talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Hữu Liêm – Phật Ngọc hòa bình: Trong niềm tin và biểu tượng

02/10/2010 | 2:56 sáng | 57 Comments

Tác giả: Nguyễn Hữu Liêm

Category: Tôn giáo
Thẻ:

Where could man, scorched by fires of the sun of this world, look for felicity, were it not for the shade afforded by the tree of Emancipation?

(Ở nơi nào mà con người, vốn đang bị đốt cháy bởi ngọn lửa trần, có thể tìm ra hoan lạc, nếu không phải là dưới bóng cây Giải thoát?)

Vishnu Purana

San Jose, thứ Sáu, 1 tháng 10. Hôm nay, tôi đi tham dự lễ đại lễ bế mạc sau 15 ngày đón tiếp Phật Ngọc đến với vùng đất Bắc California. Hai tuần nay, đã bao lần tôi cùng với cha mẹ, vợ con, bạn hữu, đã đến tham dự nơi tràn ngập niềm hoan lạc này. Bước đến vào khu vực bên ngoài lễ đài, mỗi lần như thế, tôi mới cảm nhận được một không khí lễ hội hồn nhiên, chân thành của quần chúng Phật giáo. Ở chốn đây, như là một cõi bình an cho tâm hồn, mang đầy những nét gần gũi của con người Việt Nam. Tất cả những phong cách, ngôn từ chất đầy những nét bình dân, là của một truyền thống tôn giáo rất gần gũi với tâm hồn thôn dã của những xóm làng từ những thế kỷ trước. Của tôn giáo và con người, của tâm hồn và biểu tượng, cõi tâm nào thì thế gian ấy.

Đây là nơi của nhân gian nhiều náo nhiệt đón tiếp một biểu tượng linh thiêng đầy an tĩnh, của tâm thức hồn nhiên gặp ý niệm đạo lý siêu việt, của cá nhân hữu hạn ngước mắt chiêm ngưỡng đường nét cho biểu tượng vĩnh hằng.

Không ai, trong nhiệt tình mà tôi suy diễn, mà không có tìm ra chút hoan lạc khi đến nơi này. Tôi nói với ông chủ đất Đỗ Vẫn Trọn rằng, với tất cả những niềm hoan lạc của hàng ngàn người cộng lại, tất cả sẽ trở nên một dòng sông nước ngọt to tát, như một luồng gió Nồm từ biển Đông lớn lao, chúc lành cho mảnh đất và cộng đồng này. Tôi tìm đến để bắt tay chúc mừng những anh em trong ban tổ chức, những người bạn Phật tử đã quen biết từ lâu. Một Nguyễn Hồng Dũng, giáo sư đại học, với giọng xướng kinh chủ lễ thật điêu luyện và chân thành. Một Nguyễn Văn Chót, một nông dân cắt cỏ, với thân hình gầy nhỏ nhưng chắc nịch như chiếc đinh sắt không thể rỉ rét, cùng với nhiều anh chị huynh trưởng Phật tử của làng Hải Nhuận, Thừa Thiên. Họ đã “ăn chay nằm đất” suốt cả hai tuần qua ở trong căn nhà công nghệ này để lo cho chương trình. Tôi gặp lại thầy chủ lễ Minh Tuyên – một tu sĩ trong áo vàng trông oai nghiêm như con sư tử lớn. Gặp thật nhiều các sinh viên triết học của tôi với câu chào, “Em chào Thầy. Thầy còn nhớ em không Thầy?” Suốt 12 năm qua, nhiều thế hệ sinh viên vùng San Jose đã đi qua lớp học của tôi. Các em bây giờ đã tốt nghiệp đại học, ra đời, lập gia đình, thành công trong xã hội. Dĩ nhiên là tôi có được những niềm an vui.

Tôi dẫn đứa con gái út, Jennifer, vào Phật đài. Nó là đứa thiếu nữ ngỗ nghịch, cứng đầu, nhưng lại có cơ duyên với Phật, đã phát nguyện ăn chay trường suốt hơn năm năm nay. Khi nhìn lên tượng Phật Ngọc, Jennifer lập tức đứng lại, cúi đầu, đảnh lễ và niệm Phật ngay.  Không dễ gì mà một đứa con gái tuổi 15 ở Mỹ này lại có được một tấm lòng thành chiêm bái và một thái độ nghiêm túc như thế. Em đòi tôi cho được ở lại đến nửa khuya, khi Phật tử đã ra về hết, để em leo lên đến tượng đài, đụng bàn tay vào Ngọc Phật. Chưa bao giờ tôi thấy Jennifer với khuôn mặt ngời lên một niềm hoan lạc như thế cả.

Ở thế kỷ này, những đứa trẻ vị thành niên cần biểu tượng – những biểu tượng cao quý, hiện thân của một khả thể cao vời và to lớn của con người, để các em phục tùng và điều hướng nhân cách về chân trời sáng hơn. Khi phụ huynh và xã hội đã tạo nên những biểu tượng anh hùng thế gian hôm trước, để rồi hạ bệ xuống ngày hôm sau, thì tuổi trẻ ngày nay đang khao khát những hình ảnh siêu thoát vĩnh hằng. Tượng Phật Ngọc là hiện thân, là biểu tượng, của cái đẹp, trong tinh hoa cho khả thể vô hạn đó. May và đẹp thay rằng trong một cộng đồng di cư nhiều nhiễu nhương như ở San Jose này, có những đứa con trẻ đã tìm ra một giá trị chân lý sáng ngời.

