talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Hữu Liêm – A Lưới, Khe Sanh, Huế, Hà Nội, Sài Gòn

24/06/2010 | 7:00 sáng | 34 Comments

Tác giả: Nguyễn Hữu Liêm

Category: Chiến tranh Việt Nam, Chính trị - Xã hội
Thẻ:

Trong chuyến đi Việt Nam lần này, với tư cách là một nhà báo làm việc cho Renaissance Journalism Center của San Francisco State University, do The Ford Foundation tài trợ, tôi đã đến các vùng xa ở miền Trung Việt để tìm hiểu về hệ luỵ của chất độc da cam và dioxin từ thời chiến tranh Việt Nam. Sau đây là một số ghi chép về hành trình này. (Độc giả muốn tìm hiểu thêm về vấn đề chất độc da cam/dioxin và các chương trình liên hệ, và đọc blog bằng Anh ngữ của tôi, xin vào trang nhà www.vietnamreportingproject.org)

Cam Lộ, Quảng Trị, 10 tháng Sáu, 2010

Tôi đến thăm Trần Viết Trâm, người bạn cùng đi lính không quân với tôi trước 1975, nay về làm ruộng ở Cam Lộ. Anh ra lệnh cho bà xã cắt cổ con gà trống duy nhất đang gáy sau vườn. Bà vợ chảy nước mắt tuân theo. (Tôi cũng thấy thương con gà trống to đẹp, đang ca hát huyênh hoang trong cõi sống của nó. Nhưng vì ở cõi người cao hơn, chúng tôi “phải” ăn nó – và với tôi thì lặng lẽ kèm theo lời cầu nguyện “hóa kiếp cho mầy”). Ăn trưa xong, người bạn dẫn tôi đến thăm vài gia đình có trẻ em dị dạng mà theo dân làng, vì chất độc da cam.

Hai trẻ em, nạn nhân chất độc da cam tại Cam Lộ. Tay các em bị trói ra sau để không tự cào cấu.

Nhìn các em này nằm la liệt trên nền nhà, một số em bị cột chặt tay chân để không cào cấu thân thể, tôi không cầm được nước mắt. Vài em thấy chúng tôi đến thăm là rú lên từng cơn như loài thú điên dại. Thật là một di sản, một thảm kịch bi đát trùng trùng.

Chiều đến, tôi ghé qua Trung tâm Phục hồi cho trẻ em khuyết tật ở gần đấy. Gọi nó là một “trung tâm” thì thật thậm xưng. Đó là một ngôi nhà nhỏ được quét vôi và đang được sửa chữa. Ông Trung, giám đốc, cho tôi biết là Trung tâm chỉ có thể điều trị 15 đứa trẻ cùng một lúc. Ngân khoản hoạt động trong một tháng vào khoảng 10 triệu đồng (khoảng 600 Mỹ kim). Chỉ nội trong hạt này thôi đã có trên 2.000 trẻ em được cho là bị nhiễm chất độc da cam. Phần lớn số tiền tài trợ đến từ các cơ quan từ thiện quốc tế và hội Hồng Thập tự.

Tôi hỏi ông Nguyễn Hoàn, Chủ tịch Hội Nạn nhân Chất độc Da cam quận Cam Lộ, về chuyện làm việc thiếu sót và tham nhũng. Tôi lặp lại lời quả quyết của một người dân làng rằng phần lớn viện trợ khi đến tay các nạn nhân thì chẳng còn bao nhiêu. Ông chăm chú nghe với một bộ mặt nghiêm trọng và cho rằng có thể là người ta không biết hết các dữ kiện. Ông  cắt nghĩa, “Thí dụ chúng tôi được tài trợ 100 triệu đồng (khoảng 6000 Mỹ kim). Người ta cho đó là một số tiền lớn. Nhưng khi chúng tôi bắt đầu chia đều số tiền này cho nhiều quận hạt với cả ngàn gia đình có nhiều nạn nhân, thì số tiền đến tay từng nạn nhân thật là ít ỏi. Người ta không biết được tầm cỡ của vấn đề. Đúng, có những vụ tham nhũng, tiền bị ăn chặn từ trên xuống, nhưng tôi cam đoan với anh, theo tôi được biết thì chuyện đó rất hiếm. Trong nhiều trường hợp, chúng tôi phân phối 100% mọi trợ giúp thẳng cho nạn nhân.”

Vài dân làng cho tôi biết họ được nhận rất ít khi có trợ giúp. Ví dụ, là nạn nhân chất độc da cam, anh sẽ được nhận thêm một gói mì ăn liền vào dịp Tết. Tuy nhiên, khi thăm hỏi nhiều gia đình hơn thì tôi được biết rằng, thực ra các gia đình có trẻ em dị dạng, nằm liệt thì được trợ cấp từ 300.000 đến 700.000 đồng một tháng. Tuy nhiên, nếu kinh tế gia đình nào khá hơn, ví dụ có buôn bán, cửa hàng ở chợ, thì sẽ không được trợ cấp.

Việc kế đến là những điều kiện để được trợ giúp. Tôi đặt vấn đề này với ông Hoan. Để được giúp đỡ, người ta phải hội đủ ba điều kiện. Trước tiên, nạn nhân phải là con cháu trong một gia đình “kháng chiến”, tức là có tham dự đánh Pháp và Mỹ. Hai, gia đình phải ở dưới mức nghèo đói (ở Việt Nam, điều này có nghĩa là nghèo xác xơ) và ba, là mức độ bị khuyết tật. Điều kiện thứ nhất thì rõ ràng là phân biệt đối xử. Tôi cho ông Hoan biết, nếu cộng đồng người Việt ở hải ngoại biết điều này, họ sẽ chống đối đến cùng sự tiếp tế ở bất cứ một mức độ nào cho nạn nhân chất độc da cam.

Ông Hoan thừa nhận điều đó và trả lời tôi rằng, vâng, đã có một điều kiện như vậy. Nhưng trong mấy năm qua, điều kiện này đã bị loại bỏ. Hiện nay chỉ còn hai đòi hỏi thôi. Tôi hỏi ông một cách thẳng thừng, có chắc chắn là điều này được loại trừ hẳn rồi chưa. Ông ta xác định một cách chắc nịch, đúng là như vậy.

