Ludwig Wittgenstein – Tractatus Logico-Philosophicus
05/10/2010 | 6:18 sáng | 43 Comments
Category: Tư tưởng
Thẻ: Ludwig Wittgenstein > Tractatus Logico-Philosophicus
Cao Dao dịch
“Triết học thế kỉ XX đã trở thành một câu chuyện của riêng các chuyên gia, và các triết gia hiện đại thời gian qua có được một chút tiếng tăm thực ra cũng chỉ được đồng nghiệp của họ thực sự biết đến. Nhưng danh tiếng của Ludwig Wittgenstein thì vượt xa khỏi giới chuyên môn. Tên ông được những người không thuộc giới triết học nhắc đến nhiều tới mức đáng ngạc nhiên và trong những bối cảnh rất bất ngờ. Đối với nhiều người, ông là đại biểu then chốt của triết học thế kỉ XX, dường như ông – không chỉ trong tác phẩm mà còn trong tính cách và cuộc đời – là mẫu mực cho những gì làm nên triết học: sâu và khó. Có lẽ đó cũng là lý do khiến cho tác phẩm của ông được trích dẫn tràn lan theo tinh thần “lời hay ý đẹp”. Phong cách và cấu trúc của tác phẩm của ông thích hợp cho điều đó, hơn nữa dường như trong các tác phẩm của ông có ẩn chứa một điều gì đó như thể hiền triết ở dạng vô cùng cô đọng.” (A. C. Grayling, Wittgenstein, 1988)
Tractatus Logico-Philosophicus được Ludwig Wittgenstein (1889-1951) hoàn thành năm 1918 (toàn văn nguyên bản tiếng Đức), công bố lần đầu năm 1921, là tác phẩm độc nhất trong giai đoạn đầu của sự nghiệp triết học của ông và là tác phẩm duy nhất được công bố khi ông còn sống. 90 năm qua, số trang các công trình nghiên cứu về tác phẩm này đã nhiều gấp hàng chục vạn lần bản thân nó và phần lớn trong số đó dường như vẫn dành cho câu hỏi “Hiểu Tractatus như thế nào?”. Nói cách khác, cho đến nay không có sự đồng thuận trong cách diễn giải Tractatus. Cũng như vậy, không có sự thống nhất trong đánh giá giai đoạn sau của sự nghiệp triết học của Wittgenstein, rằng ông đi tiếp con đường của Tractatus hay ông xét lại và thậm chí bác bỏ một số luận điểm cơ bản của Tractatus.
Giới thiệu tác phẩm này qua bản dịch của Cao Dao, chúng tôi mong bước đầu khơi dậy sự quan tâm của độc giả Việt Nam với tác phẩm độc đáo bậc nhất trong lịch sử triết học thế giới này, cũng như với công việc dịch các tác phẩm triết học phương Tây sang tiếng Việt. Tuy Tractatus đòi hỏi ở người đọc những kiến thức triết học và những khả năng tư duy nhất định, song chúng tôi được khuyến khích bởi chính Ludwig Wittgenstein, người đã triệt để sống cuộc đời khác thường và thực hiện sự nghiệp thiên tài của mình với niềm xác tín rằng triết học có thể được tư duy ngoài khuôn viên đại học và ngoài khuôn khổ của những quy ước hàn lâm. Tractatus được viết trong thời gian Wittgenstein phục vụ trong quân đội hoàng gia Áo-Hung trong Thế chiến I và hoàn thành khi ông là tù binh chiến tranh trong một trại giam tại Ý. Trước đó, ông không có một bằng cấp nào, kể cả bằng tốt nghiệp trung học.
talawas
Xem bản dịch của Cao Dao bằng bản PDF tại đây.
Bài liên quan: Cao Dao – Thử đề nghị một cách dịch thuật văn bản triết học
© 2010 talawas

Nếu các bạn cứ thắc mắc mãi về ngữ nghĩa: thì tôi sẵn sàng đưa ra căn cứ về ngữ nghĩa và ngữ pháp, thì:
ĐÂY:
2.0121
Wenn ich mir den Gegenstand im Verbande des Sachverhalts denken kann, so kann ich ihn nicht (=phủ định thể= trừ-除: bỏ nó đi) außerhalb (=ngoại: 外: bên ngoài) der Möglichkeit dieses Verbandes denken (nguyên bản tiếng Đức)
…If I can imagine objects combined in states of affairs, I cannot imagine them excluded (=Trừ-除) from (=ngoại: 外 : bên ngoài) the possibility of suchcombinations. (Bản dịch của David Pears and Brian McGuinness)
…If I can think of an object in the context of an atomic fact, I cannot think of it apart from (=Ngoại trừ: 外除)the possibility of this context. (Bản dịch của Ogden)
もしある対象をある事態の文脈で考えることができるのであるならば、私には、その文脈の可能性の外にその対象を考えることはできないのである。(Bản tiếng Nhật: Nếu tôi có thể suy nghĩ về sự thái của đối nào đó, thì tôi không thể (TRỪ- 除)suy nghĩ vè đối tượng ấy ngoài (=ngoại-外)( khả năng tính của phối hợp).
Nếu chúng ta có thể hình dung những đối tượng được phối hợp trong trạng huống, thì chúng ta không thể hình dung chúng, ngoại trừ(外除) khả năng của sự phối hợp như thế. (Bản dịch của Cao Dao).
“NGOẠI TRỪ-外除” CHÍNH LÀ “nicht außerhalb”, “ECLUDE FROM”, “NOT…APART FROM”, “外に…できない”
BẢN DỊCH CAO DAO KHÔNG HỀ BỎ SÓT MỘT NGỮ NGHĨA NÀO. ĐÂY LÀ TIẾNG VIỆT GIẢN KHIẾT VÀ RÕ RÀNG.
CAO DAO
Cao Dao nói cách tôi dịch 2.01 (“sự tình là một kết hợp các vật thể”) và 2.061 (“các sự tình không liên quan đến nhau”) là một “mâu thuẫn.” Tôi không hiểu anh nói gì? Khái niệm “vật thể” (“Gegenstand”) và “sự tình” (“Sachverhalt”) được định nghĩa một cách khá rõ ràng trong TLP, như tôi đã giải thích trong bài viết của mình. Nếu Cao Dao nghĩ cách tôi dịch là mâu thuẫn, anh phải chỉ ra được một tính chất P nào đó sao cho Gegenstand/Sachverhalt vừa là P, vừa không phải là P, theo cách dịch của tôi. Anh đã không làm như vậy, và tôi không nghĩ là anh có khả năng làm như vậy, đơn giản là vì cách dịch của tôi không mâu thuẫn. Nó có thể không hay, nhưng nó không mâu thuẫn. Cao Dao còn dùng từ “mâu thuẫn” để mô tả cách tôi dịch 1 và 2.022. Một lần nữa, tôi không hiểu tại sao anh lại đưa ra nhận xét này. Về tuyên bố thứ ba của Cao Dao – “vật thể không phải là một khái niệm triết học” – tôi không có gì để nói, vì thực sự tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Tôi không đủ kiến thức để tranh luận về những câu hỏi như “cái gì là một khái niệm triết học.” Đối với tôi, một khái niệm là một khái niệm, và ta nên tập trung vào việc hiểu nó thế nào cho đúng, thay vì đặt câu hỏi nó có phải một “khái niệm triết học” hay không.