Trong cõi tồn tại của sỏi đất, thì Ngọc là sự kết tinh cao nhất sau hàng tỉ năm tiến hóa. Đến cõi người thì Phật là hiện thân tối hậu của vươn thoát. Tượng Phật bằng Ngọc kết hợp của hai đầu tiến hóa, của con người đến từ sỏi đá, từ thô thiển đến thanh thoát. Nó nhắc nhở những ai đến chiêm bái, trong ý thức và trí tuệ, rằng chuỗi hành trình đó, dù là viên miễn, nhưng không phải là bất tận và vô vọng. Trầm luân trong bao nhiêu ức tỷ kiếp luân hồi, từng thời quán vọng tưởng cá nhân qua vô vàn dạng thể hiện thân, cuối cùng cũng sẽ phải chấm dứt bằng phút giây giác ngộ và giải thoát.

Nhưng ở đây, đứng giữa hai cõi của kim Ngọc và của Phật thân, những tâm hồn đang lớn – mà tất cả người Việt là những tâm hồn đang học làm người lớn – và những tâm tư đang dằn vặt khổ đau với cuộc đời, thì tượng Phật Ngọc với hào quang chiếu sáng, từ đèn điện chiếu tỏa, hay là hiển hiện của lòng thành từ niềm tin chân chất, tất cả đều là có thật. Chân lý bao giờ cũng được phân chia ra thành từng cõi, từng mức độ, với nhiều màu sắc và thể tướng tuỳ theo tâm cơ của kẻ có, hay chưa có, trí tuệ và lòng thành.

Vì là Phật Ngọc phải được hiện thân vào cõi người, như là, và chỉ là, của biểu tượng, nên nó phải vướng vào những câu chuyện thế gian.  Như một cây Bồ Đề cao lớn, rễ cây của nó phải đi qua sỏi đá, bùn lầy, ẩm ướt, tối tăm để tìm nhiên liệu cho sức sống trong không gian. Sẽ phải có, và đã có, chắc chắn, về những câu chuyện, sự thật cũng có, thêu dệt thêm cũng nhiều, suy luận ra không thiếu, về động cơ của chương trình Phật Ngọc và những cá nhân liên đới. Nhưng nên nhớ rằng: Kinh doanh, danh tiếng, ngã mạn là hướng bên ngoài của thể tướng. Những kẻ nào mang đầy vọng tâm, ngã kiến, sẽ chỉ thấy được bóng tối sau lưng Phật Ngọc. Những điều đó không phải là quan tâm chính trong chuyến hành trình biểu tượng linh thiêng cho quần chúng Phật tử. Khi cộng trừ phúc lợi đã làm xong, những ai có nhìn kỹ mới thấy rằng đây là một câu chuyện thật tốt lành.

Riêng tôi, với người thân, và các đồng hương đã tham dự và chiêm bái Phật Ngọc thì trong tiếng kinh chân thành, trong niềm tin cao vút, trong những cảm nhận từ bi, từ những phút giây hoan lạc, chúng tôi đã tìm ra một nguồn ánh sáng thanh cao tỏa sáng từ một biểu tượng tuyệt đẹp và oai nghi. Hạnh phúc thay cho những ai chiêm nghiệm được Phật Ngọc đang ngồi đó tĩnh tọa dưới gốc cây Giải thoát xanh ngời.

© 2010 Nguyễn Hữu Liêm

© 2010 talawas

Bình luận

57 Comments (bài “Nguyễn Hữu Liêm – Phật Ngọc hòa bình: Trong niềm tin và biểu tượng”)

  1. Lê Quốc Trinh viết:

    Chào bác TriNgộ,

    Bác đã nói:

    “…Và giới luật (và những phép tu chân chính) trong nhà tu chính là vị Thầy mà các tăng ni sư phải quay về nương tựa khi đức Phật không còn đó nữa để dìu dắt. Đây là câu đức Phật trả lời cho Thầy A Nan (Ananda) khi Thầy hỏi đức Phật “chúng con sẽ nương tựa vào ai khi đức Thế Tôn tịch diệt”, vài giờ trước khi Phật từ giã thế gian. Những phép tu chân chính này là những phép tu nào ? Xin các bạn đóng góp thêm. Một điều chắc chắn là đức Phật không có dạy các đệ tử phải tạc tượng thờ Ngài !!! và nhất là tượng đó lại là tượng bằng ngọc thạch…”
    _______________________

    Tôi xin phép góp ý:

    1)- Ba nguyên tắc quan trọng nhất khi một người chịu lễ quy y để trở thành Phật tử đó là: Quy Y Tam Bảo, theo thứ tự ưu tiên:

    – trước hết: Quy Y Phật (Phật Thích Ca Mâu Ni);
    – rồi đến: Quy Y Pháp (Phật Pháp, giới luật, kinh sách);
    – và sau cùng: Quy Y Tăng (các vị tăng nhân đức, kiên thức Phật Pháp thâm sâu).

