Phong Uyên – Ông Trần Văn Tích nên đọc lại “Un Excommunié”
10/08/2010 | 7:00 sáng | 70 Comments
Category: Lịch sử
Thẻ: Nguyễn Mạnh Tường
Đọc bài “Hiện tượng Nguyễn Mạnh Tường” của ông Trần Văn Tích, tôi không thể không có phản ứng khi thấy ông Tích đưa ra những nhận định thiếu chính xác và thiên lệch về nhà trí thức này. Có lẽ vì viết vội vàng ông Tích đã không đủ thì giờ đọc lại nguyên bản tiếng Pháp dày 346 trang cuốn Un excommunié của ông Nguyễn Mạnh Tường mà chỉ, như ông đã tự nói, căn cứ vào bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Giang và phần chú thích của bài “Nguyễn Mạnh Tường bị cáo” của ông Đinh Từ Thức để đưa ra “những suy tư cá nhân”. Cũng có lẽ ông muốn nương vào trường hợp Nguyễn Mạnh Tường để cảnh giác trí thức trong và ngoài nước đừng có nghe lời đường mật của CSVN về “Hoà giải và Hoà hợp dân tộc” mà trở thành những Nguyễn Mạnh Tường tương lai.
Trước hết tôi xin nói về nghĩa “Un Excommunié”:
Diễn đàn Thông Luận đăng bản dịch Un Excommunié theo nghĩa đen là “Kẻ bị rút phép Thông công”. Đối với 95% dân Việt không theo Công giáo, chả ai hiểu phép Thông công là gì. Và ngay cả với những người Công giáo: bị rút phép thông công là tạm thời không được rước mình Thánh cho đến khi biết sửa lỗi. Đó chỉ là hình phạt tinh thần. Còn đối với 90% dân Pháp không bước chân vào nhà Thờ bao giờ, rút phép Thông công chả có ý nghĩa gì cả.
Ông Nguyễn Thanh Giang hiểu “excommunié” là “bị ruồng bỏ” khi lấy từ ngữ này làm đầu đề cho bài viết của ông. Tất nhiên là ở tình trạng của ông Nguyễn Thanh Giang, cũng như tuyệt đại đa số trí thức được chế độ cộng sản đào tạo: Đảng là cha mẹ. Bị Đảng ruồng bỏ cũng như bị cha mẹ ruồng bỏ nên ông Nguyễn Kiên Giang mới cất tiếng kêu than (và kéo luôn cả Nguyễn Mạnh Tường vào) “… đã nói câu nào không đúng? …Sao người ta nỡ nhân danh Đảng (Xin đèn Trời soi xét) đầy đọa hãm hại chúng tôi…!”
Cho mình là “Un Excommunié”, ông Nguyễn Mạnh Tường muốn mọi người hiểu theo nghĩa bóng là kẻ bị khai trừ : Không phải khai trừ khỏi Đảng vì ông đã từ chối không vào Đảng, mà là bị khai trừ khỏi cuộc sống loài người. Phải đọc những đoạn ông kể bị cô lập, bị bỏ đói sống thoi thóp, bạn bè thân thích ruột thịt biết là sống ở đó mà không ai được phép lại gần để giúp đỡ. Phải đọc những đoạn ông tố cáo CSVN treo trên đầu những người trí thức chống đối mình lưỡi gươm Damoclès. Những người này không biết là Đảng sẽ chọn cách nào để triệt hạ mình: Hoặc coi mình là điên nhốt vào nhà thương điên. Hoặc bị nhốt vô kỳ hạn trong một căn phòng trống chật hẹp ở một đồn Công an hẻo lánh, không ai biết mình ở đâu còn sống hay đã chết, không bao giờ được ra ngoài nhìn ánh sáng mặt trời, ban đêm bị làm mất ngủ vì những tiếng đập nồi niêu soong chảo để rút cục cũng trở thành điên. Cũng có thể Đảng ngụy tạo một tai nạn để giết mà không ai chịu trách nhiệm.
Tôi xin mạn phép ông Tích bình luận những điểm mà tôi cho là không đúng, theo thứ tự những tiết trong bài viết của ông:
16 tuổi đỗ tú tài
Học vị Tú tài có từ thế kỷ thứ XIII. Cách mạng Pháp bãi bỏ Đại học và những học vị của nó, tú tài, cử nhân, tiến sĩ. Phải đợi tới năm 1808 Napoléon mới tái lập lại và năm đầu chỉ có 21 người đậu. Năm 1925 khi ông Nguyễn Mạnh Tường đậu tú tài, cả đế quốc Pháp, nếu không nói là cả thế giới (vì tiếng Pháp hồi đó là ngôn ngữ ngoại giao và văn chương được toàn thế giới sử dụng) không tới 10 ngàn người đậu mỗi năm so với 550 ngàn người (65% mỗi thế hệ) bây giờ. Phải ít nhất là 16 tuổi mới được đi thi. Tuổi hạn định là 18 vì học trình cưỡng bách Trung Tiểu học bắt đầu từ 6 tuổi. Ngay bây giờ mỗi năm chỉ có vài người ở tuổi 15-14 được đặc cách đi thi và báo chí đã nói ầm lên. Bởi vậy đậu tú tài ở tuổi 16, ngay ở chính quốc cũng là ngoại lệ.
Hà Nội thủ đô của toàn cõi Đông Dương là một thành phố Pháp và những người dân sinh đẻ ở Hà Nội được coi là thuộc dân Pháp (sujets Français) nên khó mà có thể khai gian tuổi được như những người sinh ngoài Hà Nội.
Hai luận án tiến sĩ trong một năm
Ông Trần Văn Tích đúng khi nói luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa là một thủ tục bắt buộc. Tuy vậy luận án y khoa cũng có nhiều loại có giá trị khác nhau: Người y sĩ tổng quát chỉ cần bỏ vài tháng là có thể hoàn thành luận án. Những bác sĩ chuyên khoa phải bỏ một thời gian lâu hơn nhiều, có khi suốt 4 năm nội trú. Trái lại về luật khoa và nhất là văn khoa, luận án tiến sĩ không phải là một thủ tục vì cả trăm người đậu cử nhân, cao học, chỉ những người thật là ưu tú mới kiếm được một ông thày cho đề tài làm luận án. Ngoài ra 2 ngành Luận và Văn chương khác hẳn nhau khó mà theo đuổi cả 2 cùng một lúc và nhất là trình 2 luận án cùng một lúc như ông Nguyễn Mạnh Tường được. Phần nhiều xong luận án này mới bắt đầu làm luận án kia.
