talawas blog

Chuyên mục:

Chính trị và Nghệ thuật — Vài suy nghĩ quanh bài viết của Charlie Lynn

07/05/2009 | 2:00 chiều | 31 Comments

Tác giả: Hoàng Ngọc-Tuấn

Category: Chính trị - Xã hội, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: > >

Tôi đã đọc bài của Charlie Lynn[1] lần đầu tiên vào ngày 11/04/2009, trong một email do một người bạn của tôi chuyển lại sau khi email đó đã được phát tán rộng rãi trong cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Sydney. Bài của Charlie Lynn chỉ là một ý kiến phản hồi (feedback) về cuộc triển lãm NAM BANG! sau khi ông đến dự buổi lễ khai mạc. Thông thường, tôi không bao giờ phải mất thì giờ và tốn chữ cho một cái ý kiến kiểu như vậy, nhưng vì nó đã được lan truyền nhanh chóng, được một số nhân vật lãnh đạo cộng đồng người Việt tỵ nạn đem ra trích dẫn để giáo huấn đồng bào, và có thể sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại, nên hôm nay tôi đành phải viết ra những nhận định thẳng thắn về nó.

Trong bài viết này, mỗi khi trích bài feedback của Charlie Lynn, tôi sẽ trích từ chính bản dịch của ông Nguyễn Quang Duy,[2] người đã thấy bài viết của Charlie Lynn là “quá sâu sắc và chính đáng”, mặc dù sau đó, có lẽ ông phát hiện nó có điều sai quấy, nên ông lại cho nó là “mang đầy cảm tính cá nhân”. Riêng tôi, tôi thấy bài viết của Charlie Lynn là cả một sự dối trá.

I. Thái độ dối trá về những sự kiện chính trị và lịch sử

Điều nổi bật trong bài của Charlie Lynn là sự dối trá. Trước hết là sự dối trá về những sự kiện chính trị và lịch sử. Để kích động tâm lý oán thù của người Việt tỵ nạn ở Úc đối với Casula Powerhouse (nơi trưng bày loạt tranh 400 bức của Trevor Woodward châm biếm cựu thủ tướng John Howard), Lynn đã biến Howard trở thành một ân nhân của người Việt tỵ nạn tại Úc. Lynn viết:

Nếu không phải nhờ Malcom Fraser và John Howard thì đã không có cộng đồng người Việt tại Úc. Sẽ không có bất kỳ một ‘dư tàn’ nào từ các nghệ sĩ gốc Việt để trưng bầy. Tất cả những điều này không hề được nhắc tới trong cuộc triển lãm Nam Bang.

Với cái giọng trịch thượng hợm hĩnh của một của người da trắng ở vị trí ban ân bố đức, Lynn táo tợn ghép chung John Howard vào với thủ tướng Malcolm Fraser (vị thủ tướng đầu tiên đã quyết định mở cửa đón nhận thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn vào nước Úc năm 1977), với cái bằng chứng dối trá rằng “John Howard là một thành viên chính trong nội các chính phủ Fraser khi quyết định đó ra đời”.

Cái bằng chứng dối trá này của Lynn chỉ có thể đánh lừa những người Việt tỵ nạn hoàn toàn dốt đặc về những sự kiện chính trị và lịch sử của Úc từ năm 1977 đến nay. Sự thật là: John Howard đã chống lại quyết định của Fraser trong việc mở cửa nước Úc đón nhận người Việt tỵ nạn vào năm 1977.

Chính cựu Thủ tướng Malcolm Fraser đã công khai tố cáo bộ mặt thật của John Howard trước báo chí và công luận Úc vào ngày 01/01/2008. Fraser thuật lại rằng, sau cuộc họp nội các ngày 23/05/1977 để đưa ra quyết định đón nhận người Việt tỵ nạn, Howard (lúc ấy là Bộ trưởng Bộ Thương mại và Tiêu dùng) đã tiến đến gần ông trong một hành lang và nói: “We don’t want too many of these people. We’re doing this just for show, aren’t we?” (Chúng ta đâu có muốn nhận quá nhiều những người này. Chúng ta chỉ làm việc này để trình diễn thôi, phải vậy không?).[3]

Khi chính phủ Fraser (đảng Liberal) thoái trào, chính phủ Bob Hawk (đảng Labor) lên nắm chính quyền, thì chính sách đón nhận thuyền nhân vẫn tiếp tục được thực hiện. Thế nhưng, ngày 08/01/1988, lúc Howard làm thủ lãnh đảng Liberal (đối lập), ông lại tuyên bố trên radio trong một cuộc phỏng vấn về chính sách đa văn hoá, rằng nên “giảm bớt mức tiếp nhận di cư từ châu Á”. Lời tuyên bố mang màu sắc kỳ thị ấy của Howard đã gây ra sự chia rẽ trầm trọng trong nội bộ đảng Tự Do và là một vết chàm trong sự nghiệp chính trị của ông, khiến ông mất ghế thủ lãnh vào năm 1989.[4] Cho đến tháng 1/1995, khi ông muốn được trở lại vị trí thủ lãnh đảng Tự Do một lần nữa, thì ông mới chịu công khai thừa nhận rằng lời tuyên bố ấy là “wrong” (sai lầm). Tuy nhiên, sau khi đắc cử ghế Thủ tướng, trong suốt ba nhiệm kỳ liên tục, từ năm 1996 đến 2007, Howard lại ra tay thực hiện đến cùng cái “sai lầm” ấy. Ông đối xử với người tỵ nạn hết sức tồi tệ. Trong hàng ngàn trường hợp người tỵ nạn từ châu Á và Trung Đông bị chính phủ Howard giam giữ vô thời hạn trong các trại tù dành cho “asylum seekers”, có cả những trường hợp của người Việt Nam. Tôi xin nhắc lại ở đây chỉ một trường hợp:

– Tháng 7/2003, một chiếc ghe tên là Hào Kiệt, chở 53 người Việt Nam, sau khi lênh đênh trên biển hơn 2 tháng đã cặp vào đất liền của Úc, nhưng lập tức bị chính phủ Howard cho hải quân kéo thuyền ngược ra đảo Christmas, và bị nhốt vào trại giam ở đó. Mặc cho cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Úc cùng với những người Úc nhân đạo đã hết sức tranh đấu, chính phủ Howard vẫn giam cầm và đối xử rất tàn tệ với số người tỵ nạn ấy. Trong một cuộc phỏng vấn trên Đài Á Châu Tự Do vào năm 2005, ông Đoàn Việt Trung, Tổng thư ký CĐNVTD liên bang Úc, đã xác nhận rằng “Họ đối xử rất là dã man, rất là tệ hại. Cách đối xử của họ chẳng có giống một nước văn minh chút xíu nào cả… đối xử một cách dã man và vô lý.”[5] Sau 3 năm bị cầm tù, những người Việt tỵ nạn xấu số ấy thình lình bị chở ra sân bay, trả ngược về Việt Nam như những kẻ tội phạm. Ký giả Michelle Dimasi mô tả:

Trong những năm dưới chế độ Howard, thổ dân ở đảo Christmas thường không có một cơ hội để nói giã từ với những người tỵ nạn. Khi những người tỵ nạn của tàu Hào Kiệt rời khỏi đảo năm 2006, chẳng hạn, một chiếc xe bus đã chở họ thẳng đến sân bay. Giống như những kẻ tội phạm, họ lập tức bị đẩy lên máy bay.[6]

Điều kinh khủng là John Howard xem việc ngăn chặn thuyền nhân vào nước Úc là một thành tích đáng tự hào của ông. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình ABC ngày 30/8/2004, Howard khoe khoang: “Look, what I’m saying is that people remember of that period that I stopped the boats.” (Xem này, điều tôi đang nói là người ta sẽ nhớ về thời kỳ đó rằng tôi đã ngăn chặn những chiếc thuyền). Ông lặp đi lặp lại điều này trong cuộc phỏng vấn ấy.[7]

Trong suốt ba nhiệm kỳ thủ tướng của John Howard, chính sách tàn nhẫn của ông đối với thuyền nhân đã liên tục bị cựu thủ tướng Malcolm Fraser (trước kia chính là thủ lãnh của John Howard) và nhiều chính trị gia cùng đảng Liberal phản đối kịch liệt. Năm 2000, trong chương trình phát thanh của đài ABC mừng 25 năm định cư của người Việt tỵ nạn, ông Ian Mcphee (cựu Bộ trưởng Bộ Di trú, người đã đích thân thực hiện chính sách mở cửa đón nhận thuyền nhân từ năm 1977 của Malcolm Fraser) khẳng định rằng “the Howard Government stance on Asian immigration continues to offend the contributions of Vietnamese people in Australia” (quan điểm của chính phủ Howard về vấn đề di cư từ châu Á vẫn tiếp tục xúc phạm đến những cống hiến của người Việt Nam trên nước Úc).[8]

Thế mà Charlie Lynn lại lên giọng trịch thượng răn dạy cho người Việt tỵ nạn biết ơn John Howard! Ông viết:

Nếu không phải nhờ Malcom Fraser và John Howard thì đã không có cộng đồng người Việt tại Úc. Sẽ không có bất kỳ một ‘dư tàn’ nào từ các nghệ sĩ gốc Việt để trưng bầy. Tất cả những điều này không hề được nhắc tới trong cuộc triển lãm Nam Bang.