    2)- Đức Thế Tôn trước khi ra đi đã dặn dò chúng đệ tử rằng “Các con cứ nương theo Phật Pháp mà tu hành”. Ngài không hề đơn cử vị tăng nào sẽ thay thế Ngài, vì Ngài tin tưởng “Phật tại Tâm, Tâm tức Phật”. Nên nhớ Đạo Phật là một hệ thống triết lý sống và thực hành dựa trên nguyên tắc phát triển trí tuệ hài hoà trong tình thương bao la “từ bi hỷ xả”, mang tính chất khoa học siêu việt;

    3)- Đạo Phật (Vô Ngã) không đòi hỏi con người phải tuân thủ khắt khe giáo điều cứng ngắc như các tôn giáo “Duy Ngã” khác. Chỉ cần Phật tử cố gắng duy trì và tự giác kỷ luật tuân thủ gìn giữ Ngũ Giới căn bản là đủ tạo bình an trong Tâm và quan hệ trong sáng với môi trường sống trong xã hội;

    4)- Đạo Phật chính thống (Thích Ca Mâu Ni) triệt để ngăn cấm những hình thức và lối tu “mê tín dị đoan”. Theo Nhà Phật thì “mê tín có nghĩa rằng tin mà không hiểu”. Những kẻ mê tín đã tự nguyện trói buộc trí tuệ, tự đánh mất khả năng Giác Ngộ. Càng đua đòi chạy theo hình thức vật chất bên ngoài thì trí tuệ càng bị lu mờ, sau cùng thì trở thành nô lệ cho vật chất và ảo ảnh.

  2. Tri Ngộ viết:

    Khi mình chọn cái gì thì tâm mình là cái ấy. Tùy cái bản đàn bên ngoài được đánh lên, 51 giây đàn của tâm thức sẽ được rung theo và khi sự cộng hưởng càng to, một giây của 51 giây sẽ càng hùng mạnh. Nói nôm na là : vấn đề tưới tẩm các tâm trong tâm thức là một vấn đề quan trọng trong việc tu học. Do đó hoàn cảnh tu (có bạn tu tốt, có tăng thân tu tập nghiêm túc và có sự đùm bọc tin yêu, có Thầy giỏi, có nơi chốn tu thanh tịnh) là một trong những điều kiện rất quan trọng giúp người tu đạt nhiều kết quả tốt.
    Và giới luật (và những phép tu chân chính) trong nhà tu chính là vị Thầy mà các tăng ni sư phải quay về nương tựa khi đức Phật không còn đó nữa để dìu dắt. Đây là câu đức Phật trả lời cho Thầy A Nan (Ananda) khi Thầy hỏi đức Phật “chúng con sẽ nương tựa vào ai khi đức Thế Tôn tịch diệt”, vài giờ trước khi Phật từ giã thế gian. Những phép tu chân chính này là những phép tu nào ? Xin các bạn đóng góp thêm. Một điều chắc chắn là đức Phật không có dạy các đệ tử phải tạc tượng thờ Ngài !!! và nhất là tượng đó lại là tượng bằng ngọc thạch.

  3. Lê Thị Thấm Vân viết:

    Chiều qua tôi đi chợ Việt Nam, gặp lại chị bạn rất lâu không liên lạc. Sau vài phút thăm hỏi, chị cho biết con cái chị giờ đã trưởng thành, mấy năm nay chị thường xuyên đến chùa làm công quả, giao tâm cho Phật. Còn chồng chị thường xuyên về Việt Nam “du hí” với gái trẻ. Tiền bạc hai vợ chồng mấy chục năm nay dành dụm giờ mỗi người tiêu xài mục tiêu khác nhau.

    Trường hợp chị bạn tôi không phải là hiếm mà “hơi bị” nhiều. Chẳng khác như miền Nam sau 30/4/75, chồng đi tù cải tạo, vợ dẫn con vượt biên.

  4. Khiêm viết:

    Rốt lại cũng chỉ là một cuộc mua thần bán thánh thời toàn cầu hóa, nhưng chỉ dành cho dân Việt mà thôi. Hệt như show của Donald Trump. Nào là có doanh nhân thành đạt nước ngoài biểu tượng cho giàu sang, có giấc mơ huyền hoặc được bảo chứng bằng pháp sư Tây Tạng, có biểu tượng lăm le kỷ lục Guiness, có hòa bình thế giới để mang màu học thức và tiến bộ, có quan chức long trọng tham dự lễ lạc, có đi tour rình rang để thiện nam tín ngưỡng đến lễ bái xì xụp hoặc chỉ để nhìn cho mãn nhãn, v.v…
    Công nhận tay doanh nhân người Úc này nhạy làm ăn ghê lắm, nếu đặt sự kiện này vô cùng một dòng với các vụ Hội nghị Phật giáo Thế giới, rước xá lợi, chùa Bái Đính, Đại Nam vui chơi, ngàn năm Thăng Long, v.v… Cú chào hàng Phật ngọc này đáp ứng cả nhu cầu chính trị trở về với dân tộc sau khi bảng hiệu XHCN trở nên sống sượng và cơn khát tâm linh của một quần chúng nháo nhác đi tìm sự bình an và cái ảo tưởng tự tin sau những thăng trầm của một lịch sử đọa đầy.