Trái với ý nghĩ của ông Tích, đề tài luận án Luật về Cá nhân và luật lệ trong xã hội cổ An Nam: Thử làm Tổng hợp về bộ luật triều Lê (thế kỷ XV) không phải là dễ. Vì cái khó khi làm luận án là phải sưu tầm đủ thư mục và tài liệu. Những tài liệu về đề tài này rất ít và tất nhiên viết bằng chữ Hán, làm sao ông Nguyễn Mạnh Tường có thì giờ sưu tầm để viết ra bằng tiếng Pháp? Tôi xin nhắc lại lời khen tặng của ông chủ tịch Hội đồng giám khảo (trình luận án bao giờ cũng phải trước công chúng): “Luận án của ông là một kiệt tác về Luật, và hơn nữa, về luật và văn chương. Nội dung rất vững chắc không thể chê trách vào đâu được. Hình thức thì làm người đọc loá mắt. Luận án này có những đức tính làm công trình của ông trở thành một tác phẩm văn học. Đại học Montpellier thấy ông toàn thắng trong 2 phân khoa khác nhau… 22 tuổi,Tiến sĩ Luật, ông lại sắp là tiến sĩ Văn chương. Thật là một kỷ lục vì chưa bao giờ người ta thấy ở Pháp có một tiến sĩ văn chương ở tuổi 22… Tác phẩm ông làm cả phân khoa Luật hãnh diện. Chúng tôi xin trao tặng ông hạng cao nhất mà chúng tôi có: hạng Tối ưu với những lời khen tặng của toàn thể hội đồng giám khảo. (Tôi xin nhắc lại là Đại học Montpellier có từ thế kỷ thứ XIII là một trong những đại học cổ nhất Âu Châu, cùng thời với Sorbonne, Oxford, Cambridge và nổi tiếng nhất về luật học và y khoa nên hồi Trung cổ sinh viên toàn cõi Âu châu đều muốn tới Montpellier theo học những khoa này).
Luận án văn chương của ông Nguyễn Mạnh Tường thật ra là 2 luận án khác nhau: Luận án chính nói về thi sĩ lãng mạn Alfred de Musset. Luận án phụ nói về Jules Boissière, một tác giả Pháp viết về Việt Nam cuối thế kỷ thứ XIX. Có được một đề tài làm luận án đã là khó rồi, không biết làm sao ông Nguyễn Mạnh Tường lại có 2 đề tài!
Ông Trần Văn Tích muốn biết vì sao luận án của ông Cao Huy Thuần về Công giáo xâm nhập Việt Nam được dịch in mà làm ông này phiền lòng thì chỉ cần về Sài Gòn vào mấy tiệm sách quốc doanh đường Nguyễn Huệ là hiểu liền khi thấy luận án của ông Thuần được Ban Tư duy cho dịch, in thành sách bày bán.
Nguyễn Mạnh Tường từ 1932 đến 1936
Tôi không tìm thấy tài liệu nào nói ông Nguyễn Mạnh Tường trở lại Pháp sống từ 1932 đến 1936. Có thể là vì ông hành nghề tự do, dễ dàng thu xếp thì giờ, lại có phương tiện, nên mỗi năm trở lại Pháp sống cuộc đời một trí thức Pháp, vô thư viện đọc sách hay đi thăm các viện bảo tàng Âu châu, đồng thời cũng muốn thâu thập tài liệu để viết sách. Ông đã xuất bản từ khoảng thời gian đó cho tới 1940 bốn cuốn sách: Một cuốn nói về tâm lí và những hoạt động tri thức và xã hội của thế hệ trẻ Việt Nam được đào tạo ở Pháp: Sourires et larmes d’une jeunesse. Hai cuốn nói về giá trị Pháp và giá trị Địa Trung Hải (Tây Ban Nha, Ý, Hi Lạp): Pierres de France, Apprentissage de la Méditerranée. Cuốn thứ 4 là một bản kịch diễn tả sự xung đột tâm tình giữa một chàng trai thích du lịch tượng trưng nhu cầu muốn thay đổi của Phương Tây và một người con gái tượng trưng sự trung thủy và tính kiên trì của người Á Đông: Le Voyage et le Sentiment.
Tôi không hiểu vì lí do gì ông Trần Văn Tích lại cho là ông Nguyễn Mạnh Tường, cũng như đa số trí thức Pháp hồi đó, cần phải quan tâm tới mấy nhà văn marxistes vì chỉ trích chế độ cộng sản Staline phản bội Marx mà bị khai trừ khỏi các đảng cộng sản theo Staline hay tự ý bỏ đảng. Tư tưởng Marx chỉ bắt đầu có nhiều ảnh hưởng trên giới trí thức Pháp từ sau Thế chiến thứ Hai.
Những điều người trí thức có vẻ không trí và không thức
Tôi không biết ông Trần Văn Tích căn cứ vào đâu mà quả quyết là “Nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường cũng từng tự mình tự nguyện tự giác tự động đầu quân dưới trướng lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh…“
Tôi xin nhắc lại là chỉ sau ngày 19.8.1945, lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà Nội, Việt Minh phất cờ chạy theo cướp chính quyền, dân Hà Nội mới biết đến tên Hồ Chí Minh. Trước đó không ai biết ông này là ai cả. Ông Nguyễn Mạnh Tường lại càng không biết vì từ khi về nước năm 1932, không bao giờ ông để ý đến chính trị, chỉ lo hành nghề luật sư của mình, đọc sách viết văn. Ông Hồ lại khôn ngoan giải tán Đảng Cộng sản, lập chính phủ liên hiệp để đấu tranh ngoại giao với Pháp giành độc lập, khiến những người trí thức yêu nước bị đặt vào tình trạng không thể không giúp chính phủ Liên hiệp điều đình với Pháp mà ông Hồ đã khôn khéo đặt dưới sự điều khiển của các thủ lãnh quốc gia như ông Nguyễn Tường Tam bộ trưởng bộ ngoại giao, ông Vũ Hồng Khanh, phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến. Ngày 19.12.1946 (gọi là ngày Toàn quốc kháng chiến), Việt Minh đánh úp Pháp ở Hà Nội để bắt buộc toàn dân Việt Nam không còn có chọn lựa nào khác ngoài theo mình chống Pháp. Cũng như mọi người dân Hà Nội, ông Nguyễn Mạnh Tường phải đem cả gia đình cha mẹ con cái tản cư khỏi Hà Nội và theo Đại học Nhân dân vào Khu Tư. Những người quê quán gần Hà Nội lại không ai biết tiếng dễ lọt vòng kiểm soát của dân quân tự vệ để “dinh tê”. Những người có chức phận hay có tiếng tăm phải theo cơ quan lên Việt Bắc hay vào Khu Tư, khó mà trở về thành được, bắt buộc phải ở lại hậu phương với Bác, Đảng (chứ không phải ra bưng vì ngoài Bắc không có bưng biền như ở trong Nam) nên không thể nói là tự nguyện đầu quân dưói trướng ông Hồ được.