Hà Nội, 16 tháng Sáu

Những người tham dự cuộc họp báo của Nhóm Đối thoại về chất độc da cam tại Hà Nội, 16 tháng Sáu 2010

Trong buổi họp báo ở khách sạn Công Đoàn, Hà Nội ngày 16 tháng Sáu, do Nhóm Đối thoại Việt-Mỹ về chất độc da cam tổ chức, tôi lại nhắc lại vấn đề kỳ thị khi trợ cấp cho nạn nhân chất độc da cam với ông Đỗ Hoàng Long, Vụ trưởng Vụ Đối ngoại Nhân dân của Đảng Cộng sản. Ông ta trấn an tôi rằng đòi hỏi đó đã được loại bỏ bằng một nghị quyết của Bộ Chính trị mấy năm trước đây. Nhưng theo ông vẫn có một số người ở địa phương không đồng ý với chuyện đối xử đồng đều với mọi người. Ông nói: “Anh biết rằng, loại bỏ những rào cản vật chất trong chiến tranh thì dễ, nhưng những rào cản về tư tưởng thì khó, bất kỳ ở đâu và bất cứ phía nào!”

Sau buổi họp báo, bà Thảo Griffiths, giám đốc điều hành của tổ chức Cựu Chiến binh Mỹ ở Việt Nam, cùng tôi tháp tùng đại sứ Ngô Quang Xuân, chủ tịch Nhóm Đối thoại, đến khách sạn Metropole để dùng nước. Ngồi cạnh ông, tôi lại hỏi về chính sách phân biệt đó. Đại sứ Xuân đổ lỗi cho hệ luỵ chiến tranh, nhưng theo ông thì điều kiện phân biệt đó được sử dụng nhằm giới hạn số người được đền bù vì số tiền tài trợ ít ỏi. Ông cho biết ông mừng là chính sách đó hiện nay là chuyện của quá khứ.

Trong buổi họp báo, tôi hỏi Nhóm Đối thoại, họ có thông điệp gì cho cộng đồng người Mỹ ở Hoa Kỳ, vì ý kiến của họ là chìa khoá cho những biểu quyết của Quốc hội Hoa Kỳ. Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng nhấn mạnh rằng nạn nhân của chất độc da cam/ dioxin không chỉ là người ở Việt Nam mà còn là người trong các cộng đồng Việt ở Mỹ cũng như khắp nơi trên thế giới. Đây không chỉ là vấn đề của những nông dân trong các khu vực bị ảnh hưởng. Đây là một vấn đề hoàn cầu cho người Việt khắp nơi.

Tôi hỏi thêm Nhóm Đối thoại, họ có thông điệp gì cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, vì ý kiến của họ là chìa khoá cho quyết định chuẩn chi, nếu có, của Quốc hội Hoa Kỳ cho vấn đề này. Đại sứ Ngô Quang Xuân và bác sĩ Phượng nói rằng Nhóm Đối thoại mong làm việc với mọi người, bất kể những liên hệ mà những người này có trong chiến tranh quá khứ. Đây là một vấn đề nhân đạo. Nó không còn là chuyện chính trị nữa.

Một số ký giả quốc tế đã đặt câu hỏi về hai vấn đề vốn chưa được trình bày một cách thuyết phục trong buổi họp báo. Thứ nhất là bằng chứng khoa học và nguyên do đưa đến bệnh da cam; thứ hai là vì sao họ nghĩ rằng chính phủ Mỹ lại sẵn sàng tài trợ dự án vào thời điểm này. Tôi tự nhủ, Nhóm Đối thoại cần phải làm việc nhiều hơn nữa, không hẳn chỉ đưa ra lý do nhân đạo cho nạn nhân trước một cử tọa thân thiện mà thôi. Nhưng mọi chuyện đều phải có sự bắt đầu. Nhóm Đối thoại đang bước đi những bước đầu tương đối vững chắc. Con đường còn dài và với nhiều thử thách.

Những chuyện khác…

À, còn các tiểu tiết khác như cái nóng ẩm ướt ở Hà Nội và những chuyện nhỏ nhặt khác, như… cái bìa đựng tất cả mọi địa chỉ và điện thoại liên lạc và tài liệu của chuyến đi này bỗng nhiên không cánh mà bay, biến mất trong phòng khách sạn. Tôi hốt hoảng tìm nó trong vòng ba ngày, và tôi suy rằng có lẽ công an đã lấy đi, nhưng có người lại nói là nếu công an lấy thì họ đã không làm như vậy. Cứ cho là như vậy đi.

Cầu Dakrong trên tuyến đường TPHCM-Quảng Trị

Tôi cũng đã ghé qua làng Bích La Đông để giám sát công tác xây trường học ở đó do Hội Doanh nhân Việt-Mỹ và tổ chức VNHelp ở California tài trợ. Trong bữa cơm trưa do một doanh nhân ở thị trấn Quảng Trị khoản đãi, tôi gặp lại một bạn học từ năm 1972 ở trường Nguyễn Hoàng. Anh nay là bí thư của thị trấn. Hai chúng tôi nhận ra nhau. Bao nhiêu câu chuyện và tâm sự về những ngày ấu thơ gian khổ cùng trường, cùng lớp. Tôi không ngờ là anh bạn ngồi bên cạnh mình ở lớp 10B2 là một “cán bộ nằm vùng”. Anh bảo tôi rằng anh đã đọc rất nhiều các bài viết của tôi và về tôi trên mạng. Tôi hỏi anh thích bài nào nhất thì anh trả lời rằng có lẽ là bài “Nguyễn Hữu Liêm: Con chó liếm máu đồng loại không biết đắng”.  Chúng tôi cùng cười vang trong men bia Huda hòa với gió Lào thổi vào từ sông Thạch Hãn.

Tôi đã gặp hai người lương thiện ờ Sài Gòn và Hà Nội. Ở Sài Gòn, khi chuẩn bị xuống lễ tân trả phòng ở khách sạn Bông Sen, có một người đàn ông tìm đưa tôi một phong bì chưa dán, bên trong có 10 tờ giấy $100 đôla, mà tôi bỏ quên trên bàn viết khi trả phòng. Tại một cái bar ở Hà Nội, khi xem World Cup, tôi đưa cho anh phục vụ một tờ 500.000 đồng, tưởng là 20.000 đồng. Một chập sau anh quay lại và nói tôi đã nhầm. Các bạn biết rằng các tờ tiền giấy Việt Nam chúng rất giống nhau!

Mưa đã không theo tôi ra Hà Nội – như tôi mong mỏi. Trời nóng (43 độ C) và oi bức đến độ không khí như bị đun sôi. Khi tôi than vãn, có người nói đùa, “Đây là một quốc gia cộng sản, bạn có sauna (tắm hơi) miễn phí mà!” Nhưng khi đứng bên hồ Hoàn Kiếm, nhìn chung quanh, tôi nghĩ rằng dù thời tiết – và nhiều chuyện khác – có khắc nghiệt đến thế nào, cả thành phố và con người Hà Nội vẫn thanh lịch và xinh đẹp như muôn thuở.

