talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Ông Trần Văn Tích nên đọc lại “Un Excommunié”

10/08/2010 | 7:00 sáng | 70 Comments

Tác giả: Phong Uyên

Category: Lịch sử
Thẻ:

Đọc bài “Hiện tượng Nguyễn Mạnh Tường” của ông Trần Văn Tích, tôi không thể không có phản ứng khi thấy ông Tích đưa ra những nhận định thiếu chính xác và thiên lệch về nhà trí thức này. Có lẽ vì viết vội vàng ông Tích đã không đủ thì giờ đọc lại nguyên bản tiếng Pháp dày 346 trang cuốn Un excommunié của ông Nguyễn Mạnh Tường mà chỉ, như ông đã tự nói, căn cứ vào bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Giang và phần chú thích của bài “Nguyễn Mạnh Tường bị cáo” của ông Đinh Từ Thức để đưa ra “những suy tư cá nhân”. Cũng có lẽ ông muốn nương vào trường hợp Nguyễn Mạnh Tường để cảnh giác trí thức trong và ngoài nước đừng có nghe lời đường mật của CSVN về “Hoà giải và Hoà hợp dân tộc” mà trở thành những Nguyễn Mạnh Tường tương lai.

Trước hết tôi xin nói về nghĩa “Un Excommunié”:

Diễn đàn Thông Luận đăng bản dịch Un Excommunié theo nghĩa đen là “Kẻ bị rút phép Thông công”. Đối với 95% dân Việt không theo Công giáo, chả ai hiểu phép Thông công là gì. Và ngay cả với những người Công giáo: bị rút phép thông công là tạm thời không được rước mình Thánh cho đến khi biết sửa lỗi. Đó chỉ là hình phạt tinh thần. Còn đối với 90% dân Pháp không bước chân vào nhà Thờ bao giờ, rút phép Thông công chả có ý nghĩa gì cả.

Ông Nguyễn Thanh Giang hiểu “excommunié” là “bị ruồng bỏ” khi lấy từ ngữ này làm đầu đề cho bài viết của ông. Tất nhiên là ở tình trạng của ông Nguyễn Thanh Giang, cũng như tuyệt đại đa số trí thức được chế độ cộng sản đào tạo: Đảng là cha mẹ. Bị Đảng ruồng bỏ cũng như bị cha mẹ ruồng bỏ nên ông Nguyễn Kiên Giang mới cất tiếng kêu than (và kéo luôn cả Nguyễn Mạnh Tường vào) “… đã nói câu nào không đúng? …Sao người ta nỡ nhân danh Đảng (Xin đèn Trời soi xét) đầy đọa hãm hại chúng tôi…!

Cho mình là “Un Excommunié”, ông Nguyễn Mạnh Tường muốn mọi người hiểu theo nghĩa bóng là kẻ bị khai trừ : Không phải khai trừ khỏi Đảng vì ông đã từ chối không vào Đảng, mà là bị khai trừ khỏi cuộc sống loài người. Phải đọc những đoạn ông kể bị cô lập, bị bỏ đói sống thoi thóp, bạn bè thân thích ruột thịt biết là sống ở đó mà không ai được phép lại gần để giúp đỡ. Phải đọc những đoạn ông tố cáo CSVN treo trên đầu những người trí thức chống đối mình lưỡi gươm Damoclès. Những người này không biết là Đảng sẽ chọn cách nào để triệt hạ mình: Hoặc coi mình là điên nhốt vào nhà thương điên. Hoặc bị nhốt vô kỳ hạn trong một căn phòng trống chật hẹp ở một đồn Công an hẻo lánh, không ai biết mình ở đâu còn sống hay đã chết, không bao giờ được ra ngoài nhìn ánh sáng mặt trời, ban đêm bị làm mất ngủ vì những tiếng đập nồi niêu soong chảo để rút cục cũng trở thành điên. Cũng có thể Đảng ngụy tạo một tai nạn để giết mà không ai chịu trách nhiệm.

Tôi xin mạn phép ông Tích bình luận những điểm mà tôi cho là không đúng, theo thứ tự những tiết trong bài viết của ông:

16 tuổi đỗ tú tài

Học vị Tú tài có từ thế kỷ thứ XIII. Cách mạng Pháp bãi bỏ Đại học và những học vị của nó, tú tài, cử nhân, tiến sĩ. Phải đợi tới năm 1808 Napoléon mới tái lập lại và năm đầu chỉ có 21 người đậu. Năm 1925 khi ông Nguyễn Mạnh Tường đậu tú tài, cả đế quốc Pháp, nếu không nói là cả thế giới (vì tiếng Pháp hồi đó là ngôn ngữ ngoại giao và văn chương được toàn thế giới sử dụng) không tới 10 ngàn người đậu mỗi năm so với 550 ngàn người (65% mỗi thế hệ) bây giờ. Phải ít nhất là 16 tuổi mới được đi thi. Tuổi hạn định là 18 vì học trình cưỡng bách Trung Tiểu học bắt đầu từ 6 tuổi. Ngay bây giờ mỗi năm chỉ có vài người ở tuổi 15-14 được đặc cách đi thi và báo chí đã nói ầm lên. Bởi vậy đậu tú tài ở tuổi 16, ngay ở chính quốc cũng là ngoại lệ.

Hà Nội thủ đô của toàn cõi Đông Dương là một thành phố Pháp và những người dân sinh đẻ ở Hà Nội được coi là thuộc dân Pháp (sujets Français) nên khó mà có thể khai gian tuổi được như những người sinh ngoài Hà Nội.

Hai luận án tiến sĩ trong một năm

Ông Trần Văn Tích đúng khi nói luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa là một thủ tục bắt buộc. Tuy vậy luận án y khoa cũng có nhiều loại có giá trị khác nhau: Người y sĩ tổng quát chỉ cần bỏ vài tháng là có thể hoàn thành luận án. Những bác sĩ chuyên khoa phải bỏ một thời gian lâu hơn nhiều, có khi suốt 4 năm nội trú. Trái lại về luật khoa và nhất là văn khoa, luận án tiến sĩ không phải là một thủ tục vì cả trăm người đậu cử nhân, cao học, chỉ những người thật là ưu tú mới kiếm được một ông thày cho đề tài làm luận án. Ngoài ra 2 ngành Luận và Văn chương khác hẳn nhau khó mà theo đuổi cả 2 cùng một lúc và nhất là trình 2 luận án cùng một lúc như ông Nguyễn Mạnh Tường được. Phần nhiều xong luận án này mới bắt đầu làm luận án kia.

Trái với ý nghĩ của ông Tích, đề tài luận án Luật về Cá nhân và luật lệ trong xã hội cổ An Nam: Thử làm Tổng hợp về bộ luật triều Lê (thế kỷ XV) không phải là dễ. Vì cái khó khi làm luận án là phải sưu tầm đủ thư mục và tài liệu. Những tài liệu về đề tài này rất ít và tất nhiên viết bằng chữ Hán, làm sao ông Nguyễn Mạnh Tường có thì giờ sưu tầm để viết ra bằng tiếng Pháp? Tôi xin nhắc lại lời khen tặng của ông chủ tịch Hội đồng giám khảo (trình luận án bao giờ cũng phải trước công chúng): “Luận án của ông là một kiệt tác về Luật, và hơn nữa, về luật và văn chương. Nội dung rất vững chắc không thể chê trách vào đâu được. Hình thức thì làm người đọc loá mắt. Luận án này có những đức tính làm công trình của ông trở thành một tác phẩm văn học. Đại học Montpellier thấy ông toàn thắng trong 2 phân khoa khác nhau… 22 tuổi,Tiến sĩ Luật, ông lại sắp là tiến sĩ Văn chương. Thật là một kỷ lục vì chưa bao giờ người ta thấy ở Pháp có một tiến sĩ văn chương ở tuổi 22… Tác phẩm ông làm cả phân khoa Luật hãnh diện. Chúng tôi xin trao tặng ông hạng cao nhất mà chúng tôi có: hạng Tối ưu với những lời khen tặng của toàn thể hội đồng giám khảo. (Tôi xin nhắc lại là Đại học Montpellier có từ thế kỷ thứ XIII là một trong những đại học cổ nhất Âu Châu, cùng thời với Sorbonne, Oxford, Cambridge và nổi tiếng nhất về luật học và y khoa nên hồi Trung cổ sinh viên toàn cõi Âu châu đều muốn tới Montpellier theo học những khoa này).