Ông Hoà Nguyễn, người mà tôi gọi là “mon Sainte-Beuve” vì luôn luôn “chỉnh” tôi về mọi vấn đề, đưa ra một nhận xét mà tôi thấy hoàn toàn chí lí “Chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường đi theo với phong trào Việt Minh cũng không nên chỉ trích thái quá (Đọc cuốn Un excommunié sẽ thấy không bao giờ ông Nguyễn Mạnh Tường đi theo Việt Minh cả). Nếu vì mục đích chống Pháp giành lại độc lập ở một hoàn cảnh một trí thức đang ở giữa Hà Nội và trong vòng bủa vây của Việt Minh, thì ông Nguyễn Mạnh Tường không có cách nào khác… và có thể là bất đắc dĩ đứng hẳn về phía ông Hồ trong một thời gian phục vụ cho chính nghĩa chống Pháp, rồi khi thắng Pháp, không chịu được nữa, chống lại để bị ngược đãi, nhưng sau này có cơ hội vẫn gióng tiếng lên tiếng nói phản kháng của mình để vừa tố cáo chế độ vừa giúp cảnh tỉnh một số người (ít ra là ở Pháp).
Về chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường được tự do “lên tiếng” ở Hội nghị các Luật gia dân chủ họp tại Bruxelles năm 1956, hay ông Nguyễn Mạnh Tường bị dùng như cái micro của Đảng, tôi xin ông Trần Văn Tích đọc lại trang 32 cuốn Un Excommunié để biết phái đoàn được Đảng chỉ định đi dự Hội nghị gồm những ai: “Với tư cách là chủ tịch luật sư đoàn và phó chủ tịch hội Luật gia Việt Nam, tôi được phong làm trưởng một phái đoàn trong đó ngoài tôi còn có ông Nguyễn Huy Mẫn, một luật sư công giáo, ông Lê Văn Chất, Chủ tịch Toà án Quân sự đặc biệt, ông Bùi Lâm, một quan chức bự (un haut dignitaire) của Đảng, hội thẩm Toà án Quân sự…” Nếu cho là trong một phái đoàn luật gia “dân chủ” Đảng cử đi, có 2 ông: một ông là chủ tịch Toà án Quân sự đặc biệt, một ông là quan chức bự của Đảng đồng thời cũng là hội thẩm của cái toà án ấy, không phải là những người thảo mọi diễn văn bắt 2 anh luật sư, một anh là Công giáo, một anh là tư sản phải dịch ra và đọc như con vẹt, thì thật là quá ngây thơ hay chống cộng một cách quá mút mùa. Có nước dân chủ pháp quyền nào có toà án quân sự trong thời bình? Và dám thách đố dư luận quốc tế đến độ nào để cử một phái đoàn “luật gia” 4 người trong đó 2 người là thủ lãnh của cái toà án quân sự đặc biệt đó!
Ông Trần Văn Tích đem ghép chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường lên tiếng ở Bruxelles tháng 6 với chuyện dân Hung Gia Lợi nổi dậy tháng 10 cùng năm đó mà không biết là ngày 30-10-56 ông Nguyễn Mạnh Tường đã đơn thương độc mã tới buổi họp của Mặt trận Tổ quốc, đọc một bản viết đòi xây dựng lại Lãnh đạo để có một nhà nước Pháp quyền và chấn hưng lại truyền thống của cha ông vì đạo lí xã hội quá xuống cấp. Vì bài viết này mà ông Nguyễn Mạnh Tường bị 3 lần tố khổ: 1. Trước Mặt trận Tổ quốc; 2. Bởi sinh viên trong trường Đại học mình dạy; và 3. Trong trụ sở của đảng Xã hội. So với vụ Nhân văn dầu sao cũng là xử tập đoàn và những án tù có thời hạn, bản án mà ông Nguyễn Mạnh Tường phải gánh chịu nặng nề và thâm hiểm hơn nhiều: Cầm tù tại gia vô thời hạn (kể đến khi được đi Pháp là 33 năm!). Cả gia đình bị cắt tem phiếu phải mua thực phẩm chợ đen, đến khi hết tiền cả gia đình chỉ còn đủ gạo nấu cháo, đồ đạc bán chả ai mua và nhất là cả nghìn cuốn sách phải bán cân ký. Cái khổ nhất là bị cô lập bạn bè thân thuộc không ai được tới hỏi thăm giúp đỡ. Đó là cái nghĩa của Un Excommunié mà ông Nguyễn Mạnh Tường tự gán cho mình.