  5. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Nguyễn Đăng Thường:
    @ Tín ngưỡng & Đạo Phật
    Nếu muốn tu theo triết lý Phật Giáo thì ta vẫn có thể tu tại gia hay ở bất cứ nơi nào, như lên núi xa lánh mọi người để tu chẳng hạn. Tín ngưỡng và tôn giáo ở VN bây giờ đã trở thành một kỹ nghệ đang được/bị kinh doanh đầu tư như ngành “du hí”.

    Ý tưởng này được nhắc tới nhiều lần, ở đây và chỗ khác, thường với mục đích phê phán lối tu xuất gia của người theo Phật. Từ lâu, người ” bình dân” VN đã có câu ví “Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tại chợ, thứ ba tại chùa”, và trong thâm tâm có thể họ thật lòng tin tu tại nhà mới thật là giỏi vì khó nhất, còn tu ở chùa là cách tu thấp nhất vì rất dễ (không phải làm gì, không chung đụng thường xuyên với cái xấu ác). Đồng ý tu tại gia khó hơn, và nếu người tu (cư sĩ) đạt được kết quả tốt họ là bậc siêu xuất, nhưng mấy ai được vậy. Thường chỉ là lối tu nửa vời, hay còn trên đường tầm đạo, ít ra chưa có cái “dũng” của người xuất gia bỏ lại tất cả. Nhưng thế nào là tu theo Phật giáo? Mỗi ngày phải hai lần đọc tụng kinh, để nhớ lời Phật dạy và dùng lời kinh an tâm mình. (Đừng cho thế là nhiều vì người Hồi giáo bình thường mỗi ngày cầu nguyện 6 lần). Phải dành ra từ một đến hai giờ ngồi tĩnh tâm, định tâm (Thiền). Phải giữ giới, như ăn chay, không sát sinh, không uống rượu, không nói dối đã đành mà cũng không được nói nặng lời. Có làm được (ít ra) như thế mới mong được sự “chuyển hóa” nội tâm, nhưng gia đình của người VN (nhất là trong nước) có tạo được điều kiện tốt cho việc tu tập như thế không? (vì vậy mới có nhiều thiền sinh chỉ muốn tập trung tu ở chùa Bát Nhã, và không được). Vậy, người tu chắc không cầu ở lời khen chê cách tu thế nào là dễ hay khó, mà cầu ở cách tu nào giúp họ đạt được kết quả tốt hơn.

    Một mình tu trong một apartment (như ở Mỹ) tôi nghĩ tốt hơn lên núi theo cách tu của ngàn năm trước, vì điều kiện sống để tu thuận tiện hơn (chỉ xét về ăn uống, vệ sinh, bệnh hoạn). Chuyện có cái ăn để sống và để tu không phải đơn giản như ta thường không nghĩ tới. Nhưng tu một mình cũng không phải tốt, vì biết thế nào là tu đúng (Phật pháp), và khi không có thầy, người đồng tu bên cạnh chỉ dạy, nâng đỡ, khuyến khích thì dễ tu sai lạc, đi vào hoang tưởng, hay gọi là ma chướng, hoặc dễ nản lòng, thối chí. Gần đây dường như chỉ có một nhà sư Thái Lan vào rừng tu với kết quả tốt, nhưng ông vẫn được sự giúp đỡ của nhiều đệ tử. Nếu ông Thường trước kia từng ở miền Nam, tất biết chuyện hai thầy Thanh Từ và Nhất Hạnh đã lên Blao lập am nhỏ tu một mình, nhưng họ phải hiểu biết đạo Phật, có tín tâm và căn cơ rất lớn, chớ không phải ai cũng làm theo được (thấy được phần chuyện của NH trong “Nẻo về của ý”). Thật sự, cả hai thầy chỉ tu như thế một thời gian ngắn trong hoàn cảnh lúc đó, khi rừng núi không còn là chỗ an tĩnh cho bất cứ ai.

    Ngồi ở chợ mà tu được thì phải giỏi lắm. Nhưng tôi chỉ đọc thấy người tu chứng đạo rồi mới dám “thõng tay vào chợ” để không bị những phức tạp, phiền toái của cuộc sống làm cho lạc hướng tu. Bảo rằng “tu tại tâm”, nhưng nhận thấy được tâm, và giữ cho tâm luôn an định cần phải có điều kiện thích hợp. Ngày xưa, lúc đầu Thích Ca tu chung với một số người, sau tu một mình và phải trải qua nhiều trở ngại, và sau khi đắc đạo ngài lại hướng dẫn tăng đoàn lên đến hàng ngàn người.