Luận án văn chương của ông Nguyễn Mạnh Tường thật ra là 2 luận án khác nhau: Luận án chính nói về thi sĩ lãng mạn Alfred de Musset. Luận án phụ nói về Jules Boissière, một tác giả Pháp viết về Việt Nam cuối thế kỷ thứ XIX. Có được một đề tài làm luận án đã là khó rồi, không biết làm sao ông Nguyễn Mạnh Tường lại có 2 đề tài!

Ông Trần Văn Tích muốn biết vì sao luận án của ông Cao Huy Thuần về Công giáo xâm nhập Việt Nam được dịch in mà làm ông này phiền lòng thì chỉ cần về Sài Gòn vào mấy tiệm sách quốc doanh đường Nguyễn Huệ là hiểu liền khi thấy luận án của ông Thuần được Ban Tư duy cho dịch, in thành sách bày bán.

Nguyễn Mạnh Tường từ 1932 đến 1936

Tôi không tìm thấy tài liệu nào nói ông Nguyễn Mạnh Tường trở lại Pháp sống từ 1932 đến 1936. Có thể là vì ông hành nghề tự do, dễ dàng thu xếp thì giờ, lại có phương tiện, nên mỗi năm trở lại Pháp sống cuộc đời một trí thức Pháp, vô thư viện đọc sách hay đi thăm các viện bảo tàng Âu châu, đồng thời cũng muốn thâu thập tài liệu để viết sách. Ông đã xuất bản từ khoảng thời gian đó cho tới 1940 bốn cuốn sách: Một cuốn nói về tâm lí và những hoạt động tri thức và xã hội của thế hệ trẻ Việt Nam được đào tạo ở Pháp: Sourires et larmes d’une jeunesse. Hai cuốn nói về giá trị Pháp và giá trị Địa Trung Hải (Tây Ban Nha, Ý, Hi Lạp): Pierres de France, Apprentissage de la Méditerranée. Cuốn thứ 4 là một bản kịch diễn tả sự xung đột tâm tình giữa một chàng trai thích du lịch tượng trưng nhu cầu muốn thay đổi của Phương Tây và một người con gái tượng trưng sự trung thủy và tính kiên trì của người Á Đông: Le Voyage et le Sentiment.

Tôi không hiểu vì lí do gì ông Trần Văn Tích lại cho là ông Nguyễn Mạnh Tường, cũng như đa số trí thức Pháp hồi đó, cần phải quan tâm tới mấy nhà văn marxistes vì chỉ trích chế độ cộng sản Staline phản bội Marx mà bị khai trừ khỏi các đảng cộng sản theo Staline hay tự ý bỏ đảng. Tư tưởng Marx chỉ bắt đầu có nhiều ảnh hưởng trên giới trí thức Pháp từ sau Thế chiến thứ Hai.

Những điều người trí thức có vẻ không trí và không thức

Tôi không biết ông Trần Văn Tích căn cứ vào đâu mà quả quyết là “Nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường cũng từng tự mình tự nguyện tự giác tự động đầu quân dưới trướng lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh…

Tôi xin nhắc lại là chỉ sau ngày 19.8.1945, lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà Nội, Việt Minh phất cờ chạy theo cướp chính quyền, dân Hà Nội mới biết đến tên Hồ Chí Minh. Trước đó không ai biết ông này là ai cả. Ông Nguyễn Mạnh Tường lại càng không biết vì từ khi về nước năm 1932, không bao giờ ông để ý đến chính trị, chỉ lo hành nghề luật sư của mình, đọc sách viết văn. Ông Hồ lại khôn ngoan giải tán Đảng Cộng sản, lập chính phủ liên hiệp để đấu tranh ngoại giao với Pháp giành độc lập, khiến những người trí thức yêu nước bị đặt vào tình trạng không thể không giúp chính phủ Liên hiệp điều đình với Pháp mà ông Hồ đã khôn khéo đặt dưới sự điều khiển của các thủ lãnh quốc gia như ông Nguyễn Tường Tam bộ trưởng bộ ngoại giao, ông Vũ Hồng Khanh, phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến. Ngày 19.12.1946 (gọi là ngày Toàn quốc kháng chiến), Việt Minh đánh úp Pháp ở Hà Nội để bắt buộc toàn dân Việt Nam không còn có chọn lựa nào khác ngoài theo mình chống Pháp. Cũng như mọi người dân Hà Nội, ông Nguyễn Mạnh Tường phải đem cả gia đình cha mẹ con cái tản cư khỏi Hà Nội và theo Đại học Nhân dân vào Khu Tư. Những người quê quán gần Hà Nội lại không ai biết tiếng dễ lọt vòng kiểm soát của dân quân tự vệ để “dinh tê”. Những người có chức phận hay có tiếng tăm phải theo cơ quan lên Việt Bắc hay vào Khu Tư, khó mà trở về thành được, bắt buộc phải ở lại hậu phương với Bác, Đảng (chứ không phải ra bưng vì ngoài Bắc không có bưng biền như ở trong Nam) nên không thể nói là tự nguyện đầu quân dưói trướng ông Hồ được.

Ông Hoà Nguyễn, người mà tôi gọi là “mon Sainte-Beuve” vì luôn luôn “chỉnh” tôi về mọi vấn đề, đưa ra một nhận xét mà tôi thấy hoàn toàn chí lí “Chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường đi theo với phong trào Việt Minh cũng không nên chỉ trích thái quá (Đọc cuốn Un excommunié sẽ thấy không bao giờ ông Nguyễn Mạnh Tường đi theo Việt Minh cả). Nếu vì mục đích chống Pháp giành lại độc lập ở một hoàn cảnh một trí thức đang ở giữa Hà Nội và trong vòng bủa vây của Việt Minh, thì ông Nguyễn Mạnh Tường không có cách nào khác… và có thể là bất đắc dĩ đứng hẳn về phía ông Hồ trong một thời gian phục vụ cho chính nghĩa chống Pháp, rồi khi thắng Pháp, không chịu được nữa, chống lại để bị ngược đãi, nhưng sau này có cơ hội vẫn gióng tiếng lên tiếng nói phản kháng của mình để vừa tố cáo chế độ vừa giúp cảnh tỉnh một số người (ít ra là ở Pháp).

Về chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường được tự do “lên tiếng” ở Hội nghị các Luật gia dân chủ họp tại Bruxelles năm 1956, hay ông Nguyễn Mạnh Tường bị dùng như cái micro của Đảng, tôi xin ông Trần Văn Tích đọc lại trang 32 cuốn Un Excommunié để biết phái đoàn được Đảng chỉ định đi dự Hội nghị gồm những ai: “Với tư cách là chủ tịch luật sư đoàn và phó chủ tịch hội Luật gia Việt Nam, tôi được phong làm trưởng một phái đoàn trong đó ngoài tôi còn có ông Nguyễn Huy Mẫn, một luật sư công giáo, ông Lê Văn Chất, Chủ tịch Toà án Quân sự đặc biệt, ông Bùi Lâm, một quan chức bự (un haut dignitaire) của Đảng, hội thẩm Toà án Quân sự…” Nếu cho là trong một phái đoàn luật gia “dân chủ” Đảng cử đi, có 2 ông: một ông là chủ tịch Toà án Quân sự đặc biệt, một ông là quan chức bự của Đảng đồng thời cũng là hội thẩm của cái toà án ấy, không phải là những người thảo mọi diễn văn bắt 2 anh luật sư, một anh là Công giáo, một anh là tư sản phải dịch ra và đọc như con vẹt, thì thật là quá ngây thơ hay chống cộng một cách quá mút mùa. Có nước dân chủ pháp quyền nào có toà án quân sự trong thời bình? Và dám thách đố dư luận quốc tế đến độ nào để cử một phái đoàn “luật gia” 4 người trong đó 2 người là thủ lãnh của cái toà án quân sự đặc biệt đó!