Ông Trần Văn Tích nên yên chí là nước Việt Nam sẽ không bao giờ sản xuất được thêm một người trí thức toàn vẹn và khí khái như ông Nguyễn Mạnh Tường nên ông đừng sợ có nhiều Nguyễn Mạnh Tường khác sẽ bị cộng sản cám dỗ. Tôi nói ông Nguyễn Mạnh Tường khí khái là vì đã không ở lại nước ngoài như những người chỉ dám viết sách viết báo để những người chống cộng đọc với nhau khi đã ra khỏi nước, mà tự trở về nước ở tuổi 82 viết một cuốn sách thuật lại cuộc đời mình bằng một tiếng Tây phương uyên bác, chuyển qua nước ngoài in để những người Tây phương hiểu Cộng sản Việt Nam đối đãi người trí thức và những người đòi dân chủ ra sao. Ông Nguyễn Mạnh Tường còn can trường: tôi xin trích dịch sau đây một đoạn trong một bức thư bằng tiếng Pháp gửi từ Hà Nội ngày 16.3.1992:
“… Nếu người ta đẩy cái dã man đến độ hành hạ tôi như đã hành hạ những người trí thức khác bị cáo là nói xấu chế độ, tôi sẵn sàng bình chân như vại chờ đợi những thử thách mà tôi biết rất là khắc nghiệt. Tôi đã quyết định, nếu sự đó xảy ra, tuyệt thực cho đến chết. Ở tuổi 84, tôi đã biết cái tốt nhất cũng như cái xấu nhất của cuộc đời nên tôi không ân hận gì bỏ cuộc sống này khi đã làm tròn bổn phận một người trí thức trước dân tộc và trước lịch sử”…
Thử so sánh với ông Nguyễn Hữu Đang: Ông Heinz Shütte phải hứa là khi ông này còn sống không được công bố những buổi đàm thoại đã diễn ra giữa 2 người từ năm 1999 đến năm 2002. Phải đợi ông Nguyễn Hữu Đang mất ngày 8.2.2007, ông Shütte mới công bố những buổi gặp gỡ này. Sở dĩ như vậy là vì ông Nguyễn Hữu Đang muốn được yên thân trong tuổi già.
Tiện đây tôi cũng xin trả lời một phản hồi của ông Nam Phan là không nên tin vào những bài tham luận, những lời tỉ tê của những vị giáo sư được cử ra để “tố thiện” ông Nguyễn Mạnh Tường (cũng như sau này sẽ tới tua những vị như Phạm Quỳnh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu…) trong những dịp kỷ niệm sinh nhật. Không có chuyện báọ Le Monde phỏng vấn để các vị giáo sư này bịa ra những câu trả lời ấu trĩ so sánh Ceausescu với ông Hồ và gán cho ông Nguyễn Mạnh Tường. Chỉ có Đài Truyền hình TF1 được nhiều người coi nhất ở Pháp phỏng vấn ông một lần và các nhà báo hỏi ông “theo ông nghĩ khi nào chế độ Việt Nam sụp đổ?” Ông Nguyễn Mạnh Tường trả lời, “Tôi không phải là nhà chiêm tinh cũng không bao giờ bói bài. Patience, patience dans l’azur! Chaque atome de silence, est la chance d’un fruit mûr!“
Những người phỏng vấn ông không thể không cảm phục cái ứng đối “xuất khẩu ra thơ Paul Valéry” này của tiến sĩ văn chương Nguyễn Mạnh Tường và hiểu là ông muốn nói chỉ cần kiên nhẫn im lặng chờ đợi. Quả sung chín thế nào cũng rụng. Nghĩa là sớm hay muộn chế độ CSVN thế nào cũng sụp đổ.
Kết luận
Có những người gọi là chống cộng nhưng thật ra là gián tiếp tuyên truyền cho cộng sản khi cho rằng mọi tầng lớp trí thức từ thời Tây đào tạo cho tới những người “trí thức của Việt Nam hôm nay, tại quốc nội hay nơi hải ngoại” đều tự đầu quân dưới trướng hay sẽ ăn bả CSVN cả. Cộng sản khi không được coi là vẫn có sức quyến rũ mãnh liệt, nằm vùng đủ mọi nơi, gửi văn công cùng mọi chỗ. Những người chống cộng chính hiệu con nai này lại tự vạch mặt chỉ tên nhau, tự tố cáo lẫn nhau, coi những người không dứt khoát với cộng sản bằng lỗ miệng như mình đều có ý muốn hoà hợp hoà giải giao lưu hội nhập với cộng sản cả. Thử hỏi: những thế hệ trẻ trong nước thấy CSVN mạnh như vậy thì còn dám ngo ngoe đòi dân quyền dân chủ làm gì? Sẽ im thin thít đợi ngày được chấp nhận vào Thành đoàn để được Đảng ban cho cái gì thì nhận cái ấy.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
Bình luận
70 Comments (bài “Phong Uyên – Ông Trần Văn Tích nên đọc lại “Un Excommunié””)
« Trang trước 1 2 3 4 5 Trang sau »
@Trần Lâm & @Hòa Nguyễn
– Nghe hai bác đang nói chuyện về vua Bảo Đại, tôi thắc mắc là quyển hồi ký ‘Con rồng Việt Nam’ có soi sáng điều gì không?
– Có người nói rằng: cứ ‘đầu tư, cứ để giai cấp ‘red capitalists’ sanh sôi nảy nở, và cứ mặc kệ ‘điều tư’ của hiến pháp như hiện nay. Khi red capitalists giàu đủ rồi thì chúng sẽ là lực lượng với thế lực mạnh trong việc đòi hỏi tự do dân chủ và một nhà nước pháp quyền cho VN. Cái này chắc hai bác và tôi phải trưng cầu ý kiến độc giả talawas. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng cái bánh vẽ này vẫn còn to quá, và nếu theo đuổi nó xã hội VN sẽ sớm trở nên đa cực, chia rẻ, dân khí và nội lực dân tộc yếu mềm, tài nguyên nhân vật lực của quốc gia rơi vào tay tài phiệt quốc tế nhanh chóng cho đến lúc cạn kiệt và đa số dân VN vẫn nghèo và lót tót theo đuôi thế giới trong mọi lãnh vực.
Xin cám ơn BS Tích và TS Đăng đã trả lời thắc mắc của tôi. Tôi đã vào Blog của TS Đăng và rất thích.Tôi đã nghĩ lầm TS là con của BS Tạ Ánh Hoa vì tôi biết cô Ánh Hoa có người con trai ngang tuổi với TS và hình như cũng đi du học Liên Sô về. Riêng BS Tích, xin bác cứ gọi cháu bằng cháu, cháu rất vui khi được bác gọi là cô.
@ NĐThường
Người Pháp là một vấn đề lịch sử. Chúng ta có thể tranh luận để đi đến một cái nhìn chính xác hơn về họ. Điều này hoàn toàn không cần thiết đối với chế độ Hà Nội, một vấn đề của hiện tại và tương lai. Tôi tất nhiên đồng ý với NĐThường rằng nó phải được “giải thể tức thì.” Có vô số lý do tại sao Việt Nam cần phải được dân chủ hóa càng sớm càng tốt.
@ Hòa Nguyễn
Tôi sẽ tìm sách của Lê Xuân Khoa để đọc và xin được bổ túc thêm về hai chi tiết.
