Nguyễn Hữu Liêm – Phật Ngọc hòa bình: Trong niềm tin và biểu tượng
02/10/2010 | 2:56 sáng | 57 Comments
Category: Tôn giáo
Thẻ: Phật Ngọc
Where could man, scorched by fires of the sun of this world, look for felicity, were it not for the shade afforded by the tree of Emancipation?
(Ở nơi nào mà con người, vốn đang bị đốt cháy bởi ngọn lửa trần, có thể tìm ra hoan lạc, nếu không phải là dưới bóng cây Giải thoát?)
Vishnu Purana
San Jose, thứ Sáu, 1 tháng 10. Hôm nay, tôi đi tham dự lễ đại lễ bế mạc sau 15 ngày đón tiếp Phật Ngọc đến với vùng đất Bắc California. Hai tuần nay, đã bao lần tôi cùng với cha mẹ, vợ con, bạn hữu, đã đến tham dự nơi tràn ngập niềm hoan lạc này. Bước đến vào khu vực bên ngoài lễ đài, mỗi lần như thế, tôi mới cảm nhận được một không khí lễ hội hồn nhiên, chân thành của quần chúng Phật giáo. Ở chốn đây, như là một cõi bình an cho tâm hồn, mang đầy những nét gần gũi của con người Việt Nam. Tất cả những phong cách, ngôn từ chất đầy những nét bình dân, là của một truyền thống tôn giáo rất gần gũi với tâm hồn thôn dã của những xóm làng từ những thế kỷ trước. Của tôn giáo và con người, của tâm hồn và biểu tượng, cõi tâm nào thì thế gian ấy.
Đây là nơi của nhân gian nhiều náo nhiệt đón tiếp một biểu tượng linh thiêng đầy an tĩnh, của tâm thức hồn nhiên gặp ý niệm đạo lý siêu việt, của cá nhân hữu hạn ngước mắt chiêm ngưỡng đường nét cho biểu tượng vĩnh hằng.
Không ai, trong nhiệt tình mà tôi suy diễn, mà không có tìm ra chút hoan lạc khi đến nơi này. Tôi nói với ông chủ đất Đỗ Vẫn Trọn rằng, với tất cả những niềm hoan lạc của hàng ngàn người cộng lại, tất cả sẽ trở nên một dòng sông nước ngọt to tát, như một luồng gió Nồm từ biển Đông lớn lao, chúc lành cho mảnh đất và cộng đồng này. Tôi tìm đến để bắt tay chúc mừng những anh em trong ban tổ chức, những người bạn Phật tử đã quen biết từ lâu. Một Nguyễn Hồng Dũng, giáo sư đại học, với giọng xướng kinh chủ lễ thật điêu luyện và chân thành. Một Nguyễn Văn Chót, một nông dân cắt cỏ, với thân hình gầy nhỏ nhưng chắc nịch như chiếc đinh sắt không thể rỉ rét, cùng với nhiều anh chị huynh trưởng Phật tử của làng Hải Nhuận, Thừa Thiên. Họ đã “ăn chay nằm đất” suốt cả hai tuần qua ở trong căn nhà công nghệ này để lo cho chương trình. Tôi gặp lại thầy chủ lễ Minh Tuyên – một tu sĩ trong áo vàng trông oai nghiêm như con sư tử lớn. Gặp thật nhiều các sinh viên triết học của tôi với câu chào, “Em chào Thầy. Thầy còn nhớ em không Thầy?” Suốt 12 năm qua, nhiều thế hệ sinh viên vùng San Jose đã đi qua lớp học của tôi. Các em bây giờ đã tốt nghiệp đại học, ra đời, lập gia đình, thành công trong xã hội. Dĩ nhiên là tôi có được những niềm an vui.