    Sau cùng, tu để làm gì? Nếu để thành Phật thì chắc chỉ các vị xuất gia mới dám nghĩ tới, và cũng phải chấp nhận chỉ có thể thành Phật sau nhiều kiếp tu thật kiên trì. Còn nếu nhắm chứng ngộ Thiền thì người cư sĩ quyết tâm thật cao có thể thành tựu. Đa số bình thường mong cầu tìm thấy được an lạc, thanh thản hay thảnh thơi trong thâm tâm, nhất thời hay lâu dài, là những kinh nghiệm họ có thể đạt tới với mức độ cao thấp tuỳ người. Còn mong cầu khi chết về cõi Cực lạc là tín nguyện riêng của một số Phật tử tại gia hay xuất gia. Vì người Phật tử có nhiều mục đích khác nhau như thế, nên có nhiều cách tu tập, và trong Phật giáo nói tới con số bốn vạn tám ngàn pháp môn khác nhau (không phải chỉ pháp đầu đà, tu khổ hạnh và độc cư trong rừng).

    Chuyện “Tín ngưỡng và tôn giáo ở VN bây giờ” được ông kể và bị đánh giá như thế nào, tôi không có ý kiến. Vì không biết chắc và cũng có chỗ tôi thấy khác. Qua những bài viết trên talawas, dù của người Phật giáo hay Công giáo đang sống trong nước, tôi thấy họ hiểu biết sâu sắc và giữ (hành trì) đúng đắn tôn giáo họ theo. Có thể chỉ người ở ngoài đạo (Chúa hay Phật) mới nhìn thấy gì đó, nhất là khi nhìn với ý nghĩ đã tu thì phải theo cách tu hay theo quan điểm thế này thế nọ (thật ra là của người không tu, ngoài đạo). Đạo Phật trong kinh nghiệm truyền pháp ở nhiều nơi trong nhiều thời đại thường nhắc đến nguyên tắc khế lý và khế cơ. Tôi được xem vài DVD giảng Phật pháp trong nước do bạn bè mua tặng cho, thấy vẫn gần với những gì tôi may được đọc từ các sách Phật giáo tiếng Việt hay tiếng Anh ngoài này.

  6. Đào Nguyên viết:

    Chuyện tự do trong Kinh Thánh qua thiển ý của tôi:

    Ađam và Êva có tự do lựa chọn: (i) sống hài hòa hiệp nhất hoan lạc với thiên nhiên của Địa Đàng, và (ii) ăn trái cấm và ra khỏi Địa Đàng. Hai người chọn (i) cho đến khi có rắn đến khuyên nên chọn điều (ii). Hai người nghe lời rắn, ăn trái cấm, bước ra khỏi Địa Đàng, hưởng sự tự do làm người ở trần gian. Đó là tự do của con người dưới ý thức của rắn. Trong sự tự do thứ hai này, hai người và con cháu hai người lại mất tự do hết đời này sang đời nọ. Đối diện trần gian muông thú, họ ý thức rằng phải có bầy đoàn mới chống cự nổi với thiên nhiên, bầy đoàn phải cần lãnh tụ, lãnh tụ đặt ra lề luật. Không tuân lề luật phải thuyết giảng, thuyết phục. Không được, họ phải tách bầy nếu đủ khả năngvà được phép. Bằng không, phải tuân thủ luật lệ hay gây chiến để đào thoát hay làm cách mạng… Khổ vô cùng! Theo sau các cuộc cách mạng thành công hay đại thắng vinh quang, lại xuất hiện các lề luật mới, lại xung đột, lại cách mạng, lại thay đổi …

    Người con người cháu của Ađam và Êva muốn tự do hầu thoát ra khỏi tất cả các ràng buộc lề luật của xã hội. Nhưng gánh nặng của tự do hoàn toàn đó, tức là tự do ra khỏi bầy đoàn – như ông bà tổ Ađam và Êva đã ra khỏi Địa Đàng ngày xưa – lại là gánh nặng nghìn cân không chịu đựng nổi. Họ thấy cô độc, bất lực, yếu đuối giữa thiên nhiên và vũ trụ. Từ đó, họ lại tìm cách trốn ra khỏi chính cái tự do họ đã chọn.

    Họ trốn tự do bằng cách nào? Họ trốn tự do cũng trong sự tự do họ đã và đang có, nhưng ở hình thái khác. Khi xưa, họ muốn có tự do thoát ra. Bây giờ, họ muốn có tự do chun vào. Sự chun vào của họ có lợi ích tích cực cho nhân quần xã hội hay không? Điều này tùy theo xã hội mà thôi. Căn bản phải là xã hội tự do.