Người Việt tỵ nạn biết ơn thủ tướng Malcolm Fraser, nhưng không thể nào biết ơn Howard về thái độ tàn nhẫn công khai của ông đối với thuyền nhân. Càng ôn lại những hành động vô nhân đạo của Howard đối với thuyền nhân, thì chúng ta càng thấy rằng Charlie Lynn là một thứ chính trị gia bịp bợm và hỗn láo đối với người Việt tỵ nạn. Có lẽ ông đã khinh thường cái kiến thức lịch sử của chúng ta đến mức tột cùng, thì ông mới dám nói dối trá một cách trắng trợn như vậy. Nên nhớ rằng Charlie Lynn không phải là kẻ dốt nát về chính trị. ông là đảng viên kỳ cựu của đảng Liberal, và là thành viên của Legislative Council (Hội đồng Lập pháp thượng viện) của New South Wales từ năm 1995 cho đến nay.

Điều đáng kinh ngạc là bài feedback dối trá của Charlie Lynn đã được rất nhiều người Việt tỵ nạn hăm hở đón nhận, khen ngợi, dịch ra Việt ngữ (ít nhất đã có 3 bản dịch), và truyền bá cho nhau trên internet, qua email, và trên rất nhiều tờ nhật báo! Thế nhưng, cũng nên biết rằng: cho đến nay, bài feedback của Charlie Lynn chỉ được truyền bá trong cộng đồng người Việt tỵ nạn, nhưng không hề xuất hiện trên bất kỳ tờ báo hay website nào của Úc, kể cả website và blog của chính Charlie Lynn!

II. Chủ ý của Charlie Lynn

Tại sao Charlie Lynn tung ra bài feedback dối trá ấy trong cộng đồng người Việt tỵ nạn? Câu trả lời rất hiển nhiên: ông muốn kích động cho người Việt tỵ nạn giận dữ, và nhân đó ông mượn tay người Việt tỵ nạn để tấn công Casula Powerhouse, trả thù giùm cho ông, vì đó là nơi đã dám trưng bày một tác phẩm châm biếm lãnh tụ John Howard của ông. Tại sao Lynn phải dùng bàn tay của người Việt tỵ nạn? Bởi ông không thể thuyết phục người Úc tấn công Casula Powerhouse chỉ vì một tác phẩm châm biếm John Howard (người đã thất bại ê chề trước cử tri Úc); và vì, đồng thời, ông thấy trong ngày khai mạc NAM BANG! có đoàn người Việt tỵ nạn đang biểu tình phản đối ở trước cổng, ông nắm lấy ngay cơ hội.

Thử phân tích một chút, chúng ta sẽ thấy ngay chủ ý của Charlie Lynn. Bài feedback của ông khá ngắn, trong đó chỉ có bốn đoạn văn ở phần đầu bài là ra vẻ khách quan, để rồi sau đó, hơn nửa số chữ là để nói về John Howard, và số chữ còn lại là để kích động sự hận thù của người Việt tỵ nạn.

Trong câu kết luận của Lynn có 2 ý:

1/ Cuộc triển lãm này là môi trường cho “những kẻ ghét Howard”.

2/ Cuộc triển lãm này là môi trường cho “những kẻ thân cộng”.

Ý thứ nhất là ý chính của Charlie Lynn. Ý thứ hai là ý phụ, chỉ dành riêng để kích động sự hận thù của người Việt tỵ nạn.

Sau buổi khai mạc, Charlie Lynn về nhà và đăng ngay trên blog http://twitter.com/kokodatreks của ông những dòng chữ khá nhẹ nhàng sau đây:

* Veterans Affairs Minister Alan Griffin is shaping up to be the best we have ever had in the portfolio – great speech at Nam Bang exhibition. (Bộ trưởng Cựu chiến binh Alan Griffin đang trở thành vị bộ trưởng tốt nhất mà chúng ta từng có ở chức vụ ấy – bài diễn văn của ông rất hay ở cuộc triển lãm Nam Bang)

* Sean Gladwell’s portrayal of his father Mark, a Vietnam Veteran and old mate, at the Nam Bang exhibition is outstanding. (Bức chân dung do Sean Gladwell vẽ Mark, thân phụ của anh, một cựu chiến binh ở Việt Nam và là một người bạn cũ của tôi, ở cuộc triển lãm Nam Bang thì tuyệt đẹp)

* Nam Bang exhibition should have a Gough Whitlam/Jim Cairns betrayal wall to balance the bilious portrayal against John Howard. (Cuộc triển lãm Nam Bang nên có thêm một bức tường phê phán sự phản bội của Gough Whitlam/Jim Cairns để cân bằng với những bức hoạ biếm nhẽ chống lại John Howard)

* Anti John Howard bile seems out of place at the Nam Bang exhibition at Casula Powerhouse Museum. (Lời lẽ biếm nhẽ chống lại John Howard thì dường như bị lạc đề trong cuộc triển lãm)

Chỉ thế thôi. Ông không hề kết án Casula Powerhouse là “thân cộng” gì cả. Sau đó, Charlie Lynn đã tiếp xúc với báo Sydney Morning Herald, và bày tỏ sự tức giận của ông đối với tác phẩm biếm hoạ của Trevor Woodward. Thế nhưng tờ báo lớn nhất của nước Úc đã không chia sẻ với sự tức giận của ông. Trái lại, họ chế giễu cái lối thưởng thức nghệ thuật của Charlie Lynn. Số báo ra ngày 14/04/2009 có đăng một bài viết ngắn của Sean Nicholls và Emily Dunn dưới nhan đề “Going ape over Howard sketch”[9] (“Phát rồ vì bức vẽ Howard”):

Một cuộc triển lãm tại Casula Powerhouse ở Liverpool về những hậu quả của chiến tranh Việt Nam, được khai mạc bởi ông Bộ trưởng Bộ Cựu Chiến Binh, Alan Griffin, đã làm ông Charlie Lynn, cựu chiến binh kiêm đại biểu thượng viện bảo thủ của tiểu bang NSW, giận dữ, nhưng không phải vì những lý do mà quý vị có thể mong đợi. Cuộc triển lãm Nam Bang! trưng bày tác phẩm của nhiều nghệ sĩ, trong đó có Ray Beattie, Bruce Barber và một bức tranh hết sức bắt mắt của  Van Thanh Rudd, cháu trai của Thủ tướng Kevin Rudd, về một tên khủng bố bị nổ tung. Nhưng một loạt tranh châm biếm cựu thủ tướng John Howard lại gây nên “a fuss” (một cơn giận dữ không đáng có). Điểm chủ yếu là một bức tranh vẽ ông John Howard vừa đang đánh rắm vừa tuyên bố chính ông là “Vua của Loài Khỉ” dưới hàng chữ: “George W Bush cần một con khỉ, không có óc. Con khỉ sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ. George trả cho nó nhiều… tiếng tăm.”  Lynn, có mặt trong buổi khai mạc, đã bảo với trang The Diary rằng họa sĩ ấy thì “hiển nhiên là một kẻ ghét Howard” mà tác phẩm của anh ta thì “xúc phạm và gây phẫn nộ.” Phil Tolhurst, tổng giám đốc của Hội đồng Thành phố Liverpool, cơ quan chủ quản của viện bảo tàng, thì nói rằng hội đồng thành phố “sẽ không hạn chế sự tự do và quyền sáng tạo nghệ thuật.”