Vào lại Sài Gòn hôm sau, có ông bạn thi sĩ gốc Quảng Trị, nay là đại gia ở Bà Rịa, đến đón tôi ở khách sạn bằng xe hơi mà ông mới mua năm ngoái ở San Jose. Khi xe dừng ở ngã tư trên đường Lý Tự Trọng, gần chợ Bến Thành, tôi nghe anh tài xế la lên. Có hai tên lái xe máy áp theo, vặn lấy mất tấm kiếng chiếu hậu bên hông trái. Sự việc xẩy ra trong vòng khoảng hai giây đồng hồ. Chúng tôi không ai phản ứng kịp. Một giờ sau, khi chúng tôi đang ngồi uống cà phê trên đường Đồng Khởi thì có kẻ đến gạ bán lại cái kiếng vừa bị cướp đó với giá 2 triệu rưỡi đồng. Ông bạn “vừa vui vừa chửi” mua lại ngay, vì theo ông, giá mua ở đại lý là 13 triệu. Đúng là “sống chung với lũ” cùng với nạn cướp cạn giữa trưa.

Trước khi về lại Mỹ, tôi được mời thuyết giảng về triết học tại quán “Cafe Thứ Bảy” của nhạc sĩ Dương Thụ. Phần lớn khách tham dự, khoảng 50, là sinh viên trẻ muốn nghiên cứu và theo học ngành triết. Theo nhạc sĩ Dương Thụ thì đây là buổi nói chuyện thân mật có nhiều người tham dự nhất. Không khí thảo luận thật là sôi nổi và hào hứng. Khán giả đã đặt nhiều câu hỏi về các vấn đề tư tưởng đương đại ở Hoa Kỳ và các vấn đề chuyên môn của ngành triết. Chương trình được công bố bắt đầu lúc 9:30 sáng. Nhưng đúng 9:00 giờ là phòng họp đã hết chỗ ngồi. Nhiều người đến đúng giờ đã không tham dự được. Và chương trình bắt đầu ngay lúc 9:05 sáng. Tôi cảm nhận được tinh thần học hỏi hăng say ở giới trẻ Việt Nam.  Chương trình kéo dài đến 12:00 trưa. Sài Gòn, dù hơi oi bức, nhưng khi cơn mưa chiều đổ xuống, so với Hà Nội, thì mát nhẹ hơn nhiều.

*

Với tôi, đây là một chuyến đi về quê nhà đầy cảm xúc, đầy ý nghĩa. Điều gây ấn tượng nặng nhất trong tôi là không ngờ có nhiều nạn nhân chất độc da cam như thế. Riêng ở quận Cam Lộ, gần Đông Hà không thôi, con số nạn nhân đã lên hơn 2000 trẻ em. Các vùng như Hải Lăng, A Lưới… con số còn tệ hơn. Tôi đã xúc động nhiều khi tiếp xúc với họ. Tôi có nhiều điều để viết, để chia sẻ và tâm sự, để góp phần kêu gọi cho vấn đề nhân đạo lớn lao và bi thảm này.

Có những ngày ở Huế, ban ngày tôi lên vùng núi xa xôi tận biên giới Lào, giữa núi non trùng điệp, đến các bản làng để tìm hiểu. Con người ở các vùng sâu thì quá chân chất, nghèo xơ xác, giản dị, đơn sơ. Chiều tối đến, về lại giữa thành phố Huế với không khí lễ hội Festival Huế 2010 đang náo nhiệt phô diễn khắp đường phố. Tôi cảm nhận được những trái nghịch, những tương phản, từ cái thấp đến cái cao, giữa hình thức và nội dung, giữa cái khổ và cái hạnh phúc vô thường, ở ngay giữa miền Trung đất nước này.

Từ những khi đứng bên phi đạo của căn cứ Khe Sanh cũ, giữa núi rừng hùng vĩ, đến lúc cùng đám đông đi bộ trên cầu Tràng Tiền, Huế, tôi đã nhận ra rằng đất nước và con người Việt Nam, như là núi sông của những vùng cao, như sông Hương nước chảy dưới chân mình, mang nhiều nét xinh đẹp và hùng tráng vô vàn. Nhưng ẩn ngầm dưới cái xinh tươi bao la ngút ngàn kia là một di sản chiến tranh tàn độc, vật thể hay tinh thần, hữu hình hay vô hình, đang giày xéo và xói mòn bao nhiêu những tâm hồn trong sáng của cả một thế hệ sau chiến tranh. Tôi chỉ mong sao cho tất cả được bình an – và những gì hạnh phúc họ đang có được, hay khổ đau mà họ đang gánh nặng, phải là của cơ năng tiến hóa cho cái hiện tượng con người Việt Nam còn nhiều hứa hẹn này.

(Ảnh trong bài của tác giả)

© 2010 Nguyễn Hữu Liêm

© 2010 talawas

Bình luận

34 Comments (bài “Nguyễn Hữu Liêm – A Lưới, Khe Sanh, Huế, Hà Nội, Sài Gòn”)

  1. Nguyễn Việt Thanh viết:

    Nhân phát biểu của phê bình gia Đặng Tiến về cách thế của con người từ tầm thường, bình thường, sáng suốt đến chân nhân, hiền triết với lịch sử; xin chia sẻ ý kiến của bác Phùng và các bác khác bằng cách xin dẫn một đoạn trong Diễn từ Nobel 1957 của A. Camus (Phạm Toàn dịch). Thiết nghĩ có liên quan ít nhiều.
    (http://www.doxa.com.vn/index.php?option=com_fireboard&Itemid=169&func=view&catid=31&id=&id=160&catid=31)

    “Đồng thời, vai trò của nhà văn cũng không được tách khỏi những nghĩa vụ khó khăn. Theo định nghĩa về vai trò nhà văn, ngày nay anh ta không thể là kẻ phục vụ những con người làm nên lịch sử, mà anh ta phải phục vụ những con người tuân thủ lịch sử. Nếu không, anh ta sẽ bị cô độc và bị tước mất nghệ thuật. Toàn bộ các đạo quân triệu triệu người của nền chuyên chế cũng không dứt nổi anh ta ra khỏi nỗi cô đơn, thậm chí ngay cả khi nhà văn thuận tình nhập vào theo bước chân những đạo quân ấy. Ấy thế mà sự lặng câm của một tù nhân vô danh, bị bỏ rơi trong nhục mạ ở một phương trời xa tít lại đủ để kéo nhà văn ra khỏi chốn lưu đầy, chí ít thì ngay cả khi anh ta được sống giữa những đặc quyền tự do, thì anh ta vẫn không quên nổi sự lặng câm kia, nhà văn thế chỗ cho kẻ tù nhân nọ và bằng phương tiện nghệ thuật làm cho cái lặng câm của kẻ tù nhân kia thành tiếng vang xa.