Cách tôi hiểu TLP, thực ra, không có gì đặc sắc. Nó phần lớn là mẫu số chung của những nghiên cứu tương đối kinh điển (e.g. Anscombe, McGinn, Stenius, Stegmueller, Stalnaker) được diễn đạt lại bằng ngôn ngữ dễ hiểu và ít chuyên môn. Tôi có cảm giác Cao Dao tiếp cận với TLP, và triết học phân tích nói chung, từ một góc độ đủ khác với tôi để ta có thể hỏi liệu tranh luận tiếp về TLP có đi đến đâu không. Dù sao, tôi cũng muốn bày tỏ sự khâm phục trước nỗ lực mà anh đã bỏ ra để dịch cuốn sách tuyệt vời này. Hy vọng sẽ có dịp trao đổi thêm với anh về những vấn đề khác.
1.
Qua những ý kiến của Cao Dao trong mục phản hồi, tôi có cảm tưởng rằng Cao Dao đã hoàn toàn tự thuyết phục về cách hiểu TLP của ông, mặc dù ông viết “tôi ý thức một cách rõ ràng là bản dịch của mình vẫn còn rất nhiều khiếm khuyết, cả những khiếm khuyết không thể vượt qua được của ngôn ngữ “. Ngoài ra tôi cũng ghi nhận Cao Dao có một “lập trường triết học” rất độc đáo, do vậy tranh luận với Cao Dao về TLP có lẽ không phải là một vấn đề đơn giản. Tôi xin phép không bình luận thêm về những ý kiến của Cao Dao không liên quan trực tiếp tới nội dung của TLP, bởi như nhận định của Camillia Ngo, tôi cũng e ngại, từ những trao đổi đúng-sai về mặt dịch thuật và ngữ nghĩa, những phản hồi tiếp theo sẽ nhanh chóng sa lầy vào những lý sự cù nhầy quanh trò chơi chữ vô bổ.
2.
Về việc dịch “ist der Fall/ is the case” và một số khái niệm khác sang tiếng Việt như thế nào cho “đúng”, theo tôi, đó có vẻ chỉ thuộc về phần hình thức và diễn dịch (interpretation). Còn về phần nội dung, do tính tự nhất quán (self-consistent) của TLP, ít nhất là tới câu 2, ý nghĩa của mỗi câu đều rất rõ ràng. Thậm chí ta không cần thiết phải dịch “the world, the case, the fact, state of affairs” sang tiếng Việt mà vẫn theo dõi được nội dung mà Wittgenstein đề cập tới trong những phần tiếp theo. Ta chỉ cần lưu ý rằng “the world” được định nghĩa là tất cả những gì là “the case”, trong khi cái gì là “the case”, còn được gọi là “a fact”, được định nghĩa qua sự hiện hữu của “states of affairs”. Trong những câu tiếp theo Wittgenstein sẽ cho ta biết ông định nghĩa “state of affair” là gì, và khi nào nó hiện hữu… Nói cách khác, nếu ta thực sự muốn theo dõi Wittgenstein diễn đạt những điều gì tiếp theo sau câu 2, thì ta phải chấp nhận luật chơi của Wittgenstein.
Cái khó ở đây, theo tôi, là việc nhận biết những vấn đề sau.
(i) Những chân lý hiển nhiên trong TLP là gì? Nói cách khác, Wittgenstein coi những gì là tiên đề (axioms) trong cuốn TLP?
(ii) Wittgenstein sử dụng những giả thiết (Annahmen/ a priori statements) nào?
Ngoài ra do ngôn ngữ thường ngày của chúng ta không phải là ngôn ngữ hoàn hảo theo cách hiểu mỗi từ chỉ có một nghĩa duy nhất, ta nên phân biệt ý nghĩa của những khái niệm trong ngôn ngữ thường ngày với ý nghĩa của những khái niệm trong TLP. Tôi có cảm tưởng rằng cho mỗi khái niệm đa nghĩa trong ngôn ngữ thường ngày, Wittgenstein luôn đưa ra một định nghĩa rõ ràng nhằm xác định ý nghĩa duy nhất của khái niệm này trong TLP mà Wittgenstein muốn bàn tới. Qua đây tôi cũng xin hỏi, trong khi chúng ta tranh luận về việc dịch khái niệm “the case”, “state of affairs”… thế nào cho “đúng”, tại sao chúng ta không cần thiết phải tranh luận về việc khái niệm “die Welt/ the world” được dịch sang tiếng Việt là “thế giới”?
3. Về một số phê bình của Cao Dao trong phản hồi mới đây
a) Cao Dao hỏi:
Thế giới là tất cả những gì đúng sự thật. (THT)
Cái gì sẽ bảo chứng là “sự thật” đó là “đúng”?
– Câu trả lời có thể là:
Wittgenstein nói: “Sự thật đó là đúng” khi “sự tình liên quan hiện hữu” trong thế giới mà ta đang đề cập.
b) Cao Dao phàn nàn về cách dịch từ “Sachverhalt” của Trịnh Hữu Tuệ trong câu
2.061 Die Sachverhalte sind von einander unabhängig.
`Các sự tình không liên quan với nhau.’ (THT)
với lý luận
Tại sao các “sự tình” lại “không liên quan với nhau”? Tất cả mọi sự tình trên cuộc đời này đều liên quan với nhau, không ít thì nhiều. Nếu bạn kể cho tôi nghe một “sự tình”, thì tôi có thể dẫn ra cho bạn hơn một triệu “sự tình” khác liên quan với “sự tình” đó.
– Tôi cho rằng Cao Dao đã không phân biệt “sự tình” được định nghĩa trong TLP với “sự tình” trong ngôn ngữ thường ngày. Với lý luận này Cao Dao cũng có thể hỏi Wittgenstein, tại sao “Sachverhalte” lại “không liên quan với nhau”, bởi nếu ông kể cho tôi nghe một “Sachverhalt”, thì tôi có thể dẫn ra cho ông hơn một triệu “Sạchverhalte” khác liên quan với “Sachverhalt” đó.