1/ Câu hỏi Pháp có thể tin dùng Bảo Đại ngay được không. Xem Mark Atwood Lawrence, Assuming the Burden, 191: “Bao Dai served as “supreme advisor” to the Hanoi regime for seven months before decamping to Hong Kong in early 1946. It was there that French agents found the former emperor and began the campaign to coax him into reentering Vietnamese politics on behalf of yet another sponsor, the new French republic.”
2/ Vị cao ủy Đông Dương thương nghị với Bảo Đại cuối năm 1947 là Emile Bollaert chứ không phải D’Argenlieu. Đầu năm đó, D’Argenlieu đã bị cách chức.
Tiện đây tôi cũng xin chia sẻ với HN cùng bạn đọc bốn phương bức phóng ảnh của một tờ truyền đơn ủng hộ giải pháp Bảo Đại được Vũ Ngự Chiêu in lại trong sách của ông ta.
https://docs.google.com/document/pub?id=1omhXwsqOuyQNeq29TRFSS_LY-BRdkelsFlcur59TmZg
Thưa ông Nguyễn Đình Đăng
(http://www.talawas.org/?p=23215#comment-16696)
Nếu vậy và nếu tôi nhớ không lầm thì hình như vào khoảng năm 1953 lệnh mẫu có làm việc ở Bệnh Viện Đặng Vũ Lạc Hà nội và tôi đã có hân hạnh gặp bà một lần, còn nhận ra đôi nét quen thuộc qua một vài tấm ảnh mà ông giới thiệu .
Thân chào ông/bà/anh/chị tracy,
Tôi có một trang web dành cho cha mẹ tôi tại đây. Mẹ tôi là bác sĩ Vũ Thị Chín (sinh năm 1924). Sau khi học interne des hopitaux (nội trú các bệnh viện), mẹ tôi tốt nghiệp bác sĩ năm 1952 tại Đại học Y Khoa Hà Nội với luận án mang tên “Bệnh sỏi mật ở miền Bắc Việt Nam” (“La lithiase biliaire au Nord Vietnam”, thèse pour le diplôme d’Etat de doctorat en médecine, Faculté de médecine, Université de Hanoi, Mai 1952)[1]. Hồi đó hiệu trưởng đại học Y khoa Hà Nội, kiêm giám đốc bệnh viện Phủ Doãn (nay là bệnh viện Việt – Đức) là GS Pierre Huard. Lúc đó toàn miền Bắc Việt Nam chỉ có 2 phụ nữ tốt nghiệp bác sĩ y khoa là mẹ tôi và bà Nghiêm Thị Thuần. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ, mẹ tôi sang Pháp học chuyên khoa nhi tại Đại học Y khoa Paris (1952 – 1954), tốt nghiệp Diplome de puériculture et pédiatrie (dưỡng nhi và nhi khoa) (6/1953) và Assistant Etranger de l’Union Française tại Đại học Y khoa Paris (1/1954). Sau khi mẹ tôi từ Paris trở về Hà Nội (năm 1954), bác sĩ Nghiêm Thị Thuần di cư vào Nam (năm 1955). Miền Bắc Việt Nam lúc đó còn lại mẹ tôi là nữ bác sĩ duy nhất. Mẹ tôi năm nay 86 tuổi, sống tại Hà Nội, và chưa bao giờ là đảng viên cộng sản.
Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, theo tiểu sử, sinh năm 1930 tại Sài Gòn, học tại Đại học Y khoa Sài Gòn. Năm 1948 bà Dương Quỳnh Hoa sang Pháp học tiếp, tốt nghiệp bác sĩ năm 1953, chuyên khoa nhi năm 1954 tại Pháp. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa từng là đảng viên cộng sản, bộ trưởng Y tế Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam VN (1969 -1975), thứ trưởng Y tế CHXHCN VN sau 1975. Năm 1975 bà chính thức xin ra khỏi Đảng CS Việt Nam, song đến năm 1979 đề nghị ly khai của bà mới được chấp nhận. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa qua đời ngày 25/6/2006. Xem thêm Trường hợp Dương Quỳnh Hoa, BS Dương Quỳnh Hoa,
Duong Quynh Hoa – The Courage to Follow One’s Conscience.
Bác sĩ Tạ Ánh Hoa cũng tốt nghiệp nhi khoa tại Pháp, nhưng sau mẹ tôi (năm nào tôi không rõ). Bà cùng chồng từ Paris về Hà Nội vào khoảng đầu những năm 1960. Con trai bà sinh năm 1959 (tại Paris), và từng học cùng trường phổ thông cấp 3 với tôi tại Hà Nội.
————–
[1] Luận án này sau đó từng được trích dẫn, ví dụ trong:
P. Huard, G. Lanchou, Tran Anh, Les enquêtes anthropologiques faites en Indochine et plus particulièrement au Vietnamtrong “Bulletins et Mémoires de la Société d’Anthropologie de Paris”, XI° Série, Tome 3 fascicule 4, 1962. pp. 372-438 (tại trang 418).
W. Hess, A. Rhoner, A. Cirenei, A. Akovbiantz, Maladies des voies biliaires et du pancreas, Piccin, 1992, trích dẫn 672, trang 257.
W. Hess and G. Berci, Textbook of Bilio-pancreatic Diseases, Piccin 1997, trích dẫn 743, trang 254.
@Nguyễn Đăng Thường
‘Nếu chế độ Hà Nội hiện nay chỉ là “sự đồng lõa giữa một số không nhỏ người Việt “bình thường” và giai cấp cầm quyền Hà Nội trong nỗ lực bảo vệ quyền lợi cho nhau” (Trần Lâm) thì nên giải thể tức thì,…’
Xin đồng ý với phương cách giải thể tức thì của bác Nguyễn Đăng Thường. Làm sao bắt đầu thực hiện phương cách này?