1/ Thái độ dối trá của Lynn đối với tác phẩm của Woodward

Khi tiếp xúc với báo Sydney Morning Herald, Lynn đã thuật lại chính xác những câu viết trên bức biếm hoạ của Trevor Woodward: “George W. Bush needed an ape, without a brain. An ape who would sell his soul to the devil himself. George paid him well … fame.” (George W Bush cần một con khỉ, không có óc. Con khỉ sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ. George trả cho nó nhiều… tiếng tăm.”) Nhưng trong bài feedback truyền bá trong cộng đồng người Việt tỵ nạn, Lynn lại bịa thêm vào đó câu “you miserable bastard selfish prick” (mày là cái thằng chó đẻ, mắc dịch, khốn kiếp), để làm cho bài viết dễ gây nóng máu hơn.

Cái đồ quỷ này dính dáng gì tới chiến tranh Việt Nam, tôi tự hỏi? Tôi biết cuộc triển lãm là về những dư tàn của cuộc chiến Việt Nam, nhưng chế giễu sự kiên quyết của ông John Howard vào cuộc chiến chống khủng bố tại Iraq và A Phú Hãn là chuyện quá lạc đề. “George W Bush cần một con vượn không óc. Con vượn sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ… mày là cái thằng chó đẻ, mắc dịch, khốn kiếp” đó là hàng chữ chú thích hình ông John Howard vừa đánh rắm vừa đánh đu từ một cành cây với một tay và tay kia cầm quả chuối. Và còn tệ hơn thế nữa.

Người nghệ sĩ này quả là khùng rồi. Người phụ trách triển lãm đã lầm khi cho kẻ này trưng bày cái túi mật thối của hắn như là ‘nghệ thuật’.

Câu mày là cái thằng chó đẻ, mắc dịch, khốn kiếp” hoàn toàn không có trong bức tranh ấy. Mời độc giả xem hình chụp dưới đây:

hnt1

Trong bài viết, ông giả vờ tự hỏi: Cái đồ quỷ này dính dáng gì tới chiến tranh Việt Nam?” Hỏi như thế là để gây hoang mang cho người Việt tỵ nạn về mục đích của cuộc triển lãm. Thế nhưng, sát ngay bên cạnh loạt tranh ấy có một bản dẫn giải, in chữ lớn, thì ông cố tình không nhắc tới trong bài viết.

Qua bản dẫn giải ấy, chúng ta có thể thấy Trevor Woodward muốn nhấn mạnh những nét sự tương đồng giữa cuộc chiến ở Iraq và cuộc chiến ở Việt Nam, đặc biệt trong thái độ tham chiến của các nhà lãnh đạo chính trị. Ông bắt đầu vẽ loạt tranh này năm 2002, từ lúc Howard bắt tay với Bush và Blair để tiến hành cuộc chiến ở Iraq với lý do giải trừ âm mưu sử dụng “weapons of mass destruction” của Saddam Hussein (mà cuối cùng thì lý do đó chỉ là một điều hoàn toàn dối trá!). Loạt tranh gồm hơn 700 bức, và ông đã chọn ra 400 bức để triển lãm tại NAM BANG! Để vẽ những bức tranh này, Woodward đã theo dõi các báo chí hàng ngày và mô phỏng lại lối trình bày vừa khôi hài (humorous) vừa phi lý (absurd) của báo chí đối với những lời tuyên bố và thái độ của John Howard trong các vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở Iraq. Woodward làm rõ lên cái cách luồn lách tinh vi của nhà chính trị: họ thực hiện các tham vọng của họ trong khi họ bước đi chênh vênh ở giữa sự khôi hài và sự phi lý.

Nhiều bức tranh trong loạt này đã từng được Trevor Woodward trưng bày lần đầu tiên trong cuộc triển lãm LOOKING FOR REMBRANDT tại Mundaring Arts Centre, Nam Úc, từ ngày 27/01 đến 26/02/2006. Ngày 14/12/2005, Trevor Woodward gửi bản sao của một loạt tranh biếm hoạ này đến Thủ tướng John Howard và mời ông Thủ tướng đích thân đến khai mạc cuộc triển lãm. Ngày 25/01/2006, ông Tony Nutt, Principal Private Secretary của John Howard, gửi thư cho Trevor Woodward, cho biết rằng họ đã nhận được những bức biếm hoạ ấy, nhưng Thủ tướng không thể đến để khai mạc cuộc triển lãm. Trong cuộc triển lãm NAM BANG!, bức thư của ông Tony Nutt cũng đã được trình bày ngay bên cạnh bản dẫn giải loạt tranh biếm hoạ của Trevor Woodward.

2/ Thái độ dối trá của Charlie Lynn đối với tác phẩm của Bruce Barber

Không thể mời gọi dư luận của xã hội Úc vào việc bênh vực Howard và trả thù Casula Powerhouse, vì đa số dân Úc đã quá chán ngán Howard (đến nỗi Howard mất cả ghế Thủ tướng lẫn ghế dân biểu địa phương trong cuộc bầu cử tháng 12/2007), Charlie Lynn xoay sang mượn tay của người Việt tỵ nạn.

Là một chính trị gia lõi đời, Charlie Lynn biết cách khích vào chỗ nóng của nhiều người Việt tỵ nạn. Trước hết, để kết tội là NAM BANG! là “thân cộng”, ông ngụy tạo ra một bằng chứng để cho rằng NAM BANG! chỉ tố cáo tội ác của Mỹ mà không tố cáo tội ác của Cộng Sản. Ông viết:

Một trưng bầy khác tả một người lính Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng ‘sỗ sàng’ như vậy ‘Hắn đi tới, xé toạc quần áo của người phụ nữ, lấy con dao cắt ngược lên âm đạo, đến tận vú, và moi hết ruột gan người phụ nữ ra khỏi bộ lòng và vứt đi. Rồi hắn còng người quỳ xuống và lột từng mảnh da ra khỏi thân hình người phụ nữ rồi bỏ cô nằm lại đó… như một dấu hiệu của một cái gì đó.’

Khoan đã nào,’ Tôi chợt nghĩ ra ‘Còn những tội ác mà Việt cộng hành lên người dân miền Nam thì sao?‘ Trong khi cái ác độc của Mỹ được phơi bầy trần trụi ra trong các cuộc điều tra về tội ác chiến tranh, thì phía cộng sản chỉ cần bắn chết hết những người lên tiếng. Đó là khác biệt căn bản giữa các xã hội cộng sản và dân chủ.

Những cái ác độc của cộng sản đã được sơn lấp, che giấu khỏi cuộc triển lãm. Nay tôi mới bắt đâu hiểu lý do của cuộc biểu tình ở ngoài.

Chính Charlie Lynn đã gian dối. Trước hết, chính ông che giấu đi những tác phẩm nói lên tội ác và hậu quả của tội ác của CSVN, như “Heaven Net”“Thuyền Cứu Rỗi” của Nerine Martini; tác phẩm điêu khắc “Hand” mà Lê Thừa Tiến đã thực hiện để tưởng niệm mẹ và em gái của ông bị chết trong vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế; tác phẩm video “Journey” của Mỹ Lệ Thi; tác phẩm video “More than Boat People: The Vietnam Migration Experience Through Women’s Eyes” của Pam Scott…

Kế đến, ông che giấu đi cái tên của tác phẩm và tác giả mà ông nói đến. Đó không phải là Một trưng bầy khác tả một người lính Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng ‘sỗ sàng’ như vậy…” Nhưng đó chính là tác phẩm bộ ba poster “Remembering Vietnam” của Bruce Barber.

hnt2

Trong đó, Bruce Barber phê phán tập đoàn United Technologies chỉ biết lạnh lùng thu lợi nhuận trong việc sản xuất và cung cấp vũ khí cho cuộc chiến ở Việt Nam, đồng thời ông nói đến thân phận người lính Mỹ trong cuộc chiến đó. Ông in lên 3 tấm posters những lời nói mô tả những mặt tốt/xấu của thân phận người lính Mỹ. Đoạn văn ngắn mà Charlie Lynn trích ra để kích động là một đoạn nằm ở dưới chân tấm poster thứ 3. Đó là lời tường thuật của một chiến binh Mỹ trong cuộc điều tra bạch hoá “Winter Soldier Investigation” tại Detroit, Michigan, từ ngày 31/01/1971 đến 02/02/1971. Sau đó, những lời khai đã được in thành cuốn sách Winter Soldier Investigation (nxb Beacon, Boston, 1972). Riêng lời khai này nằm ở trang 74.