Câu 2.061, theo tôi, là một giả thiết của Wittgenstein! Tôi nghĩ ông cũng không thực sự quan tâm liệu giả thiết này có “đúng” theo những qui luật vật lý của thế giới thực hay không. Chấp nhận giả thiết này, Wittgenstein sẽ đi tới những kết luận tiếp theo. Và nếu muốn bình luận về những kết luận tiếp theo của Wittgenstein, ta không có cách nào khác là phải chấp nhận giả thiết này. Còn nếu không thể chấp nhận được giả thiết này vì một lí do nào đó, thì sau câu 2.061 ta có thể yên tâm gấp cuốn TLP lại, hoặc tiếp tục đọc với niềm tin sẽ phát hiện được những mâu thuẫn sắp diễn ra.
If I can imagine objects combined in states of affairs, I cannot imagine them excluded from the possibility of such combinations.
Mệnh đề này có nghĩa rất rõ ràng, tạm dịch là thế này:
Nếu tôi có thể hình dung những vật thể được phối kết trong các trạng huống diễn biến khác nhau, thì tôi không thể hình dung chúng bị tách ra khỏi cái khả năng của những sự phối kết như thế.
Cao Dao đã dịch sai thành:
Nếu chúng ta có thể hình dung những đối tượng được phối hợp trong trạng huống, thì chúng ta không thể hình dung chúng, ngoại trừ khả năng của sự phối hợp như thế. (Cao Dao)
Dịch như Cao Dao thì đáng lẽ câu tiếng Anh phải là:
If we can imagine objects combined in state, we cannot imagine them, except for the possibility of such combination.
Ở đây, “I cannot imagine them excluded from the possibility of such combinations” thì hoàn toàn khác nghĩa với “we cannot imagine them, except for the possibility of such combination”.
“I cannot imagine them excluded from the possibility of such combinations” là cách viết gọn của “I cannot imagine them being excluded from the possibility of such combinations” (tôi không thể hình dung chúng bị tách ra khỏi cái khả năng của những sự phối kết như thế).
Tôi không hiểu Cao Dao “đứng trên lập trường triết học” nào để hiểu một câu đơn giản “I cannot imagine them excluded from the possibility of such combinations” thành ra “we cannot imagine them, except for the possibility of such combination”.
Dịch sai là dịch sai. Không thể dùng biện luận “triết học” nhập nhằng để cố cãi cho một cái sai quá đơn giản thành ra một cái đúng quá “uyên thâm”!
Không khéo, những trao đổi đúng-sai về dịch thuật và ngữ nghĩa lại biến thành cái gọi là tranh biện “triết học”, rồi nhanh chóng biến thành những lý sự cù nhầy quanh trò chơi chữ vô bổ.
Có hai vấn đề trong cách giải thích của các bạn:
A. Mọi thứ sẽ rối tung lên khi các bạn chỉ diễn giải theo cú pháp và ngữ nghĩa. Và sẽ còn rối tung hơn nữa, dẫn đến chỗ tự mâu thuẫn và vô nghĩa, nếu các bạn theo hướng này: Cho phép tôi được đơn cử một vài ví dụ cụ thể:
Ví dụ: trường hợp bạn Trịnh Hữu Tuệ_”Tôi đã từng dịch “is the case” là “có thật”. Nhưng sau đó, tôi đã đổi thành “đúng sự thật” vì “có thật” có thể được dùng để nói về một vật thể…Vậy nên tôi vẫn chưa thỏa mãn với cách dịch này”. Và cách hiểu này sẽ dẫn bạn xa hơn nữa đến một chỗ bạn sẽ tự mâu thuẫn:
Bởi vì: “vật thể” không phải là một khái niệm triết học, triết học không quan tâm đến cái gì như là “vật thể”, mặc dủ về mặt ngữ nghĩa, “Gegenstand” trong tiếng Đức cũng có thể hiểu là “vật thể”. Cũng như thế, tôi xin nêu ra một số khái niêm mà bạn đưa ra trong bài viết “Một số khái niệm Triết học thời kỳ đầu của W.” của bạn:
_“Ist der Fall/is the case”: “có thật” hay “đúng sự thật”
1 Die Welt ist alles, was der Fall ist.
Thế giới là tất cả những gì đúng sự thật. (THT)
Cái gì sẽ bảo chứng là “sự thật” đó là “đúng”? Cách hiểu này dẫn đến:
2.022 Es ist offenbar, daß auch eine von der wirklichen noch so verschieden gedachte Welt Etwas – eine Form – mit der wirklichen gemein haben muß.
`Rõ ràng là thế giới tưởng tượng, dù khác thế giới thật đến đâu, Vẫn phải giống nó ở một điểm: Hình thức’ (THT)
Nếu đã “giống ở một điểm: hình thức” thế giới tưởng tượng cũng “đúng” như thế giới thật. Hai câu 1 và 2.022.này liên kết luận lý lại, dẫn đến mâu thuẫn và “vô nghĩa”.
_Sachverhalt: “SỰ TÌNH“. Cách dịch này dẫn đến:
2.01 Der Sachverhalt ist eine Verbindung von Gegenständen.
`Sự tình là một sự kết hợp các vật thể’ (THT)
Vậy thì sẽ lý giải câu này theo cách hiểu như thế nào? Các “vật” thể nào có thể kết hợp lại thành một “sự tình” (cái xe, cái nhà, hay trái đất…)? Và “sự tình” được kết hợp từ “vật thể” là “sự tình” như thế nào?.
Câu này tự dẫn đến mâu thuẫn, như:
2.061 Die Sachverhalte sind von einander unabhängig.
`Các sự tình không liên quan với nhau.’ (THT)
Tại sao các “sự tình” lại “không liên quan với nhau”? Tất cả mọi sự tình trên cuộc đời này đều liên quan với nhau, không ít thì nhiêu. Nếu bạn kể cho tôi nghe một “sự tình”, thì tôi có thể dẫn ra cho bạn hơn một triệu “sự tình” khác liên quan với “sự tình” đó. Chỗ này vô tình phản nghĩa băn bản và tự mâu thuẫn dẫn đến “vô nghĩa”.
…v.v…Tôi không thể dẫn hết những chỗ khác mà các bạn đã nêu ra. Đó là tôi chưa tiếp tục phân tích những kết quả vô nghĩa khác mà cách hiểu trên đem lại, nếu đi tiếp đến những câu khác nữa…
Ngược lại, nếu các bạn muốn tìm ra những chi tiết sai lầm của một bản dịch qua ngữ nghĩa và cú pháp, để vội vàng phê bình một bản dịch là “không ổn”. Thì bạn cũng sẽ có thể tìm ra vô số điểm sai lầm giữa hai bản tiếng Anh và nguyên bản, cũng như những bản dịch tiếng Nhất hay bất kỳ một ngôn ngữ nào khác, với nguyên bản, hoặc giả cả giữa các bản tiếng Anh với nhau..(Trong bản dịch “Luận Khảo”, tôi có kèm theo những chỗ mà các cả bảy professors chuyên nghành về Wittgenstein thống nhất với nhau, các bạn có thể thấy có những chỗ hầu như không thể chấp nhận được về mật ngữ nghĩa và cú pháp, nhưng những câu mà tôi đính kèm này, đều chuẩn xác về mặt triết học). Nếu phải chọn giữa hai cách hiểu như thế, thì tôi chọn cách thứ hai này: nó chuẩn xác về mặt triết học mặc dù rất vô lý về mặt cú pháp và ngữ nghĩa. Còn nhiều chỗ như thế trong bản dịch này.