    TB: Nhận thấy dạo này talawas đề cập đến nhiều loài thú: cừu, mèo, cầy, chuột, dòi, nhặng, ruồi và ngay cả rồng nữa. Bắt gặp trên Youtube vài clip “văn nghệ” có liên quan đến talawas, xin gởi độc giả để tường:

    http://www.youtube.com/user/Vietpostscriptum?feature=mhum#p/u/5/nosEgugGDpg
    http://www.youtube.com/user/Vietpostscriptum?feature=mhum#p/u/7/Q4rAHdHN3Ro

  7. Nguyễn Đăng Thường viết:

    @ Phùng Tường Vân
    Đêm qua tôi viết Đ Ê S Ô N G H Ồ N G chữ hoa là muốn “diễn tả” cái vĩ đại, một công trình tập thể qua nhiều thế hệ. Không hiểu tôi đã gõ máy thế nào mà khi lên trang nó bị “dính lẹo” như vậy, tuy thế mà lại hay. Nếu viết (orthographe) như vậy là “còn hơi hướm ‘mấy ông thực dân'” thì tôi e rằng bác… hơi bị “câu nệ” quá chăng? Riêng tôi, tôi chẳng những không thấy xấu hổ vì mang/đượm hơi hướng của “ông Tây nhà đèn/anh Tây mũi lõ” mà lại còn hãnh diện là đằng khác. Tôi mặc tây, ăn “cơm tây” – gạo “nàng hương” Batmati Ấn Độ + thịt [bò] Mỹ (cornbeef) + nước mắm Tây (maggi), v.v. – Thiển nghĩ của tôi là trên/dưới/trong cơ thể mít ta hôm nay nội cũng như ngoại đều có cả chục hơi hướm, rất ư là “đậm đà bản sắc quốc tế”. Nếu dùng chữ latin để “phản/phan[g]” nhau thì cũng đã thơm (thối?) mùi tây đầm rồi?

    À quên, tôi không biết rõ, nhưng hình như địa đạo Củ Chi không dài lắm? Đường xe lửa xuyên Việt cũng là một công trình vĩ đại? Và đào kinh khai hoang miền Nam? Etc… etc…

    @ Hòa Nguyễn

    Ta có nên nhìn ngược lại dòng thời gian mà phê phán việc làm của người xưa để tồn tại? Việc đấp đê ngăn lũ là cấp bách, và vào thời đó họ không “thông minh” như “ta” bây giờ? Dân chúng sống hai bên bờ sông Hồng lúc đó còn ngu dốt, có thể đã chưa thấy biển thì làm sao mà có “kế hoạch” nọ kia để khai thông nguồn cho nước tuôn ra biển, vì hình như nguồn ở tận bên Tàu? V.v… và v.v…

    @ Tín ngưỡng & Đạo Phật
    Nếu muốn tu theo triết lý Phật Giáo thì ta vẫn có thể tu tại gia hay ở bất cứ nơi nào, như lên núi xa lánh mọi người để tu chẳng hạn. Tín ngưỡng và tôn giáo ở VN bây giờ đã trở thành một kỹ nghệ đang được/bị kinh doanh đầu tư như ngành “du hí”.

  8. Phùng Tường Vân viết:

    @Nguyễn Đăng Thường
    http://www.talawas.org/?p=24926#comment-17772

    Tôi thì hơi khác nhà thơ về điểm này, thiển nghĩ Đ Ê S Ô N G H Ô N G là còn hơi hướng “mấy ông thực dân”, cho nên nếu nói Trung Hoa có Vạn Lý Trường Thành thì phải kể ta có….Đ Ị A Đ Ạ O C Ủ C H I chứ nhỉ ?

  9. Hoà Nguyễn viết:

    Cô Tracy không đọc thấy câu tôi có ý viết: Không phải người VN làm tượng Phật Ngọc. Thật sự bây giờ trong nước cũng có người đủ tiền để mua tảng đá ngọc đó, đem về tạc tượng tại VN (với thợ mướn thêm từ TQ, Thái Lan), nhưng ở đây là người Úc làm. Còn cho như thế “không đúng với tinh thần Phật Giáo” là nói tinh phần Phật giáo gì ? Phật Ngọc bắt đầu từ ý tưởng của một vị tăng Mật tông Tây Tạng, chi phí từ một đệ tử ông, người Úc, hình tượng tạc theo mẫu Phật Ấn Độ, gần với Nam Tông (tôi không biết chắc, nhưng có thể pha chút màu sắc tượng Phật Tây Tạng). Việc chiêm ngưỡng, lễ bái tượng Phật của đông đảo Phật tử là thông thường ở Phật giáo Tây Tạng, Nam tông, và ở Ấn Độ. Người Phật tử VN (và các sắc dân, dân tộc khác ở Canada, Úc, Mỹ) nay có vẻ có tinh thần hoà hợp các tông phái Phật giáo, nên có thể nhiều người không quen làm nhưng họ đã đến dự lễ chiêm bái. Tôi đã thấy một lần, tăng sư Tây Tạng cùng các Phật tử người Mỹ và Ấn rước tượng Phật Tây Tạng đến một chùa VN ở Mỹ, và nhiều Phật tử VN tới lễ bái để tỏ lòng kính Phật (một Tam bảo ), không kể tượng Phật đến từ đâu.

    Tôi đồng ý với ông Nguyễn Đăng Thường, đê sông Hồng là công trình rất lớn của người VN (thời xưa), làm trong nhiều thế hệ. Không thể cho là nhỏ dù không phải công trình của người giàu (không ghè đá ?). Nhưng có người cho giá mà đừng đắp đê ngăn nước khiến hằng năm phải đắp thêm đê làm lòng sông cao hơn mặt đất, mà cứ để thiên nhiên tự làm cái việc vun bồi, và người chỉ khai thông cho nước nguồn chảy thêm ra biển, thì ngày nay không sợ hoạ vỡ đê (đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử, nạn đói năm 1945 cũng có phần nguyên nhân từ vỡ đê). Theo sử Tàu, vua Vũ thời xưa đã làm theo cách đó để “trị” (thuỷ) sông Hoàng Hà, và chứng tỏ có lợi hơn.