– Việc “đầu tiên” không phải là “tiền đâu” đổ vào VN để đầu tư và phát triển khu vực tư doanh và giảm bớt ảnh hưởng chính trị-kinh tế-xã hội của khu vực quốc doanh kém hữu hiệu theo kiểu kinh tế thị trường ‘định hướng xhcn’ (sic)vì khi quyền lực chính trị theo sau đó là quyền lực kinh tế vẫn còn độc nhất trong tay của đcsvn thì các ách tắc à la Vinashin với các tầm mức lớn hay nhỏ sẽ còn xảy ra dài dài, dẫn đến việc ‘tư bản hóa’ giai cấp thống trị (capitalisation of the nomenclatura=>red capitalists khi quyền lực chính trị lẫn quyền lực kinh tế đều nằm gọn trong tay các đảng viên đcsvn ở mọi cấp và mọi khu vực). Trong hoàn cảnh đó, cán cân phân chia lợi tức trong xã hội nghiêng về giai cấp quyền thế thống trị, khoảng cách giàu nghèo ắt xảy ra với các mức độ khác nhau trong mọi khu vực tùy theo tài nguyên và cơ hội của từng địa phương (resource endowment, business opportunities, existence of economic rents). Xã hội đảo điên, nhân tâm ly tán, ăn xổi ở thì, mackenoism, sống chết mặc bây tiền thầy bỏ túi, tham nhũng, hối lộ…là hậu quả tất yếu.
Xin đồng ý với phương cách giải thể tức thì của bác Nguyễn Đăng Thường. Vì các lý do thượng dẫn, nan đề VN không phải là ‘tiền đâu’ để mà ‘đầu tư’ rồi đợi cho khu vực tư sẽ lấn áp khu vực công hay quốc doanh và VN sẽ từ từ thay đổi , dân VN sẽ dần dà được ấm no hạnh phúc. Đó là cái bánh vẽ khổng lồ dân ta đang ngắm. Giải pháp chính theo tôi nghĩ là hủy bỏ điều 4 hiến pháp chxhcn VN hầu cỡi bỏ các trói buộc chính trị (các bàn tay sắt bọc nhung vô hình = the invisible iron hands in velvet gloves) đang kềm hãm hay đục khoét những phát triển kinh tế xã hội VN. Vấn đề này đã được nhiều người đệ đạt từ thập niên 90 của thế kỷ 20, sao bây giờ cũng vẫn y nguyên?
Cô Tracy,
Tôi đọc các phản hồi của cô và được biết cô không lớn tuổi hơn các con của tôi bao nhiêu vì thế nên tôi mới dám xưng hô như thế này. Nếu có sai sót xin cô bỏ qua cho và tôi sẽ tự động sửa chữa lại cách xưng hô.
Bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa không thể nào là thân mẫu ông Nguyễn Đình Đăng được. Chồng bà Hoa là ông Huỳnh Văn Nghi (tôi nhớ đại khái). Hai vợ chồng chỉ có một con trai và cháu bé chết sớm trong vùng rừng núi thuộc quyền kiểm soát của Mặt trận giải phóng miền Nam, có vẻ như vì bị viêm màng não. Vả lại bà Dương Quỳnh Hoa đâu có làm việc tại Hà Nội. Còn về bà Tạ Ánh Hoa thì tôi hoàn toàn không biết gì hết.
@Trần Lâm
Tôi không thông suốt lịch sử đất nước, không nghiên cứu sách vở nên có thể đã nói bậy bạ, và “buộc tội” không đúng chỗ, thành thật xin lỗi.
Pháp thực dân, vì quyền lợi, nên đã muốn bám víu vào thuộc địa cũ cho đến phút cuối cùng, là chuyện dĩ nhiên không khó hiểu, giở lại mãi trang sách cũ đó để làm gì? Hồ Chí Minh thì đã không chừa một phương tiện nào để tranh đấu, kéo dài cuộc chiến Bắc Nam, gây đau thương xương máu trong suốt bao năm tháng, là vì quyền lợi của đân tộc đất nước hay là vì chủ nghĩa cộng sản? Ai có tội và đáng trách hơn ai, và đó có phải đã “thắc mắc” của BS Trần Văn Tích khi phản hồi?
Nếu chế độ Hà Nội hiện nay chỉ là “sự đồng lõa giữa một số không nhỏ người Việt “bình thường” và giai cấp cầm quyền Hà Nội trong nỗ lực bảo vệ quyền lợi cho nhau” (Trần Lâm) thì nên giải thể tức thì, và đó mới là “vấn đề”, chứ không phải sự “ngoan cố” của nước Pháp khi lựa chọn một giải pháp cho VN trong quá khứ, có phải thế không ạ?
Ông Trần Lâm :” chúng ta sẽ phải dựa vào những chuyện họ (Pháp) đã làm từ thời Phạm Quỳnh trong thập niên 30 đến thời Ngô Đình Diệm trong thập niên 50 để xem họ có “thiện chí” với người Việt không CS hay chống CS hay không “.
Tôi không nghĩ đó là chuyện nên làm. Ở mỗi giai đoạn lịch sử con người có những cách nghĩ và hành động khác nhau. Ngay ông Phong Uyên, tôi không nghĩ là người tin nhiều đạo Phật, vậy mà đã hai lần viết “theo giáo lý “vô thường” của Phật giáo…”. Ai biết về nước Pháp thì còn nhớ có nhiều thời kỳ tính trung bình mỗi tháng Pháp thay chính phủ mới một lần, và chính sách của họ cứ thế mà thay đối. Hôm nay trên talawas, có bài viết về ông Nguyễn Hữu Đang, và hãy nghe ông kể lại:
” Tôi bắt đầu biết chủ nghĩa cộng sản là thế nào từ năm 1936 trong phong trào Mặt trận Bình dân, nhờ các sách báo từ bên Pháp được đưa sang tự do. Chính Mặt trận Bình dân đã tạo ra quyền uy của Đảng Cộng sản. Không có Mặt trận Bình dân, nhân dân Việt Nam sẽ hoàn toàn mù tịt về vai trò của Đảng Cộng sản. Chính nhờ Mặt trận Bình dân với việc nhập khẩu báo chí Marxist xuất bản tại Pháp. Chính thời kỳ khai phóng thực dân ấy đã tăng cường ảnh hưởng của các nhóm cộng sản Việt Nam. Trước đó, tất cả những người cách mạng Việt Nam đều là những người chống thực dân, chống Pháp. Sau đó, chính cuộc kháng chiến chống Pháp đã tập họp và tăng cường hơn nữa ảnh hưởng của Đảng Cộng sản. ”
Tôi có lần viết các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, cả Lê Duẩn…đến với chủ nghĩa CS là vì Pháp (tuyên truyền) đấy thôi. Pháp trở lại để tái chiếm VN năm 1945 với chính phủ cực hữu là De Gaulle, và Pháp đình chiến để rút quân năm 1954 với chính phủ cực tả (Xã hội) là Mendès France. Nhưng về sau này, chính De Gaulle là người cho nước Algeria độc lập. Thật sự, De Gaulle rời chính trường Pháp (lần đầu) trước ngày Pháp nổ súng ở Hà Nội.