    Không cá nhân nào trong chúng ta đủ lớn để thực hiện sứ mệnh như thế. Nhưng trong mọi hoàn cảnh đời mình, dù chưa có tiếng tăm hay tạm thời nổi tiếng, dù bị vứt trong gông xiềng chuyên chế hay đã có chút tự do diễn đạt, nhà văn có thể bắt gặp lại tình cảm của cái cộng đồng sống động rồi sẽ biện minh cho anh ta, với điều kiện duy nhất là nhà văn cố hết sức chấp nhận thực hiện hai gánh nặng làm nên sự cao quý của nghề văn là: phụng sự chân lí và phụng sự tự do. Do chỗ cái nghiệp nhà văn là tập hợp sao cho được nhiều con người nhất, cái nghiệp ấy cũng không cho nhà văn thích nghi với dối trá và nô dịch, những thứ mà nếu ngự trị ở đâu thì lại chỉ đẻ ra ở đó những nỗi cô đơn. Cho dù cá nhân chúng ta có què quặt tới mức nào, thì sự cao quý của nghiệp văn vẫn luôn luôn đâm rễ vào hai cam kết khó giữ là: khước từ dối trá về những gì ta biết, và cưỡng lại sự áp bức.”

  2. Nhỏ Thanh viết:

    (Tôi cũng thấy thương con gà trống to đẹp, đang ca hát huyênh hoang trong cõi sống của nó. Nhưng vì ở cõi người cao hơn, chúng tôi “phải” ăn nó – và với tôi thì lặng lẽ kèm theo lời cầu nguyện “hóa kiếp cho mầy”). – NHL.

    Chỉ đọc mấy chữ này đã thấy ai đó nói rằng: “Cá sấu cũng có nước mắt” là đúng thật.

  3. Phùng Tường Vân viết:

    Bại Tướng Với Hàng Thần

    Tôn trọng một bại tướng về chết an lành ở quê hương – tướng Marcel Bigeaud – xin không dám có lời bàn thêm nào, tuy nhiên đối với một thứ “hàng thần lơ láo” mượn mầu lịch sử và những lời hoa gấm sở trường để che dấu cái hèn nhược của mình thì tôi thấy “lộn ruột” lắm. Nhắm mắt, cúi mặt xuống mà đi bên rìa mép của lịch sử, làm như không biết đến những rác rưới tàn độc mà phường “tân chủ” trùm phủ trên quê hương và dân tộc, không dám một lần có những lời dõng dạc, “ngay ngắn” trước những hoành hành của kẻ cường đạo mà lại còn mượn hội này cơ nọ buông những lời siểm nịnh.

    Lùi !

  4. Hoà Nguyễn viết:

    5 triệu đô la cho dự án tẩy khử chất độc màu cam ở Việt Nam
    RFI
    Ngày 28/6, tổ chức Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP công bố dự án trị giá 5 triệu đô la nhằm tẩy khử chất độc màu cam, một sản phẩm hóa chất độc hại mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

    Nguồn tài chính do UNDP và một tổ chức độc lập, Global Environment Facility cung cấp.

    Dự án này tập trung vào khu vực sân bay Biên Hòa, gần thành phố Hồ Chí Minh.

    http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20100628-5-trieu-do-la-cho-du-an-tay-khu-chat-doc-mau-cam-o-viet-nam

  5. Hoà Nguyễn viết:

    Trong bài đăng trên BBC, ông Đặng Tiến viết về tướng Bigeard của Pháp vừa mới qua đời, đã dặn dò vợ con “Hãy rải tro hỏa táng tôi xuống lòng chảo Điện Biên Phủ.”…vì những gắn bó với đồng đội đã bỏ mình nơi đây, vì kỷ niệm những năm chiến đấu tại chiến trường Đông Dương “. Ở phần kết luận ông viết:” Không ai có thể làm lại được lịch sử. Bình thường, là những người chấp nhận lịch sử. Sáng suốt là kẻ hòa giải với lịch sử. Hiền triết là hòa đồng với lịch sử. Đó là bài học qua câu chuyện tro bụi này “.

    Xin nhắc lại vài chi tiết nhỏ. Ông tướng Bigeard này lúc mang lon thiếu tá đã nhảy dù xuống mặt trận Điện Biên Phủ ngày 16-3-1954, để tăng cường và khích lệ lực lượng phòng thủ đã suy yếu, gần như tuyệt vọng. Điện Biên thất thủ, Bigeard bị bắt làm tù binh trong bốn tháng .

    Nhưng tôi lại nghĩ từ cái chết của tướng Bigeard và ý muốn rải tro hỏa táng xuống “lòng chảo Điện Biên Phủ” không thể dẫn tới một cách hợp lý câu kết luận nêu trên, nói lên quan điểm chung về lịch sử của ông Đặng Tiến. Cho dù rất tôn trọng quan điểm lịch sử riêng của ông, nhưng tôi xin mạn phép được bàn thêm.

    Nếu bỏ công phân tích, như ông Hoàng Trường Sa đã làm , thì “Không ai có thể làm lại được lịch sử ” vì là điều hiển nhiên như chân lỳ, không cần bàn cải gì. Nhưng mỗi người có một quan điểm khác nhau về lịch sử, tuy họ có thể cùng chấp nhận một số biến cố, sự kiện lịch sử nào đó đã xảy ra. Các biến cố lớn trong thời hiện đại ở VN, như cuộc “tổng khởi nghĩa” năm 1945, hiệp định Genève chia hai đất nước, chiến tranh “Giải phòng miền Nam”, mỗi người VN nằm trong cơn lốc lịch sử của thời đại đó ở hai miền Nam Bắc nhìn thấy không giống nhau, và nhiều người đã chết, bị thương tật, chịu rất nhiều thống khổ, hay cả được hạnh phúc, vì cách nhìn khác nhau của họ. Còn những người nhìn từ khoảng cách xa, dù có can dự gián tiếp gì không, tất thấy khác những người thật sự dấn thân.

    Sáng suốt là kẻ hòa giải với lịch sử “. Nhưng thế nào là hoà giải với lịch sử ? Tướng Bigeard muốn tro được rải xuống Điện Biên Phủ có phải là hành động muốn hoà giải với lịch sử không. Xin nhắc lại câu ông ta nói “vì những gắn bó với đồng đội đã bỏ mình nơi đây”, và điều này nghe hợp lý, hợp tình. Dù thế nào, cũng không thể nghĩ trước khi chết Bigeard vẫn không chịu chấp nhận Pháp thua trận ở Điện Biên hay ở Việt Nam, hay vẫn nuôi lòng oán hận, tức giận, mà chỉ khi nhóm tro tàn được rải xuống nơi thua trận ông mới hoà giải được với chính lòng minh và với kẻ thù.