Charlie Lynn đã cố tình gạt đi phần quan trọng nhất của bộ poster 3 tấm này. Đó là: cả 3 tấm đều có in đoạn văn sau đây như một mô-típ chủ đạo được tái lập liên tục:

Trong một ý nghĩa to lớn hơn, chúng ta đều là cựu chiến binh của Việt Nam. Những ai đã phục vụ tại Việt Nam đều xứng đáng được đối xử tốt hơn những gì họ đã nhận. Như một quốc gia, chúng ta đã luôn luôn cố gắng làm điều đúng đắn. Chúng ta hãy cố gắng làm điều đúng đắn cho người cựu chiến binh. Chúng ta hãy bắt đầu bằng sự tưởng nhớ. Được khắc ghi trên bức tường cẩm thạch ở Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam tại Buffalo, New York, là những dòng cảm tưởng mà chúng ta nên khắc ghi vào tim mình:

Họ đã đáp lời khi được kêu gọi;

Đã xin một ít và đã nhận ít hơn;

Và sự hy sinh của họ đã làm chúng ta giàu có hơn

Nhưng chúng ta nghèo hơn, lúc họ đã mất đi.

Trong khi tưởng niệm những người quá cố,

Chúng ta ôm lấy những người đang sống.

Bởi vì chúng ta nên nhớ

Nhiều hơn chúng ta vẫn nhớ.

Xin xem ảnh chụp đoạn văn nói trên in trong cả 3 tấm: hnt3

Đoạn văn được in ngay ở chính giữa cả 3 tấm poster của Bruce Barber. Thế nhưng, Charlie Lynn lại chỉ nhặt ra một lời khai của quân nhân Mỹ từ một góc của bức thứ ba, để rồi thổi phồng lên, xuyên tạc nội dung tác phẩm là tố cáo tội ác của Mỹ. Và từ đó, ông kết án luôn cả một cuộc triển lãm, và dùng lời kết án đó để kích động hận thù nơi cộng đồng người Việt tỵ nạn.

III.  Nghệ thuật và chính trị

Trước khi quyết định tham gia vào VIETNAM VOICES và NAM BANG! với tư cách một diễn giả, tôi đã biết rõ rằng nội dung của hai cuộc triển lãm ấy sẽ chủ yếu phản ảnh CÁC quan điểm của các cựu chiến binh Úc và Mỹ, và CÁC quan điểm ấy không nhất thiết tương đồng với CÁC quan điểm của người Việt tỵ nạn. Các cựu chiến binh Úc và Mỹ là đồng minh của chúng ta, là những ân nhân đã hy sinh xương máu để góp phần bảo vệ miền Nam Việt Nam. Thế nhưng, phần lớn họ có cảm giác chua chát về cuộc chiến ấy, vì nhiều lý do, và đặc biệt vì sau cuộc chiến, khi trở về nước, họ đã không được dân chúng Úc và Mỹ đón nhận một cách trân trọng, thậm chí có khi họ bị bạc đãi, và do đó họ thấy những sự hy sinh của họ trở thành vô nghĩa. Rất nhiều cựu chiến binh Úc và Mỹ đã mang tâm trạng cay đắng dài lâu, thậm chí nhiều người mang bệnh trầm cảm, nhiều người đâm ra chán chường, bê tha, nghiện ngập và vài người đã tự tử. Cũng có một số cựu chiến binh Úc và Mỹ đã trở thành những nghệ sĩ, những nhà văn, nhà thơ, và tất nhiên họ dùng tác phẩm của họ để bày tỏ những cảm xúc và những quan điểm của họ.

Chính vì tôi biết phần lớn nội dung của hai cuộc triển lãm sẽ biểu lộ tâm lý chán ghét chiến tranh, và tất nhiên ít nhiều sẽ có những ý tưởng không tương đồng với những quan điểm của người Việt tỵ nạn, nên tôi đã quyết định tham gia để nói lên tiếng nói của tôi, một nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn.

Trong hai cuộc triển lãm, có rất nhiều tác phẩm được trưng bày, và mỗi tác phẩm có thể được diễn dịch theo nhiều cách, qua nhiều quan điểm khác nhau, chứ không phải chỉ được hiểu dưới một con mắt độc quyền nào. Tác phẩm nghệ thuật thì khác với sản phẩm tuyên truyền chính trị. Và chính sự khác biệt này đòi hỏi người xem phải mở rộng cái nhìn và chấp nhận những thử thách trong quá trình diễn dịch. Hơn thế nữa, để tiếp cận nội dung một cách công bình và khách quan hơn, người xem còn phải được trang bị những kiến thức và những thông tin cần thiết về quá trình sáng tác.

Thử lấy một ví dụ. Tác phẩm “Memories of the American War: Stories from the other side” (Những ký ức của cuộc chiến tranh Mỹ: những câu chuyện từ phía bên kia) của William Short có thể bị một số người cho là ca ngợi CSVN, vì họ thấy trong đó có những bức ảnh chụp trong nhà và tại nơi làm việc của hai VC nằm vùng, hai thành viên của Mặt trận GPMN, và ba cán bộ CS miền Bắc; và họ thấy có hình một huy chương của CSVN in dấu hiệu cờ đỏ sao vàng, và hình chụp biểu ngữ “Mừng Chiến Thắng Ấp Bắc 1968″, v.v… Thế nhưng, trong con mắt của tôi, đó chỉ là một loạt nhiếp ảnh của một cựu chiến binh Mỹ từ “phía bên này” thử nhìn về “phía bên kia”. Cuối những năm 90, cựu chiến binh William Short đã trở lại Việt Nam để chụp hình và phỏng vấn một số người “phía bên kia” để xem ở “phía bên kia” bây giờ họ nói những gì, bây giờ họ ra sao; và ông đến trận địa cũ để chụp hình những vết tích còn sót lại, chẳng hạn, ông nhặt được một cái huy chương cũ của CSVN, ông thấy một quả mìn của Trung Cộng, những mảnh bom, một cái biểu ngữ mới trên vùng giao tranh ngày xưa , v.v… Nhà nhiếp ảnh chỉ trình bày những gì ông chụp được, và ghi lại những câu nói mà “phía bên kia” nói với ông. Ông không bình luận là đúng hay sai, là thật hay láo. Ông chỉ chụp và chép như một nghệ sĩ. Ông để cho khán giả tự suy nghĩ và xét đoán, bởi vì ông không làm công tác tuyên truyền, và ông tin vào SỰ THÔNG MINH của khán giả.

Đó chính là một trong những chỗ KHÓ và thú vị mà nghệ thuật mang đến cho khách thưởng lãm. Những nghệ sĩ sáng tạo tự do đúng nghĩa là những kẻ luôn mong đợi SỰ THÔNG MINH của khán giả, vì thế họ làm ra cái KHÓ, để thử thách khán giả, chứ họ không phải là những kẻ ráng làm ra những tác phẩm dễ dàng cho đại chúng.

Thế nhưng, các chế độ độc tài đều không chấp nhận những cái KHÓ trong nghệ thuật. Họ muốn nghệ thuật phải rõ ràng, dễ dàng, đơn giản như một là một, hai là hai. Chúng ta đều biết rằng cả Hitler và Stalin đều ghét nghệ thuật hiện đại và họ đã ra lệnh phá huỷ hàng trăm tác phẩm giá trị. Đối với cả phát-xít lẫn cộng sản, nghệ thuật chỉ được phép nói một giọng, theo một quan điểm, không được đa nghĩa, không được mang những ẩn dụ khó hiểu. Nếu có một chi tiết được xem là “có vấn đề”, thì tác phẩm bị cấm đoán hay phá huỷ ngay, và tác giả của nó bị nghi ngờ hay bị trừng phạt ngay.