Ông Trần Văn Tích đem ghép chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường lên tiếng ở Bruxelles tháng 6 với chuyện dân Hung Gia Lợi nổi dậy tháng 10 cùng năm đó mà không biết là ngày 30-10-56 ông Nguyễn Mạnh Tường đã đơn thương độc mã tới buổi họp của Mặt trận Tổ quốc, đọc một bản viết đòi xây dựng lại Lãnh đạo để có một nhà nước Pháp quyền và chấn hưng lại truyền thống của cha ông vì đạo lí xã hội quá xuống cấp. Vì bài viết này mà ông Nguyễn Mạnh Tường bị 3 lần tố khổ: 1. Trước Mặt trận Tổ quốc; 2. Bởi sinh viên trong trường Đại học mình dạy; và 3. Trong trụ sở của đảng Xã hội. So với vụ Nhân văn dầu sao cũng là xử tập đoàn và những án tù có thời hạn, bản án mà ông Nguyễn Mạnh Tường phải gánh chịu nặng nề và thâm hiểm hơn nhiều: Cầm tù tại gia vô thời hạn (kể đến khi được đi Pháp là 33 năm!). Cả gia đình bị cắt tem phiếu phải mua thực phẩm chợ đen, đến khi hết tiền cả gia đình chỉ còn đủ gạo nấu cháo, đồ đạc bán chả ai mua và nhất là cả nghìn cuốn sách phải bán cân ký. Cái khổ nhất là bị cô lập bạn bè thân thuộc không ai được tới hỏi thăm giúp đỡ. Đó là cái nghĩa của Un Excommunié mà ông Nguyễn Mạnh Tường tự gán cho mình.

Ông  Trần Văn Tích nên yên chí là nước Việt Nam sẽ không bao giờ sản xuất được thêm một người trí thức toàn vẹn và khí khái như ông Nguyễn Mạnh Tường nên ông đừng sợ có nhiều Nguyễn Mạnh Tường khác sẽ bị cộng sản cám dỗ. Tôi nói ông Nguyễn Mạnh Tường khí khái là vì đã không ở lại nước ngoài như những người chỉ dám viết sách viết báo để những người chống cộng đọc với nhau khi đã ra khỏi nước, mà tự trở về nước ở tuổi 82 viết một cuốn sách thuật lại cuộc đời mình bằng một tiếng Tây phương uyên bác, chuyển qua nước ngoài in để những người Tây phương hiểu Cộng sản Việt Nam đối đãi người trí thức và những người đòi dân chủ ra sao. Ông Nguyễn Mạnh Tường còn can trường: tôi xin trích dịch sau đây một đoạn trong một bức thư bằng tiếng Pháp gửi từ Hà Nội ngày 16.3.1992:

“… Nếu người ta đẩy cái dã man đến độ hành hạ tôi như đã hành hạ những người trí thức khác bị cáo là nói xấu chế độ, tôi sẵn sàng bình chân như vại chờ đợi những thử thách mà tôi biết rất là khắc nghiệt. Tôi đã quyết định, nếu sự đó xảy ra, tuyệt thực cho đến chết. Ở tuổi 84, tôi đã biết cái tốt nhất cũng như cái xấu nhất của cuộc đời nên tôi không ân hận gì bỏ cuộc sống này khi đã làm tròn bổn phận một người trí thức trước dân tộc và trước lịch sử”…

Thử so sánh với ông Nguyễn Hữu Đang: Ông Heinz Shütte phải hứa là khi ông này còn sống không được công bố những buổi đàm thoại đã diễn ra giữa 2 người từ năm 1999 đến năm 2002. Phải đợi ông Nguyễn Hữu Đang mất ngày 8.2.2007, ông Shütte mới công bố những buổi gặp gỡ này. Sở dĩ như vậy là vì ông Nguyễn Hữu Đang muốn được yên thân trong tuổi già.

Tiện đây tôi cũng xin trả lời một phản hồi của ông Nam Phan là không nên tin vào những bài tham luận, những lời tỉ tê của những vị giáo sư được cử ra để “tố thiện” ông Nguyễn Mạnh Tường (cũng như sau này sẽ tới tua những vị như Phạm Quỳnh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu…) trong những dịp kỷ niệm sinh nhật. Không có chuyện báọ Le Monde phỏng vấn để các vị giáo sư này bịa ra những câu trả lời ấu trĩ so sánh Ceausescu với ông Hồ và gán cho ông Nguyễn Mạnh Tường. Chỉ có Đài Truyền hình TF1 được nhiều người coi nhất ở Pháp phỏng vấn ông một lần và các nhà báo hỏi ông “theo ông nghĩ khi nào chế độ Việt Nam sụp đổ?” Ông Nguyễn Mạnh Tường trả lời, “Tôi không phải là nhà chiêm tinh cũng không bao giờ bói bài. Patience, patience dans l’azur! Chaque atome de silence, est la chance d’un fruit mûr!

Những người phỏng vấn ông không thể không cảm phục cái ứng đối “xuất khẩu ra thơ Paul Valéry” này của tiến sĩ văn chương Nguyễn Mạnh Tường và hiểu là ông muốn nói chỉ cần kiên nhẫn im lặng chờ đợi. Quả sung chín thế nào cũng rụng. Nghĩa là sớm hay muộn chế độ CSVN thế nào cũng sụp đổ.

Kết luận

Có những người gọi là chống cộng nhưng thật ra là gián tiếp tuyên truyền cho cộng sản khi cho rằng mọi tầng lớp trí thức từ thời Tây đào tạo cho tới những người “trí thức của Việt Nam hôm nay, tại quốc nội hay nơi hải ngoại” đều tự đầu quân dưới trướng hay sẽ ăn bả CSVN cả. Cộng sản khi không được coi là vẫn có sức quyến rũ mãnh liệt, nằm vùng đủ mọi nơi, gửi văn công cùng mọi chỗ. Những người chống cộng chính hiệu con nai này lại tự vạch mặt chỉ tên nhau, tự tố cáo lẫn nhau, coi những người không dứt khoát với cộng sản bằng lỗ miệng như mình đều có ý muốn hoà hợp hoà giải giao lưu hội nhập với cộng sản cả. Thử hỏi: những thế hệ trẻ trong nước thấy CSVN mạnh như vậy thì còn dám ngo ngoe đòi dân quyền dân chủ làm gì? Sẽ im thin thít đợi ngày được chấp nhận vào Thành đoàn để được Đảng ban cho cái gì thì nhận cái ấy.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas

Bình luận

70 Comments (bài “Phong Uyên – Ông Trần Văn Tích nên đọc lại “Un Excommunié””)

  1. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Tôi ko dám thay mặt BS Trần Văn Tích để trả lời câu hỏi: “Tại sao trong giai đoạn lịch sử này, người Việt chống Cộng lại liên tiếp thất bại, với kết quả là tháng Tư 1975?” của ông Trần Lâm, mà cũng chẳng thấy cần phải trả lời một câu hỏi có vẻ như muốn khiêu khích đối tượng hơn là muốn tìm hiểu, mặc dù với góp ý “ai cũng biết chiến tranh VN không chỉ đơn thuần giữa người quốc gia và người cộng sản, mà đó là một cuộc chiến muôn mặt trong thời đại truyền hình” của tôi có thể đã giải đáp được phần nào câu hỏi trên chăng?

    Tranh đấu cho tự do dân chủ là một cuộc chiến cam go trường kỳ đòi hỏi nhiều cố gắng hy sinh. Riêng tôi, tôi ko nghĩ rằng Việt Nam đã có “tự do dân chủ độc lập thống nhất” thực sự, chí ít là vì dân chúng phải dùng hàng hóa của Trung Quốc, ngư dân ko được đánh cá trên vùng biển của chính quê hương mình, v.v.

    Gọi chính quyền Hà Nội hiện nay là “Cộng Sản”, và gọi những kẻ chống đối là “chống Cộng” cũng ko đúng vì chế độ Hà Nội đã hiện quyền hình là một chế độ quân chủ quân phiệt độc tài (dù ko vua) tàn ác, độc hại nhất lịch sử nước nhà. Hiện nay, những kẻ phản đối chỉ chống lại một “chế độ độc tài”, thế thôi. Nạn mù chữ có thể cao hơn trước 45. Dân trí, đạo đức, giáo dục tụt hậu. Cách mạng vô sản? Chưa bao giờ cái hố giữa kẻ giàu và kẻ nghèo sâu rộng mênh mông như bây giờ: con ông cháu cha thì ngày đêm lái xe đời mới bạc triệu bạc tỷ đi phá làng phá xóm, trong khi người già ko nơi nương tựa phải đi nhặt từng cái vỏ chai để kiếm sống qua ngày.