    Hiền triết là hòa đồng với lịch sử“. Hòa đồng với lịch sử là thế nào, ai đã làm được như vậy, và ai là nhà hiền triết ở đây, là Bigeard hay những người đánh giá hành động của Bigeard là đẹp, có ý nghĩas gì đó ?

    Lịch sử vẫn là biến cố do con người làm ra, tuy khó dự đoán vì luôn có những yếu tố bất ngờ, và thường là do số đông tác động vào, nhưng cũng có thể do một vài nhân vật xuất chúng làm biến chuyển, như câu nói: anh hùng tạo thời thế. Đó là khi họ nhờ tài năng riêng bắt mạch đúng thời đại, lợi dụng đúng tình thế, cơ hội, các nhân tố khách quan, nhưng họ làm theo đúng ước vọng của số đông hay không lại là chuyện khác, như trường hợp Napoléon của Pháp. Hay như chế độ toàn trị mà người VN hiện nay phải sống trong đó. Hoà đồng còn có nghĩa là tuân thuận theo dòng lịch sử, không làm thay đổi gì dù để cho tốt hơn, bởi đã coi đó như định mệnh, thiên mệnh theo quan niệm từ thời xưa, hay coi như quy luật tất yếu của lịch sử theo cái gọi là biện chứng sử quan? Hoặc giả các bậc hiền triết của chúng ta có cách hoà đồng nào khác với lịch sử mà không nói rõ ra, nhưng xin đừng là cách nói văn vẻ cho sự đầu phục.

  6. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Nhân cái chết mới đây của tướng Marcel Bigeaud – ông tướng Pháp đã chiến bại trong trận Điện Biên Phủ – muốn gởi nắm tro tàn của mình trong cát bụi bùn đất của Điện Biên – một hành vi/cử chỉ/nghĩa cử có thể “sến” với một số người – nhưng đã khiến tác giả Đặng Tiến rút khăn mùi xoa ra vừa lau mắt vừa run run viết bài điếu văn ca tụng – và nhân đấy để dạy một bài học “lịch sử” cho các đấng “chống Cộng hơi bị cực đoan”. Ông tướng Tây lừng danh đã biết hành động tuyệt vời như vậy thì quý bạn Việt kiều “anti” sức mấy mà dám/mà đòi etc… etc…

    1. Lịch sử như một chiến thắng

    Theo tác giả Đặng Tiến, chiến thắng Điện Biên Phủ là “lịch sử”, cho nên không thể phủ nhận (hay “làm lại”) vì vậy tướng Bigeaud đã vinh danh nó với nắm tro tàn của mình. Ông Đặng Tiến kết luận: “Không ai có thể làm lại được lịch sử. Bình thường, là những người chấp nhận lịch sử. Sáng suốt là kẻ hòa giải với lịch sử. Hiền triết là hòa đồng với lịch sử. Đó là bài học qua câu chuyện tro bụi này”, với ngụ ý: Chiến thằng Miền Nam (hay “giải phóng”) là “lịch sử” (hệt như chiến thắng Điện Biên Phủ) vì thế cho nên cũng không thể phủ nhận (hay “làm lại”). Dân chúng Miền Nam trước 75 (trong ngoài) cần phải “chấp nhận” nó và cần phải “hòa giải, hòa đồng”. Tiếp tục chống đối, phủ nhận “lịch sử” chỉ là… công dã tràng.

    2. Lịch sử như một tự sự/đại tự sự

    Đó là lịch sử được/bị ghi chép như một tự sự/đại tự sự – thường là do bởi kẻ đã chiến thắng – trong sách vở hay trong trí nhớ của một dân tộc hay của nhân loại. Lịch sử này tất nhiên phải thường xuyên được viết lại qua những khám phá mới về sự thật. Thí dụ 1: Ngày xưa, dưới mắt người Hồng Mao Joan of Arc là một mụ phù thủy. Ngày nay, dưới mắt người Phú Lang Xa Jeanne d’Arc là một cô gái quê yêu nước. Thí dụ 2: Ngày xưa, dưới mắt người cộng sản đánh Mỹ cứu nước tướng X, nhạc sĩ Y… ở Sài Gòn nô lệ là hai tay “bưng bô” (chữ của giới trẻ a còng) đáng phỉ nhổ. Ngày nay: dưới mắt người… gì nhỉ tướng X, nhạc sĩ Y… là Việt kiều yêu nước vì họ đã qui Thục, trở về mái nhà xưa đã được giải tỏa, xin “chấp nhận, hòa giải, hòa đồng” để trở thành người “bình thường, sáng suốt, hiền triết”.

    Và đó là bài học qua câu chuyện “phản hồi” tro bụi này.

    Xin cám ơn các bác Luong, Thanh Nguyễn, Trương Đức, Hoà Nguyễn, Trần Hoài Thư, Louis, P, xyz đã góp ý làm sáng tỏ thêm “vấn đề”.

  7. Nguyễn Đăng Thường viết:

    @Trương Đức

    Cám ơn bác đã đọc góp ý của tôi.

    Tôi xin nói thêm đôi lời về “lịch sử do con người làm, luôn luôn biến chuyển”.

    1. Lịch sử do con người làm:
    – bằng hành động (lập quốc, khởi nghĩa, cách mạng) và tư tưởng (chủ nghĩa, hiến pháp, luật pháp, tôn giáo)
    – đại khái, có hai loại: lịch sử/chế độ “tốt” (dân chủ) và lịch sử/chế độ “xấu” (độc tài)

    3. Lịch sử luôn luôn biến chuyển:
    – nhờ bầu cử tự do
    – do cách mạng, cướp chính quyền, đảo chính, bạo lực

    Do vậy “chấp nhận, hòa đồng, hòa giải” với “lịch sử/chế độ” – (Đặng Tiến) là chặn đứng bánh xe lịch sử.

    Các chế độ dân chủ có bầu cử tự do theo định kỳ là để “thay máu” cho chế độ được tiếp tục biến hóa.

    Washington, Roosevelt, Churchill, Lech Walesa… đã làm nên lịch sử/chế độ tốt (dân chủ tự do).

    Hitler, Stalin, Mussolini, Castro, Mao Trạch Đông cũng đã làm được lịch sử, nhưng tiếc thay đó là lịch sử/chế độ xấu độc đảng độc tài), cần thay đổi, lột xác.