Charlie Lynn là một chính trị gia sống trong nước Úc tự do và dân chủ, nhưng ông lại có một thái độ độc đoán và độc ác đối với nghệ thuật y như phát-xít và cộng sản. Trong bộ ba poster của Bruce Barber, ông Lynn chỉ cần vin vào một chi tiết, là có thể diễn dịch và kết án toàn bộ tác phẩm, bất chấp tất cả những chi tiết khác quan trọng hơn. Thế nhưng, điều đáng buồn là nhiều người Việt tỵ nạn, vốn luôn luôn tuyên bố là yêu tự do và tranh đấu cho tự do, lại dễ dàng tin theo ông Charlie Lynn, và thậm chí có lối hành xử chẳng khác gì Charlie Lynn. Chẳng hạn, như ông Nguyễn Mạnh Tiến đã xác nhận, nhiều người chỉ cần thấy trong chương trình hội thảo của NAM BANG! có bài tham luận “The Communist Party of Australia and Vietnam”, là họ nộ khí xung thiên ngay![10] Họ không cần biết bài tham luận ấy nói gì cả.

Những người nộ khí xung thiên chống đối hai cuộc triển lãm về cuộc chiến Việt Nam ấy đòi hỏi những gì? Họ đòi hỏi rằng những hình ảnh trong đó phải mô tả một cuộc chiến Việt Nam không có máy bay Mỹ thả bom, không có nạn nhân của chất độc màu da cam, không có những hành vi sai trái của những chiến binh Mỹ, không có những chiến binh mắc bệnh tâm thần, không có một ai phản đối chiến tranh. Họ đòi hỏi rằng những hình ảnh trong đó chỉ toàn mô tả những chiến thắng oanh liệt vẻ vang của QLVNCH và đồng minh. Họ đòi hỏi rằng những hình ảnh trong đó chỉ phô bày tội ác của CSVN trong chiến tranh và sau chiến tranh, nỗi đau đớn, ngục tù, và những thảm cảnh của hàng triệu người tỵ nạn liều chết bỏ nước ra đi.

Thế nhưng, không một tổ chức nghệ thuật nào của Úc và Mỹ mà có thể thực hiện được một cuộc triển lãm để thoả mãn những đòi hỏi như thế. Thứ nhất, họ không bao giờ tổ chức tuyên truyền một chiều. Thứ hai, họ muốn tạo cơ hội cho nhiều tiếng nói khác nhau từ mọi góc độ, và cố gắng làm sao bao gồm được mọi quan điểm khác nhau về cuộc chiến. Thứ ba, họ liên lạc với tất cả những nghệ sĩ có tên tuổi mà họ biết, gồm cả người Úc, Mỹ, Pháp,Việt (sống ở Úc và ở nhiều quốc gia khác, kể cả Việt Nam), để mời tham gia. Ai đồng ý tham gia thì gửi bản chụp tác phẩm cho họ để họ tuyển chọn. Tuy nhiên, vì biết người Việt tỵ nạn rất nhạy cảm và hay tổ chức biểu tình chống đối, nên họ không bao giờ tuyển chọn những tác phẩm trực tiếp khiêu khích đối với người Việt tỵ nạn, dù họ sẵn sàng chọn những tác phẩm trực tiếp khiêu khích đối với người da trắng. Cuối cùng, nếu có góc độ nào còn thiếu sót thì họ mới tìm cách bổ khuyết vào, bằng cách liên lạc với nơi này nơi kia để mượn thêm tác phẩm, mời thêm người thuyết trình. Chính vì thế, trước kia họ đã từng mời ông Nguyễn Mạnh Tiến thuyết trình về đề tài “The Vietnam War revisited” (Nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Nam). Họ cũng mượn ông Nguyễn Mạnh Tiến một số hình ảnh thuyền nhân để trưng bày, và họ đã chụp lại những hình ảnh ấy để tiếp tục trưng bày về sau. Họ cũng đã nhận những tác phẩm mang hình lá cờ VNCH từ bà Phạm Ánh Linh để tiếp tục trưng bày, v.v… Và năm nay, họ mượn tác phẩm “Thuyền Cứu Rỗi” của Nerine Martini từ sưu tập của ông Phạm Chí, và họ mời ông ấy viết một bài diễn tả kinh nghiệm và cảm tưởng của thuyền nhân tỵ nạn; họ mời cô Thảo Nguyễn thuyết trình về “Quan điểm của thế hệ sinh ra sau chiến tranh Việt Nam”; và họ mời tôi thuyết trình về nguyên nhân và kinh nghiệm của thảm trạng vượt biển, và về thực trạng CSVN xâm phạm tự do tư tưởng và diễn tả trong nghệ thuật.

Nếu họ không thể tìm ra một bức tranh nào vẽ những trại tù cải tạo, những sự hành hạ, giết chóc, tra tấn của CSVN đối với sĩ quan và công chức VNCH; không thể tìm ra một bức tranh nào về tội ác của CSVN trong vụ Tết Mậu Thân và vô số tội ác khác, thì họ phải làm gì? Họ không thể mướn hoạ sĩ vẽ những điều ấy, vì họ tin rằng tác phẩm phải sinh ra từ cảm hứng tự do chọn lựa của nghệ sĩ. Họ không thể tự tay vẽ ra, vì họ đâu phải là nghệ sĩ. Thế thì họ phải dẹp bỏ cả dự án triển lãm hay sao? Không, họ vẫn tiếp tục dự án của họ, họ điền khuyết vào đó bằng những bài tham luận của người Việt tỵ nạn, và họ tiếp tục hy vọng sẽ bổ sung dần dần khi nhận được thêm những tác phẩm mới. Bởi thế, chính cộng đồng người Việt tỵ nạn nên kêu gọi những nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn đóng góp vào những chỗ ấy.

Từ năm 1997 đến nay, các tổ chức trong cộng đồng người Việt tỵ nạn có đứng ra kêu gọi nghệ sĩ đóng góp vào những chỗ ấy hay không? Có lẽ không. Chỉ có vài nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn tự ý đóng góp, và phải chịu đựng những lời đe doạ, vu khống, chụp mũ. Những người lãnh đạo cộng đồng chỉ biết tổ chức những cuộc biểu tình phản đối, và đòi hỏi rằng Casula Powerhouse phải trưng bày những tác phẩm như thế, nếu không có để trưng bày, thì nên dẹp bỏ luôn tất cả những dự án triển lãm nghệ thuật về chiến tranh Việt Nam cho xong. Thử hỏi, ban giám đốc Casula Powerhouse sẽ làm được gì đối với những đòi hỏi như vậy? Họ không làm gì được cả. Họ không thể đẻ ra những tác phẩm như thế. Họ chỉ mong chờ sự đóng góp từ chính các nghệ sĩ Việt Nam tỵ nạn.

Một câu hỏi khác: liệu những người lãnh đạo cộng đồng hôm nay có thể kêu gọi các nghệ sĩ thực sự có tài năng trong cộng đồng chịu sáng tác những tác phẩm theo yêu cầu của họ để đem vào những cuộc triển lãm tương tự trong tương lai? Câu hỏi này tôi xin để cho họ tự trả lời.

Là một nghệ sĩ, tôi đã không thể sống nổi dưới chế độ độc tài của CSVN. Vì thế tôi đã liều chết, vượt biển ra đi, và sau rất nhiều lần thất bại và chịu đựng hơn 5 năm tù ở các trại Bình Đại, Bến Tre, Cam Ranh, Trần Phú (Nha Trang) và A.30 (Phú Yên), tôi đã đến Philippines năm 1983, rồi cuối năm ấy tôi sang Úc để đoàn tụ với ba và em trai tôi.