    Trí thức hải ngoại ăn không ngồi rồi “tán gãu” để “chống Cộng” mua vui? Xin thưa: Chẳng vui tí nào cả nhưng cũng phải ráng “lên tiếng”, “đánh gió”. Chí ít là để mong góp gió làm bão, để viễn mơ (?) một phép lạ, một hiệu quả cánh bướm may ra/biết đâu vẫn có thể xảy ra. Ai đã dám mơ tưởng bức tường Bá Linh sẽ đổ nhào chỉ trong một đêm thôi?

    Vậy xin mạn phép hỏi lại bằng một câu hỏi: “Tại sao Hà Nội cầm quyền trong suốt 85 năm (?) qua, với biết bao cải tổ, thay đổi đường lối chính sách (XHCN, kinh tế mới, đổi mới, kinh tế thị trường theo định hướng, kinh doanh ra biển lớn) cho đến nay vẫn chưa mang lại hạnh phúc ấm no cho đại đa số?”

    Vị nào biết rõ xin vui lòng trả lời cho đứa ngu si này lĩnh hội. Xin đa tạ trước.

    Kính.

  2. Trần Lâm viết:

    @ NĐThường, Nguyên, LQTrinh & Hoang: Xin được ghi nhận lời góp ý để học hỏi.

    @ Hoà Nguyễn (HN), xin được bàn thêm về:

    Người Pháp và Người Việt Chống Cộng

    Khi góp ý với tôi, xuất phát điểm của HN là:

    “Có thể nói tính chất CS trong phong trào VM là nguyên nhân lớn nhất để Pháp quyết tâm “bình định” Việt Nam, vì bằng không tất cả quyền lợi của Pháp ở VN sẽ hoàn toàn mất hết khi VN là nước CS, vì hành động tịch thu tài sản hay quốc hữu hóa của chế độ CS không ai lạ khi biết rõ những gì đã xảy ra cho nước Nga. Còn nếu ở VN có phong trào độc lập nhưng thuộc nhóm quốc gia, dân chủ, Pháp còn có thể hy vọng thương lượng để được nhân nhượng hay bồi thường.”

    Cái nhìn này không ăn khớp với chính sách mà người Pháp đã thực sự áp dụng đối với người Việt chống Cộng. Vì cựu hoàng Duy Tân đã chết bất ngờ, nên chúng ta không thể biết người Pháp sẽ đối xử như thế nào đối với ông. Do vậy, chúng ta sẽ phải dựa vào những chuyện họ đã làm từ thời Phạm Quỳnh trong thập niên 30 đến thời Ngô Đình Diệm trong thập niên 50 để xem họ có “thiện chí” với người Việt không CS hay chống CS hay không.

    Năm 1945, Charles De Gaulle phái Đô đốc D’Argentieu sang Đông Dương với nhiệm vụ hàng đầu là tái thiết lập chủ quyền của Pháp tại xứ này. [1] Sau khi đến nơi, D’Argentieu “đã cho lập ở Nam kỳ một nước Cộng hòa Nam kỳ do Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời. Song Pháp chẳng để cho ông này quyền hành gì nên ông uất ức tự tử chết.” [2]

    Năm 1949, khi bị sa lầy trong chiến tranh, Pháp phải đưa ra giải pháp Bảo Đại. Nhưng, như HN đã nhận định, giải pháp này được đưa ra quá trễ. HN cho rằng lá bài BĐ không thể áp dụng sớm hơn được, vì trước đó “Bảo Đại là người của Hồ Chí Minh, cố vấn chính phủ, và bị kiềm giữ.”

    Vũ Ngự Chiêu đưa ra một giải thích khả tín hơn: Sau khi thoát sang Hongkong, BĐ và các cộng tác viên của ông đã “đòi hỏi Pháp nhân nhượng nhiều hơn những gì đã nhân nhượng với Hồ.” [3]

    Và đúng như HN viết, người Pháp chỉ chịu nhượng bộ khi “cảm thấy nguy cơ vì cộng quân TQ sắp chiếm hết lục địa Trung Hoa (tất sẽ giúp VM CS).” Tuy nhiên, HN cũng ghi nhận giải pháp BĐ không thành công: “Nhiều người VN bên phía “quốc gia” không thật sự ủng hộ giải pháp này vì Pháp chưa thật sự trao trả độc lập cho VN lúc đó,…”

    Nguyễn Ngọc Huy cho biết: “The Bảo Đại solution encouraged by the Americans could have been a good opportunity for the French to solve the problem. But it was spoiled by the French’s own policy. Instead of transferring quickly real power to Bảo Đại in order to reinforce his authority and prestige and helping him to build up immediately a national army able to share the burden of their troops, the French wanted to use him as a puppet, forced him to appoint the men they trusted as prime minister, and only transferred to him scraps of power whenever they were pressed by the circumstances.” [4]

    Thậm chí sau khi bại trận tại Điện Biên Phủ năm 1954, người Pháp còn cố gắng thay thế Ngô Đình Diệm bằng Nguyễn Văn Hinh, một sĩ quan có quốc tịch Pháp, trong nỗ lực duy trì ảnh hưởng tại Miền Nam VN. “Diem viewed the French and the French-backed Vietnamese as a greater immediate threat to his consolidation of power than the communists.” [5]

    Trong lần góp ý trước, tôi có nhắc đến Phạm Quỳnh. Lý do là tôi muốn nhấn mạnh tính chất nhất quán trong chính sách của người Pháp đối với người Việt không CS hay chống CS từ thập niên 30 cho đến thập niên 50. Lúc mạnh hay lúc yếu, lúc nào người Pháp cũng ngoan cố đối với họ.

    Vậy tôi khó có thể tin rằng cuộc chiến Việt-Pháp có thể tránh được, nếu người Việt chống Cộng không bị CS cướp mất cơ hội lãnh đạo quốc gia trong mùa thu 1945.

    Ghi chú:

    1/ Mark Atwood Lawrence, Assuming the Burden, 126.
    2/ Nguyễn Khắc Ngữ, Những Ngày Cuối Cùng Của VNCH, 2.
    3/ Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 38-39
    4/ Nguyễn Ngọc Huy & Stephen B. Young, Understanding Vietnam, 68.
    5/ Kathryn C. Statler, Replacing France, 123.

  3. tracy viết:

    Kính gửi Nguyễn Đình Đăng

    Theo tôi được biết TSGS Vũ Như Canh có 2 con trai (đã mất) và 1 con gái, hiện là bác sĩ tại Sài Gòn. Tôi chỉ nhớ nhà của ông Canh ở phố Ôn Như Hầu (Nguyễn Gia Thiều?), đây là phố toàn là dinh thự của sứ quán, họ định cho TS Canh đi Liên Sô để dễ bề lấy nhà của ông nên ông nhất định không đi. Chị bác sĩ Vũ Anh Lê, con gái của ông, rất thông minh (có lẽ gene di truyền) sau 75 vào Nam ở nhà ông Vũ Văn Mẫu, thi vào y khoa đậu khá cao, tiêu chuẩn đi du học Liên Sô, nhưng không có tiền đưa ông Nguyễn Côn (con trai của thứ trưởng Ngoại giao Hà Văn Lâu) nên ở lại học y khoa tại tp HCM. Chị Lê có lần tâm sự với tôi là cha của chị kỳ quá, đã bỏ Pháp về VN mà không chịu phấn đấu vào Đảng thành ra cuộc đời tàn và ảnh hưởng đến con cái sau này.

    Đó là lý do cho những trí thức nào chỉ yêu nước đơn thuần, đừng nghĩ về VN phục vụ cho đất nước, người dân, mà không chịu phấn đấu, không chịu đứng dưới ngọn cờ của Đảng thì nên suy xét lại. GS Ngô Bảo Châu nên suy xét lại, ở VN không có cơ hội phát triển khả năng của mình, chính phủ lại không cần trí thức đơn thuần, rồi cuộc đời sẽ mai một như GSTS Vũ Như Canh, thời của ông mấy ai có bằng tiến sĩ Vật Lý tại Pháp?