Về “giải pháp Bảo Đại” của Pháp tôi nghĩ ông Lâm nên tìm đọc sách của ông Lê Xuân Khoa, cuốn “Việt Nam 1945-1975”, vì được viết rất đầy đủ, dài từ trang 89 đến trang 104.
Tôi chỉ nói thêm vài điều ở tài liệu khác.
Trong thời gian Bảo Đại bị giữ tại bãi bể Đồ Sơn (Thanh Hóa) để cách ly với các chính trị gia ( quốc gia) ở Hà Nội, ông Hồ Chí Minh cho ghi tên Bảo Đại vào danh sách ứng cử viên quốc hội. Ngày 7-1-46, HCM cho người đến thông báo với BĐ rằng ông đã đác cử dân biểu tại đơn vị Thanh Hóa với 92% số phiếu. Thử nhìn từ phía Pháp: sau đảo chính 9-3-1945, Bảo Đại đã theo Nhật tuyên bố VN độc lập, đến khi Nhật đầu hàng BĐ vẫn tuyên bố VN độc lập và kêu gọi toàn dân đoàn kết chống Pháp trở lại, đồng thời sáp nhập Nam kỳ vào nước VN. Sau đó, BĐ là cố vấn của HCM, dân biểu quốc hội trong chế độ mới chống Pháp. Vậy Pháp có thể tin dùng ngay được không ?
Ông Nguyễn Ngọc Huy là người hoạt dộng chính trị rất đáng nể, nhưng có thể không là người chuyên viết sử, nên khi ông cho “The Bảo Đại solution encouraged by the Americans.. ” đáng được xét lại kỹ hơn.
Theo Nguyễn Kỳ Phong (viết dựa vào tài liệu phía Mỹ), những năm 1947, 1948 có nhiều cuộc biểu tình ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội ủng hộ Bảo đại, báo chí cũng đăng nhiều bài xã luận theo chiều hướng ủng hô cựu hoàng. Cuối năm 1947, cao ủy Đông Dương D’Argenlieu thương nghị với Bảo Đại ở vịnh Hạ Long, rồi gặp thêm lần nữa ở Genève vào đầu năm 1948. Vậy Pháp tìm đến BĐ khá sớm. Nhưng mãi đến tháng 6 năm 1949, Bảo Đại mới về nước chuẩn bị nắm quyền như một quốc trướng. Ngày 1-7-1949, một chính phủ mới được thành lập, với nước VN bây giờ “thống nhất”, độc lập về mọi mặt trừ ngoại giao và quân sự. Nhưng qua đầu năm 1950, Pháp (và phe “quốc gia”) mất thế thượng phong trên chiến trường.
Góp ý với câu viết của ông Nguyễn Ngọc Huy: Mỹ không ủng hộ giải pháp Bảo Đại, nhưng Mỹ muốn Pháp trao trả độc lập cho VN. Theo NKP, khi thỏa ước Elysée được công bố vào tháng 3-49, Mỹ thấy thỏa ước không đem lại độc lập thật sự như người VN mong muốn, và nếu chính phủ không được lòng dân thì giải pháp Bảo Đại sẽ thất bại khi chưa kịp bắt đầu. Vụ Viễn Đông của Mỹ muốn thấy Pháp nới rộng quyền tự do cho VN nhiều hơn. Nhưng Mỹ ở vào thế “kẹt”, giống như với nước CHXHVN ngày nay. Lúc đó, Mỹ cần Pháp bằng lòng cho Đức phục hồi công nghiệp nặng, tái vũ trang và thành lập NATO để chống Liên xô ở châu Âu. Do đó Mỹ không thể ép Pháp ở VN, huống chi năm đó Mỹ chỉ giúp Pháp có 10 triệu đô la cho chiến tranh ở Đông Dương. Trong năm 1950, khi Pháp chính thức xin viện trợ, Mỹ mới giúp lên gần 100 triệu mỹ kim. Bảo Đại không bao giò là “con bài ” của Mỹ, nhưng Mỹ ủng hộ chính phủ BĐ và giúp quân đội “quốc gia” ngày càng ít lệ thuộc Pháp. Chỉ ông Ngô Đình Diệm được Mỹ chọn, và đề nghi Pháp, Bảo Đại chấp nhận. Khi Nguyển Văn Hinh chống lại Ngô Đình Diệm là theo ý Pháp(chống ông Diệm và chống Mỹ, và khi Nguyễn Văn Vỹ định đảo chính ông Diệm là theo lệnh Bảo Đại. Nhưng nhiều sĩ quan (cấp tá) trong quân đội quốc gia chỉ mới thành lập tới cấp tiểu đoàn đã chống lại các tướng Hinh và Vỹ, ủng hộ ông Diệm lúc đó, như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Trần Thiệm Khiêm.
@ Nguyễn Đăng Thường
“Tại sao Hà Nội cầm quyền trong suốt 85 năm (?) qua, với biết bao cải tổ, thay đổi đường lối chính sách (XHCN, kinh tế mới, đổi mới, kinh tế thị trường theo định hướng, kinh doanh ra biển lớn) cho đến nay vẫn chưa mang lại hạnh phúc ấm no cho đại đa số?”
Một yếu tố có thể góp phần giải đáp câu hỏi nói trên là sự đồng lõa giữa một số không nhỏ người Việt “bình thường” và giai cấp cầm quyền Hà Nội trong nỗ lực bảo vệ quyền lợi cho nhau. Để duy trì chế độ của họ, giai cấp cầm quyền này đã phải duy trì một hệ thống công ty quốc doanh với mục đích chính là cung cấp công ăn việc làm cho những người mà họ cần để bảo vệ thế lực. Nếu hệ thống quốc doanh này được tư hữu hóa để “mang lại hạnh phúc ấm no cho đại đa số”, thì phần đông nhân viên của nó sẽ mất việc và sau đó giai cấp cầm quyền cũng sẽ mất quyền. Do vậy, hai nhóm này đã phải bám vào nhau để duy trì một hiện trạng chận đứng sự phát triển quốc gia.
