talawas blog

Chuyên mục:

Khuất Đẩu – Mỵ Châu ơi, Mỵ Châu!

16/10/2010 | 9:28 chiều | 53 Comments

Tác giả: Khuất Đẩu

Category: Tạp văn

Ngựa trắng nằm phơi thân trên mỏm đá xanh
Ngựa hồng lang thang vào bão cát
Mây nổi bọt đầy trời
Mỵ Châu ôi Mỵ Châu!

Biển đau quặn sóng xô gầm vỡ đá!

Ðỗ Quý Toàn

Những chiếc lông ngỗng từ tay Mỵ Châu còn bay lang thang suốt chiều dài mấy ngàn năm lịch sử. Màu trắng lạnh lẽo tương phản màu đỏ nóng bỏng vọt ra từ chiếc cổ thanh tân.

Những giọt máu của nàng cũng đã mấy ngàn năm không tan theo bọt sóng, mà hóa thân thành những hạt ngọc trong lòng những con trai biển.

Mây nổi bọt đầy trời và biển đau quặn sóng.

Đất trời rung động vì đây là một cái án oan thiên cổ.

Chiều Cổ Loa! Hàng ngàn cái trống đồng muốn vỡ toang vì reo mừng thắng trận. Quân Triệu Đà nằm chết chồng chất dưới mặt thành.

Nhưng chỉ ít lâu sau, cũng tại kinh thành này, một đám cưới vương giả mà tân lang chính là con trai của Triệu Đà!

Đang mưu bá đồ vương bỗng kết thông gia thân thiện.

Đang lưu manh xỏ lá bỗng quân tử chính nhân!

Triệu Đà.

Và một người đang tỉnh táo bỗng chốc hóa ra mê muội!

Một người đã xây nên thành Cổ Loa bỗng dưng mở cửa thành đón giặc!

An Dương Vương!

Thành Cổ Loa cũng như thành Đồ Bàn, nay chỉ còn là một bờ đất. Nhưng cái kỳ công hình trôn ốc ấy chính là một ý tưởng quân sự độc đáo có một không hai trong lịch sử cổ kim. Không bốn cửa đông, tây, nam, bắc. Chỉ duy nhất có một ngõ vào mà không lối ra. Như nước xoáy, như gió trốt, như vòi rồng. Chỉ một thành mà hóa ra nhiều lũy. Leo vào thành là rơi vào tử địa. Triệu Đà đánh mãi không được là vì cái kỳ thành còn hơn bát quái trận đồ ấy chứ không phải vì cái nỏ thần.

Cho nên, mới đưa con ong tay áo Trọng Thỉ vào thành ở rể. Và con ong ấy chẳng những đã tỏ đường đi lối về với Mỵ Châu ngà ngọc, mà còn tỏ cả đường về lối đi trong thành Cổ Loa. Có cần gì phải thay một cái lẫy nỏ giả. Nói theo kiểu bây giờ, đó chỉ là cách tạo hiện trường giả để đổ lỗi cho Mỵ Châu mà thôi. Lỗi lớn nhất chính là An Dương Vương đã không nhận ra tâm địa lươn lẹo của cha con Triệu Đà. Và vị thần Kim Qui hộ mệnh của ông cũng mù tịt trước dã tâm đen tối nọ.

Nước đã mất ngay từ lúc hôn lễ cử hành.

Cha đã giết con ngay từ khi gả con cho quân lừa lọc.

Cần gì phải chạy tới chân núi Mộ Dạ. Lưỡi gươm oan nghiệt ấy lẽ ra phải được chính ông tự cắt đầu mình như Hạng Võ trên bến Ô giang. Ánh thép long lanh ấy tiếc thay không sáng được trong ý thức lỗi lầm của ông. Và ông lại mang thêm một cái tội lớn trong trời đất là giết con gái một lần nữa bằng lưỡi gươm oan nghiệt của mình!

Nước Văn Lang của 18 đời vua Hùng đã mất vào tay ông. Rồi chính vì ỷ lại vào vị thần hộ mệnh của mình và vì thiếu sáng suốt, thiếu cảnh giác, ông đã để nước mất vào tay Triệu Đà. Vậy thì ông có công trạng gì mà được thờ phụng ở đền Con Cuông (Nghệ An) và được đặt tên đường tên phố?!

Mỵ Châu ơi! Bao nhiêu tội lỗi đều trút lên đầu nàng!

Tội thứ nhất là đem cái nỏ thần cho Trọng Thỉ xem để hắn có dịp tráo lẫy nỏ giả. Hắn là sư phụ của bọn làm đồ dỏm. Và vì đồ dỏm nên nỏ thần cũng hết linh. Ở đây, ta lại thấy cái sơ suất chết người của An Dương Vương. Nỏ thần bắn một phát làm chết hàng vạn người, đâu có phải là súng bắn nước của trẻ con mà để cho ai xem cũng được. Cái sức mạnh vạn năng là bí mật của quốc gia, cũng như bom nguyên tử ngày nay phải được giữ gìn hết sức cẩn mật. Dù có yêu chiều con gái đến đâu, cũng không có một vị vua nào hay một vị nguyên thủ quốc gia nào, lại hớ hênh buông tuồng như thế!

Tội thứ hai là rắc lông ngỗng dẫn đường cho giặc đuổi bắt phụ vương. Đọc sử đến đây nhiều người phải khóc thét lên rằng ngu ơi là ngu! Một nhà thơ hậu bối đã mỉa mai: trái tim lầm chỗ để trên đầu!

Tôi không tin như vậy. Tôi chỉ tin một điều nàng quá yêu chồng. Mà yêu chồng thì có tội tình gì? Vì yêu nên tin. Vì tin nên nghe theo. Vì nghe theo nên rắc lông ngỗng cho chồng biết đường mà tìm. Nàng ngây thơ quá chứ không phải quá ngây ngô. Nàng yêu chồng cũng như trẻ con yêu con gấu nhồi bông. Chúng làm sao tin được rằng con gấu thực cho dù ở trong sở thú cũng rất hung dữ đáng sợ. Nàng làm sao tin chàng là giặc trong khi chính cha nàng cũng tưởng chàng là một hoàng tử đáng yêu! Vậy nên khi cha đưa nàng lên ngựa chạy trốn, nàng chỉ nghĩ duy nhất một điều là làm sao để chàng tìm được nàng. Trong khi cha già đã 70 tuổi rạp mình trên lưng ngựa thì nàng vẫn ngoái đầu ra sau và vẫn không ngừng bứt lông ngỗng thả xuống trong cát bụi mịt mù.

