó!
ĐTS nên thấy hầu hết những người lên tiếng khác nhau về chuyện này đều là “BOAT PEOPLE” cả đó! Và đây chính là 1 phần của bức tranh tự do mà người dân VN trong nước chưa hề được biết trong vòng mấy chục năm qua!
Tự Do là 1 trong những điều chính mà “BOAT PEOPLE” đi tìm! Tổ chức CĐNV ở NSW sử dụng môi trường Tự Do này để tự do bóp méo sự thật, tự do chụp mũ, tự do xuyên tạc, v.v… bằng cách tự do biểu tình và tuyên truyền trên 1 số báo chí! Thì tôi tự hỏi: Họ có đủ văn hóa và lòng tự trọng để thừa hưởng môi trường Tự Do của Úc chưa? Hay là họ đang “s..t in their own backward” đây?
Các ông Hoàng Ngọc Tuấn, Phạm Quang Tuấn, vài người khác, trong đó theo ông Nguyễn Quang Duy ít nhất là một du học sinh từ VN, sau cùng không phải chống lại cuộc biều tình của cộng đồng người Việt ở Úc, mà chống lại chính cộng đồng người Việt ở Úc. Điều này thấy quá rõ trong dẫn chứng, lập luận của các ông.
Tôi nghỉ bài của bà Nguyễn Ánh Linh đủ để trả lời lại cho các ông (tiếc rằng không còn thấy trong Spectrum hôm nay), lý do tại sao CĐNV ở Úc đã biểu tình chống cuộc triển lãm Nam Bang. Để ý trong cuộc triển lãm bị biểu tình phản đối đó, không có các tác phẩm của các ông HNT, PQT…, ít ra là không nghe các ông nói tới. Họ không chống bài tham luận của ông HNT (chỉ hơi nghi ngờ bào tham luận của một người khác) . Coi như cuộc biểu tình hôm đó chẳng liên quan gì đến các ông, chỉ là giữa họ với ban tổ chức Nam Bang, má nếu trong các ông có ai là thành viên chắc chỉ là ông HNT thôi.
Tôi nghĩ:1/ Biểu tình phản ddối một cuộc triển lãm, chiếu phim… là chuyện thường ở xã hội tây phương, đến mức không cần cằt nghĩa tại sao trong một bài Góp Ý ngắn. Cuộc triển lãm hay chiếu phim thường vẫn tiếp tục, nếu không có ngăn trở, bạo động gì xảy ra. Ở đây đã vậy. Các ông có quyền thể hiện ý tưởng riêng qua nghệ thuật, thì họ có quyền bày tỏ ý tưởng riêng qua hành ddộng biểu tình.
2/ Việc các ông quay qua đả kích tổ chức, cả cá nhân, trong CĐNV ở Úc là không công bằng, vì cuộc biểu tình không nhắm vào tổ chức nào, cá nhân nào trong các ông (phỏng vấn đầu tiên có ý doạ kiện bà NAL).