Hoặc giả: Nếu chỉ dịch được một vài cầu đơn giản của một tác phẩm triết học (giả sử rằng những câu này “không sai”), thì cũng chưa có nghĩa là những câu ấy “đúng” với toàn bộ văn bản và có ý nghĩa đối với triết học nói chung. “Đúng” là chỉ “đúng” trong phạm vi của mấy câu ấy thôi (về mặt ngữ nghĩa và cú pháp văn phạm), không có gì có thể bảo chứng là nó đúng trên cơ sở triết học nói chung (nhiều khi dẫn đến những tình trạng rất vô nghĩa một cách đáng tiếc, như trên).
Mỗi một ngôn ngữ có một chuẩn mực riêng, và người dịch phải cân nhắc một giải pháp tối ưu trong một tình huống khó xử (mà trong Luận khảo thì nhiều lắm). Và sự cân nhắc này chỉ được bảo chứng duy nhất bởi Phản tỉnh Triết học-Philosophical Insight, đôi khi phải tái cấu trúc lại ngữ nghĩa và cú pháp. Và sự tái cấu trúc này chỉ có thể diễn ra ở mức độ phản tỉnh triết học thôi, cái duy nhất xác chứng được cho ý nghĩa của nó.
B. Vấn đề cơ bản là hiểu như thế nào với ý nghĩa của triết học, chứ không phải là hiểu theo ngữ nghĩa và cú pháp:
Bởi vì: Nếu chỉ dịch theo ngữ nghĩa và cú pháp, thì bất kỳ một học sinh trung học nào ở Đức, cũng có thể dịch Tractatus sang tiếng Anh được. Mà trong trường hợp này: Dịch “đúng”, lại không có gì chắc chắn để khỏi “vô nghĩa”.
Ý nghĩa của một văn bản triết học chỉ có thể xác chứng được qua Phản tỉnh Triết học-Philsophical Insight. Điều này tôi đã nói ở bài “Thử đề nghị…”. Khi muốn dịch một tác phẩm triết học, thì điều kiện tối thiểu và cơ bản nhất là phải hiểu tác phẩm triết học đó theo ý nghĩa của triết học, trong tương quan với những vấn đề triết học trong một toàn thể không thể tách lìa.
Ví dụ:
2.0121 It would seem to be a sort of accident, if it turned out that a situation would fit a thing that could already exist entirely on its own. If things can occur in states of affairs, this possibility must be in them from the beginning. (Nothing in the province of logic can be merely possible. Logic deals with every possibility and all possibilities are its facts.) Just as we are quite unable to imagine spatial objects outside space or temporal objects outside time, so too there is no object that we can imagine excluded from the possibility of combining with others. If I can imagine objects combined in states of affairs, I cannot imagine them excluded from the possibility of such combinations.
Có vẻ như là một kiểu ngẫu nhiên, nếu một trạng huống lại phù hợp với một sự vật đã hoàn toàn tồn tại trong chính nó. Nếu sự vật có thể xảy ra trong những trạng huống, thì khả năng này phải có trong nó từ đầu. (Chẳng có gì trong lĩnh vực luận lý mà chỉ là có thể. Luận lý giải quyết từng khả năng, và, tất cả những khả năng đều là việc của nó). Cũng giống như chúng ta thực sự không thể hình dung được những đối tượng thuộc về không gian lại ở ngoài không gian, hay những đối tượng thuộc về thời gian lại ở ngoài thời gian, cũng như thế, không có đối tượng nào mà chúng ta có thể hình dung, ngoại trừ khả năng phối hợp với những đối tượng khác. Nếu chúng ta có thể hình dung những đối tượng được phối hợp trong trạng huống, thì chúng ta không thể hình dung chúng, ngoại trừ khả năng của sự phối hợp như thế. (Cao Dao)
Nếu đọc toàn bộ đoạn văn này từ đầu đến cuối, thì không nhất thiết phải viết là:
2.0121 […] ta không thể hình dung bất kì vật thể nào nằm ngoài khả năng kết hợp của nó với các vật thể khác […]. (bạn Ngô Hải, gần nhất, và các bạn khác)
Nhưng cách các bạn ở đây đã tách nó riêng ra một cách đứt đoạn như thế, rồi cho nó là “không ổn” hay “tối nghĩa”. Đúng vậy, các bạn có lý…Nhưng tôi cho rằng cách hiểu một văn bản như thế sẽ không giúp ích được gì cho chính người đọc. Không giúp ích gì, bởi vì cách hiểu này chỉ có thể hiểu mỗi một câu ngắn đứt đoạn thôi, nhưng gộp những cái hiểu ngắn và đứt đoạn như thế lại, thì lại thành ra tự mâu thuẫn và vô nghĩa (một cách đáng tiếc, như ở A).
Hơn thế nữa, cho dù cắt riêng một khúc không đầu đuôi như thế, thì một “khúc ngắn triết học” như thế vẫn phải đòi hỏi một cách hiểu đặc thủ của triết học, chứ không phải là ngữ nghĩa của câu.
Ví dụ: tôi cắt phần của CD trên ra thành:
“Nếu chúng ta có thể hình dung những đối tượng được phối hợp trong trạng huống, thì chúng ta không thể hình dung chúng, ngoại trừ khả năng của sự phối hợp như thế”
Thì nó vẫn cứ chuẩn xác, chuẩn xác trong ý nghĩa triết học nếu người ta vốn hiểu căn bản triết học: Ở đây Wittgenstein kế thừa quan điểm của thầy mình, Bertrand Russell: con người ta không thể nhận thức được sự vật, mà chỉ có thể nhận thức được tương quan của những điều kiện cảm giác thôi. Hoặc giả, nếu có một số kiến thức cơ bản về “Thing-itself” của Kant, thì cũng có thể hiểu câu này không khó khăn gì. Còn nếu không đứng trên lập trường cơ bản của triết học, thì theo tôi: không có một văn bản triết học nào “rõ ràng dễ hiểu” được (Hướng này, thì có lẽ các bạn và tôi nên chuyển đề tài: chúng ta bàn về kiếm hiệp của Kim Dung, thì thú vị hơn. Ông Hàn Giang Nhạn dịch tuyệt vời đấy chứ! Tôi cũng thích lắm đấy. Chúng ta sẽ mượn diễn đàn talawas đề bàn về mối tình sầu của Dương Quá và Tiểu Long Nữ nhé. Đồng ý không? Chúng ta sẽ tự mỗi người mua sẵn mấy kết bia, ngồi viết với nhau một tuần chơi cho đã. Tôi đề nghị các bạn BBT talawas dành cho chúng tôi một khoảng cho vụ này).