Hành động ấy làm ngứa gan các nhà viết sử cho dù là huyền sử và chính họ đặt vào miệng thần Kim Qui bảo nàng là giặc. Không một chút nghi ngờ, không một chút xót xa, An Dương Vương vẫn còn đủ sức vung gươm lên như một ánh chớp và chỉ một nhát thôi đã chém đứt đầu nàng. Nếu là phim quay chậm, ta sẽ được thấy như thế này: đầu nàng tuy rời khỏi cổ nhưng vẫn còn bay theo nàng, trong khi nàng một tay ôm ngang hông cha, một tay vẫn còn nắm một chiếc lông ngỗng chưa kịp thả xuống mặt đường.

Nàng chết quá nhanh, nhanh đến nỗi nàng chưa biết là mình đã chết, không kịp hiểu ai đã giết mình và vì sao mình bị giết. Oan nghiệt là chỗ đó, tức tưởi là chỗ đó. Nên chi xương thịt nàng đã hòa tan cùng cát bụi nhưng những giọt máu của nàng vẫn không tan được. Những giọt máu đã thành ngọc nhưng là những viên ngọc tối xám u buồn. Mãi đến khi được rửa bằng nước giếng Trọng Thỉ thì ngọc mới chói sáng xinh đẹp. Đó cũng chính là những hạt lệ ăn năn để lại cho đời.

Hai cha con biết được sự tình thì cũng đã muộn rồi.

Kính thưa Mỵ Châu, kẻ hậu sinh chẳng biết gọi người bằng cụ kỵ đến bao nhiêu đời, nhưng vì cái chết kỳ lạ gây xót thương tấm tức đến tận ngàn sau, nên người vẫn mãi mãi là nàng công chúa trong trắng thơ ngây, có số phận nghiệt ngã nhất trong số những nàng công chúa xinh đẹp của cuộc đời. Bài viết này cho dù không giải được cái oan cho nàng thì cũng mong được nghe những tiếng thở dài đồng cảm.

© 2010 Khuất Đẩu

© 2010 talawas

Bình luận

53 Comments (bài “Khuất Đẩu – Mỵ Châu ơi, Mỵ Châu!”)

  1. Nguyễn Đăng Thường viết:

    BÃI CÁT & BÃO CÁT

    Rất tiếc, bài chủ đã được bổ sung nhưng vẫn còn một lỗi (BÃI CÁT) thay vì BÃO CÁT (nguyên tác), khiến câu thơ và cả bài thơ bị lệch nghĩa và kém hay.

    Tôi thích bài thơ này vì theo tôi nó có nhiều hình ảnh “siêu thực” như “mây nổi bọt ” để đối xứng với “biển đau quặn” và “bão cát”, mặc dù có một hình ảnh nhân cách hóa không thích hợp với ngựa là “nằm phơi thân”. Bởi lẽ ngựa mà “nằm xuống” ắt sẽ khó “đứng lên”.

    Nhà thơ Ðỗ Quý Toàn đã “hơi bị” ngạc nhiên vì sự thích thú này. Có thể coi “Mỵ Châu” như một bài thơ do tôi “phát hiện” vì ít người để ý tới, vì ngoài tôi ra không thấy ai (?) trích dẫn.

    Khi ra hải ngoại lúc cộng tác với tờ Nhịp Cầu ở Ðức (Ðoàn Minh Phượng chủ bút) tôi đã chép một chùm thơ ngắn tôi thích gởi cho NC – vì lúc đó rất thiếu tác phẩm, tài liệu tiếng Việt – gồm ba tác giả (nếu tôi nhớ không sai) là Thanh Tâm Tuyền (?), Tô Thùy Yên (“Tội nghiệp”, “Cảm giác”, “Hú tim”, “Bọt nước”) và Ðỗ Quý Toàn (“Mỵ Châu”).

    Nếu ông Khuất Ðấu vui lòng cho biết đã đọc “dị bản” ở đâu thì hay lắm.

    Ngựa hồng lang thang vào BÃO CÁT (sa mạc) tất nhiên phải đẹp hơn vào BÃI CÁT.

    Thân ái.

  2. Dương Danh Huy viết:

    Bác KLA,

    Tôi không nói mà cũng không muốn người khác nghĩ lầm là tôi rành sử.

    Nhưng khi bác nói quân Minh “không hề mạnh” thì điều đó gây cho tôi ấn tượng là bác nói từ thành kiến hơn là lịch sử.

    Những chuyện như có 2 cuộc xâm lăng, cuộc thứ nhì có 215,000 quân là từ sách tôi đã nói tới. Sách đó cũng nói về sự chuẩn bị và các trận đánh của phe Hồ.

    Đọc lại cũng thấy vài chi tiết lý thú:

    _Khi TQ đánh lần thứ nhì thì họ cũng cho HQL cơ hội xin lỗi và bồi thưo=`ng với mức tương đương họ đòi, nhưng HQL không chịu.

    _Mạc Thúy, (hình như là hậu duệ Mạc Đĩnh Chi) dẫn quân Minh bào Nghệ Án bắt đám HQL.

  3. Lê Thị Thấm Vân viết:

    Lời toà soạn:
    “Mỵ Châu” là một chương trong tiểu thuyết Âm Vọng của Lê Thị Thấm Vân (California: Anh Thư, 2003). Trong bản in trên giấy, chương này được xếp sau chương “Tiên Dung” và trước các chương “Âu Cơ” và “Man Nương”, nhưng, theo tác giả, cuốn tiểu thuyết có thể được đọc bằng cách bắt đầu từ bất kỳ chương nào, theo bất kỳ thứ tự nào. Chúng tôi xin giới thiệu chương này thành 6 kỳ.

    TRUYỆN RÙA VÀNG [1]

    An Dương Vương nước Âu lạc là người Bá Thục, họ Thục tên Phán. Nhân vì tổ phụ ngày trước cầu hôn lấy Mỵ Nương là con gái Hùng Vương, Hùng Vương không gả cho, bèn mang oán. Phán muốn hoàn thành chí người trước, cử binh đi đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang, cải tên nước là Âu Lạc, rồi lên làm vua, xây thành ở đất Việt Thường, hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy. Vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần. Ngày mồng 7 tháng 3 bỗng thấy một cụ già từ phương Đông tới trước cửa thành mà than rằng: “Xây dựng thành này biết bao giờ cho xong!” Vua mừng rỡ đón vào trong điện, thi lễ, hỏi rằng: “Ta đắp thành này đã nhiều lần băng lở, tốn nhiều công sức mà không thành, thế là cớ làm sao?” Cụ già đáp: “Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng mới thành công,” nói xong từ biệt ra về. Hôm sau vua ra cửa đông chờ đợi chợt thấy một con rùa vàng từ phương đông lại, nổi trên mặt nước, nói sõi tiếng người, tự xưng là sứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỉ thần. Vua mừng rỡ nói: “Điều đó chính cụ già đã báo cho ta biết trước.” Bèn rước vào trong thành mời ngồi trên điện, hỏi vì sao xây thành không được. Rùa vàng đáp: “Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước. Lại có con gà trắng sống ngàn năm, hoá thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu. Trong núi có ma, đó là hồn người nhạc công triều đại trước chôn ở đây. Ở bên cạnh, có một quán trọ cho khách vãng lai, chủ quán là Ngộ Không, có một người con gái và một một con gà vốn là dư khí của quỉ tinh lại biến hoá muôn hình vạn trạng để làm hại. Người chết vì thế rất nhiều. Nay con gà trống trắng lại lấy con gái chủ quán, nếu giết được con gà trống thì trấn áp được quỉ tinh, quỉ tinh sẽ tụ âm khí thành yêu, hoá ra con chim cú ngậm lá thư bay lên trên cây chiên đàn tâu cùng thượng đế xin phá thành. Thần sẽ xin cắn rơi lá thư, nhà vua tức tốc lặt lấy, thành sẽ xây được.”