    Thế thôi.

  8. Hoàng Trường Sa viết:

    “Không ai có thể làm lại được lịch sử. Bình thường, là những người chấp nhận lịch sử. Sáng suốt là kẻ hòa giải với lịch sử. Hiền triết là hòa đồng với lịch sử.” (Đặng Tiến)

    Tôi xin mạo muội có vài ý kiến về câu nói trên của ông Đặng Tiến:

    1. Đúng là không ai có thể làm lại lịch sử, hay nói cách khác, không ai có thể thay đổi lịch sử. Bởi vì lý do đơn giản là lịch sử là những gì ĐÃ XẢY RA và ta không thể sống ngược lại thời gian để làm lại hay thay đổi nó. Tuy nhiên, cũng phải với điều kiện là cái lịch sử đang được đề cập đến là lịch sử THẬT (như nó là) chứ không phải là thứ “lịch sử” do ĐCSVN nặn ra lỗ chỗ khắp trong các tài liệu của ĐCSVN và sách giáo khoa lịch sử trong nước hiện nay, kiểu anh hùng Lê Văn Tám chẳng hạn. Với cái lịch sử loại này, đương nhiên ta có thể, và thực ra rất cần, THAY ĐỔI nó để sửa chữa nó thành lịch sử thật.

    2. Người bình thường là người chấp nhận lịch sử. Nhưng chấp nhận không có nghĩa là không phê phán sự đúng sai. Dù ta phải chấp nhận một sự kiện lịch sử nào đó bởi vì nó đã xảy ra rồi, nhưng ta cần biết sự đúng sai của nó để tránh lặp lại sai lầm trong tương lai. Đó cũng chính là mục đích của việc nghiên cứu và học sử. Ngoài ra, ta chỉ có thể chấp nhận cái lịch sử THẬT, chứ không bao giờ nên chấp chấp nhận loại “sử giả” do ĐCSVN cố tình tạo ra để vo tròn, bóp méo sự thật như họ vẫn làm từ năm 1945 đến nay.

    3. Theo tôi, kêu gọi HÒA GIẢI và HÒA ĐỒNG với lịch sử theo cách của ông Đặng Tiến gần như đồng nghĩa với chấp nhận cách giải thích lịch sử MÉO MÓ của ĐCSVN và chấp nhận sự cai trị vĩnh viễn của ĐCSVN, bất chấp mọi sự suy đồi của xã hội, sự xuống cấp trầm trọng của đạo đức, sự thua kém các nước trong khu vực và trên toàn thế giới và, quan trọng hơn hết, sự sống còn của Tổ quốc. Điều này chắc chắn không phải là “sáng suốt” hay “hiền triết” như ông Đặng Tiến đã phán.

  9. Trương Đức viết:

    “Lịch sử là do con người làm, luôn luôn biến chuyển. Chấp nhận, hòa giải, hòa đồng với “lịch sử” (lịch sử nào và của thời đại nào?) là bắt “lịch sử” phải giậm chân tại chỗ. Sao ông Đặng Tiến chưa dắt vợ con về sống hẳn ở Việt Nam để thực hiện cái “triết lý” siêu đẳng của mình?”(Nguyễn Đăng Thường)

    @bác Thường kính,

    Cái ý “Lịch sử là do con người làm, luôn luôn biến chuyển.” của bác làm tôi nhớ đến câu nói của tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng“Trại súc vật”, là “Ai điều khiển được lịch sử, sẽ điều khiển tương lai; ai điều khiển hiện tại, sẽ điều khiển được lịch sử.”(trích Dân luận – Suy ngẫm). Và liên hệ với cái “triết lý siêu đẳng”“Không ai có thể làm lại được lịch sử.” của ông Đặng Tiến, tôi tìm thấy phát biểu này, cũng của nhà văn G. Orwell (thông qua suy nghĩ của nhân vật Winston Smith), “Thực ra làm sao ta biết được rằng hai cộng với hai là bốn? Hoặc làm sao ta biết có lực hấp dẫn? Làm sao ta biết là quá khứ không thể thay đổi được? Hoặc giả nếu quá khứ và thế giới bên ngoài chỉ tồn tại trong tâm mà tâm có thể điều khiển được thì sao?”(trích George Orwell – “1984”).

  10. Thanh Nguyễn viết:

    Bản Tuyên cáo này cho biết về phía Việt Nam, chính phủ đã có những nỗ lực liên tục từ năm 1980 để giải quyết vấn đề chất độc da cam. Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam đã gây quỹ được 22 triệu Mỹ kim cho công tác từ thiện tới các nạn nhân. Chính phủ Việt Nam đã chi tiêu 6.25 triệu Mỹ kim cho công tác giải độc (clean-up) các khu vực ô nhiễm nặng, thêm vào đó hằng năm đã chi 50 triệu Mỹ kim giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam. (Trích Nguyễn Hữu Liêm – Bản Tuyên cáo)

    http://www.talawas.org/?p=20036

    Thí dụ chúng tôi được tài trợ 100 triệu đồng (khoảng 6000 Mỹ kim). Người ta cho đó là một số tiền lớn. Nhưng khi chúng tôi bắt đầu chia đều số tiền này cho nhiều quận hạt với cả ngàn gia đình có nhiều nạn nhân, thì số tiền đến tay từng nạn nhân thật là ít ỏi.

    Vài dân làng cho tôi biết họ được nhận rất ít khi có trợ giúp. Ví dụ, là nạn nhân chất độc da cam, anh sẽ được nhận thêm một gói mì ăn liền vào dịp Tết. Tuy nhiên, khi thăm hỏi nhiều gia đình hơn thì tôi được biết rằng, thực ra các gia đình có trẻ em dị dạng, nằm liệt thì được trợ cấp từ 300.000 đến 700.000 đồng một tháng. Tuy nhiên, nếu kinh tế gia đình nào khá hơn, ví dụ có buôn bán, cửa hàng ở chợ, thì sẽ không được trợ cấp.

    Sau buổi họp báo, bà Thảo Griffiths, giám đốc điều hành của tổ chức Cựu Chiến binh Mỹ ở Việt Nam, cùng tôi tháp tùng đại sứ Ngô Quang Xuân, chủ tịch Nhóm Đối thoại, đến khách sạn Metropole để dùng nước. Ngồi cạnh ông, tôi lại hỏi về chính sách phân biệt đó. Đại sứ Xuân đổ lỗi cho hệ luỵ chiến tranh, nhưng theo ông thì điều kiện phân biệt đó được sử dụng nhằm giới hạn số người được đền bù vì số tiền tài trợ ít ỏi.