Tôi dẫn đứa con gái út, Jennifer, vào Phật đài. Nó là đứa thiếu nữ ngỗ nghịch, cứng đầu, nhưng lại có cơ duyên với Phật, đã phát nguyện ăn chay trường suốt hơn năm năm nay. Khi nhìn lên tượng Phật Ngọc, Jennifer lập tức đứng lại, cúi đầu, đảnh lễ và niệm Phật ngay. Không dễ gì mà một đứa con gái tuổi 15 ở Mỹ này lại có được một tấm lòng thành chiêm bái và một thái độ nghiêm túc như thế. Em đòi tôi cho được ở lại đến nửa khuya, khi Phật tử đã ra về hết, để em leo lên đến tượng đài, đụng bàn tay vào Ngọc Phật. Chưa bao giờ tôi thấy Jennifer với khuôn mặt ngời lên một niềm hoan lạc như thế cả.
Ở thế kỷ này, những đứa trẻ vị thành niên cần biểu tượng – những biểu tượng cao quý, hiện thân của một khả thể cao vời và to lớn của con người, để các em phục tùng và điều hướng nhân cách về chân trời sáng hơn. Khi phụ huynh và xã hội đã tạo nên những biểu tượng anh hùng thế gian hôm trước, để rồi hạ bệ xuống ngày hôm sau, thì tuổi trẻ ngày nay đang khao khát những hình ảnh siêu thoát vĩnh hằng. Tượng Phật Ngọc là hiện thân, là biểu tượng, của cái đẹp, trong tinh hoa cho khả thể vô hạn đó. May và đẹp thay rằng trong một cộng đồng di cư nhiều nhiễu nhương như ở San Jose này, có những đứa con trẻ đã tìm ra một giá trị chân lý sáng ngời.
Trong cõi tồn tại của sỏi đất, thì Ngọc là sự kết tinh cao nhất sau hàng tỉ năm tiến hóa. Đến cõi người thì Phật là hiện thân tối hậu của vươn thoát. Tượng Phật bằng Ngọc kết hợp của hai đầu tiến hóa, của con người đến từ sỏi đá, từ thô thiển đến thanh thoát. Nó nhắc nhở những ai đến chiêm bái, trong ý thức và trí tuệ, rằng chuỗi hành trình đó, dù là viên miễn, nhưng không phải là bất tận và vô vọng. Trầm luân trong bao nhiêu ức tỷ kiếp luân hồi, từng thời quán vọng tưởng cá nhân qua vô vàn dạng thể hiện thân, cuối cùng cũng sẽ phải chấm dứt bằng phút giây giác ngộ và giải thoát.
Nhưng ở đây, đứng giữa hai cõi của kim Ngọc và của Phật thân, những tâm hồn đang lớn – mà tất cả người Việt là những tâm hồn đang học làm người lớn – và những tâm tư đang dằn vặt khổ đau với cuộc đời, thì tượng Phật Ngọc với hào quang chiếu sáng, từ đèn điện chiếu tỏa, hay là hiển hiện của lòng thành từ niềm tin chân chất, tất cả đều là có thật. Chân lý bao giờ cũng được phân chia ra thành từng cõi, từng mức độ, với nhiều màu sắc và thể tướng tuỳ theo tâm cơ của kẻ có, hay chưa có, trí tuệ và lòng thành.
Vì là Phật Ngọc phải được hiện thân vào cõi người, như là, và chỉ là, của biểu tượng, nên nó phải vướng vào những câu chuyện thế gian. Như một cây Bồ Đề cao lớn, rễ cây của nó phải đi qua sỏi đá, bùn lầy, ẩm ướt, tối tăm để tìm nhiên liệu cho sức sống trong không gian. Sẽ phải có, và đã có, chắc chắn, về những câu chuyện, sự thật cũng có, thêu dệt thêm cũng nhiều, suy luận ra không thiếu, về động cơ của chương trình Phật Ngọc và những cá nhân liên đới. Nhưng nên nhớ rằng: Kinh doanh, danh tiếng, ngã mạn là hướng bên ngoài của thể tướng. Những kẻ nào mang đầy vọng tâm, ngã kiến, sẽ chỉ thấy được bóng tối sau lưng Phật Ngọc. Những điều đó không phải là quan tâm chính trong chuyến hành trình biểu tượng linh thiêng cho quần chúng Phật tử. Khi cộng trừ phúc lợi đã làm xong, những ai có nhìn kỹ mới thấy rằng đây là một câu chuyện thật tốt lành.