Vấn đề ở chỗ: Muốn hiểu một tác phẩm triết học, thì ít nhất phải đứng trên lập trường triết học. Không có cơ bản này, thì trên đời này không có văn bản triết học nào “rõ nghĩa” cả.
Việc tôi dùng từ chủ ngữ của “is the case” trong phản hồi trước có thể đã dẫn tới một số hiểu lầm. Ý tôi muốn trình bày ở đây là từ “that”, chủ ngữ trong câu “that is the case”, phải ngầm chỉ một “Tatsache/ sự thực” nào đó, chứ không phải một “Sachverhalt/ sự tình” nào đó. Theo 2.01 sự tình là một kết hợp của các vật thể, nó có thể hiện hữu hoặc không hiện hữu trên thế giới, trong khi chỉ một sự tình hiện hữu, một sự thực, mới được coi là “is the case” trong thế giới đang được đề cập tới. Điều này có lẽ cũng không mâu thuẫn với những gì Trịnh Hữu Tuệ viết:
Vị ngữ “ist der Fall” mô tả một sự tình, và sự mô tả sẽ chính xác nếu sự tình này là một Tatsache, sẽ không chính xác nếu không phải như vậy.
Tôi nghĩ Ngô Hải hơi lẫn lộn trong phản hồi mới nhất. Việc Wittgenstein định nghĩa “was ist der Fall” là “Tatsache” hoàn toàn không có nghĩa rằng chủ ngữ của “ist der Fall” phải là một Tatsache. Thậm chí, dùng “ist der Fall” để mô tả một Tatsache sẽ giống như dùng “ist eine Tatsache” để mô tả một Tatsache, i.e. sẽ là một việc khá vô nghĩa.
Vị ngữ “ist der Fall” mô tả một sự tình, và sự mô tả sẽ chính xác nếu sự tình này là một Tatsache, sẽ không chính xác nếu không phải như vậy.
Tôi cho rằng bản dịch TLP của Cao Dao lương thiện và chân thực hơn bản dịch của Nguyễn Quỳnh. Tuy nhiên, tôi phải thú thực là tôi thấy Cao Dao nói nhiều câu rất khó hiểu. Ví dụ, ông bảo câu 1 của TLP “dẫn đến mạch luận lý chủ thể là hạn định của thế giới.” Tại sao? Hay ông bảo “con bò không hề có khái niệm gì về thế giới và không phân định được cái gì hình thành và cái gì không hình thành.” Thế nào là “có khái niệm về thế giới”? Con bò có biết phân biệt giữa trời mưa và trời không mưa không? Thậm chí, tôi không hiểu tại sao Cao Dao phải “hổ thẹn vô hạn” chỉ vì “đã quá lâu người Việt Nam chưa có một bản dịch Tractatus để đọc.” Mặc dù tôi rất thích Tractatus, tôi không thấy có lý do gì để bất kỳ ai phải hổ thẹn vì chưa đọc nó cả. Tất nhiên, đây chỉ là những cảm nghĩ của riêng tôi, nhưng tôi rất muốn hiểu rõ hơn Cao Dao nói gì. Vì tôi muốn tin rằng ông biết ông nói gì.
1.
Tôi đồng ý với Trịnh Hữu Tuệ rằng chủ ngữ của “is the case” không thể là “Gegenstand/ sự vật”, nhưng theo tôi đó cũng không chỉ là “Sachverhalt/ sự tình” mà phải là “die Tatsache/ sự thực”, bởi sự tình có thể hiện hữu và cũng có thể không hiện hữu. Nếu sự tình hiện hữu – sự thực – thì đó là “the case”, còn nếu sự tình không hiện hữu thì đó là “not the case”.
Câu 2 “What is the case – a fact – is the existence of states of affairs”, được Trịnh Hữu Tuệ dịch là
“Những gì có thật, tức những sự thật, là sự hiện hữu của sự tình.”
Khác với nguyên bản và cách dịch của Cao Dao, thể số nhiều của sự tình, “states of affairs”, không được không được lưu ý ở câu trên. Cho tới thời điểm này, cách dùng thể số nhiều hay số ít của “sự tình” dường như chưa đóng vai trò thiết yếu nào, nhưng chắc hẳn Wittgenstein có lý do riêng khi nói về “the existence of states of affairs”, chứ không chỉ về “the existence of state of affairs”.
2.
Tôi xin ghi nhận những nỗ lực và công sức của Cao Dao trong việc dịch cuốn TLP. Một điều không thể chối cãi đó là việc Cao Dao đã đặt nền móng cho công việc hoàn thiện một bản dịch tiếng Việt có chất lượng tốt cho cuốn sách này. Tôi cũng đồng ý với Cao Dao rằng rất khó có được một bản dịch hoàn hảo cho những tác phẩm triết học được trình bày một cách hết sức cô đọng, và chúng ta đang tìm cách tiếp cận, tức là rút ngắn khoảng cách của cái có thể chấp nhận được và loại trừ cái không thể chấp nhận được. Dựa trên cơ sở này và sự nhận định rằng những phản hồi được đưa ra tới nay đều mang tính xây dựng, tôi xin bàn về vấn đề nghĩa và cú pháp được nêu ra trong phản hồi của Anh Dũng và Cao Dao qua một số câu đã được nhắc tới.
Tôi cho rằng nhận định c và d trong phản hồi của Anh Dũng hoàn toàn có cơ sở. Tại phần c, tôi cũng hiểu câu
2.0121 […] there is no object that we can imagine excluded from the possibility of combining with others […]
theo cách
2.0121 […] there is no object that we can imagine which is excluded from the possibility of combining with others […],
và như vậy, câu này có thể được dịch là
2.0121 […] ta không thể hình dung bất kì vật thể nào nằm ngoài khả năng kết hợp của nó với các vật thể khác […].
Nghĩa của câu dịch trên tương đương với nghĩa của câu trong cách dịch của Anh Dũng
2.0121 […] không có đối tượng nào chúng ta có thể hình dung mà lại tách biệt (không gắn kèm) cái khả năng tổng hợp với các đối tượng khác […],
nhưng không tương đồng với cách dịch của Cao Dao
2.0121 […] không có đối tượng nào mà chúng ta có thể hình dung, ngoại trừ khả năng phối hợp với những đối tượng khác […].