Ở Úc, tôi đã dành trọn vẹn cuộc sống của tôi cho nhiều lãnh vực nghệ thuật. Tôi cảm thấy hoàn toàn tự do trong bầu không khí nghệ thuật của Úc, nhưng mỗi khi tôi thực hiện một công trình gì có liên quan đến người Việt Nam, tôi lại cảm thấy ngột ngạt, khó thở, như phải đương đầu với một hệ thống kiểm duyệt của một chế độ độc tài. Hầu hết bạn bè của tôi là những nghệ sĩ người Việt tỵ nạn, trong đó có những người đã đạt được những thành tích đáng kể trong nền nghệ thuật Úc và quốc tế đương đại. Tuy nhiên, cũng như tôi, hầu hết họ đều mang cảm giác ngột ngạt, khó thở khi sinh hoạt trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. Trong cộng đồng này, họ luôn luôn phải đương đầu với nguy cơ bị nghi ngờ, xuyên tạc, chụp mũ, thoá mạ. Đó là lý do tại sao càng ngày họ càng xa lánh. Hậu quả thì rất hiển nhiên. Thử đưa ra một ví dụ rất cụ thể: sau hơn 30 năm định cư ở Úc, nếu bây giờ những người lãnh đạo cộng đồng muốn đứng ra tổ chức một cuộc triển lãm nghệ thuật có giá trị cao, thì họ khó lòng mà nhận được sự hợp tác của những nghệ sĩ người Việt có tài năng, tên tuổi và thành tích thật sự.

Đây là một sự thật. Một sự thật đau lòng. Tôi thẳng thắn nói ra đây để mọi người cùng suy nghĩ.

Tài liệu tham khảo và trích dẫn

[1] http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=6339

[2] http://www.talawas.org/?p=3140

[3] “Howard in war refugee snub: Fraser”, The Australian, January 01, 2008, http://www.theaustralian.news.com.au/story/0,25197,22993100-601,00.html

[4] Paul Kelly (1994). The End of Certainty: Power, Politics, and Business in Australia. Allen & Unwin. pp. 427-428.

[5] Phương Anh, “Câu chuyện của 53 thuyền nhân Việt Nam vượt biển đến Australia”, RFA, 29/03/2005, http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnamese_boatpeople_Australia_PAnh-20050329.html

[6] Michelle Dimasi, “Back to the mainland”, Inside Story, 18 March 2009, http://inside.org.au/back-to-the-mainland/

[7] Kerry O’Brien, “Costello and I are a team: Howard”, ABC, 30/08/2004, http://www.abc.net.au/7.30/content/2004/s1188409.htm

[8] “Vietnamese-Australian community celebrates 25 years”, The World Today Archive – Friday, ABC, 3 November , 2000, http://www.abc.net.au/worldtoday/stories/s207815.htm

[9] Sean Nicholls and Emily Dunn, “Going ape over Howard sketch”, The Sydney Morning Herald, April 14, 2009, http://www.smh.com.au/national/going-ape-over-howard-sketch-20090413-a4tf.html

[10] Nguyễn Mạnh Tiến, Cuộc triển lãm “Nam Bang!” và Cộng đồng Người Việt Tự do Úc châu, Talawas, 06/05/2009, http://www.talawas.org/?p=3902

© 2009 Hoàng Ngọc-Tuấn

© 2009 talawas blog

Bình luận

31 Comments (bài “Chính trị và Nghệ thuật — Vài suy nghĩ quanh bài viết của Charlie Lynn”)

  1. kim viết:

    Đỗ Thúc Sinh
    09/05/2009
    Cháu đã từng thích Chú qua bài phỏng vấn của VL 2351 thứ ba 14/04/09 thế nhưng sau khi đọc những phản hồi của độc giả trên báo VL và bài viết này của chú cháu bỗng thấy hoang mang không biết phải tin ai đây, tin chú là đúng hay tin CĐNVTD. Bởi vì bên nào cũng có lý của mình cả.
    Chú lên án ông Lynn giả dối, nhưng chú lại dùng kiến thức của mình để binh vực cho ông cựu chiến binh William Short trở lại VN để chụp hình và phỏng vấn “phía bên kia”…rồi đem những gì ông chụp được triển lãm mặc dù ông ta không bình luận gì nhưng thực tế là những bức hình đó đã khiến cho CSVN mừng hết lớn vì nó chì nói có một nửa khúc bánh mì thôi, còn nửa khúc kia là quân lực VNCH bị đày ải trong các trại tù cải từ Nam ra Bắc, có người bị chết ở nơi rừng núi,sao không thấy ông ta nói tới. Vậy thì đâu có công bằng, chú nói là “ông tin vào SỰ THÔNG MINH của khán giả, đó là chỗ KHÓ mà nghệ thuật mang đến cho khách thường lãm, họ làm ra cái khó dề thử thách khán giả, chứ không làm ra tác phẩm dễ dàng cho đại chúng”.Vậy thì khi cuộc triển lãm này mở ra nên ghi chú rõ là chỉ dành cho giới trí thức biết hội họa, nghệ thuật chứ không dành cho “dân ngu cu đen” như cháu đâu bởi vì cháu dại dột chỉ biết 1+1=2. Những bức hình nhưng thế nếu học sinh ở Úc đi coi, hay nhửng em bé VN sanh ra và lớn lên ở Úc sẽ nghĩ thế nào về VNCH, cháu nghĩ đây là lý do chính khiến CĐNVTD biểu tình. Là người của CĐ hay nghệ sỉ thì đều có mẫu số chung là”BOAT PEOPLE” cả chú Tuấn, không nên phân biệt.

  2. nguyen nguyenchi viết:

    Đúng là một trong những chất lượng [nên] cần có của một người được gọi là trí thức như ông LADũng viết “Nhiệm vụ của một trí thức thứ thiệt, không phải là sao chép những khuôn mẫu suy nghĩ, hành xử.”. Nhưng tôi hơi bị lấn cấn với mấy câu của ông LADũng, đó là:

    1. Không biết ông LADũng muốn đưa ra điều này tới ai trong đề mục “Vài suy nghĩ quanh bài viết của Charlie Lynn” này? Hay chỉ để nói chơi cho đã!

    2. Về chuyện ông muốn cá độ với ông Tuấn, thì tôi thấy: Hoặc là ông LADũng chưa hề biết gì về môi trường sinh hoạt sáng tác của người Úc mà đi đón mò xuyên qua lăng kính méo mó (và có phần hoang tưởng) của riêng ông, hoặc là tung ra hỏa mù lạc đề! Ông chịu khó tìm đọc về môi trường nghệ thuật của Úc đi nhé (có thể bắt đầu từ http://www.australiacouncil.gov.au/)

    Cũng may là ở Úc nghệ sĩ chỉ mới thấy ngột ngạt, khó thở với tổ chức CĐNV (tôi chưa bao giờ thêm chữ Tự Do cho tổ chức này kể từ 1981 tới nay, vì chỉ có họ mới được quyền tự do, còn những người Việt tỵ nạn khác bên ngoài tổ chức của họ thì còn lâu). Còn anh em nghệ sĩ (không là công cụ ttuyên truyền cho CSVN) thì họ vừa ngột ngạt, khó thở vừa lo sợ!

    Có khi nào cái tổ chức CĐNV ở Úc này sẽ “phấn đấu” áp dụng trò đe dọa của CSVN tại Úc để “bảo vệ chính nghĩa và quyền tự do cho người Việt tỵ nạn” hay không? Nếu họ muốn tôi có thể chỉ cho vài chiêu để áp dụng!

  3. Nguyên Khôi viết:

    Ông Lê Anh Dũng sa vào cái “Negative Proof” fallacy trong ý kiến của ông. Ông đi cá độ một chuyện không bao giờ xảy ra thì cá cái gì hỡi ông?

    Và từ cái fallacy này ông đi thẳng đến chỗ đánh giá “trí thức thứ thiệt” hay “trí thức thứ dỏm” hay sao?

    Nếu ông cho rằng “trí thức thứ thiệt” không nên “sao chép các khuôn mẫu suy nghĩ và hành xử” thì có lẽ hàng tỉ trí thức trên thế giới này toàn là trí thức dỏm cả vì không có ai mà không dựa vào và thừa hưởng những điều đã được nảy sinh và được công nhận trong lịch sử nhân loại cả.

    Tôi không tin việc móc một câu nhận định của tác giả nhằm gán cho kẻ ấy “trí thức dỏm” là điều khôn ngoan. Đặc biệt, nó được mào đầu bằng một fallacy.

  4. Lê Anh Dũng viết:

    Tôi cảm thấy hoàn toàn tự do trong bầu không khí nghệ thuật của Úc, nhưng mỗi khi tôi thực hiện một công trình gì có liên quan đến người Việt Nam, tôi lại cảm thấy ngột ngạt, khó thở”.