Riêng tôi, với người thân, và các đồng hương đã tham dự và chiêm bái Phật Ngọc thì trong tiếng kinh chân thành, trong niềm tin cao vút, trong những cảm nhận từ bi, từ những phút giây hoan lạc, chúng tôi đã tìm ra một nguồn ánh sáng thanh cao tỏa sáng từ một biểu tượng tuyệt đẹp và oai nghi. Hạnh phúc thay cho những ai chiêm nghiệm được Phật Ngọc đang ngồi đó tĩnh tọa dưới gốc cây Giải thoát xanh ngời.
© 2010 Nguyễn Hữu Liêm
© 2010 talawas
Bình luận
57 Comments (bài “Nguyễn Hữu Liêm – Phật Ngọc hòa bình: Trong niềm tin và biểu tượng”)
1 2 3 4 Trang sau »
NHL đã rào đón trước sau về chuyện thị phi liên quan Phật Ngọc, dẫu vậy, có bài của Thích Chân Tuệ, “Tám Điều Bất Chánh Quanh Vụ Phật Ngọc Hòa Bình” có thể đọc ở đây:
http://www.haivannews.com/bt-iu-bt-chnh-quanh-v-pht-ngc-ha-bnh-p10379-97.htm
Nguyên nói:
“Độc giả Nguyên là “ai”? – Nó là người bình thường như nhiều người khác đã biết hạ mình trước Đấng đã tạo ra mình, và tin cậy Đấng đó để sống cho hết cuộc đời này thôi! Ngoài Đấng đó ra, tất cả chỉ là phù hoa, chẳng đáng nói mà cũng chẳng đáng bận lòng. Chỗ nào làm bận lòng nó nó phủi dép bỏ đi thôi.”
…..
Sao lại tự hạ mình trước đấng nào đó mà thời bán khai họ đã “hư cấu”? Sao biết chắc là đấng đó tạo ra “độc giả Nguyên”? Chẳng lẽ cha mẹ là “đồ bỏ” ư? Sao không khiêm cung, nhún nhường trước loài người, những kẻ tốt lành, tử tế, đầy khả năng giúp ta có một cuộc đời thú vị, vui sống? Còn nếu độc giả Nguyên tự hạ mình trước ông Phật thì tôi nghĩ ông Phật không hài lòng đâu. Với Phật, tất cả đều bình đẳng.
Nếu giả như có đấng nào đã tạo ra con người, thì theo tôi, đấng đó đáng bị “bợp tai đá đít” vì tội của đấng ấy to quá! Cớ chi tạo ra con người còn tạo thêm đớn đau, khổ sở, bệnh hoạn, đói nghèo… Đã vậy, “đấng toàn năng” đấy chỉ thích được con người cúi đầu thờ lạy.
Chúng ta có biết bao lý lẽ để vui sống với cuộc đời này. Xứ sở, con người ta quan tâm. Gia đình, bạn bè ta thương yêu. Âm nhạc, kịch nghệ ta thưởng thức. Khoa học ta ngưỡng mộ. Thức ăn, nhà ở ta hưởng thụ…
Cha mẹ, anh em, bạn bè, người yêu, hàng xóm, đồng nghiệp, và cả talawas blog này nữa… là người thật việc thật mà độc giả Nguyên nên bận lòng. Không “phù hoa ” chút nào cả.
–“Tôi nghe như vầy”,
talawas này
có một bài thơ
nói về tượng Phật
ý nghĩa thật hay.
–Dạ thưa đạo hữu,
đường dẫn ở đây:
http://www.talawas.org/?p=7385
Gửi ông Nguyễn Hữu Liêm,
Tôi tự hỏi ông NH Liêm nhìn bức tượng vô tri vô giác bằng ngọc thạch mà xúc động, thế thì ông nhìn những pho tượng bằng gỗ, ông có cảm giác ra sao?