    Rùa vàng bảo vua giả làm kẻ hành nhân nghỉ trọ ở quán, để rùa vàng ở phía trên khung cửa. Ngộ Không nói: “Quán này có yêu tinh, đêm thường giết người. Hôm nay trời chưa tối, xin ngài đi mau chớ nghỉ lại.” Vua cười, nói: “Sống chết có mệnh, ma quỉ làm gì được, ta không sợ.” Bèn cứ nghỉ lại. Đến đêm, quỉ ở ngoài vào, thét lớn: “Kẻ nào ở đây, sao chẳng mau mở cửa?” Rùa vàng hét: “Cứ đóng cửa thì mày làm gì?” Quỉ bèn biến hoá trăm hình vạn trạng, muôn kế nghìn phương để hòng doạ nạt, sau cùng cũng chẳng làm nổi. Đến lúc gà gáy sáng, quỉ tinh tẩu tán. Rùa vàng cùng vua đuổi theo, tới núi Thất Diệu, quỉ tinh thu hình biến mất. Vua bèn quay về quán. Sáng hôm sau, chủ quán sai người đến lượm xác khách trọ đem chôn, thấy vua vẫn cười nói hớn hở, bèn cùng chạy tới lạy mà nói rằng: “Ngài được như thế tất là thánh nhân, vậy xin ban thuốc thần để cứu sinh dân.” Vua nói: “Nhà ngươi giết con gà trắng mà tế thần, quỉ tinh sẽ tan hết.” Ngộ Không y lời, đem gà trắng ra giết, người con gái lập tức quay ra chết. Vua bèn sai đào ở núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Trời gần tối, vua và rùa vàng lên núi Việt Thường thấy quỉ tinh đã biến thành chim cú sáu chân, ngậm lá thư bay lên cây chiên đàn. Rùa vàng biến thành con chuột đen theo sau, cắn vào chân cú, lá thư rơi xuống, vua vội nhặt lấy, lá thư đã bị nhấm rách quá nửa. Từ đó quỉ tinh dị biệt. Thành xây nửa tháng thì xong. Thành đó rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành, còn gọi là Tư Long Thành, người đời Đường gọi là Côn Lôn Thành, lấy lẽ rằng nó cao lắm. Rùa vàng ở lại ba năm rồi từ biệt ra về. Vua cảm tạ nói: “Nhờ ơn của thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống?” Rùa vàng đáp: “Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy đều do mệnh trời, vua có thể tu đức mà kéo dài thời vận. Song vua ước muốn, ta có tiếc chi.” Bèn tháo vuốt đưa cho nhà vua mà nói: “Đem vật này làm lấy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì sẽ không lo gì nữa.” Dứt lời, trở về biển đông. Vua sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt làm lẫy. Gọi là Linh Quang Kim Quy Thần Cơ. Về sau Triệu Vương là Đà cử binh nam xâm, cùng vua giao chiến. Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về Trâu Sơn cầm cự với nhà vua, không dám đối chiến, bèn xin hoà. Vua cả mừng, hẹn rằng phía bắc Tiểu Giang thuộc Triệu Đà cai trị, phía nam thì vua cai trị. Không bao lâu, Đà cầu hôn. Vua vô tình gả con gái là Mỵ Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy. Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt rùa vàng, nói dối là về phương bắc thăm cha. Nói rằng: “Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể rứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà, bắc nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?” Đáp: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt ly thì đau đớn khôn xiết, thiếp có áo gấm lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau.” Trọng Thủy mang lẫy thần về nước. Đà được lẫy cả mừng, bè cử binh sang đánh. Vua cậy có nỏ thần, vẫn điềm nhiên đánh cờ, cười mà nói rằng: “Đà hông sợ nỏ thần sao?” Quân Đà tiến sát, vua cầm lấy nỏ, thấy lẫy thần đã mất bèn bỏ chạy. Vua đặt Mỵ Châu ngồi đằng sau ngựa rồi cùng chạy về phương Nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà đuổi. Vua chạy tới bờ bể, đường cùng, không có thuyền qua bèn kêu rằng: “Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu”. Rùa vàng hiện lên mặt nước, thét lớn: “Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó!” Vua bèn tuốt kiếm chém Mỵ Châu, Mỵ Châu khấn rằng: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại lại cha, chết đi sẽ biến thành hạt bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành ngọc châu để tẩy sạch mối nhục thù.” Mỵ Châu chết ở bờ bể, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống bể. Đời truyền rằng nơi đó là đất Dạ Sơn, tổng Cao Xá, phủ Diễn Châu. Quân Đà kéo tới đấy không thấy bóng vết gì, chỉ còn ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Mỵ Châu đã chết, Trọng Thủy thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mỵ Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò ngọc ở biển đông lấy nước giếng này mà rửa thì thấy trong sáng, nhân kiêng tên Mỵ Châu cho nên gọi ngọc minh châu là đại cữu và tiểu cữu.

    [1]trích từ Lĩnh Nam Chích Quái, bản dịch của Đinh Gia Khánh – Nguyễn Ngọc San. (Hà Nội: nhà xuất bản Văn Hoá, Việt Nam, 1960).

    ——–

    http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=5850

  4. Hoà Nguyễn viết:

    Chuyện Trọng Thuỷ Mỵ châu với nữa phần huyền thoại,hay hư cấu bay theo tưởng tượng của dân gian, nhất là của các nhà thơ, không ngờ còn làm cho người VN xúc động, buồn vui, từ đó suy nghĩ đến nhiều thứ. Nàng Mỵ châu xinh đẹp không thể rải lông ngỗng để dẫn lối cho chồng khi ngồi sau cha trên lưng ngựa, vì lông ngỗng nhẹ sẽ theo gió bay đi mất, không để lại dấu vết. Nàng chắc cũng không chết mà không biết bị cha mình giết, vì cũng như cha phải nghe lời thần kim quy hiện lên nói gì, hoặc nghe cha buộc tội mình trước khi “vung gươm lên”.