    Nếu Úc có hoàn cảnh lịch sử như Việt Nam, và ngược lại; thì tôi dám cá 100 ăn 1 với ông Tuấn, là sẽ có một anh Úc rên rỉ: “Tôi cảm thấy hoàn toàn tự do trong bầu không khí nghệ thuật của Việt Nam, nhưng mỗi khi tôi thực hiện một công trình gì có liên quan đến người Úc, tôi lại cảm thấy ngột ngạt, khó thở”.

    Nhiệm vụ của một trí thức thứ thiệt, không phải là sao chép những khuôn mẫu suy nghĩ, hành xử. Xin nhường lời.

  5. nguyen nguyenchi viết:

    Là một người tỵ nạn ở Sydney từ 1977 tới nay, không tham gia các hoạt động “chính quy” của CĐNV vì phải làm việc tứ xứ, nhưng vẫn thường xuyên theo dõi hoạt động của người Việt mình ở nước Úc, tôi cảm thấy vô cùng xót xa vì sự nông cạn, hàm hồ, ngụy biện và độc tài của những người lãnh đạo tổ chức CĐNV tại NSW xuyên qua các bài viết của Nguyễn Quang Duy và các thành viên khác của tổ chức này. CSVN nhất định có cơ hội cười cho thúi óc và hả hê vơ vét không phải lo gì hết vì chính tổ chức CĐNV này làm dùm cho họ việc cản trở những nhóm văn nghệ sĩ đang ngày đêm sáng tác và không ngừng cố gắng chống lại sự đàn áp trắng trợn của CSVN trong nước đối với anh em văn nghệ sĩ trong nước.

    Phải chăng đây là dấu hiệu rõ ràng nhất còn tồn lại chứng tỏ thất bại của một VNCH trước 1975? Hay là “chất lượng” xuất khẩu của CSVN sau 1975?

    Ráng tỉnh dậy và tự hỗ thẹn đi các ông/bà lãnh đạo CĐNV tại NSW ơi! Chứ không thì ngay cả cộng đồng người Úc sẽ khinh bỉ các ông/bà cho tới khi không còn đường chống đỡ nữa đó!

  6. Nguyên Khôi viết:

    Nhân chủ đề nói đến Charlie Lynn, John Howard và đảng Liberal ở Úc, thiết nghĩ tôi cũng nên đưa ra một ý kiến về “cái đẹp” của Howard mà Lynn đang bảo vệ.

    Cuối năm 2000, chuyển sang 2001, nền kinh tế Úc tuột dốc một cách trầm trọng. Howard lúc ấy gần như là xong con đường chính trường nhưng may thay, cái phao September 11 2001 đã cứu ông ấy. Howard và Liberal chộp ngay biến cố này để phát động “scared factor”, bóp méo và che đậy vụ Tampa, phát động chiến dịch “queue jumpers” để sỉ vả refugees nhằm kiếm phiếu. Bởi thế, cái ghế của Howard vẫn vững bởi vì dân Úc sợ những gì họ không nắm vững.

    Buồn thay, vô số người Việt (phải chăng) chỉ vì cái ơn Fraser (của Liberal) năm nào mà vẫn tiếp tục ủng hộ Howard không cần suy xét. Thậm chí có những tin tức và bình luận ủng hộ việc Howard làm. Xét cho kỹ, đây là hành động “qua sông rút cầu” một cách tàn nhẫn đối với làn sóng refugee của đầu thế kỷ 21 tại Úc.

    Tại sao Howard rớt ghế? Tại sao Liberal thua đậm trong cuộc bầu cử 2007? Hãy đọc thêm báo chí của Úc để rõ hơn và có cái nhìn chính xác hơn về chính trường Úc Đại Lợi để từ đó cẩn thận hơn với những trường hợp như Charlie Lynn.

  7. Nguyên Khôi viết:

    Ông Hoà Nguyễn phát biểu rằng: cuộc biểu tình của người Việt ở Úc là “để phản đối điều cho là xúc phạm đến tình cảm riêng, nỗi đau riêng, sao lại cứ bị đả kích dai dẳng thế.”

    Hoá ra cuộc biểu tình ấy không phải đấu tranh bài trừ văn hoá cộng sản sao? Tôi cứ ngỡ là những cuộc biểu tình của người Việt ở Úc trong những năm gần đây là nhằm tẩy chay văn hoá vận của cộng sản. Hoá ra không phải thế.

    Tôi cứ ngỡ những cuộc hô hào chống cộng của cộng đồng người Việt tự do ở Úc và ở hải ngoại trong nhiều năm qua là để chống chế độ độc tài, phi dân chủ, chống những hành vi bóp nghẹt tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo. Hoá ra chỉ để phục vụ cho việc phản đối những “xúc phạm” đến “tình cảm riêng”“nỗi đau riêng”. Tiếc thật.

  8. Phạm Quang Tuấn viết:

    Không phải giản dị là chuyện biểu tình như ông N Hòa tưởng, mà là một quá khứ lâu dài của CĐNVTD và đồng minh của họ là báo Saigon Times tấn công và làm áp lực vào nghệ sĩ (và nhưng người khác) bằng mọi cách, để ép đi theo đường lối hẹp hòi của họ: chụp mũ VC trên báo hay bằng rỉ tai, làm áp lực lên gia đình (cha mẹ, vợ chồng) để lợi dụng tình yêu gia đình và óc dĩ hòa vi quí của người Việt, đòi nghệ sĩ sửa đổi hay rút bỏ tác phẩm, viết thư hay email riêng kêu gọi tẩy chay các hoạt động của văn nghệ sĩ trái ý họ, v.v. Dĩ nhiên, những nghệ sĩ chân chính thì luôn luôn trọng cái tự do suy nghĩ phát biểu của họ.

    CĐNVTD hoang tưởng rằng họ có thể ảnh hưởng sinh hoạt nghệ thuật chính dòng của Úc, trong khi họ còn không hiểu nổi những nghệ sĩ gốc Việt trong cộng đồng (không chữ hoa). Họ muốn nghệ sĩ phải sáng tác theo ý của họ, theo đường lối của họ, luôn luôn rõ ràng về ý thức hệ, huỵch toẹt về cách diễn tả, không mập mờ lập dị (xem bài của bà Phạm Ánh Linh, phó chủ tịch kiêm đặc trách Văn Hóa của CDDNVTD, http://vietluanonline.com/050509/phongvanphamanhlinh.html: “chống HCM thì phải gạch mặt chéo”), nói tóm lại thái độ của họ về VHNT như là một cái gương phản chiếu 180 độ của CSVN. Làm sao mà nghệ sĩ có thể làm việc với họ được?

  9. Chau Nguyen viết:

    “Sau 3 năm bị cầm tù, những người Việt tỵ nạn xấu số ấy thình lình bị chở ra sân bay, trả ngược về Việt Nam như những tội phạm…”

    Ông Hoàng Ngọc-Tuấn đã cho biết như vậy trong bài viết của ông. Theo chổ tôi được biết thì toàn bộ 53 thuyền nhân VN đến Úc trên tàu Hào Kiệt vào tháng 7/2003 đã được cho định cư tại Úc. Không một ai trong số họ bị trả về VN, kể cả hai người là thuyền trưởng To Van Tran và ông Van Hoa Nguyen. Ông To từng bị kết án 5 năm tù vì tội tiếp tay đưa 53 người VN trên chiếc tàu Hào Kiệt cặp vào bờ biển Tây Úc. Ông Van Hoa Nguyen ngụ tại Melbourne, Victoria, bị coi là chủ mưu trở về VN tổ chức chuyến đi cho tàu Hào Kiệt. Ông bị kết án 5 năm tù nhưng vào tháng 12/2004 tòa kháng cáo đã hủy bỏ bản án nầy.

    Tôi thiển nghĩ, trong một bài viết tranh luận, những dẫn chứng đưa ra cần phải chính xác. Ông Hoàng Ngọc-Tuấn đã thiếu chính xác khi đề cập đến vụ thuyền nhân VN trên tàu Hào Kiệt. Điều nầy cho thấy có lẽ ông Tuấn ít quan tâm đến chuyện của cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Úc châu!