Tôi không muốn lập lại những lời phê phán của các bác trong Diễn Đàn này, nhưng tôi bắt đầu nhìn thấy con người thật của ông Liêm rồi. Ông Liêm không khác gì ông GSTS Đoàn Xuân Mượu, nguyên Phó Viện trưởng Viện Vệ Sinh Dịch Tễ TƯ VN, trong bài “Nếu không biết gì về tâm linh, thì đừng phủ nhận” (trong Dân Trí và Bee.net.vn). Đề nghị ông Liêm nên trở lại vị trí một luật sư và hãy có can đảm hồi hương hẳn về VN để lo chấn chỉnh biết bao tệ nạn xã hội trong một xứ sở pháp luật lỏng lẻo.
Tôi thật sự không muốn đi sâu vào tranh luận “tâm linh” với ông Liêm, vì ông chỉ biết hướng cái tâm ra ngoài để cho vật chất ảnh hưởng tạo cảm xúc, một sai lầm căn bản ngược lại tôn chỉ Nhà Phật.
Đi với Phật .
Chơi với Bác.
Ở Việt Nam:
Bác ngồi chung với Phật
Và ta ở đây nhâm nhi triết học với cả hai .
Thật hảo quân tử.
Ngày mai mời Chúa vào.
Tiền đặt xuống cửa nào ta cũng ăn.
Thật vung bút tung hoành không ai sánh.
Ta mơ:
Một ngày cả ba về một chỗ.
Ta không thèm đánh bài.
Ngồi lấy xâu thoải mái.
Độc giả Nguyên là “ai”? – Nó là người bình thường như nhiều người khác đã biết hạ mình trước Đấng đã tạo ra mình, và tin cậy Đấng đó để sống cho hết cuộc đời này thôi! Ngoài Đấng đó ra, tất cả chỉ là phù hoa, chẳng đáng nói mà cũng chẳng đáng bận lòng. Chỗ nào làm bận lòng nó nó phủi dép bỏ đi thôi.
Thời thuộc Pháp, nếu “người tây” đã có thâm ý bày ra các trò chơi thể thao để đánh lạc hướng bọn thanh niên thì dù sao đó cũng là hướng tốt.
Ngược lại, các trò Phật ngọc (và “siêu mẫu”, và “thiết kế”, và “hoa hậu”, và chọi trâu, và đồng bóng, và dị đoan, và hàng mã, và “đậm đà” tùm lum tà la… mà “người ta” đang bày ra trong thời đại Hồ Chí Minh đỉnh cao trí tuệ, chỉ có thể đưa đất nước và toàn dân lên chóp đỉnh… u mê mà thôi.
“Xin tạ ơn Đấng Toàn Năng đã tạo ra ông là Đấng đã biết được cái lẽ thật đó nên đã cho ông Adam và bà Eva sự tự do chọn lựa nghe lời con rắn hay không nghe, ăn hay là không ăn để có ý thức.” (Nguyên)
Chúa truyền cho con người được ăn hết mọi thứ cây trong vườn, cả ngàn ngàn cây khác nhau, nhưng chỉ có trái cây ở giữa vườn là cây biết điều tốt điều xấu thì Thiên Chúa nói con người không được ăn kẻo sẽ phải chết. (Kinh Thánh Công Giáo – Cựu Ước).
Xin độc giả Nguyên đọc kỹ lại Kinh Thánh trước khi “thao thao bất tận về “con người” theo cái nhìn chủ quan.
Vì không vâng lời “Đấng Toàn Năng” nên Adong và Êvà đã bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng.
Nếu con người (đóng ngoặc hay không) thay vì có nhiều “ý thức” – tạm gọi thế để tránh dài dòng – tất nhiên phải khác nhau ở mỗi cá nhân, mà chỉ có một ý thức duy nhất và hệt nhau thì đó hẳn không phài là “con người” như tôi đã muốn nói.
Độc giả Nguyên là “ai” (không phải là con người) mà lại nói “chỉ tội cho con người với rất nhiều ý thức”. Xin thưa: Càng nhiều “ý thức” càng tốt. Lẫn lộn các “ý thức” thì là một chuyện khác xin miễn bàn ở đây.