    Chuyện này thuộc phần lịch sử là : Triệu Đà có mưu đồ chiếm đất Lạc Việt, cho con là Trọng Thuỷ sang làm rể An Dương Vương (chuyện hôn nhân chính trị là thường từ thời xưa, ở cả Đông lẫn Tây). Trọng Thuỷ nhờ vợ biết được bí mật của nỏ thần, hay đánh tráo cái lẫy nỏ thần, rồi trốn về nước. Triệu Đà tấn công, Trọng Thuỷ và Mỵ Châu đều chết, An Dương vuơng cũng chết hay mất tích. Triệu Đà chia đất cũ của vua Hùng thành hai phần là Giao chỉ, và Cửu Chân. Tên Giao Chỉ có từ đó, và Keith Weller Taylor cho cái tên “Giao chỉ” lầy từ sách của Khổng tử (với nghĩa ám chỉ dân tộc còn kém văn minh ở phía Nam).

    Cứ xét theo chuyện xưa kể, Mỵ Châu quả thật vô tội, chỉ vô tình cho Trọng Thuỷ xem nỏ thần, không biết âm mưu của chồng, và không biết chồng đánh tráo bộ phận bắn nỏ giả là cái lẫy nỏ hình móng rùa bằng đống. Người Việt Nam về sau thương tiếc nàng ở chỗ “ngây thơ” vô tội đó.

    Theo Keith Weller Taylor viết trong bài “Việt Nam khai quốc: Triệu đà (chương 1, phần 3)” (đăng trên Da Màu) “ nỏ thần dường như đã được truyền vào Trung Quốc bởi các dân tộc Đông Nam Á ở phía Nam trong thế kỷ thứ 3 và 4 TCN. Vũ khí này nhanh chóng được công binh Tần nghiên cứu làm theo “. Như vậy, có phải ban đầu An Dương vương có loại nỏ rất mạnh này, nhưng sau Triệu Đà (trước từng là tướng của Tần) cũng bắt chước chế theo được ? Vào thời An Dương Vương, Việt Nam quả có loại nỏ đó, vì sau này đã ” đào được 2 cái lẫy nỏ bằng đồng như thế”.

    Về thành Cổ Loa, Tạ Chí Đại Trường cho là do Mã Viện xây sau này (thời Đông Hán) . Trong “Bài sử khác cho Việt Nam, chương 3 : Vấn đề Triệu Đà – Nhà Triệu (trên Da Màu) , Tạ Chí Đại Trường viết “, Chính ông (Mã Viện) đã chia hai vùng đất bản bộ của con cháu An Dương Vương xưa để làm yếu đi sức đề kháng mà lại còn xây thành trì đóng quân kềm giữ nữa. Ngôi thành ấy, Kiển Thành / thành Kén, với hai lớp vòng lũy bao quanh một trung tâm, đã đứng sừng sững trên một vùng cho đến mãi thời cận đại vẫn không có loại tương đương. Ngôi thành sẽ được sử quan Việt gọi là Cổ Loa và gán cho An Dương Vương ấy, ghép với kì tích thần nhân xây dựng, được đồn thổi ra đến 9 vòng thành, rất cao, chu vi 9 dặm làm niềm hãnh diện cho sử gia Việt đến bây giờ, và dân gian gọi là thành Kén, vì xây theo loại thành của Trung Quốc thời đó gọi là Kiển Thành, gốm hai vòng thành. Về sau các quan sử VN tăng lên làm 9 vòng thành, thất khó tưởng tượng, và chắc là vô ích “.

    Theo, Keith Weller Taylor ” Việc xây thành Cổ Loa và huyền tích móng rùa gợi lại kiểu kiến trúc thành được nhà Tần xây dựng ở Tứ Xuyên sau khi phá được nhà Thục một thế kỷ trước đó. Những nỗ lực cai trị trong suốt thế kỷ thứ 3 cũng được cho là có liên quan đến quyền lực của các vị thuỷ thần.“. Như vậy kiểu thành trôn ốc, ” một thành nhiều lũy”, đã được người Tần biết từ trước, và đã xây ở Thục. Sử nói An Dương vưong Thục Phán có nguồn gốc ở Thục không biết như thế có giúp hiểu được nguồn gốc của loại thành này không.

    Sau cùng, tôi không biết đã đọc dã sử hay xem tuồng tích cải lương, mà nhớ là Trọng Thuỹ với Mỵ Châu có một con (trai), và khi chiến tranh xảy ra, Trọng Thuỷ muốn tìm vợ con, hay Mỵ Châu muốn giao con lại cho chồng. Theo Tạ Chí Đại Trường dẫn trong bài viết trên, con của Trọng Thuỷ (và Mỵ Châu ?) nối nghiệp Triệu Đà, tức cháu ngoại An Dương vương sau này làm vua nước Nam Việt (?).

  5. khonglaai viết:

    Thưa anh Dương Danh Huy,
    Anh vừa bảo là không có thì giờ rồi lại nhớ mang máng, thế nhưng anh lại giở sử ra nào là “hai cuộc xâm lược”, nào là “chiến đấu quyết liệt”. Sau đó anh lại tiến thêm bước nữa là cứ y như việc rành sử của anh là chuyện hiển nhiên, rồi kết luận các phản hồi viên khác là chỉ biết ăn theo nói leo theo người xưa. Nếu vậy thì, thưa anh, việc bàn bạc ý kiến ý cò với anh theo tôi là việc làm vô nghĩa! Tôi nghĩ chờ đến khi anh có thời gian hơn và có thái độ tôn trọng hơn với bạn phản hồi thì chúng ta sẽ tiếp về vấn đề sử thời gian nhà Hồ này. Được không anh?
    Ở đây, tôi chỉ muốn nói đến ấn tượng của tôi. Mặc dù đã được anh giáo dục cụ thể về “hai cuộc xâm lược” với “chiến đấu quyết liệt”, nhưng cái ấn tượng đó nó vẫn còn nguyên. Thực ra nếu đọc kỹ ấn tượng đó thì dễ nhận thấy tôi nhấn mạnh nhất là “bắt sống”, thứ hai là “Cha con, vui tôi quần thần”, thứ ba là “thời gian ngắn”. Bản chất việc thất bại nó nằm ngay trong triều đại Hồ và Hồ Quý Ly, chứ chả phải do Hủ Nho hủ nheo gì, do Nhà Trần nhà trèo gì đâu (Dĩ nhiên, các yếu tố này có góp phần nhưng không phải là chính hay là quan trọng nhất). Cha con họ bị truy đuổi, cô đơn lạc lõng, chả thấy “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” cái chi mô cả. Người dân thì hình như coi họ là giặc hơn là Vua của mình. Nhân dân không hề bảo bọc họ và Hồ Quý Ly và các con đã lần lượt bị quân Minh bắt. Quả tình khi đối chiếu cuộc trốn chạy cô đơn của triều đình nhà Hồ, tôi thấy không khác gì cuộc chạy trốn của Thương Ưởng, Thừa tướng đã có những chính sự giúp nhà Tần hùng mạnh nhưng lại đưa ra những luật hình hà khắc làm dân oán. Cũng ở đâu xa, lời than của Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng vẫn còn rành rành: “Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không theo mà thôi.”. Cũng cần phải nhắc lại là nhà Trần cũng tiêu diệt nhà Lý nhưng không bị mất lòng dân đến vậy. Nhờ sức mạnh của toàn dân tộc mà nhà Trần đã chiến thắng quân Nguyên Mông một cách vẻ vang (nhà Trần trước nhà Hồ thì dân tình còn hủ nho hơn chứ nhỉ?!). Hồ Quý Ly thân là bậc vương giả mà không dám chết theo lời khuyên của Ngụy Thức: “Nước đã sắp mất, bậc vương giả không chết bởi tay kẻ khác” mà bị kẻ thù bắt sống thì không phải là quá nhục nhã lắm ư? Còn chuyện chiến đấu quyết liệt và anh dũng thì, cứ có trận đụng độ nào của bất cứ quân đội nào của bất cứ nước nào (miễn là không đầu hàng) thì y như rằng đó là cuộc chiến đấu anh dũng bất kể thua hay thắng. Thua thì: quân ta đã chiến đấu rất anh dũng và quyết liệt nhưng vì thế giặc quá mạnh, viện binh không có nên đã …. Thắng hiển nhiên càng kêu to hơn. Lại một lần nữa phải xin anh DDH cho phép tôi không giở sử ra đây vì những nguyên nhân như đã viết trên.
    KLA

  6. Dương Danh Huy viết:

    Trong danh sách “20 tội” của HQL do vua Minh lập ra cũng có tội dùng tên Đại Ngu, phạm húy TQ.

    Còn HQL cho ông ấy là con cháu của ai thì là chuyện của ông ấy.

    Mấy cái tội đó “trọng” bao nhiêu thì tôi không biết.

  7. Dương Danh Huy viết:

    Bác HTS,

    Nếu xét sách vở nói gì về kinh tế, quân sự, đánh nhau với Chiêm Thành, thì tôi cho rằng HQL đã làm cho VN mạnh lên.

    Nhưng đúng là về ý chí thì HQL có góp phần làm cho ý chí của VN yếu đi, eg, 1 phần bị biến thành ý chí ủng hộ Tàu. Nhưng tôi vẫn cho rằng phe phò Trần có lỗi nặng hơn.

    Tiêu chuẩn của tôi ở đây là người Việt có mâu thuẫn với nhau thế nào thì cũng không được kêu Tàu, giúp Tàu vào đánh VN.

    Và nếu cho rằng vua tệ thì mình cũng phải giúp cho khá lên thì có vẻ quân chủ quá.

  8. Dương Danh Huy viết:

    Bác HTS,

    Tôi không biết đợt xâm lăng đầu có phải chỉ có 5000 quân Minh như bác nói hay không, nhưng (theo sách Yale) đợt xâm lăng thứ nhì có hơn 215,000 quân được chuẩn bị trong 6 tháng, ngang hàng với 5 chiến dịch lớn nhất của nhà Minh ở phía bắc TQ.

  9. Thanh Nguyễn viết:

    @Dương Danh Huy,
    Một trọng tội của Hồ Quý Ly khiến cho ông vua này không được đánh giá cao trong lịch sử VN là: sau khi tiếm ngôi nhà Trần, lên làm vua và đổi tên nước là Đại Ngu. Ông vua này ý thức việc bản thân mình là con cháu Nghiêu Thuấn ở bên Tàu.

  10. Tôn Văn viết:

    Một Tiếng Thở Dài
    Cái chết kỳ lạ gây xót thương tấm tức đến tận ngàn sau.
    Khuất Đẩu

    Kính thưa tác giả Khuất Đẩu,
    Thưa quý vị.
    Xin được ngỏ lời cảm ơn tác giả Khuất Đẩu đã cho đọc những dòng thơ thật hay về „nỗi tấm tức đến tận ngàn sau“ khơi gợi lại lòng xót thương nhân bản. Xin được góp tiếng thở dài cùng anh.

    *
    Cách nay khoảng 30 năm, trên chiếc Com-măng-ca Nga cũ kỹ, chúng tôi đi „công tác“ (tức là làm việc được giao) miền Trung. Ngang qua Nghệ An, mà thời đó còn hoang vu với con lộ số Một còn đủ ổ gà, anh lái xe chỉ lên một vùng núi cao xanh cây và nói: Trên đó là am Mỵ Châu… Trong cảnh hoang vu trống vắng đó, lại đột nhiên được nhắc về dấu tích người xưa, tôi bỗng thấy dậy lên trong lòng những vần điệu không bao giờ hoàn tất về một cuộc tình oan khiên rất đáng xót thương của Mỵ Châu và Trọng Thủy… Vâng, bản năng con người sinh ra là để được thương yêu và nương tựa vào nhau. Ai cho ta tình yêu? Ai cho Trọng Thủy nơi nương tựa trong những ngày nơi đất lạ với trọng trách phải giữ kín trong lòng? „Đầu gối, tay ấp“ là cái chỗ cho Trọng Thủy sinh lực để sống còn; Và người con trai phương bắc (cũng là trong „bách Việt“) đã phải trả đền sự phản bội buộc phải có trong mối mâu thuẫn không thể hòa giải: „Bên tình, bên nghĩa“. Chết: Ấy là để mang xuống tuyền đài khối tình chưa trả được…
    Trong khi đọc bài này thì tôi có tìm được 2 trang thú vị cùng chủ đề về Mỵ Châu (tức là „Ngọc“ đó!) [http://vanhoc.xitrum.net/thoca/hiendai/5548.html, http://www.cailuong.org.vn/forum/archive/index.php?t-1463.html%5D và „đặt tên đường phố“ [Đoan Trang, http://danluan.org/node/6694%5D rất thú vị; Xin giới thiệu và không dám luận thêm.