Nếu so sánh những bản dịch mà Cao Dao sử dụng, A trên gutenberg.org
2.0121 […] Just as we are quite unable to imagine spatial objects outside space or temporal objects outside time, so too there is no object that we can imagine excluded from the possibility of combining with others […]
và B trên kfs.org
2.0121 […] Just as we cannot think of spatial objects at all apart from space, or temporal objects apart from time, so we cannot think of any object apart from the possibility of its connexion with other things […]
với bản gốc tiếng Đức
2.0121 […] Wie wir uns räumliche Gegenstände überhaupt nicht außerhalb des Raumes, zeitliche nicht außerhalb der Zeit denken können, so können wir uns keinen Gegenstand außerhalb der Möglichkeit seiner Verbindung mit anderen denken […],
ta nhận thấy từ “außerhalb/ [nằm] bên ngoài” xuất hiện 3 lần, và tại B đều được dịch thành “apart”, còn tại A, 2 lần đầu “außerhalb” được dịch thành “outside”, trong khi “außerhalb” trong lần xuất hiện thứ 3 lại được dịch với “excluded”. Xét về mặt nghĩa và cú pháp, từ “excluded” xuất hiện tại đây hoàn toàn hợp lí, song có lẽ chính nó đã gây ra sự hiểu lầm cho Cao Dao?
Phần d trong phản hồi của Anh Dũng cũng có nội dung tương tự như tại c.
Người Đức thường dùng thành ngữ “Das ist der Fall” để chỉ một sự kiện có điều kiện. Dĩ nhiên nó “đúng sự thật” (như Trịnh Hữu Tuệ hiểu). Sự thật đây là sự kiện xảy ra có thật. Ví dụ, một người đi làm có thói quen chỉ chịu về nhà khi nào hãng đóng cửa. Người Đức nói: “Er geht nach Hause wenn seine Firma zu geschlossen wird”. “Er geht nach Hause” (Hắn về nhà) là “der Fall” (sự kiện). Sự kiện này chỉ xảy ra với điều kiện “hãng đóng cửa”. Tóm lại, đó là một cách nói trong trường hợp “X như vậy/xảy ra, nếu Y …” (X ist so/passiert dann, wenn Y …)
Cũng có trường hợp “đúng sự thật” nhưng người Đức không nói đó là “Fall”, ví dụ “con người có hai chân”. Họ không nói “Das ist der Fall dass der Mensch zweibeinig ist”. Không thể dịch: Điều này thì đúng sự thật (Das ist der Fall) rằng (dass) con người có hai chân (der Mensch zweibeinig ist)).
Viết như vậy, tôi không có ý dịch “Fall” là sự kiện, mà chỉ muốn chia sẻ với bạn đọc chút ít những gì tôi biết về thói quen dụng ngữ của người Đức. Chắc chắn không phải là tất cả.
Ngày xưa, tôi cố học tiếng Nga và Tây Ban Nha vì muốn hiểu Pushkin và Lorca bằng nguyên bản. Sau khi ra ngoài này tôi mới biết là vô vọng vì mỗi ngôn ngữ đều có những nhà thơ tôi thích. Trường hợp của tôi không thể áp dụng vì đây là chuyện dịch thuật đòi hỏi một sự đầu tư xứng đáng vào nguyên bản tức đã bao gồm sự am hiểu đáng kể ngôn ngữ nguyên bản.
Một cái tâm tốt không bảo đảm một bản dịch tốt. Khốn thay bản dịch này rơi vào tình trạng trên. Với những gì đã nói, tuy ông Trịnh Hữu Tuệ chỉ dịch vài câu vào mục đích ví dụ, nhưng chất lượng của chúng, theo tôi, đã hơn hẳn so với bản dịch của CD.
Kế đến là mục tiêu độc giả của bản dịch. Nếu là người ngoài này, ai quan tâm tới hoặc biết ai là Wittgenstein, thì có thể sẽ không cần bản dịch vì có thể tiếp cận nguyên bản, hoặc tệ nữa là “sái nhì”, thay vì sái 3, 4, 5… n như bản này. Còn lại, nó chỉ quan trọng đối với độc giả VN. Nếu đây là mục đích chính, với điều kiện cấm đoán hiện tại, thì phải chấp nhận thôi, aka bản dịch này tạm (thời là) được. Chỉ hy vọng những bản kế tiếp cần một tiếp cận thiết thực hơn bản dịch này.
Chúng ta biết về tính bất khả tín của ngôn ngữ -> triết học, nhưng ta vẫn phải sử dụng nó thông qua một số quy tắc căn bản, vì nếu không, không ai có thể nói cho ai nghe cả và kiến thức không thể được truyền đạt từ đời này qua đời khác hay vùng này sang vùng khác. Suy ra không thể lợi dụng tính bất khả tín của ngôn ngữ và triết học để tránh né những cuộc thảo luận (tạm gọi là) đàng hoàng (justifiable).
1. The world is all that is the case.
Thế giới là tổng hợp những gì ĐƯỢC HÌNH THÀNH. (CD không viết câu này)
CD viết: Thế giới là tổng thể những gì ĐƯỢC HÌNH THÀNH.
_Thế giới “ĐƯỢC HÌNH THÀNH”, là “ĐƯỢC” hình thành đối với Chủ thể-Subject (nhận thức của con người). “CHỦ THỂ” là một trong những trọng điểm của Luận Khảo, và triết học nói chung. Câu 1 này dẫn đến mạch luận lý “Chủ thể là hạn định của thế giới” (5.632). (Thế giới không “xảy ra” đơn thuần như một định luật vật lý.)
Ví dụ: Thế giới vẫn cứ luôn luôn “xảy ra”, nhưng đối với giới động vật, chẳng hạn: con bò, thì con bò không hề có khái niệm gì về “thế giới” và không phân định được cái gì “hình thành” và cái gì “không hình thành”.
(Tại sao là “HÌNH” và “THÀNH”? “HÌNH” có nghĩa là gì và “THÀNH” có nghĩa là gì? “HÌNH THÀNH” có ý nghĩa gì trong Luận khảo? Sẽ có dịp nói đến ở một bài viết riêng).
_ “Tổng thể” chứ không phải là “tổng hợp” (CD không có can đảm viết câu “Thế giới là TỔNG HỢP những gì được hình thành.”) “Tổng hợp-Synthetic” là gì? _E rằng giải thích phải mất 4 năm. Bốn năm là thời gian tối thiểu để các trường đại học cung cấp kiến thức cơ bản về Kant, mà chưa chắc tất cả mọi sinh viên đều hiểu đủ nghĩa “TỔNG HỢP”, hay những thuật ngữ tương tự.