  10. Trầm Kha viết:

    LỜI RUỒI

    (tặng hai bác Trương Đức & Nguyễn Đăng Thường)

    Có tanh nên mới có ruồi!
    Chầu rìa suy gẫm ít nhời ruồi bu
    Đàng nào cũng thấy mình ngu
    Vô dòng mới biết
    ruồi tu quá trời!

    Trên cây thập tự,
    Chúa cười:

    – Bu đâu cũng vậy!
    Nay ngươi bu gì?

    – …

    – Muốn bu sao chẳng bu đi?
    Chậm chân, hết chỗ
    có khi…
    bu ruồi!

    – Nghe đâu máu Chúa… còn tươi
    cho nên con tưởng…
    ít ruồi,
    con bu!
    ___________________________
    trầm kha
    Aug 07, 2008

  11. tracy viết:

    Tôi không hề chê bai Phật Ngọc do người Việt làm, nhưng chỉ thấy việc xúm nhau chen lấn, ca ngợi tượng Phật Ngọc Hòa Bình thế giới là không đúng với tinh thần Phật Giáo.
    Không những Vạn Lý Trường Thành mà tất cả các đền đài lăng tẩm của Trung Hoa, tôi cũng chẳng thấy gì đáng ca ngợi, vì Trung Hoa là một nước đông dân, người dân đói khổ trong khi các ông vua của họ sống trong xa hoa, chẳng có gì đáng hãnh diện cả. Thành ra, bộ phim Lý Công Uẩn dùng đền đài lăng tẩm của Trung Quốc đế quay chiếu là đi phản lại tinh thần nhân bản, và Phật Giáo nhất là vua Lý Thái Tổ xuất thân từ trong chùa ra. Không những triệu đại nhà Lý, mà hầu hết các ông vua VN đều thương dân, quý dân , không xa hoa phù phiếm. Ngay cả một đất nước nghèo mà các vua chúa, cán bô vẫn có thể giàu sang, điều này đâu có gì là trái ngược nhau?
    Xây dựng những lăng tẩm nguy nga, tượng Phật hào nhoáng, xin hỏi lại có đúng tinh thần Phật giáo hay không?

  12. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Công trình vĩ đạ nhất của Việt Nam là

    Đ Ê S Ô N G H Ồ N G

  13. Hoà Nguyễn viết:

    Tracy :” Thành ra, VN thiếu các kiến trúc đồ sộ nguy nga, lại chính là điều tôi hãnh diện về các vua quan của chúng ta khi so sánh đến Vạn Lý Trường Thành “.

    Thật ra, Trung Quốc xây Vạn Lý trường thành không phải để tự hào với các dân tộc khác cho đến vạn thế, mà thực tế để làm thành lũy chống lại quân Hung Nô, Mông Cổ, Đột Quyết, Mãn Thanh dũng mãnh, hiếu chiến hơn họ, và luôn thèm khát tài nguyên phong phú ở Trung quốc, rất muốn tràn vào để xâu xé, chiếm đoạt, và có thề biến TQ thành khác, không thể như ngày nay. Vạn Lý trường thành cũng không phải do Tần Thủy Hoàng xây tất cả, mà ông vua này chỉ nối lại các trường thành đã có sẵn, xây trước đó của các nước Yên, Triệu thời Chiến Quốc. Sau Tần Thuỷ hoàng, các triều đại TQ vẫn tiếp tục xây, bối đáp lên dãy trường thành mà ngày nay có thể thấy được từ mặt trăng. VLTT có công dụng vệ quốc, tuy không thật hoàn hảo, nhưng giúp TQ có thời gian dài sống trong thành bình để phát triển văn minh, văn hóa cao nhất Á Đông, và có lúc cao nhất nhân loại. Chưa thấy các sử gia chối bỏ vai trò của VLTT trong lịch sử TQ. Tất nhiên, TQ tốn nhiều công của, một hy sinh lớn, đề làm công tr2inh đó, nhưng lợi ích đem lại cũng rất to cho nhiều thế hệ.

    Có thề chấp nhận điều VN là nước nhỏ và nghèo, do đó chỉ có thể làm được việc của nước nhỏ và nghèo khi cần phải làm gì, và nên an phận, còn chuyện tự hào về cái nhỏ và nghèo của mình, thì tuỳ mỗi người. Tôi tin mấy năm trước đây nhiều người VN cũng làm vẻ tự hào, để tránh hổ thẹn, về cái nho nhỏ và nghèn nàn của mình, coi như bản sắc dân tộc. Nhưng TQ giàu có , và văn hóa cao hơn thì phải khác, không thể đòi hỏi họ phải sống như VN. Vào thời Lý, VN chỉ mới dộc lập được chừng 100 năm, ngôn ngữ chưa hoàn chỉnh, văn tự riêng không có, đạo Phật lúc đó cũng nhập từ TQ (không phải như thời Luy Lâu với sư Khương Tăng Hội trước kia), thì xây được chùa Một Cột có lẽ là cái lớn nhất mà VN có thể làm lúc đó. Không ai đòi hỏi hơn, nhưng không thể so sánh, đừng nói tự hào với những công trình kiến trúc của người Chàm, Khmer cùng thời đại.