    Đọc bản Tuyên cáo của nhóm Đối thoại mấy tháng trước và so sánh với những gì ông Liêm viết ra hôm nay thì thấy mâu thuẫn.

    Báo cáo thành tích thì cho rằng nỗ lực lớn, đóng góp tiền của nhiều. Qua thực tế thì khác hẳn với báo cáo, ông Xuân, thành viên của nhóm Đối thoại, cho là “vì tiền tài trợ ít ỏi”.

  11. Luong viết:

    Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam đã bị Tòa HK bác bỏ ngày 10/3/2005 và VN đã kháng án vào ngày 22/2/08, cũng bị bác bỏ luôn. VN cố đưa ra quy kết chất da cam là chất độc, là vũ khí giết người hằng loạt… VN cố xoay chuyển vấn đề khoa học trở thành một vấn đề nhân đạo. Tôn Nữ Thị Ninh, một thành viên của CSVN, đã thành lập một nhóm thân hữu Mỹ – Việt để nghiên cứu vào tháng 7, 2007. Từ đó đến nay VN cổ súy vận động trong lãnh vực nhân đạo nhiều hơn trong lãnh vực kiện tụng.
    Sự kiện tụng đó có mục đích tạo uy thế chính trị cho VN và cũng có thể VC khai thác chuyện chất độc da cam để che đậy một số khó khăn của nội bộ mà Chính Phủ không muốn người dân trong nước biết rõ. Ngoài những khó khăn của nội bộ, VC còn có những khó khăn của xã hội, khi người dân VN (nông dân, công nhân) là hai tầng lớp mà đảng CSVN đã từng sử dụng là tiền đồn cho chính nghĩa CSVN, đã đứng dậy để đòi hỏi những quyền lợi xã hội. Cho đến nay Đảng CSVN không thể nào chu toàn được điều kiện tối thiểu cho đời sống của người dân.

    Chúng tôi nghĩ đó là những khó khăn, và vì những lý do đó mà họ nêu ra những yếu tố về chất độc màu da cam, nạn nhân chất độc màu da cam để tạo ra sự đồng thuận trong xã hội để xoá tan, xoa dịu bớt, một số khó khăn, ấm ức của người nông dân và công nhân trong điều kiện xã hội bế tắc hiện tại của VN.

    Ông Truyết nói tiếp, là một người Việt Nam dĩ nhiên ông không thể nào vô cảm trước nỗi đau của đồng bào hiện tại. Nếu VN hiện tại có con số trên bốn năm triệu nạn nhân chất độc màu da cam thì thiết nghĩ, chúng ta phải nghĩ đến một số vấn nạn ngày hôm nay là VN đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm của môi trường. Môi trường VN đã đến độ không đủ khả năng để chuyển tải, và tệ trạng thứ hai là tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em, là một trong những yếu tố làm chậm lại sự phát triển của đất nước VN.

    Sau chiến tranh, trẻ em VN thiếu vitamin B12 và acid foliclà hai yếu tố giúp sự tăng trưởng của trẻ em trong thời gian sơ sinh và còn là trẻ em. Điều này đã được Trung Tâm Y Tế Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc khuyến cáo, VN cần phải giải quyết vấn đề này nếu không trong một thời gian năm, mười năm sau, thế hệ trẻ VN sẽ là một thế hệ không còn đủ trí thông minh bình thuờng để xây dựng đất nước Việt Nam tốt đẹp trong tương lai.

    Cuối cùng TS Mai Thanh Truyết nói, con đường ông đi là con đường đem lại sự thật về chất độc màu da cam để cho đồng bào ở hải ngoại hiểu rõ và mục tiêu của quyển sách “Câu Chuyện Da Cam/Dioxin Việt Nam” là để làm tài liệu cho sinh viên VN trong tương lai thấy rõ vấn đề chất độc màu da cam chỉ là một vấn đề chính trị hơn là vấn đề khoa học.

  12. Luong viết:

    Mời các bạn đọc bài này sẽ rõ hơn về chất độc da cam

    http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=115&nid=130732

    Mai Thanh Truyết: “Câu Chuyện Da Cam/Dioxin VN”
    ……………….
    Trong chương 1 của quyển sách, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết cho biết mục đích của quyển sách là để trình bày một số suy nghĩ về vấn nạn ảnh hưởng của dioxin hay chất độc màu da cam, một loại thuốc khai hoang được sử dụng trong thời gian chiến tranh ở VN, đã trực tiếp tác động lên con người và đất nước VN như thế nào theo cái nhìn từ nhiều góc độ khác nhau.

    TS Mai Thanh Truyết cho biết, dioxin nguyên chất là một kim loại hình kim, nóng chảy ở 295C, hàm lượng có thể làm chuột chết là 0,0022mg/Kg, có thể làm chết người là 0,1mg/ người nặng 50 kg. Dioxin có công thức hóa học là 2,3,7,8-tetra-chlorodibenzo-p-dioxin (TCDD). Chất đó chỉ chiếm 1 phần triệu trong thuốc diệt cỏ 2,4,5 T. Theo định nghĩa mới nhất của EPA Hoa kỳ ngày 12/6/2000, tên dioxin được dùng để chỉ một tập hợp của 29 hợp chất, gây tác động sinh hóa tương tự trên thú vật thí nghiệm.

    Nguồn gốc ô nhiễm dioxins một phần phát sinh từ các công nghệ chế biến giấy trong khi sử dụng thuốc tẩy màu có clor, công nghệ plastic và một số công nghệ hóa chất như vật cách điện, chất bán dẫn… 95% ô nhiễm dioxin là do việc thiêu đốt các phế thải, nhất là các dụng cụ y khoa và đồ chơi trẻ em bằng nhựa dẻo chứa chlor.
    Khi hỏa thiêu chất phế thải nói trên, chất khói từ lò đốt thoát ra có chứa chlor kết hợp lại với nhau trong không khí thành dioxins và chất này chuyển dịch theo gió và mưa để cuối cùng ổn định trong đất, sông, hồ… tôm cá, gia súc ăn uống hấp thụ chất idoxins vào cơ thể và sau cùng dioxins tích tụ trong các mô mỡ. Các sinh vật này lại là nguồn thực phẩm chính để nuôi sống con người.

    Nói về chất da cam thì đó là tên riêng của thuốc diệt cỏ dại do quân đội HK sử dụng ở các vùng nhiệt đới. Chất nầy được sử dụng lần đầu tiên ở VN vào ngày 21/1/1962, trong chiến dịch Ranch Hand từ 1962-1971. Với mục đích khai hoang các vùng rừng rậm ở miền Nam VN để biến cả vùng rừng rậm không còn là nơi thích hợp cho việc ẩn núp của VC, Quân Đội HK đã phun xịt tổng số lượng khoảng 19 triệu gallons dioxin pha loãng theo nồng độ dioxin trong hỗn hợp diệt cỏ 2,4D và 2,4,5 T, vùng rừng rậm, không dân cư hoặc thưa dân cư, trên một diện tích khoảng 28 ngàn cây số vuông, từ vĩ tuyến 17 tới tận Mũi Cà Mau.