(Nhân tiện cũng xin ghi thêm rằng câu văn sau đây trong hồi ký của cựu đại sứ Bùi Diễm, một đảng viên Đại Việt, đã gợi cho tôi một xuất phát điểm trong việc tìm hiểu về sự thất bại của người Việt chống Cộng: “With its democratic principles and militant Vietnamese nationalism, the Dai Viet Quoc Dan Dang attracted a generation of Vietnamese students. Unfortunately, beyond its philosophical commitment to government with, for, and by the people, the Dai Viet Quoc Dan Dang had only the most nebulous ideas about social and economic development.” Tôi trích câu này ở đây để “chứng minh” với NĐThường rằng tôi có cố gắng tìm hiểu vấn đề nói trên, chứ không phải chỉ đặt ra câu hỏi với mục đích khiêu khích.)
Xin chân thành cám ơn TS Đăng đã trả lời cho tôi. Có 1 thắc mắc nhỏ TS có nhắc đến thân mẫu của TS là BS Nhi Khoa từ Pháp về. Tôi được biết có 2 bs Nhi từ Pháp về làm việc tại Hà Nội BS Dương Quỳnh Hoa và BS Tạ Ánh Hoa, không biết thân mẫu của TS là 1 trong 2 BS ấy? Trong list danh sách NGND không thấy có tên 2 vị này?
Thân chào ông/bà/anh/chị tracy,
GS TS Vũ Như Canh nguyên có 4 người con: ba trai và một gái. Người con trai cả và con trai út đã mất. Hiện nay GS Vũ Như Canh đã ngoại 90 và sống tại Sài Gòn.
Khi tôi còn nhỏ ở Hà Nội, bác Canh thường đội mũ phớt trắng, đi xe máy vespa tới nhà tôi chơi. Dần dần xe vespa được thay bằng một chiếc xe đạp.
Trong danh sách 101 vị chính phủ Việt Nam phong tặng danh hiệu “Nhà giáo nhân dân” (NGND) năm 2008 tên của GS TS Vũ Như Canh đứng thứ 92. Nhân dịp này, vào ngày 19/11/2008 khoa Vật lý Đại học Sư phạm Hà Nội có tổ chức lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam có sự hiện diện của GS Vũ Như Canh. Xin mời xem hình và tin tại đây. Trong bức hình đầu tiên GS Vũ Như Canh là người thứ 7 từ trái sang tại hàng thứ hai (mặc com-lê màu lục, cà-vạt đỏ). Trong bức hình thứ hai ông là người bên trái, cầm bó hoa. Trong bức hình thứ ba, ông là người thứ hai từ trái sang.
Trong lời phát biểu tại lễ kỷ niệm 55 thành lập Đại học Sư phạm Hà Nội (11/10/2006), ông Nguyễn Đình Chú (GS NGND) nói:
“Cái đáng kể, có thể nói là một đi nhưng chưa biết bao giờ trở lại chính là chỗ nhà trường trong buổi đầu này đã có những thầy giáo là những ông trùm văn hóa, ông trùm khoa học của đất nước, không chỉ sáng danh thời đó mà muôn thuở với non sông. Đó là: Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Huy Thông, Nguyễn Khánh Toàn, Trương Tửu, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Lân, Hoài Thanh… thuộc khoa học xã hội. Đó là: Nguyễn Xiển, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Thúc Hào, Ngụy Như Kon Tum, Vũ Như Canh, Đoàn Văn Tiến, Nguyễn Hoán… thuộc khoa học tự nhiên.
Chính nhờ thế mà về sau, mấy vị lãnh đạo Viện Khoa học Việt Nam gồm Viện trưởng GS VS Nguyễn Văn Hiệu, cả viện phó: GS VS Nguyễn Văn Đạo, GS TS Phan Đình Diệu, GS TS Vũ Đình Cự và cả không ít những giáo sư đầu đàn của các trường ĐH Tổng Hợp HN, ĐH Bách Khoa HN, ĐH Nông Nghiệp HN, kể cả ĐHSP Hà Nội chúng ta, đều đã xuất thân là sinh viên tốt nghiệp ĐHSP Hà Nội.“
@hoang nóilúc 3:50 chiều 12/08/2010
“…(ii) các thái độ, cách phản ứng, phương cách hành xử của giới trí thức …”
Xin phép hoang thêm vào: cách hành xử của giới trí thức đối với trí thức lẫn nhau; tầm mức quan tâm của giới trí thức đối với xã hội. Hai điểm này quan trọng.
@Nguyễn Đăng Thường nói lúc 4:08 sáng 13/08/2010
Câu trả lời đơn giản: điều 4 hiến pháp chxhcnVN => độc quyền chính trị phối hợp độc quyền kinh tế => bóc lột, đầu cơ xổi thì, đầu tư cẩu thả và kém hữu hiệu; rút tỉa & bán rẻ tài nguyên quốc gia; rút tỉa ngoại viện; tham nhũng, hối lộ => phân chia lợi tức bất đồng đều.
Theo tôi, ở VN khó thực hiện cuộc Cách Mạng như ở Ba Lan hay có sự sụp đổ giống bức tường Bá Linh được vì người Việt không đòi hỏi quyền tự do cá nhân, tư tưởng như người Âu Châu. Hơn nữa, người làm cuộc Cách Mạng đa số là những người mà CS gọi là tiểu tư sản trí thức thì ngày nay họ đã theo chủ nghĩa Mặc Kệ Nó , họ có những bổng lộc do chế độ mang lại thì không có lý do gì họ đứng lên làm cuộc Cách Mạng cho giai cấp khác, chỉ trừ khi nào bị hiểm họa như Trung Cộng xâm lăng nước ta. Điều này khó có thể xảy ra vì tin tức đưa đến người dân theo chỉ đạo của Đảng và Nhà Nước, một thí dụ nhỏ thôi mãi đến bây giờ chúng ta mới biết có trận chiến giữa TC và VN tại biên giới phía Bắc và cuối cùng là chúng ta đã mất 1 phần lãnh thổ mà không người dân nào hay biết cả. tham nhũng lan tràn khắp nơi nhưng trừ khi nào sự việc nổ ầm lớn thì nhà nước chính phủ mới làm qua loa cho có việc, và thật ra có tham nhũng thì Đảng và Nhà Nước mới còn tồn tại, chính những người tham nhũng, hủ hóa này là cánh tay đắc lực bảo vệ nhà nước và Đảng.