Tóm lại, nên có “ý thức” rõ ràng trước khi châm biếm.
“Chúa đã bỏ loài người. Phật đã bỏ loài người.”
Còn ta vẫn biết một “Người”,
Còn ta vẫn thấy một “Người”,
Trên bể đời khổ nạn quê hương.
Ngọc sao bằng người.
Ngọc sao bằng tâm.
Chúa không bỏ loài người. Phật không bỏ loài người.
Nên ta không thể xa “Người”.
Trước khi được làm “con người” có ý thức, con người phải được là “con người” có tự dọ Tự do ăn hay không ăn, tự do tin hay không tin, tự do vâng lời hay không vâng lời…Xin tạ ơn Đấng Toàn Năng đã tạo ra ông là Đấng đã biết được cái lẽ thật đó nên đã cho ông Adam và bà Eva sự tự do chọn lựa nghe lời con rắn hay không nghe, ăn hay là không ăn để có ý thức. Chỉ tội cho con người với rất nhiều ý thức: ý thức mới lẫn cũ, ý thức đông lẫn tây, vô thần lẫn hữu thần, cổ điển hay hiện đại lẫn hậu hiện đại…Vườn địa đàng từ thuở đó đến nay vẫn thiếu dấu chân con người, những con người nhiều ý thức.
Từ bé tôi cũng hay theo mẹ tôi đi chùa nhưng không hiểu gì về đạo Phật. Phật đối với mẹ tôi là một đấng siêu phàm vô cùng hiển linh có đủ thần thông và khả năng hộ trì cho bà tai qua nạn khỏi mỗi khi cầu nguyện Phật. Riêng tôi mãi sau này mới bắt đầu tham khảo và chịu khó tìm tòi đọc sách về đạo Phật.
Cầu nguyện như mẹ tôi và luôn chú tâm đến việc ăn hiền ở lành là một điều tốt. Bà đã tìm được an bình qua những lời kinh câu kệ và nhất là vào những giây phút lễ Phật trên chùa.
Tôi nghe nói là nếu nhờ vào những hình tượng bên ngoài như tượng Phật bằng ngọc thạch mà tâm mình chuyển hoá thì cũng là một điều tốt. Tác giả Nguyễn Hữu Liêm vì thế nếu tìm được an bình trong một khung cảnh đầy tình quê hương với tượng Phật bằng ngọc thạch thì đây cũng là một điều tốt. Nhờ vào những hình tượng bên ngoài, con người đánh thức và tiếp xúc được với tâm an bình trong mình. Tức là đánh thức được tâm Phật, tâm của từ bi hỷ xả, tâm của tha thứ bao dung trong chính tâm thức của mình.
Đã có không biết bao nhiêu lần chúng ta đã bàn cãi về tâm thức này trên diễn đàn talawas nên tôi không muốn lại gây ra một diễn đàn nữa. Tôi chỉ muốn viết lên những dòng này để mừng cho tất cả những ai đã tìm được một tư duy, một con đường hay một hướng đi đem lại được hạnh phúc cho chính mình và cho tất cả những người xung quanh. Tại vì tôi nghĩ hạnh phúc của xã hội (hay của quốc gia) phải bắt đầu bằng hạnh phúc của chính mình, của cá nhân trong tập thể đó, hay nói rõ hơn là của người dân. Khi mình có hạnh phúc thì mình mới san sẻ được nụ cười của mình cho người xung quanh. Vì vậy mưu cầu hạnh phúc là một trong những điều kiện căn bản cho tất cả mọi quốc gia nào trên thế giới muốn đạt đến tự do dân chủ thực sự.
Tôi lại xin triết lý thêm một chút. Hạnh phúc, nếu dựa trên đạo lý duyên khởi của nhà Phật, không là một điều gì có tính cách biệt lập (riêng rẽ, cá nhân) mà hạnh phúc là một chuyện chung liên hệ chằng chịt với nhau (happiness is not an individual matter, happiness is a collective matter). Tác giả NHL tìm thấy an bình nhờ vào một khung cảnh đầy tình quê hương và một tượng Phật thật đẹp và hùng tráng. Con gái tác giả tiếp xúc được với tâm lành của cô cũng nhờ vào khung cảnh trang nghiêm xung quanh.