  4. Trần Lâm viết:

    Trần Văn Tích viết:

    “Ông Trần Lâm đã không hiểu thì tôi nói rõ hơn. “Những điều kiện lịch sử cụ thể của VN thời cận đại” có phải tự trên trời rơi xuống không hay do chế độ cộng sản chủ động tạo ra bằng mọi giá?

    Nếu những thành phần dân tộc có cơ may tạo ra những điều kiện lịch sử liên hệ không phải là cộng sản thì số phận của VN có như hôm nay không hay sẽ như Maroc, Tunisie, thậm chí và tệ lắm thì cũng như Mozambique?”

    Xin lưu ý câu: “Nếu những thành phần dân tộc có cơ may tạo ra những điều kiện lịch sử liên hệ không phải là cộng sản thì số phận của VN có như hôm nay không hay sẽ như Maroc, Tunisie, thậm chí và tệ lắm thì cũng như Mozambique?”

    Đây chính là điều tôi nghĩ đến khi tôi viết chỉ có vài dòng góp ý với BS Tích:

    “Tôi nghĩ một câu hỏi thực tế và hữu ích hơn là câu hỏi: Tại sao trong giai đoạn lịch sử này, người Việt chống Cộng lại liên tiếp thất bại, với kết quả là tháng Tư 1975? Nếu người Việt chống Cộng không phải hứng chịu những thất bại triền miên như vậy thì có lẽ BS Tích không cần đặt câu hỏi mà ông đã đặt.”

  5. Trần Lâm viết:

    Nam Phan viết:

    “Khi bị “cái xương” trong sách của Moyar ngáng cổ: “Trong nội các có 18 Bộ Trưởng thì chỉ có 5 người CG, 5 người theo Khổng Giáo và 8 theo Phật Giáo. Trong những vị theo Phật Giáo có ông Phó Tổng Thống, ông Ngoại trưởng. Ở cấp Tỉnh Trưởng có 12 theo CG và 26 theo PG hoặc KG. Chỉ có 3 trong số 19 Sĩ Quan cao cấp nhất theo CG…”, Hồng Quốc Lộc, tổ sư cuả một vài “học giả” ở đây, đuối lý đã cãi chầy cãi cối là: Những con số mà Moyar đưa ra không chứng minh được rằng không có kỳ thị tôn giáo ở Miền Nam.”

    Điều đáng tiếc là độc giả Nam Pham đã không ghi thêm rằng bài viết bị ông ta phê bình nói trên có trích dẫn một đoạn dài của một bài phóng sự đăng trong Tạp Chí Informations Catholiques Internationales phát hành ngày 15 tháng 3 năm 1963. Bài phóng sự đó có giải thích tại sao những con số do Mark Moyar đưa ra trong Triumph Forsaken đã không thuyết phục được dân Miền Nam ngay trước khi Biến cố Phật giáo bùng nổ vào tháng 5 năm 1963:

    “Năm 1956, chúng tôi đã nêu lên rằng, ‘trái với sự lo ngại của dư luận, chính phủ chỉ gồm hai người Công giáo trên tổng số mười bốn bộ trưởng. Nhưng công luận không phải chỉ được tạo ra từ một tập ảnh của các bộ trưởng. Nó còn nhạy cảm cả với vị trí danh dự dành cho vị giám mục nào đó trong một cuộc duyệt binh, cho những bóng dáng áo chùng ra vào các Bộ, cho sự can thiệp hiệu quả trong việc tha bổng một nghi can hay hưởng sự giúp đỡ cho người tị nạn. Nếu người ta thấy việc tổng thống chịu phép ban thánh thể trong tất cả các lễ trọng là bình thường, càng lúc, đám đông càng không hài lòng đối với chuyện các đoàn rước Thánh làm tắc nghẽn giao thông hàng cây số trên đường phố Sài Gòn hay ở Huế, sau khi đã được chuẩn bị từ nhiều tuần lễ trước với sự hỗ trợ về kỹ thuật, nhân lực và vật lực của quân đội hay của sở Thông tin.

    Công luận cũng không thể thản nhiên trước việc thuyết Nhân Vị của Emmanuel Mounier được chế độ chọn lựa phổ biến để chống lại học thuyết mác-xít. Nơi duy nhất mà học thuyết này được giảng dạy một cách chuyên nghiệp lại chính là ‘Trung tâm nghiên cứu nhân vị’ do Đức ông Ngô Đình Thục, anh của tổng thống Ngô Đình Diệm, thiết lập vào thời Đức ông còn là giám mục ở Vĩnh Long. Ngày nay vẫn vậy, hầu hết các “giáo sư chuyên nghiệp” giảng dạy tại đó đều thuộc hàng giáo phẩm. Các công chức, giáo hay lương, đều lần lượt phải qua một khoá tập huấn ở đó.”

    Trong cuốn Diem’s Final Failure, xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2002 và cũng được trích dẫn trong phần cước chú của bài viết bị ĐG Nam Phan phê bình, Philip Catton còn đưa ra một lý do khác, góp phần giải thích tại sao những con số trên không thuyết phục được người Miền Nam.

    “Khi bàn về vai trò của Ngô Đình Nhu trong chính quyền Ngô Ðình Diệm, Philip Catton đã viết trong Catton (2002), tr. 16-17: “Với tư cách người đứng đầu cơ quan an ninh và tình báo, ông ta khai thác nguồn lực của Tổng nha Nghiên cứu Chính trị Xã hội có văn phòng đặt trong Dinh Tổng thống, do Trần Kim Tuyến – một người Công giáo gốc Bắc, trước đó là thư ký riêng của Nhu, đứng đầu. Dưới cái tên nghe có vẻ hiền lành, Tổng nha này là cơ quan đầu não của bộ máy quyền lực không chính thức của chế độ Diệm, qua đó Nhu có thể chỉ đạo hoạt động của các tổ chức phi chính phủ ở miền Nam Việt Nam. Như một người từng làm việc trong Dinh nhận xét, Tổng nha đã tạo cho Nhu ‘một tiểu chính quyền thực sự để hướng dẫn, chỉ đạo, giám sát và kiểm soát chính quyền trên danh nghĩa do Diệm đặt ra.’”

    Và trong cuốn Những Ngày Chưa Quên 1954-1963, Đoàn Thêm còn có kể một chuyện đáng ghi lại nơi đây:

    “Năm 1961, bỗng dưng một hôm ông [Diệm] bảo: tại các công sở, các ngã ba đường lớn, nên kiếm cây ngô đồng mà trồng, nó xum xuê nhiều bóng mác: thế là mọi cấp đua nhau trồng cây này; một Bộ Trưởng đích thân đi xin về trồng trước tư thất, ngay ở bờ rào, bên một đại lộ mà Tổng Thống hay qua lại. Có người làm thơ vịnh ngô đồng, viết tạp chí kể điển tích ngô đồng. Một vị còn hỏi tôi: có phải cây ngô đồng tiêu biểu cho họ Ngô không?…”

    Nếu chuyện Đoàn Thêm kể lại là một chuyện có thật thì nó có thể giúp chúng ta hiểu được thêm tại sao trong bối cảnh chính trị thời đó những con số do Moyar ghi lại đã không thuyết phục được người Miền Nam.

  6. Lê Quốc Trinh viết:

    Tôi thực tình không muốn xen vào chuyện tranh luận giữa hai bác Trần Lâm và Trần Văn Tích, vì lẽ tôi thưộc thế hệ đi sau cả 30 năm. Vào thư viện để nghiên cứu hàng đống sách về “chuyện xưa tích cũ” cũng có lợi đấy, nhưng “so what” ? Tất cả những chứng tích đó đâu có khác gì chuyện chúng ta đang bàn cãi trên Mạng mấy hôm nay. Những người viết “sử liệu” đó họ đã từng trải qua kinh nghiệm trong một khoảng thời gian, trong một vùng không gian (địa lý) và tiếp xúc với môt số nhân chứng đặc biệt. Nếu họ có trung thực viết lại chính xác những gì “mắt thấy, tai nghe” thì dữ liệu của họ chỉ chính xác trong giới hạn mà họ tiếp xúc. Chúng ta ngày nay thừa hưởng khoa học kỹ thuật tân kỳ, có Internet, có Google trước mặt, chỉ cần click một cái là biết được rất nhiều chuyện xung quanh, người xưa đâu có được diễm phúc như chúng ta.