    *
    Nhưng tại sao và là gì cái „Tấm tức đến tận ngàn sau“? Không thể trả lời thay tác giả mà chỉ dám ghi ra cảm nhận của mình. Đó là:
    – „Không nhận ra tâm địa“ và „mù tịt trước dã tâm đen tối“ của ngoại thù.
    – „Nỏ thần“ đâu phải thứ để ai xem cũng được, đến thông tỏ cả đường đi lối đến và bê vào những thứ của giả chết người?
    – Đoạn này hay quá nên không thể chiết tách được:
    „Chiều Cổ Loa! Hàng ngàn cái trống đồng muốn vỡ toang vì reo mừng thắng trận. Quân Triệu Đà nằm chết chồng chất dưới mặt thành. Nhưng chỉ ít lâu sau, cũng tại kinh thành này, một đám cưới vương giả mà tân lang chính là con trai của Triệu Đà! Đang mưu bá đồ vương bỗng kết thông gia thân thiện. Đang lưu manh xỏ lá bỗng quân tử chính nhân! Triệu Đà. Và một người đang tỉnh táo bỗng chốc hóa ra mê muội! Một người đã xây nên thành Cổ Loa bỗng dưng mở cửa thành đón giặc! An Dương Vương!“
    – Là 1979 chăng? Là „16 chữ vàng“ chăng?…
    – Và khi đọc:
    „Những giọt máu (màu đỏ) của nàng cũng đã mấy ngàn năm không tan theo bọt sóng, … Mây nổi bọt đầy trời và biển đau quặn sóng. Đất trời rung động vì đây là một cái án oan thiên cổ.“
    thì tôi không thể không nghĩ đến khối bùn đỏ đang treo ngay trên đầu, chứ không là nơi cổ, Dân tộc ta!
    – …

    *
    Đọc cho hết bi thương để rồi quay lại („Hồi đầu thị ngạn“!):
    Thành Cổ Loa cũng như thành Đồ Bàn, nay chỉ còn là một bờ đất. Nhưng cái kỳ công hình trôn ốc ấy chính là một ý tưởng quân sự độc đáo có một không hai trong lịch sử cổ kim. Không bốn cửa đông, tây, nam, bắc. Chỉ duy nhất có một ngõ vào mà không lối ra. Như nước xoáy, như gió trốt, như vòi rồng. Chỉ một thành mà hóa ra nhiều lũy. Leo vào thành là rơi vào tử địa. Triệu Đà đánh mãi không được là vì cái kỳ thành còn hơn bát quái trận đồ ấy chứ không phải vì cái nỏ thần.“
    V âng, không phải „nỏ“, cũng không phải „Lê“ hay „Mác“ để mơ về thời sống được nhờ „phe (ta)“ và „(độc) đảng“. „Một thành mà hóa ra nhiều luỹ“ Chính là và chỉ là DÂN! Trong DÂN có tất cả. Và tôi thật xúc động không thôi khi đọc lời này (Lê Thị Thanh Chung, http://boxitvn.blogspot.com/2010/10/thu-gian-chu-nhat-bao-kiem.html): „Bảo kiếm còn, nước Việt còn!“

    Xin cảm ơn tác giả Khuất Đẩu một lần nữa,
    Trân trọng.

  11. Dương Danh Huy viết:

    Nếu dùng ngôn ngữ ngày nay thì có lẽ “tội” của Hồ Quý Ly là:

    1. Tội lật đổ chế độ.

    2. Tội sống cạnh nước lớn mà không biết cách để sống. Cách đó là: vua VN có làm cho đất nước lụn bại thì cũng đừng lật đổ, vì làm vậy là cho TQ cái cớ để đánh VN, là có tội quá còn gì.

    Đọc một số phản hồi tôi thấy dường như có hiện tượng thấy người trước nói HQL có tội thì mình cũng nói theo, không cần biết lịch sử nói gì.

    a) Có thật là HQL làm VN suy yếu như bác HTS nghĩ không? Hay là làm cho VN mạnh lên như dường như sách vở nói?

    b) Có thật là quân Minh không hề mạnh, HQL “đánh đấm kiểu gì mà lọa quá dzậy trời”, như bác KLA nghĩ không? Sao HQL đánh bại được cuộc xâm lăng thứ nhất? Dù không đọc về cuộc chiến đó thì cũng có thể đoán cuộc xâm lăng thứ nhì chắc chắn phải là mạnh rồi. Chẳng lẽ lần thứ 2 mà nhà Minh cũng gửi 1 đạo quân không hề mạnh?

    c) Ai là người cho nhà Minh cái cớ và đáng bị phê phán? HQL cướp ngôi nhà Trần hay phe phò Trần sang Tàu kêu Tàu đánh VN? Quan điểm nào có tính tự trọng dân tộc cao hơn? V/d không phải là cái gì trước cái gì, mà cái gì sai.

    Việc HQL lật đổ 1 triều đại làm đất nước lụn bại, và làm cho VN mạnh lên là 1 điều đúng và 1 người Việt có quyền làm. Nếu cho đó là tội “cho TQ cái cớ” thì có vẻ “sống cạnh nước lớn thì phải biết cách mà sống” quá.

    Việc phái hủ Nho phê phán HQL cũng dễ hiểu: HQL là người đầu tiên cho dịch chính sử sang tiếng Nôm, xây tượng Khổng Tử mặt quay sang một bên để biểu tượng cho việc giảm ảnh hưởng, lại còn dám cướp ngôi vua.

    Tôi nghĩ HQL là 1 người có tài, đã và đang làm cho VN mạnh lên, nhưng tiếc là phái hủ Nho, phò Trần đã kêu gọi và giúp TQ đánh VN – đó mới là tội.

    Phái chống cộng cổ điển không thích HQL cũng dễ hiểu: HQL có vẻ “cách mạng”.

    Còn mấy bác CS ngày nay, tôi nghĩ họ cũng có lý do để không ca ngợi HQL.

    Nếu các phản hồi gần đây là tiêu biểu thì có thể đó là hiện tượng thấy người trước phê phán HQL thì mình cũng phê phán theo, không biết lịch sử nói gì về (a) và (b).

    Nếu ngày nào VN có đường tên Hồ Quý Ly thì tôi nghĩ đó là điều hay.