Nói đến đây tôi lại tự đặt một câu hỏi cho chính mình : một quê hương Việt Nam ngày nay chạy theo vật chất và đang được phát triển nhanh chóng không nghĩ nhiều (hoặc không thể nghĩ nhiều) đến tình trạng môi sinh chắc không dễ đem đến an bình cho nhiều người trong tương lai vì những bệnh tật gây ra bời sự ô nhiễm hoá học cùng cực ?
Thăng Long hôm qua đã ăn mừng lễ hội 1000 năm. Ăn mừng, trống chiên, quần áo loè loẹt, múa hát, ăn uống vui cười thoải mái trong mấy ngày liên tiếp. Nhưng trong chương trình mừng lễ 1000 năm đó của một trong những thành phố cổ nhất trên quả đất không thấy có một ngày, một giờ, một giây phút nhắc đến đạo Phật hoặc đạo Chúa. Nhất là đạo Phật đã đến Thăng Long (lúc đó còn là Luy Lâu) cả hơn 2000 năm về trước. Đạo Phật đã có mặt ở Việt Nam cả 300 năm trước khi Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Quốc. Đạo Phật đã đem lại hưng thịnh cho một dân tộc, nhất là vào đời Trần. Ngày nay con cháu dân tộc ấy, dưới sự lãnh đạo (không được anh minh cho lắm) của Đảng và Nhà Nước, chỉ biết vơ vét vật chất và hưởng thụ và đang dần đi xa những khát vọng và công trình dựng nước đầy gian khổ của tổ tiên.
Tác giả NHL nghĩ có cách nào nói với mấy ông lãnh đạo nước ta đem đạo Phật vào chương trình giảng dạy học đường song song với đạo đức Hồ Chí Minh ?
Nguyễn Hữu Liêm cho rằng “Trong cõi tồn tại của sỏi đất, thì Ngọc là sự kết tinh cao nhất sau hàng tỉ năm tiến hóa. Đến cõi người thì Phật là hiện thân tối hậu của vươn thoát. Tượng Phật bằng Ngọc kết hợp của hai đầu tiến hóa, của con người đến từ sỏi đá, từ thô thiển đến thanh thoát.”
Đọc xong phần trên của tác giả tôi có cảm giác là tác giả không hiểu gì về Phật hay chỉ hiểu chút ít về Phật. Ngay chữ “Phật” đã là sự không tồn tại bằng hiện vật do đó tượng Phật bằng Gỗ hay Ngọc cũng giống như nhau. Không chỉ có Phật ngọc mới kết hợp được trời đất và tâm linh, Phật gỗ cũng có thể làm được chuyện đó nếu một con người nhìn Phật bằng tâm nhãn.
Nếu một người nhìn Phật bằng đôi mắt thường thì tượng Phật ngọc sẽ là Luxury trong đời sống vì nó mắc tiền hơn gỗ vì sự kết tinh của nó.
Tôi thất vọng khi Nguyễn Hữu Liêm nhìn bức tượng chỉ thấy toàn ngọc mà không thấy Phật.
Trong toàn bài viết có một đoạn tôi có được sự xúc động khi tác giả tả về đứa con gái 15 tuổi Jennifer khi đến với Phật bằng tấm lòng thành khi Jennifer thấy Phật là thấy được sự bình an.
Tôi tin cô con gái út Jennifer của NHL là đứa bé có duyên với Phật, mong là Nguyễn Hữu Liêm đừng cho nó tới gần người cộng sản thì mới hy vọng giữ được mãi sự trong trắng tâm hồn của bé.
Tóm lại bài viết của Nguyễn Hữu Liêm về Phật Ngọc chỉ là một sản phẩm Hollywood, một scientifiction của tư tưởng, tôi đọc xong thấy nhạt nhẽo không có gì tồn đọng trong tâm hồn ngoại trừ hình ảnh bé Jennifer.