    Được biết Úc là một trong ba quốc gia đã thu nhận người tỵ nạn VN nhiều nhất trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ và Canada. Cho dù đảng nào cầm quyền, Lao động hay Tự do, thì nước Úc vẫn được xem là một quốc gia có nhiều lòng bao dung, nhân đạo đối với người tỵ nạn trên thế giới. Đôi lúc chính sách di trú có thể khắt khe cũng là vì vấn đề an ninh lãnh hải , như trường hợp bọn buôn người tầm trú ỏ Nam Dương đã nhiều lần tổ chức đưa ồ ạt người Iraq , A phú Hãn nhập cư lậu vào Úc.

  10. Phùng Nguyễn viết:

    Trích Hoàng Ngọc-Tuấn:

    Tôi cảm thấy hoàn toàn tự do trong bầu không khí nghệ thuật của Úc, nhưng mỗi khi tôi thực hiện một công trình gì có liên quan đến người Việt Nam, tôi lại cảm thấy ngột ngạt, khó thở, như phải đương đầu với một hệ thống kiểm duyệt của một chế độ độc tài. Hầu hết bạn bè của tôi là những nghệ sĩ người Việt tỵ nạn, trong đó có những người đã đạt được những thành tích đáng kể trong nền nghệ thuật Úc và quốc tế đương đại. Tuy nhiên, cũng như tôi, hầu hết họ đều mang cảm giác ngột ngạt, khó thở khi sinh hoạt trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. Trong cộng đồng này, họ luôn luôn phải đương đầu với nguy cơ bị nghi ngờ, xuyên tạc, chụp mũ, thoá mạ.

    Đây là một sự thật. Một sự thật đau lòng. Tôi thẳng thắn nói ra đây để mọi người cùng suy nghĩ.

    Cám ơn HN-T đã nói ra.

    PN

  11. dahieu viết:

    Hơn mười năm về trước, người Việt hải ngoại nào về VN thường bị xem là kẻ phản bội, nhưng nay Việt kiều về VN được xem như… bình thường. Rất cảm thông với “một sự thật đau lòng” của ông Tuấn. Chẳng qua chỉ vì ông Tuấn đã đi trước thời gian như phim “Back to The Future”. Trong một cảnh diễn nói về một người trẻ đã trở về thời gian quá khứ chơi nhạc rock and roll trước đám học sinh của thời quá khứ. Tất cả học sinh đứng “chết trân” với điệu rock & roll mới lạ kia. Anh chàng tài tử nhỏ con, Marty McFly (Michael J. Fox), chơi nhạc bèn nói với đám đông: “Đây là loại nhạc mà cháu của các bạn thích lắm!”

  12. Hoà Nguyễn viết:

    Chuyện người Việt ở Úc biểu tình là rất tự nhiên, rất bình thường nhưng sao lại làm ồn thái quá. Thử nghĩ nếu có cuộc triển lãm xúc phạm đến cộng đồng Do Thái ở Úc thì sao. Tôi nhớ khi Mỹ sắp đánh Iraq có những cuộc biểu tình chống đối lớn ở Úc, và qua báo chí, tôi biết trong đó có cộng đồng Iraq, Á rập, và Hồi. Không biết một nhóm phụ nữ nước nào đã cởi truồng khi biểu tình để gây ấn tượng mạnh cho ý tưởng, hành động phản chiến của họ, và cả thế giới lúc đó đều nghĩ là hình thức biểu tình quyết liệt nhất (và có vẻ chấp nhận thế).
    Cuộc biểu tình của người Việt ở Úc thấy “văn hoá” hơn (là theo ý nghĩ của người Việt), ôn hoà hơn, để phản đối điều cho là xúc phạm đến tình cảm riêng, nỗi đau riêng, sao lại cứ bị đả kích dai dẳng thế.

  13. Le Thuy Ha viết:

    Theo tôi biết thì hồi đó Bộ Di trú Úc của chế độ Howard khăng khăng đòi trả thuyền nhân tàu Hào Kiệt về VN. Nhiều cơ quan nhân đạo phải vất vả quyên tiền thuê luật sư kiện tới kiện lui nhiều lần rất căng thẳng. Cuối cùng thì nhờ thắng kiện từng đợt nên chế độ Howard mới cho từng nhóm thuyền nhân hưởng quy chế tỵ nạn dần dần từng đợt. Nhưng theo quy định của chế độ Howard thì những người được quy chế tỵ nạn được cho visa 3 năm. Sau đó, nếu chính quyền Úc tin rằng VN không còn là nơi nguy hiểm cho họ, thì có thể sẽ trả họ về VN.

    Bây giờ thì tình trạng những người ấy chắc là an tâm không sợ bị trả về vì chế độ ông Rudd đã thay đổi chính sách khắc nghiệt của Howard đối với thuyền nhân, dẹp bỏ các trại tù, cho định cư hàng loạt.

  14. Tuan Nguyen viết:

    Chưa đi xem triển lãm ở Casula Powerhouse nên không biết họ có thù hằn gì cựu Thủ tướng Úc John Howard hay không, nhưng đọc qua bài viết của Ông Hoàng Ngọc-Tuấn thì biết ông thuộc loại John Howard hatter.

    Sau 3 năm bị cầm tù, những người Việt tỵ nạn xấu số ấy thình lình bị chở ra sân bay, trả ngược về Việt Nam như những kẻ tội phạm. Ký giả Michelle Dimasi mô tả: Trong những năm dưới chế độ Howard, thổ dân ở đảo Christmas thường không có một cơ hội để nói giã từ với những người tỵ nạn. Khi những người tỵ nạn của tàu Hào Kiệt rời khỏi đảo năm 2006, chẳng hạn, một chiếc xe bus đã chở họ thẳng đến sân bay. Giống như những kẻ tội phạm, họ lập tức bị đẩy lên máy bay.”

    Tất cả 53 thuyền nhân tàu Hào Kiệt, không có ai bị trả về Việt Nam. Muốn biết thì nghe ở đây : http://media.sbs.com.au/audio/vietnamese-090427-d63.mp3

    Bài báo của ký giả Michelle Dimasi tường thuật cảnh thuyền nhân tàu Hào Kiệt rời đảo Christmas để vô đất liền chứ không phải bị cưỡng bức hồi hương.

  15. Nguyên Khôi viết:

    Đọc xong bài “Vài suy nghĩ quanh bài viết của Charlie Lynn” của ông Hoàng Ngọc-Tuấn, tôi hình dung ra hình ảnh một ông “Tây” da trắng, cao to “phán” rằng: “Cuộc triển lãm Nam Bang là một cuộc triển lãm của những kẻ thân cộng”. Thế rồi, lời ông “phán” vững chắc đến độ cả khối người hoan hỉ và cảm thán; không ít người tranh nhau dịch ra và ca cẩm những lời “phán” ấy. Ngay cả những chức sắc “chăm lo” vấn đề văn hoá của cộng động cũng không hề ngần ngại “quote” lời ông “Tây” nọ.

    Những kẻ bàng quan không buồn kiểm chứng những điều ông “Tây” kia “phán” đã đành, những kẻ tự nhận là đại diện của một cộng đồng cũng như vậy hay sao? Nhưng mà, cần gì kiểm chứng? Tự dưng có một ông “Tây” làm đồng minh chống cộng thì… chắc ăn lắm rồi.

    Charlie Lynn đã sử dụng một cách khéo léo và hữu hiệu “Cộng đồng người Việt Tự do Úc Châu” để trả đũa cho nỗi bức xúc vì Howard bị biến thành vật thể của loạt tranh biếm hoạ (trên báo chí Úc, Lynn chưa hề hé ra một mảnh chống cộng nào) bởi vì Lynn thừa biết ông ta chẳng mảy may có cơ hội với báo chí Úc về việc bảo vệ Howard và việc một “Nam Bang” nào đó thân cộng.

    Ngẫm nghĩ mà tự hỏi:

    Thứ văn hoá làng xã vẫn còn đậm đặc sau 34 năm hít thở không khí trời… Tây?

    Sự ngây thơ và cả tin không chỉ dành riêng cho những đứa trẻ mới lớn mà cho cả những chức sắc của một cộng đồng?

    Mặc cảm nhược tiểu vẫn là nỗi ám ảnh to lớn của những con người nhìn thấy chữ “equal opportunity” hàng triệu lần suốt 1/3 thế kỷ?

    Ước gì những thứ ấy chỉ là giả định.

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>