    Theo thiển ý, tôi đọc, suy nghĩ và từ đó quyết định hướng đi cho chính bản thân, quan điểm chính trị tôi có bị ảnh hưởng thì tôi chịu trách nhiệm, nhưng tôi cảm thấy chỉ đọc xuông rồi không hành động quyết liệt thì bàn luận với nhau cả năm trời sẽ đi đến đâu ? Trong khi tình hình đất nước rối ren, trí thức chỉ biết ngồi lại “tán gẫu” với nhau mà thôi sao ?

    GSTS Nguyễn Mạnh Tường đã thành người thiên cổ từ lâu, tôi đọc để thông cảm xót xa với những người tiên phong đi trước, họ hy sinh trong âm thầm, tủi nhục để chúng ta ngày nay biết rút kinh nghiệm mà hoàn chỉnh phương thức đấu tranh trong hoàn cảnh hiện tại.

  7. hoang viết:

    @Trần Lâm nói lúc 2:26 sáng 11/08/2010: “A page of history is worth a volume of logic.”

    Tạm dịch: “Một trang sử đáng giá một quyển sách logic”

    Có hai điểm sau cần lưu ý khi áp dụng câu trên:

    1. Những tay đi làm lịch sử có thể đồng thời là những nhà logic đại tài với viễn kiến đặc biệt, và họ có thể thực hiện những điều hay nói những chuyện vượt lên trên hay bên ngoài những suy luận logic của hậu thế. Cho nên chép lại lịch sử của một thời đại trong một trang sách với những dữ kiện, tình tiết phiến diện kèm theo những suy luận thường tình e rằng dễ bị sai lầm. Nhiều điều các nhân vật lịch sử làm hay nói thường chịu cảnh “sống để bụng chết mang theo” (vì cá tính hay vì hoàn cảnh ràng buộc) nên người ta phải suy nghĩ và xử dụng logic tối đa để hiểu lịch sử rốt ráo hay để tìm ra các bí ẩn lịch sử đàng sau các trang sách sử mặc dầu người chép sử đã cố gắng thật vô tư khi ghi chép lại những gì đang xảy ra của thời đại. Thí dụ: Khi chép lại những gì xảy ra chung quanh mình hai ngàn năm trước, Luke đâu biết rằng mình đang ghi lại những sử kiện làm nền móng cho một con đường tâm linh mới của nhân loại cho hàng ngàn năm sắp đến, trong khi đó chỉ có thầy của Luke là Chúa Jêsus biết điều mình làm, cố giảng dạy và sai các môn đồ của mình nên tiếp tục đắp xây con đường đó cho hậu thế. Judas thì hoàn toàn không hiểu những gì thầy mình làm vi chúng không hợp theo ý Judas, và nếu Judas được giao trách nhiệm chép lại lịch sử đời đó chắc chắn sử ông viết sẽ không như sử Luke viết nếu không muốn nói rằng sử của Judas sẽ có nhiều trang giấy trắng chỉ vì ông không nhận ra logic của con đường thầy mình đang khai phóng.

    Cho đến nay vẫn có người bênh vực Judas, có người lên án Judas tùy theo trình độ và suy luận của người ta về những trang sử do Luke chép lại. Luke đã chết, Judas chết, đế quốc La-mã cũng thế thôi, nhưng những trang sử của Luke vẫn còn và những sử liệu trong đó vẫn còn đang được nhiều người tham khảo, suy luận và hàng triệu người vẫn còn theo những chuẩn mực trên con đường tâm linh mới do Chúa Jêsus vạch ra một cách sùng kính hay lơ là hau chiếu lệ tùy theo cá nhân.

    2. Các nhà chép sử có thể hiểu hết để ghi lại đầy đủ trung thực những ẩn sự cũng như suy nghĩ, suy luận, logic của những người đang làm lịch sử hay chăng? Tôi nghĩ câu hỏi thường là không, và hậu thế phải nhận xét, kiểm chứng và suy luận về các trang sử mình đọc. Chắc trăm phần là kẻ hậu sinh phải xử dụng logic mà thôi; và trong nhiều trường hợp một logic nhỏ có thể đâm toạc các trang sử người đời hay học sinh đang thuộc lòng như con vẹt để thăng tiến trong trường thi, trường đời hay hoạn lộ.

    Dân tộc nào cũng có một thời để… ngu và một thời để… khôn. Nhanh hay chậm, dài hay ngắn tùy thuộc vào:

    (i) các chính sách đối xử của giai cấp cầm quyền đối với trí thức,

    (ii) các thái độ, cách phản ứng, phương cách hành xử của giới trí thức đối với việc học của mình và đối với giai cấp quyền lực (không từ chương, chuộng học vị hơn học thức, tri hành hợp nhất, sẵn sàng can đảm bảo vệ các giá trị của giới trí thức, can đảm nhận sai lầm không đổ thừa); và

    (iii) sự hấp thụ, phê phán, hưởng ứng, học hỏi, suy luận, áp dụng của thường dân trước những dữ kiện, kiến thức cung cấp từ hai nhóm người trên qua các phương tiện quảng bá, truyền thông công tư.

    Trên con đường từ bóng tối của không biết đến cái biết xin đừng phũ phàng với trí thức qua các so sánh không xứng đáng đã dành cho trí thức như ‘trí thức là loài ngu xuẩn có ích (useful idiots)’ (Lénin?) hay ‘trí thức không hơn cục phân’ (Mao Ze Dong). Cũng xin người trí thức đừng quá hợm mình, làm dáng, khệnh khạng, cao ngạo, ngông nghêng, học phiệt… với những bồ chữ trong đầu mình; hay ngược lại làm một trí thức quá ngây thơ, mộng mị, hoang tưởng vì mải mê đắm chìm trong lý thuyết, sách vở đến nỗi bị lợi dụng trong hành xử mãi đến lúc thức tỉnh thì thân tàn trí kiệt và thời gian quý báu để sửa đổi đã cạn.

  8. Thanh Nguyễn viết:

    Thưa ông Trần Lâm,

    Ông đã nói thế thì tôi lại xin phép mong ông cùng chia sẻ với tôi nguyện ước là mong sao Ông Trời rộng lòng thương nước ta để quay ngược lại lịch sử khiến người Pháp “thực” dân ta cho đến khi họ chán, họ mệt, họ…xỉu không còn muốn “thực” nữa và đành bấm bụng thừa nhận chủ quyền quốc gia Annamít vào thời điểm nước châu Phi Mozambique độc lập năm 1975 để thay thế cho năm 1975 annamít thì có nên hơn, có được hơn, có tốt hơn không ạ? (Trần Văn Tích)

    Nguyện ước của ông Trần Văn Tích cũng chí lý lắm. Pháp thực (hoặc Mỹ thực) tốt hơn là Tàu thực. (100 năm thì nhẹ tội hơn 1000 năm)

    Ông Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Bây giờ có độc lập có tự do rồi mà không biết làm gì. Chẳng lẽ đổ xương, đổ máu, đổ trí tuệ để đi tìm cái gọi là “đậm đà bản sắc dân tộc” hết sức mơ hồ mà lâu nay Đảng CSVN rêu rao?

  9. Trần Văn Tích viết:

    Ông Trần Lâm đã không hiểu thì tôi nói rõ hơn. “Những điều kiện lịch sử cụ thể của VN thời cận đại” có phải tự trên trời rơi xuống không hay do chế độ cộng sản chủ động tạo ra bằng mọi giá?
    Nếu những thành phần dân tộc có cơ may tạo ra những điều kiện lịch sử liên hệ không phải là cộng sản thì số phận của VN có như hôm nay không hay sẽ như Maroc, Tunisie, thậm chí và tệ lắm thì cũng như Mozambique?