Xuân Nhi
15 tuổi liệu đã chắc “tìm ra một giá trị chân lý sáng ngời” chưa? Cũng có thể lắm, vì đây chỉ là “một” thôi, còn nhiều thứ chân lý khác còn to hơn,vĩ đại hơn nhiều như thế, chắc phải cần nhiều thời gian hơn mới có thể có được, ví như cảm nhận “một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini” mà chỉ cần nghe bài “Tiến quân ca” hay cảm giác “hân hoan, hào hứng, hồn nhiên” với “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, hay nỗi bình yên tìm được trong những cái chào, cái bắt tay thân mật vui vẻ của những “anh hải quan”, “anh công an”…
Ối dào, đời thế mà dễ sống thật..
Cha mẹ tôi thuộc phái “vô thần”, chỉ thờ cúng ông bà, tổ tiên. Hồi còn ở VN, chưa bao giờ vào chùa, chỉ đôi ba lần theo bạn đi nhà thờ nhất là vào dịp lễ Giáng Sinh. Tôi trở thành Phật tử khi qua đất Mỹ này trong những ngày đầu đến Mỹ vì buồn, vì căng thẳng bởi chương trình họ Y Khoa của Mỹ cho người nói tiếng Anh còn ngọng nghịu. Vài tháng sau khi đến chùa có lễ quy y, các bác, cô, chị Phật tử nói tôi quy y đi. Thế là tôi trở thành Phật tử.
Ngày về thăm quê hương, tôi đến thăm chùa Nguyên Thiều và ngôi chùa gần đó mà hòa thượng tăng thống từng trụ trì. Cảnh chùa thật đẹp, vắng lạnh, xung quanh là những rặng núi của dãy Trường sơn hùng vĩ, quê hương của đại đế Quang Trung Nguyễn Huệ, với ý chí lấy lại vùng đất Lưỡng Quảng, chí lớn chưa thành thì ngài đã băng hà. Tiếc thương cho anh hùng, tiếc thương cho đất nước VN. Tuy ở nơi hẻo lánh nhưng trước cửa chùa là những người thanh niên mặt lạnh như tiền , ngồi trên xe canh chừng cho chùa hay canh chừng khách vãng lai. Chùa chỉ có những tượng Phật bằng gỗ, có một thầy đi ra, thấy chúng tôi niệm hương trước bàn thờ, thầy nói để thầy tụng kinh cho các con. Niệm hương xong, chúng tôi ra về, những anh thanh niên vẻ mặt lạnh lùng vẫn ngồi yên trên xe máy.
Phật trong chùa chỉ bằng gỗ mà vẫn được canh chừng cẩn mật, trong ngôi chùa vắng bóng phật tử của những ngày không rằm, mùng một, khác hẳn với cái quang cảnh đón Phật ngọc tưng bừng, náo nhiệt như Ls Liêm tường trình bên San Jose. Phật bằng gỗ tại VN có lẽ không hiển linh, không quý bằng Phật ngọc bên Mỹ dầu tôi đã biết giá trị vật chất của tượng phật gỗ tại ngôi chùa miền trung không sánh bằng tượng Phật ngọc được chu du khắp nơi nên, phải chăng, ít người thăm viếng trừ một số thường trực ngày đêm trước cổng chùa.
VÂNG. “Hạnh phúc thay cho những ai chiêm nghiệm được Phật Ngọc đang ngồi đó tĩnh tọa dưới gốc cây Giải thoát xanh ngời.”
NHƯNG. Con người sinh ra đời không chỉ mong hưởng “hạnh phúc”. Hay để được “giải thoát”. Giải thoát để đi đâu? Tôi sinh ra đời và chỉ muốn sống trên trái đất này mà thôi.
ADONG và EVÀ đã có “hạnh phúc” trong Vườn Địa Đàng. Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Họ muốn ăn trái của cây biết điều tốt và điều xấu. Nghĩa là: Thay vì là một “cái máy” chỉ biết vâng lời Thượng Đế, họ muốn trở thành một “con người” có ý thức.