  12. Hoàng Trường Sa viết:

    “Không phải HQL làm cho VN yếu đi như bác HTS tưởng, mà HQL làm cho VN mạnh hơn nhiều so với cuối nhà Trần.” (Dương Danh Huy)

    Theo tôi học sử ngày trước thì Hồ Quý Ly đoạt ngôi của nhà Trần vào cuối đời Trần lúc nhà Trần suy yếu. Do đó, vào cuối đời nhà Trần, VN (i.e triều đình nhà Trần) đang yếu thì là lẽ đương nhiên, vì nếu đang mạnh thì Hồ Quý Ly làm sao mà cướp ngôi cho được? Nhưng sau khi cướp được ngôi của nhà Trần và thành lập nhà Hồ (với quốc hiệu là Đại Ngu), Hồ Quý Ly KHÔNG làm cho VN mạnh hơn mà trái lại, đã làm cho VN YẾU đi rất nhiều vì CHIA RẼ do chuyện Hồ Quý Ly quá mong muốn tạo ra một triều đại mới có tính CHÍNH THỐNG được người dân thưà nhận nên đã NÓNG VỘI thực hiện quá nhiều cuộc cải cách táo bạo trong một thời gian quá ngắn, gây ra sự đụng chạm đến quyền lợi của giới vương tước nhà Trần trước đây, khiến cho họ chống đối DỮ DỘI. Thử hỏi, trong khi tình thế chưa ổn định do việc Hồ Quý Ly tiếm ngôi, lòng dân còn vương vấn với cựu triều, mà Hồ Quý Ly lại gây ra thêm nhiều tranh chấp, chia rẽ dân tộc, nên một số con cháu nhà Trần là Việt gian (như Trần Thiểm Bình chẳng hạn) đã đặt quyền lợi dòng họ và cá nhân lên trên sự an nguy của đất nước, nên đã cầu cứu nhà Minh sang can thiệp vào nội tình nước ta, và nhà Minh nhân đấy chiếm luôn nước ta, để lại nhiều hậu hoạn mất mát rất lớn cho VN (như việc nhà Minh đã lấy hết sách vở, tài liệu của VN đem về Tàu chẳng hạn). Ngoài ra, nhà Minh còn lợi dụng sự chia rẽ nội bộ của VN thời đó để giương cao chiêu bài “diệt Hồ phù Trần” nên đã vô hiệu hóa sự chống trả của dân tộc ta, vì người dân bị mắc LỪA và không ủng hộ Hồ Quý Ly trong công cuộc chống giặc cứu nước thời đó. Như vậy, không thể nào bảo là Hồ Quý Ly đã làm cho VN thời đó mạnh hơn như bác Dương Danh Huy nói được.

    Lẽ ra, với cái tài của 3 cha con Hồ Quý Ly mà nếu họ không vì tham vọng đoạt ngôi vua, mà chịu giúp các vua Trần cải tổ dần dần dựa theo các ý tưởng của họ trong một thời gian hợp lý, thì có thể nhà Trần sẽ phục hưng lại và Hồ Quý Ly cùng hai con là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương ngày nay đã trở nên những bậc công thần có công trạng lớn của nhà TRẦN và có tên đường như bác Huy mong muốn rồi. Nhưng tiếc thay, dù có tài có chí, nhưng hành động gây chia rẽ dân tộc của Hồ Quý Ly đã đưa nước ta vào vòng NÔ LỆ Tàu, may mà sau đó thoát ra được. Chính vì cái TỘI để mất nước này mà triều đại nhà HỒ bị lịch sử và dân tộc VN chê trách.

    Về chuyện bác Huy nói Hồ Quý Ly đã đánh thắng quân Minh trong trận đầu, thì điều này đúng như thế. Nhưng sở dĩ thắng là do quân Minh chỉ đưa lối 5 ngàn quân hộ tống Trần Thiểm Bình vào nước ta, nên quân của Hồ Quý Ly mới thành công trong việc bao vây đội quân Minh này. Nhưng trong trận sau, quân Minh đưa toàn lực, với số quân lớn hơn nhiều cùng với chiêu bài “diệt Hồ phù Trần” ác hiểm này, nên đã đánh thắng và bắt 3 cha con Hồ Quý Ly rất dễ dàng.

    Đọc giai đoạn sử này, tôi luôn luôn nghĩ đến nhiều điểm tương đồng giữa hai nhân vật Hồ Quý Ly và Hồ Chí Minh. Điểm tương đồng lớn nhất là cái TỘI chia rẽ dân tộc, làm suy yếu tiềm lực của đất nước, những cải cách táo bạo gây ra nhiều chống đối (về HCM là cái thuyết ngoại lai Cộng sản, Cải Cách Ruộng Đất) tạo cơ hội tốt cho TÀU can thiệp vào nội tình VN (ông Hồ thực ra đã rước Tàu vào VN để chống Pháp, Mỹ với mục đích cùng người anh em đồng chí TQ xây dựng chủ nghĩa xã hội, giải phóng giai cấp vô sản của toàn thế giới, dẫn dắt toàn thế giới đến đại đồng) đưa đất nước vào vòng Bắc thuộc và hố diệt vong. Cả hai ông Hồ này (Hồ Quý Ly và Hồ Chí Minh) đều có tài có chí lớn, có gốc TÀU, và đều HẠI nước hơn là cứu nước. Cả hai sẽ không được dân tộc và lịch sử VN ca ngợi, nếu VN may mắn lần này lại thoát khỏi cảnh bị diệt vong vào tay Tàu. Ai sẽ là LÊ LỢI và NGUYỄN TRẢI thời hiện đại ?

  13. Trương Đức viết:

    “Đồng ý là khi bị cha giết, nàng chưa biết mình chết vì do ai. Nhưng khi máu đã thành ngọc, hồn nàng chắc phải biết mình chết vì ai và cha mình tại sao chết. Là một người con chí hiếu, nàng cũng sẽ thấy vì mình dại dột đưa lẩy nỏ cho Trọng Thỉ xem, để đến nỗi nước phải mất, nhà phải tan. Tôi viết “những giọt lệ ăn năn” là vì vậy. Dù sao, nàng vẫn thấy mình có tội với cha.”(Khuất Đẩu)

    @nhà văn Khuất Đẩu kính mến,

    Vâng, tôi thành thật cám ơn lời phúc đáp của nhà văn. Nhưng, trên tinh thần “trao đổi ý kiến cởi mở và chân tình” với nhau, tôi buộc phải nói rằng, tôi đã “thất vọng” với lời “giải thích” của nhà văn. Tôi xin trình bày như sau:

    1. Vẫn cho rằng Mỵ Châu “là một người con chí hiếu, nàng cũng sẽ thấy vì mình dại dột đưa lẩy nỏ cho Trọng Thỉ xem, để đến nỗi nước phải mất, nhà phải tan”, thì tôi thấy, ý tưởng này có vẻ vẫn “sáo mòn” (như đường lối tuyên truyền gì gì đấy chẳng hạn) và “không có gì gọi là mang tính sáng tạo nghệ thuật” cả! Xin nhà văn đừng giận, khi tôi nói như vậy. Bởi vì, đã là huyền sử, tại sao chúng ta cứ phải “ép” cái “ý thức yêu nước, trách nhiệm giữ nước” vào người con gái vừa “Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” này. Đây, các bác cũng đã biết, ngay ở cái thời đại “lướt internet vèo vèo”(ý tôi muốn nói là “thời đại thông tin “đầy mình”) này, mà một “người lớn trưởng thành” là “bà tiến sĩ nọ”, cũng còn chưa xác định được rõ ràng cho mình cái “ý thức yêu nước, trách nhiệm giữ nước”, nữa là nàng công chúa Mỵ Châu vào cái buổi loạn li hoang sơ “Ngựa hồng lang thang vào bão cát – Mây nổi bọt đầy trời” ấy!