  10. Mặc Lý viết:

    Cám ơn bác sĩ Tích đã bổ túc. Tôi có đọc lại bài của ông Nguyễn Văn Hoàn thuật lại lời ông Tường thì ông cũng bảo là ông đậu Doctorat d’etat.
    Cũng xin thưa với bác sĩ Tích là tôi không thuộc giới được ưu tiên.

  11. Nam Phan viết:

    Lại nói đến chuyện AI kia cứ mở miệng ra là nhắc đến một ông GS sử. Trong một bài viết “chạy” 3 kỳ trên Talawas bộ cũ, hình như vào năm 2006, Hồng Quốc Lộc khi phê bình tác phẩm “Triumph Forsaken” cuả Mark Moyar, nói về chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà, cũng mượn “oai hùm” ông này để hát theo, đại để:”… Đặc ân cuả chính phủ chỉ dành cho người CG: Vị trí then chốt dân sự và quân sự, các hợp đồng thương mại, các đặc quyền…”. Khi bị “cái xương” trong sách của Moyar ngáng cổ: “Trong nội các có 18 Bộ Trưởng thì chỉ có 5 người CG, 5 người theo Khổng Giáo và 8 theo Phật Giáo. Trong những vị theo Phật Giáo có ông Phó Tổng Thống, ông Ngoại trưởng. Ở cấp Tỉnh Trưởng có 12 theo CG và 26 theo PG hoặc KG. Chỉ có 3 trong số 19 Sĩ Quan cao cấp nhất theo CG…”, Hồng Quốc Lộc, tổ sư cuả một vài “học giả” ở đây, đuối lý đã cãi chầy cãi cối là: Những con số mà Moyar đưa ra không chứng minh được rằng không có kỳ thị tôn giáo ở Miền Nam.

    Bí thêm lại đưa ông học giả, người am tường về mọi chuyện ở trên đời này nhưng lại “gà mờ” về chính trị, Nguyễn Hiến Lê, làm khiên mộc. Người mà bao nhiêu năm đinh ninh rằng phe CS chính nghiã, cuối cùng, cuối đời, sau vài năm nếm mùi CS đã “đấm ngực” ăn năn”: Tôi đã lầm!!!

    Tưởng AI kia tìm tòi, khảo cứu được những gì mới mẻ, hoá ra cũng chỉ chờ được mớm rồi nhặng xị nào là “phó hội Hoa Sơn”, nào là chờ đấy, 2013 sẽ phóng ra tác phẩm động trời…

    Vâng, nhất định phải là thứ “có chóp”. Vui thật!

  12. Nguyên viết:

    @Trần Lâm
    ‘… giai đoạn lịch sử này, người Việt chống Cộng lại liên tiếp thất bại, với kết quả là tháng Tư 1975?’
    Tôi e rằng khi đặt câu hỏi này và các câu trả lời (có và có rất nhiều) chúng ta sẽ lạc đề.
    Trí thức mãi mãi là… trí thức. Quyền năng của họ là trí tuệ và tri thức trong con người với những giá trị của giới trí thức (xin miễn liệt kê ra đây vì tôi nghĩ độc giả talawas đều biết). Người trí thức chân chính luôn giữ trọn các giá trị đó trong đời mình trong mọi hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội. Người trí thức vào đời với mục đích chính hoàn toàn không phải là quyền lực, danh, lợi; nhưng để phục vụ nhân quần xã hội với kinh nghiệm và sở học của mình dưới ánh sáng của các giá trị trên, trong đó cách hành xử của người trí thức đến từ giá trị ‘uy vũ bất năng khuất’, ‘tự biết mình’ (know thyself trong đó có ‘tự nhận biết mình sai và bày tỏ cho công luận biết mình sai không hỗ thẹn tức là tự thắng để xã hội và hậu sinh không bị thiệt hại vì mình’).
    Bị ràng buộc trong những giá trị vô hình nhưng cao cả đó giữa xã hội đảo điên vì quyền lực, lợi, danh và khuynh hướng phản trí thức (anti-intellectualism và ngu dân) của giai cấp thống trị người trí thức bất lực trong việc cải tạo xã hội, đổi thay lịch sử. May mắn lắm là bảo vệ vẹn toàn các giá trị giới trí thức tôn thờ trong đời sống cá nhân và cho chúng tỏa sáng trong bóng đêm dày dặt của xã hội đương thời và cho mai hậu soi chung là quý lắm rồi.
    Thắng hay thua, thành công hay thất bại, chúng ta có nên ‘đem thành bại luận anh hùng’ hay chăng? Tôi thiển nghĩ nên không. Phan Đình Phùng và Hoàng Cao Khải qua đời khi quyền lực Pháp còn ngự trị VN, nhưng bây giờ thì chúng ta noi gưong ai? Cũng như thế, giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị chúng ta nên noi gương ai? Sự lựa chọn dễ dàng vì các danh nhân đó có cùng ‘những điều kiện lịch sử cụ thể của VN thời’ đó. Khó khăn hơn khi chúng ta nhìn lại các bậc tiền bối như Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh. Họ như chiếc lá trong những luồng gió lịch sử. Gió tây nâng họ lên và gió đông đè họ xuống khi sống, rồi như chiếc lá úa bay bay trong gió bắc lạnh lùng khi lìa cành an nghĩ, nhưng họ vẫn tiếp tục phụng sự đời khi những chiếc lá đó tan rã hóa thành chất bồi dưỡng các mầm non trên cành. Nhìn qua lịch sử trời tây xa xăm, ta cũng có nhiều dẫn chứng về sự thất bại của trí thức trước những bất toàn của lịch sử. Bao triều đại, bao đế quốc đã qua đi sau khi đã trù dập, sát hại, bôi bác, khinh thường, cô lập, rù quến, lợi dụng, lợi dụng rồi hất hủi; hay ngược lại là ca tụng, thăng thưởng, chiêu hiền đãi sĩ. Rất nhiều học sinh nhớ tên ông Cao Bá Quát nhưng ít đứa nhớ tên các bậc vua chúa đã ra lệnh truy tìm và xử trãm ông. Chúng ta đọc sách của Peter, của Paul và những lời rao giảng nhưng đâu nhớ vua nào hay quan toàn quyền nào đã đóng đinh họ. Các dẫn chứng này không nhằm mục đích dùng câu ‘gặp thời thế thế thời phải thế’ để biện minh cho các bậc thức giả đánh mất các giá trị của trí thức trong đời mình, trừ phi họ công khai tự nhận mình ấu trỉ, ngây thơ trước thời thế cụ thể thay vì dùng trí tuệ, kiến thức, lý luận để biện minh cho các cách hành xử của mình trước thời thế. Nếu trí thức ‘know thyself’ và giữ các giá trị của trí thức thì các sự đóng của trí thức mãi mãi còn trong lòng hậu thế.
    Hy vọng là lời chia xẻ trên của một người bàng quang học vị bình thường làm việc bình dân về trí thức không mang tính ‘khệnh khạng’ đối với các độc giả talawas. Để kết luận, xin gởi độc giả talawas hai câu thơ của Hòa Thượng Thích Thanh Long gởi bạn tù ‘cải tạo’ khi dời trại mà tôi đọc được trên một tờ báo làng tại đây: ‘Nhớ nhau xin nhớ tình dân tộc/ Lẳng lặng mà xem đá nở hoa’
    Vâng, các giá trị của hạt giống trí thức nếu được giữ vẹn toàn trong cõi ta bà này sẽ cho ta thấy đá nở trên hoa bên cạnh những rêu phong của tuổi đá.

  13. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Ai cũng biết chiến tranh VN không chỉ đơn thuần giữa người quốc gia và người cộng sản, mà đó là một cuộc chiến muôn mặt trong thời đại truyền hình.

    Ngày 30 tháng Tư không phải là một ngày chiến thắng vẻ vang, mà một ngày thê lương u ám cho dân tộc và đất nước, chắc chắn – nhiều hơn có thể – sẽ là bước đầu cho sự lệ thuộc và đồng hóa.

    Hơn 85 triệu dân Việt hôm nay có bao nhiêu người còn ủng hộ độc tài, trừ một thiểu số vụ lợi, tham lam, tham nhũng, ươn hèn, xỏ lá, ăn bám, bất lương, vô nhân đạo?