    Sau cùng, đừng cho Phật Ngọc này do người VN làm, để mà chỉ trích chuyện gì đó. Còn nếu ai bảo thay vì dành tiền cúng Phật nên gửi tiền về giúp đồng bào nghèo khó trong nước, thì mọi người đều nên gửi tiền về như vậy, chẳng phải chỉ riêng Phật tử. Tôi tin những người theo các tôn giáo cúng dường cho chùa, nhà thờ, nhưng đồng thời cũng làm việc từ thiện. Còn người không tôn giáo có vẻ như làm ít hơn (cũng không chắc lắm).

  14. Trương Sỏi viết:

    “Nhưng tôi tin có hàng triệu người khác đến chiêm ngưỡng tượng Phật Ngọc mà dấy lên lòng tín mộ, sùng kính, và có thể bên cạnh tượng Phật, gần gũi tăng ni với lời kinh tiếng kệ và nhiều Phật tử khác, họ thêm cơ duyên để đạt được sự an bình trong tâm.” (Hòa Nguyễn)

    Tôi cũng “tin” như ông Hòa Nguyễn đây, nhưng chỉ dám tin đến 10% nhất là với “Phật ngọc tour” này. Cứ mỗi nơi Phật ngọc tới thì có hàng trăm nghìn, thậm chí có cả triệu người (hơn đứt cả tour các siêu danh ca còn gì), ấy dưng mà đông người như thế, xếp hàng đợi đến lượt chiêm ngưỡng thì nhoáng nhoàng trông thấy hình tượng to nhỏ, xanh đỏ thế nào đã là may huống hồ được “gần gũi tăng ni với lời kinh tiếng kệ” (còn “gần với nhiều Phật tử khác” là..đương nhiên), có người chỉ chụp hình tượng nhỏ làm bằng bột đá, giá 5T để kỷ niệm (vnexpress). Nhưng nói chung qua vụ “lưu diễn” này thì giải quyết kha khá cho nạn thất nghiệp vốn dĩ là nan giải cho VN, những “ngành nghề” được dịp “phát” như “trông xe cắt cổ”, chụp hình, bán Phật ngọc “nhái”, thậm chí cả móc túi..

    Tôi tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo nhưng việc tất cả đội mưa đội gió, bất chấp giao thông đâm bổ đi “xem (huyễn) tượng”, rồi nâng vống bức tượng lên thành “Tượng Phật ngọc HÒA BÌNH THẾ GIỚI” (hình như Triết chủ tịch và anh Cu rất thích giữ những thứ vĩ đại như vậy) khiến tôi càng thấy đồng tình với nhận xét của Tuấn Aet Phan. Đây là “khổ nạn” của con dân chứ nào có ích gì cho tu tập của Phật tử, thưa ông Hòa Nguyễn? Theo ông, Phật ngọc làm bằng đá quý và Phật gỗ làm bằng gỗ xoan thì cái nào quý hơn, cái nào trọng hơn, cái nào..thật hơn, cái nào tìm thấy hoan lạc..hơn thưa ông?

  15. tracy viết:

    Khi viếng thăm Hà Nội, tôi ghé thăm Chùa Một Cột. Nhìn ngồi chùa bé nhỏ đơn sơ, khuất sau Lăng Chủ Tịch to lớn hoành tráng làm tôi nghĩ đến tinh thần Phật Giáo của người Việt. Tinh thần Phật Giáo đã thể hiện rõ nét trong văn hóa, dân gian VN. Các vua quan VN không hề có cung điện nguy nga đồ sộ(trừ triệu đại nhà Nguyễn và Lăng Bác ) phải chăng họ đã thuấm nhuần tư tưởng triết học cao siêu của Phật Giáo, phải chăng họ không hề muốn dân chúng cực nhọc , xây cung điện đền đài trong khi chính người dân phải sống trong lều tranh vách đất. Phải chăng các nhà vua VN đã hiểu được “Sắc tức thị không, không tức thị sắc “, có đó rồi mất đó. Đối với họ, Phật gỗ cũng không thua giá trị của tượng Phật ngọc. Để đạt được cái tâm như thế trong khi ở địa vị tột đỉnh, mấy ai làm được? Thành ra, VN thiếu các kiến trúc đồ sộ nguy nga, lại chính là điều tôi hãnh diện về các vua quan của chúng ta khi so sánh đến Vạn Lý Trường Thành, không biết bao nhiêu triệu dân bị bắt làm nô lệ, bao nhiêu triệu người đã chết vì đói khát, tai nạn, đánh đập để xây dựng nên cấu trúc này.
    Đó là lý do vì sao tôi hãnh diện làm người Việt Nam !

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>