    2. Trước khi nhận được lời “giải thích” của tác giả, tôi đã nghĩ là, có thể là trong “túi” của tác giả còn một “nỗi niềm yêu thương” nào đấy của Mỵ Châu đối với Trọng Thỉ, mà tác giả “không tiện” nói tiếp ra ở đây. Có một đoạn văn như một “bài tụng ca Thánh Kinh” ở trong bài mà tôi cứ tấm tắc một mình mãi, đó là “Nên chi xương thịt nàng đã hòa tan cùng cát bụi nhưng những giọt máu của nàng vẫn không tan được. Những giọt máu đã thành ngọc nhưng là những viên ngọc tối xám u buồn. Mãi đến khi được rửa bằng nước giếng Trọng Thỉ thì ngọc mới chói sáng xinh đẹp.”. Ở một blog nào đó, tôi có dịp theo dõi một cuộc tranh luận về đề tài “Sơn Tinh – Thủy Tinh”, và có ai đó đã ca ngợi tình yêu của Thủy Tinh dành cho cô công chúa Mỵ Nương Ngọc Hoa, con gái vua Hùng, người về sau trở thành vợ của Sơn Tinh, là rất “romantic”, rất “đàn ông”! Đấy, “huyền sử dân gian” để lại cho chúng ta những “cốt truyện tình yêu” rất là lãng mạn, nhân văn. Tại sao chúng ta cứ phải “giải thích” chúng theo một “định hướng sáo mòn gì gì” đấy? Những cái “định hướng sáo mòn” gì gì này, nói thực với các bác, chúng đã làm tôi “chán ngán”. “Hở” ra một tí là “yêu nước”, là “thương nòi”, là “ý thức”, là “trách nhiệm”! Tại sao chúng ta không thể “bắt chước” nhà văn Lê Thị Thấm Vân, “giải phóng” thành “yêu chàng”, thành “thương anh”, thành gì gì đấy… “khác” hẳn, “nên thơ” hơn? Thú thật với các bác, (từ khi tôi bị/được “bập” vào những tác phẩm của nhà văn KĐ), tôi những tưởng là: “những hạt lệ ăn năn để lại cho đời” của Mỵ Châu, chúng muốn nói lên một tình yêu trong trắng thủy chung của một nàng thiếu nữ đối với một chàng trai, một mối tình mà vừa mới “hội ngộ tương phùng” nhưng “Thuyền tình vừa ghé tới nơi – Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ” ở nơi trần gian, nên phải gửi gắm “nỗi niềm ăn năn” vì đã không “theo chàng đến nơi đến chốn”, và chính vì vậy, khi gặp lại “chàng”(“được rửa bằng nước giếng Trọng Thỉ”), thì “tình yêu đôi lứa” “mới chói sáng xinh đẹp”. Nhưng tất nhiên, đó chỉ là những “suy nghĩ lan man trong lúc kẹt xe” của tôi thôi, việc “giải thích” “những hạt lệ ăn năn” như thế nào, là cái quyền và cái riêng của nhà văn KĐ.

    3. Tiện đây, tôi cũng xin nói thêm những “suy nghĩ lan man trong lúc kẹt xe” của tôi về cái chết của hai cha con vua An Dương Vương. Có thể chăng đã xảy ra một “bi kịch” như thế này, là vua ADV, khi đứng trước nguy cơ “nước mất nhà tan”, và cả hai cha con sẽ bị bắt, ở vào cái “nước đường cùng” như thế, đã suy nghĩ: “Ta thà làm quỷ đất Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”, nên ông quyết “trẫm mình” cùng với con gái của mình (chém đầu Mỵ Châu), còn Mỵ Châu, người con gái “mới biết yêu” (nên “mù quáng”) chỉ “tập trung” vào việc là làm sao gặp lại được “người mình yêu” (nên đã bứt lông ngỗng rải dọc đường làm dấu cho Trọng Thỉ)? Có thể lắm chứ? Nếu không, tại sao lại không?

    Tôi có vài lời muốn trao đổi với nhà văn KD và các bác như vậy. Có gì không phải, xin các bác “lượng thứ” cho!

    Tiện đây, xin “nhắc khéo” nhà văn KĐ và BBT talawas là, nhà văn KĐ đã công nhận là viết sai tên tác giả bài thơ Mỵ Châu, nhưng tôi thấy, cái tên “Nguyễn Đình Toàn” vẫn còn ở dưới bài thơ. Trân trọng.
    _______________

    BQL talawas:
    Tên tác giả Nguyễn Đình Toàn đã được sửa lại thành Đỗ Quý Toàn. Xin cám ơn độc giả Trương Đức!

  14. Tang Bồng viết:

    Gửi đến các anh chị một góc nhìn về chuyện Mỵ Châu! Thân ái! Tang Bồng

    lật lại cổ tích

    “Hèn đại nhân*
    Hèn đại nhân”
    ta đã hèn
    không muốn con ta sống nhục
    dạy con lật lại cổ tích

    lông ngỗng bay trắng xoá
    môi ngọt tai lọt, kế đuổi tận diệt tuyệt
    Trọng Thuỷ hoành gươm
    Mỵ Châu vươn mình che Vương
    máu chảy, lệ rơi, tột cùng đau thương
    loài trai, nuốt hận nhả ngọc
    lung linh nhắc nhở dân tộc
    nỏ bao giờ tin giặc cướp nước

    – Trọng Thuỷ ôm tình đáy giếng?
    – tin sao con, đám Thái Thú ngụy biện
    vẻ vời chuyện tình đẹp, bợm bịp dân đen
    nước Nam ta biết bao dũng sĩ
    hờn căm trả thù Trọng Thuỷ

    bài học đầu cho con
    cha dạy truyện Mỵ Châu
    tin ba Tàu
    là tự huỷ

    S.14.06.09
    * : Tên tác phẩm của Lê Đạt

  15. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Thiển nghĩ talawas hay tác giả nên bổ sung bài chủ theo nguyên tác sau đây để tránh dị bản bị lưu truyền?

    Ngựa trắng nằm phơi thân trên mỏn đá xanh
    Ngựa hồng lang thang vào bão cát
    Mây nổi bọt đầy trời
    Mỵ Châu ôi, Mỵ Châu!

    Biển đau quặn sóng xô gầm vỡ đá.

    Ðỗ Quý Toàn
    _________________

    BQL talawas:
    Tên tác giả Nguyễn Đình Toàn đã được sửa lại thành Đỗ Quý Toàn. Xin cám ơn độc giả Nguyễn Đăng Thường.

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>