Ví dụ: “Subjekt-Subject-Chủ thể” được dịch giả Nguyễn Quỳnh (doctoral degree) dịch và giải là “chủ đề cuốn sách”. Điều này không thể chấp nhận được, vì nó phản-triết học và phản lại cấu trúc luận lý của toàn văn bản.
NẾU MONG CHỜ MỘT SỰ TRÙNG KHỚP NGỮ NGHĨA VÀ CÚ PHÁP MỘT CÁCH HOÀN HẢO, THÌ SẼ CHẲNG BAO GIỜ CÓ ĐƯỢC MỘT BẢN DỊCH.
Bởi vì: trên đời không có một bản dịch nào như thế.
Vấn đề ở chỗ: chúng ta đang tìm cách tiếp cận, tức là rút ngắn khoảng cách của cái CÓ THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC và loại trừ cái KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC (Nguyên lý Khả dung-Principle of Tolerance, Karnap).
Tôi ý thức một cách rõ ràng là bản dịch của mình vẫn còn rất nhiều khiếm khuyết, cả những khiếm khuyết không thể vượt qua được của ngôn ngữ. Trong thâm tâm tôi ước mong được những bậc tri thức nhìn nó từ nhiều góc độ khác và chỉ ra cho tôi những khuyết điểm của mình, hầu mong có thể chỉnh sửa nó lại thỏa đáng hơn, đáy lòng tôi xin được tạ ân vô hạn. Cũng là một niềm vui vô hạn khi tiếp nhận những ý kiến chân thành và xác đáng từ những người bạn cùng một mối quan tâm. Đây là lời kêu gọi của “Yêu thương Trí tuệ” (Philosophia) đến “Yêu thương Trí tuệ”, Trí tuệ không giới hạn trong hạn định của mỗi một người. Và “Trí tuệ” tự nó đã là một nỗi niềm tri ân và tri âm.
Nhưng tôi cũng xin nói thẳng: Tôi không có thì giờ để trả lời riêng cho từng ý kiến, mà chính người đưa ra ý kiến ấy cũng không hiểu nó là gì (Hey men! Tớ đang luận về “triết học” đó, oh ladies and gentlement! Thế “triết học” là cái gì thế? _Ồ, cái đó thì tớ chưa biết rõ lắm, sorry men!). Có lẽ vì điều này chăng? Mà:
ĐÃ QUÁ LÂU LẮM RỒI, NGƯỜI VIỆT NAM KHÔNG HỀ CÓ ĐƯỢC MỘT BẢN DỊCH TRACTATUS ĐỂ ĐỌC.
Tôi viết ra câu này, với một sự hổ thẹn, cũng vô hạn.
Đồng ý với quan điểm của ông Ngô Hải. Cách dịch của ông Tuệ sát hơn cách dịch của tôi.
Tôi đồng ý với Ngô Hải và Anh Dũng rằng không thể dịch “ist der Fall/is the case” là “được hình thành.” Dịch như vậy hoàn toàn tối nghĩa.
Tính chất quan trọng nhất của vị ngữ “is the case,” theo tôi, là ta không thể dùng nó để nói về một vật thể. Khi nói “that is the case,” từ “that” không thể chỉ John, Mary, hay Hà Nội. Nó phải chỉ một sự tình gì đó. Cũng như vậy, ta chỉ có thể nói “it is the case that John smokes,” chứ không thể nói “it is the case that John.” Wittgenstein định nghĩa thế giới là một tập hợp các sự tình, không phải một tập hợp các vật thể. Nói cách khác, ta chỉ có thể mô tả thế giới bằng một tập hợp câu, chứ ta không thể mô tả nó bằng một tập hợp từ được. Vậy nên ông nói “the world is everything which is the case,” chứ không phải “the world is everything which exists”. Nếu dùng từ “exists,” ta sẽ rất dễ hiểu nhầm rằng thế giới là tập hợp các vật thể: một vật thể không thể “be the case”, nhưng nó có thể “exist.”
Tôi đã từng dịch “is the case” là “có thật.” Nhưng sau đó, tôi đã đổi thành “đúng sự thật,” vì “có thật” có thể được dùng để nói về một vật thể, nhưng “đúng sự thật” thì không. Tuy nhiên, nếu dịch “is the case” là “đúng sự thật,” ta sẽ gặp vấn đề là câu 2 nghe sẽ hơi chối tai:
2. Những gì đúng sự thật, tức những sự thật, là sự hiện hữu của sự tình
Vậy nên tôi vẫn chưa thỏa mãn với cách dịch này.
Gợi ý của Anh Dũng – “thế giới là những gì xảy ra” – có cái hay là nó nắm bắt tính chất quan trọng của “is the case”: “xảy ra” chỉ có thể được dùng để mô tả sự tình. Nhưng nó có cái dở là có nhiều sự thật về thế giới mà khó có thể dùng từ “xảy ra” để mô tả. Ví dụ: gia tốc rơi tự do là 9.8m/s2. Hay: f = ma. Liệu có thể gọi những sự thật này là những thứ “xảy ra” trên thế giới? Theo cảm nhận ngôn ngữ của tôi, ta có thể chỉ vào tập hợp các tiên đề của vật lý và nói rằng “đây là những gì đúng sự thật,” nhưng ta không thể chỉ vào chúng và nói rằng “đây là những gì xảy ra.”
Về những đề nghị dịch “was der Fall ist/ that is the case” và một cách tiếp cận TLP
Hiện tại trên talawas có ba đề nghị cho cách dịch cụm từ “was der Fall ist/ that is the case” của câu 1 trong cuốn TLP
” Die Welt ist alles, was der Fall ist/
The world is all that is the case”,
đó là
(1) những gì được hình thành (Cao Dao)
(2) những gì có thật (Trịnh Hữu Tuệ) và
(3) những gì xảy ra (Anh Dũng).
Theo tôi, (1) và (3) chỉ thể hiện được một phần ý nghĩa và phong cách diễn đạt của câu “Die Welt ist alles, was der Fall ist”, và đề nghị dịch theo cách (2) là hợp lí hơn cả bởi những lí do sẽ được trình bày dưới đây.
Theo một số hướng dẫn cách tiếp cận cuốn TLP, một trong những cách đọc TLP là trước hết tập trung vào những câu quan trọng nhất của cuốn sách thay vì đọc lần lượt từ câu đầu tiên tới câu cuối cùng. Cách đánh số trước mỗi câu thể hiện mức độ quan trọng của câu và chỉ định mối liên hệ diễn giải giữa các câu. Mặc dù có nhiều ngoại lệ, song trong bước đầu tiếp cận TLP ta có thể tạm chấp nhận rằng
(i) mức độ quan trọng của câu giảm với số lượng số thập phân sau dấu chấm;
(ii) những câu được đánh số lớn hơn nhiều khi là hệ quả hoặc là lời diễn giải cho những câu được đánh số nhỏ hơn.