    Hãy thử so sánh Hà Nội “ba mươi sáu phố phường” và Sài Gòn “hòn ngọc viễn đông” với Hà Nội 2010 và thành phố Hồ Chí Minh hôm nay, thì sẽ thấy ngay sự cách biệt mênh mông và những tệ nạn xã hội vô phương cứu vãn.

  14. Trần Lâm viết:

    Tôi thật tình không hiểu thái độ của BS Tích đối với mấy dòng chữ tôi viết trong phản hồi trước. Tôi chỉ bàn về một câu hỏi mang nặng tính chất giả định của ông ta theo những điều mà tôi đọc được từ các sử gia như Nguyễn Thế Anh và Phạm Văn Sơn. Theo tôi nghĩ, khi nói chuyện về lịch sử thì chúng ta nên dựa vào dữ kiện và nhận định do những sử gia (tương đối) khả tín cung cấp, thay vì tự suy diễn lung tung.

  15. Hoà Nguyễn viết:

    ===============================
    Ông Trần Lâm viết “Cái hạnh kiểm bất hảo này của người Pháp” từ năm 1930 khi ” người Pháp cũng có một thái độ ngoan cố tương tự đối với Phạm Quỳnh”, và dẫn chứng lại câu viết của ông Nguyễn Thế Anh về “tính ngoan cố” của Pháp.

    Tôi không hiểu rõ các ý trên là thế nào. Nhưng Pháp không chấp thuận điều Phạm Quỳnh đề nghị, với Phạm Quỳnh bị VM giêt khi không còn là thượng thư của triều đình Huế, là hai chuyện không có chỗ nào tương tự để so sánh. Tôi cho Nguyễn Thế Anh sử dụng tài liệu của Pháp tìm được tại chính quốc (rất tốt), nhưng nhìn VN từ nước Pháp (khá xa), và viết sơ lưọc, hoặc dẫn chứng không liên quan.

    Thử nghĩ về nước Anh. Vào năm 1930, Anh đối với thuộc địa của họ thế nào, như ở Ấn là nước rất lớn, Anh đã trao chút quyền nào cho Gandhi không? (năm 1942 Gandhi còn bị quản thúc hai năm). Ở hội nghị Yalta, trước thúc giục “giải thực” của Roosevelt, Churchill nói ông không thể là thủ tướng đầu tiên làm mất đi thuộc địa của vương quốc (đế quốc) Anh , và chuyện trả lại thuộc điạ không xảy ra khi ông còn sống . Nhưng vừa thắng Đức, tới tháng 7/1945, đảng của Churchill thất cử, và Churchill mất chức. Tuy vậy, mãi tới ngày 15-8-1947, Anh mới trao trả độc lập cho Ấn và Pakistan; lúc đó, Pháp đã nghĩ tới Bảo Đại (thoát được VN và qua Hongkong).

    Pháp trở lại Đông Dương với sự đồng lõa của Anh: hai sư đoàn đầu tiên của tướng Pháp Leclerc nhờ phương tiện chuyên chở của Anh. Ở Sài Gòn, ngày 22-9, Anh thả tất cả kiều dân Pháp trước bị Nhật bắt, tái võ trang cho khoảng 1000 lính Pháp vừa được phóng thích, và tối hôm đó họ chiếm các khu trọng yếu ở Sài Gòn. Leclerc tới SG ngày 5-10, cùng lúc lính Pháp đổ bộ lên Vũng Tàu. Ngày 12-10, Pháp đánh chiếm Gia Định và vùng phụ cận, trong khi quân Anh-Ấn tiến chiếm Thủ Dầu Một, Biên Hoà. Ngày 29-11, ngoại trưởng Anh Bevin tuyên bố thừa nhận chủ quyền của Pháp tại Đông Dương.

    Ở Miến Điện, khi Nhật đầu hàng, đã có hai lực lượng quân sự Miến khá mạnh trước cùng liên minh với Anh chống Nhật, một do Aung San cầm đầu, và năm 1947 ông bị ám sát chết khi đang trong tổ chức chuyển quyền (ông là cha của bà Suu Kyi). Đến 4-1-1948, Miến độc lập. Ở Mã Lai cũng có kháng chiến theo khuynh hướng Cộng sản chống Anh từ năm 1948. Chỉ sau khi đè bẹp tổ chức kháng chiến này, đến năm 1957, Anh cho Mã Lai độc lập trong Liên Hiệp Anh. Có là quá trễ không, và tại sao cần tiêu diệt du kích CS trước ?

    Trần Lâm ” Nếu người Pháp thật sự có “thiện chí” như Hoà Nguyễn nghĩ, thì tại sao họ lại đưa ra “giải pháp” Bảo Đại một cách quá trể”. Vì ban đầu Bảo Đại là người của Hồ Chí Minh, cố vấn chính phủ, và bị kiềm giữ. Theo Trần Văn Đôn, lúc Bảo Đại là cố vấn cho Hồ Chí minh, De Gaulle muốn đưa Duy Tân về để “vô hiệu hóa cộng sản Việt Nam” (Việt Nam Nhân Chứng, trang 72). Khó tưởng tưởng được chuyện đưa một ông vua bị lưu đày vì chống Pháp trở về nước chỉ để làm bù nhìn cho Pháp.

    Thêm về giải pháp Bảo Đại. Theo nhiều chuyện kể, Hồ Chí Minh từng muốn mời Bảo Đại đứng ra lập chính phủ để thương lượng với Pháp. Lúc 7 giờ sáng ngày 27-2-1946, HCM gọi điện thoại xin gặp Bảo Đại. Hồ Chí Minh kề với Bảo Đại là tình hình đang khó khăn, Pháp không muốn nói chuyện với ông, còn Đồng minh thấy ông quá “đỏ” nên không tín nhiệm. Sau đó, Bảo Đại gọi điện thoại hỏi ý kiến ông Trần Trọng Kim, và Trần Trọng Kim cho đây không phải là cái bẫy, khuyên Bảo Đại nên nhận lời. Đến 10 giờ, Hồ Chí Minh lại gọi điện thoại thúc giục Bảo Đại chấp nhận. Nhưng đến 13 giờ, Hồ Chí Minh mời Bảo Đại đến, xin lỗi và xin hãy quên đi chuyện đó. Ngày 16-3, theo đề nghị của Nguyễn Tường Tam, Bảo Đại rời Hà Nội đi Trùng Khánh trong một nhiệm vụ được HCM đồng ý là tiếp xúc với Trung Hoa Dân quốc để xin ủng hộ và giúp chống Pháp. Ban đầu phái đoàn bị từ chối, và theo lời kể, ông Chan, Bí thư Quốc Dân Đảng nói: ” Phái đoàn có nhiều người cộng sản, và cộng sản thì không thể nào là bạn với nước Trung Hoa Dân quốc được…”. Sau cùng tuy phái đoàn gặp Tưởng Giới Thạch trong một ngôi chùa, nhưng không được hứa hẹn gì. Sau đó, khi trở lại Côn Minh trên đường về nước, Bảo Đại nhận được điện văn của HCM khuyên nên ở lại đất Trung Hoa, và Bảo Đại hiểu là không được cho về, nên sau đó tim cách trốn ra Hongkong.

    Về thái độ của giới trí thức VN thời đó, xin chép một đoạn trong “Việt Nam 1945-1995” của ông Lê Xuân Khoa :

    “Việt Nam đã có một tầng lớp trí thức và hiểu biết sâu sắc về văn minh Tây phương và chính trị quốc tế… Một số người theo Việt Minh vì chống Pháp, một số hợp tác với Pháp vì không thấy có lựa chọn nào khác để chống lại cộng sản, một số khác không chấp nhận Việt Minh nhưng cũng không tin tưởng ở sự thành thực của Pháp nên quyết định không tham gia chính trị hoặc ngưng hoạt động để chờ thời ” (trang 112-113).
    Điều đó có nghĩa là nhân tâm phân tán, hay VM chỉ động viên được một phần (ba) trí thức đi theo. Quan hệ hợp tác giữa Bảo Đại với Pháp là tình trạng “đồng sàng dị mộng” (sách dẫn trang 116).

    Bảo Đại muốn giành độc lập cho VN nhưng không phải là nhà chính trị.

1 2 3 4 5
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>