Trên cơ sở này cuốn TLP bao gồm bảy câu chính, đó là các câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7. Câu 1 [có thể] sẽ được diễn giải bởi các câu 1.1, 1.11, 1.2, 2,… trong đó lời diễn giải 1.1 và 1.2 được coi là quan trọng như nhau.
Trở lại với cách dịch câu “Die Welt ist alles, was der Fall ist”, ta nhận thấy rằng tất cả những câu bắt đầu bằng số 1 đều đề cập tới các khái niệm “die Welt/ the world”, “der Fall/ the case” và “die Tatsache/ the fact”, song lời giải thích cho “was der Fall ist” chỉ được thể hiện trực tiếp và rõ ràng nhất qua câu 2
“Was der Fall ist, die Tatsache, ist das Bestehen von Sachverhalten/
What is the case – a fact – is the existence of states of affairs.”
Câu 2 có thể được nhìn nhận như là một định nghĩa của “was der Fall ist”, đó là “das Bestehen von Sachverhalten”. “Bestehen/ existence” ở đây mang nghĩa “hiện hữu”, và ta tạm thời không quan tâm tới nghĩa của từ “Sachverhalten/ states of affairs”, bởi từ này xuất hiện lần đầu ở câu 2, do vậy ý nghĩa của từ này sẽ được làm sáng tỏ qua những câu sau câu 2.
Điều đáng chú ý ở đây là, theo Wittgenstein, trong câu 2 khái niệm “der Fall/ the case” và “die Tatsache / a fact” hoàn toàn có thể hoán đổi vị trí cho nhau. Điều này cho thấy “was der Fall ist/ what is the case” đồng nghĩa với “was die Tatsache ist/ what is a fact”. Như vậy, mặc dù chưa đề cập tới nghĩa của “Bestehen von Sachverhalten/ existence of states of affairs”, tại thời điểm này, ta vẫn có thể khẳng định rằng Wittgenstein coi “der Fall sein/ be the case” đồng nghĩa với “die Tatsache sein/ be a fact”.
Kết luận:
Theo tôi, so với (1) và (3) cách dịch (2) chính xác hơn, bởi
– như đã được giải thích trong bài viết của Trịnh Hữu Tuệ, thành ngữ “der Fall sein/ be the case” được dùng một cách thông thường trong tiếng Đức/ tiếng Anh với nghĩa “đúng sự thật, có thật”. Cách dịch này một lần nữa được khẳng định với cụm từ “die Tatsache sein/ be a fact”;
– trong khi “những gì có thật” (2) hàm ý chỉ sự hiện hữu của tất cả những gì (sự vật, sự kiện… ) với tính chất “có thật” (thế nào là “có thật” được giải thích bởi câu 2), “những gì hình thành” (1) và “những gì xảy ra” (3) chỉ đề cập tới bản thân sự vật/ sự kiện, và như vậy (1) và (3) không hoàn toàn lột tả được phong cách diễn đạt trong câu “Die Welt ist alles, was der Fall ist.”
Ngoài ra tôi cho rằng từ “Bestehen/ existence” trong câu 2 không thể được dịch với nghĩa “thành lập” hoặc “hình thành”, mà nên được dịch với nghĩa “tồn tại” hay “hiện hữu”. Sự bất cập trong cách dịch câu 2 (“Những gì hình thành, tức những sự kiện, là hình thành những trạng huống”) được thể hiện ví dụ qua việc tác giả dùng khái niệm “hình thành” để giải thích cho chính khái niệm “hình thành”: “Những gì hình thành là hình thành những trạng huống”. Cách dịch (3) cũng không phù hợp cho câu 2, bởi khi đó câu 2 có thể sẽ phải được dịch là “Những gì xảy ra là sự hiện hữu của …”. Theo tôi đây sẽ là một câu rất tối nghĩa trong tiếng Việt, bất kể từ “Sachverhalten/ states of affairs” được dịch như thế nào.
Mặc dù chưa có điều kiện nghiên cứu hết các tác phẩm liên quan, nhưng bước đầu tôi thấy (tất nhiên đây mới chỉ là quan điểm cá nhân sơ khởi của tôi) bản dịch của ông Cao Dao (CD) không ổn.
a/
1. The world is all that is the case.
CD: Thế giới là tổng hợp những gì ĐƯỢC HÌNH THÀNH.
Dùng “được hình thành” là không khớp với 1.1 ngay sau đó (Thế giới là tổng hợp các sự kiện chứ không phải tổng hợp các sự vật). Vì “những gì được hình thành” gần với “sự vật” hơn.
Ở đây, tôi đề nghị dịch thành: Thế giới là tổng hợp những gì XẢY RA.
Từ đó ta có, chẳng hạn:
1.12 Tổng hợp các sự kiện xác định những gì XẢY RA và cả những gì KHÔNG XẢY RA.
b/
1.21 Each item can be the case or not the case while everything else remains the same.
CD: (Trong đó) mỗi sự khoảng có thể hình thành được hay không hình thành được, và những cái còn lại cũng đều như thế.
Chỗ này, từ “item” đề cập tới phần tử của một tập hợp (1.2 The world divides into facts). Cho nên đúng ra thì “mỗi sự khoảng” cần được thay thế bằng “từng sự kiện”.
Ta có:
1.21 Từng sự kiện có thể XẢY RA hoặc KHÔNG XẢY RA trong khi những sự kiện khác (còn lại) không đổi.
c/
2.0121 there is no object that we can imagine excluded from the possibility of combining with others.
CD: không có ĐỐI TƯỢNG nào mà chúng ta có thể hình dung, NGOẠI TRỪ KHẢ NĂNG phối hợp với những đối tượng khác.
Ở đây, nếu cứ theo cú pháp “ngoại trừ” thì phải là “ngoại trừ đối tượng…” chứ không phải “ngoại trừ khả năng…”.
Theo ngữ pháp tiếng Anh thì đúng ra phải dịch là: không có đối tượng nào chúng ta có thể hình dung mà lại tách biệt (không gắn kèm) cái khả năng tổng hợp với các đối tượng khác.
d/
2.0121 If I can imagine objects combined in states of affairs, I cannot imagine them excluded from the possibility of such combinations.
CD: Nếu chúng ta CÓ THỂ hình dung những đối tượng được phối hợp trong trạng huống, thì chúng ta KHÔNG THỂ hình dung chúng, NGOẠI TRỪ KHẢ NĂNG của sự phối hợp như thế.
Vẫn một lỗi cú pháp như phần c/
Đúng ra phải là:Nếu chúng ta CÓ THỂ hình dung những đối tượng được tổng hợp trong các trạng huống, thì chúng ta KHÔNG THỂ hình dung chúng mà lại tách biệt (không gắn kèm) cái khả năng về các sự tổng hợp như vậy.