    Theo ước tính của Bộ Quốc Phòng VN thì tổng sản lượng của dioxin nguyên chất trong 19 triệu gallons là khoảng 170-180 kg. Chất da cam được sử dụng rộng rãi vào những năm 1967 và 1968 và thực sự chấm dứt vào 30/6/1971.

    Theo TS Mai Thanh Truyết thì trong hơn bốn chục năm sau chiến dịch Ranch Hand, với thời gian và diện tích trải rộng, với số lượng nhỏ, nếu chất dioxins có còn tồn tại trong thiên nhiên hay trong đất, trong nước thì sẽ chỉ là một lượng rất nhỏ, có thể hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến con người.

    Kể từ khi chiến tranh VN chấm dứt, VN đã bắt đầu nêu ra vấn nạn chất độc dioxin và yêu cầu HK phải bồi thường cho các nạn nhân. VN nói nhiều đến kho chứa các thùng thuốc khai hoang ở Tân Sơn Nhất và Long Bình (Biên Hòa). Trong một báo cáo gần đây nhất của VN năm 2000, đại để có khoảng hơn một triệu người VN bị nhiễm chất độc da cam với hậu quả là gây ung thư đến loạn thần kinh, từ 100.000 đến 150.000 trẻ em được sinh ra với tật nguyền. Nhưng cho đến nay VN vẫn chưa thực hiện một cuộc khảo sát độc lập và uy tín để thẩm định dứt khoát sự hiện diện của dioxin trong những vùng đất và mạch nước ngầm ở những vùng đã bị khai hoang, trong thời chiến tranh và sự chuyển tải di hại nếu có.

    Vì vậy TS Mai Thanh Truyết cho vấn đề dioxins là một vấn đề phức tạp và tế nhị. Nó liên quan đến sức khỏe con người, môi trường, ảnh hưởng lên kinh tế và chính trị. Tế nhị vì nó còn nằm trong vấn đề tranh cãi về mức độ và khả năng làm thoái hóa những vùng đã bị khai hoang trong thời chiến tranh ở VN. Do đó mối bang giao Mỹ Việt trong tương lai còn tùy thuộc vào các đánh giá khoa học của các ảnh hưởng trên.

    TS Mai Thanh Truyết cho biết, ông cùng Hội Khoa Học & Kỹ Thuật VN tại Hải Ngoại đã theo dõi vấn đề dioxins da cam VN cũng như một số vụ kiện, Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam đã kiện 37 Công ty hóa chất HK sản xuất ra các thuốc khai hoang. TS Truyết đã đưa ra một số luận cứ, căn cứ vào những trao đổi của các Khoa học gia ở Ý, Pháp, Đức, Nhật và Canada cùng một số điều kiện dư luận trong nước để đưa ra một số nghiên cứu cũng như một số căn bản để chứng minh rằng vấn đề “Vụ Kiện Chất độc Da Cam” không phải là vấn đề thuần túy khoa học.

    (còn tiếp)

  13. Luong viết:

    Tặng các bạn bài thơ mới làm

    Gáy đi con

    Ò ó o o o
    Gáy đi những con gà trống thơ ngây
    đang so dây lên gân cổ
    cùng dàn đồng ca hợp xướng
    bài ca giả nhân nghĩa
    làm công cụ cho đám tư bản đỏ trá hình
    kiếm tiền gom đầy túi ba gang

    Ò o o ó
    Nhặt đi con vài hạt thóc vương quanh sân chiếu
    cho no hôm nay
    để ngày mai vui vẻ vào nồi
    làm mồi cho bữa tiệc rượu thịt
    thịt súc vật, thịt người
    thịt những em bé ngây ngô dị tật
    như cái cớ cho mánh khoé
    níu túi thằng có đô la
    đòi nợ chiến tranh

    Ò ỏ ò o
    Gáy đi con
    vươn cổ cho cao
    chải lông cho mượt
    xum xoe cơ hội
    chạy quanh những bàn tay đen đúa
    biết bóc lột rửa tiền
    đem ra ngoại quốc sắm biệt thự dinh cơ
    những khu thương mại dần dần mang tên Tàu tên Việt
    máu xương dân đen bị vắt kiệt
    theo giọt nước mắt những ngư dân
    đi đánh cá mà không nơi dong buồm
    biển của mình mà mình không được tới
    tiếng oan nào thấu cao xanh
    lời gào chìm trong ảo sóng
    chỉ có tiếng gáy con gà trống
    lao xao
    nao lòng người

    Lương

  14. Nguyễn Đăng Thường viết:

    “Tác giả Nguyễn Hữu Liêm chắc chắn đã đi nhiều đường đất.” (Tôn Văn)

    – Xin thưa: Đường đất chí ít cũng “năm bảy” đường và “tám chín” cách đi. Có thể cách hay nhất để di chuyển trên “đường đất” là cách này chăng: “Vào lại Sài Gòn hôm sau, có ông bạn thi sĩ gốc Quảng Trị, nay là đại gia ở Bà Rịa, đến đón tôi [Nguyễn Hữu Liêm] ở khách sạn bằng xe hơi mà ông mới mua năm ngoái ở San Jose”… Xe tất nhiên là phải có tài xế lái.

    “Nhưng ẩn ngầm dưới cái xinh tươi bao la ngút ngàn kia là một di sản chiến tranh tàn độc.” (Nguyễn Hữu Liêm)

    – Xin hỏi: Chằc tác giả muốn nói về chất “tàn độc” bauxite đang được khai quật để loại bỏ?

    “Bình thường, là những người chấp nhận lịch sử. Sáng suốt là kẻ hòa giải với lịch sử. Hiền triết là hòa đồng với lịch sử.” (Đặng Tiến)

    – Xin thưa: Nếu dân Nga đã chấp nhận cái triết lý “ba phải” định mệnh an bài này thì quê hương của Pushkin chắn chắn vẫn còn nằm gọn dưới cái ách độc tài cộng sản như Bắc Hàn, Cuba, và… và… Lịch sử là do con người làm, luôn luôn biến chuyển. Chấp nhận, hòa giải, hòa đồng với “lịch sử” (lịch sử nào và của thời đại nào?) là bắt “lịch sử” phải giậm chân tại chỗ. Sao ông Đặng Tiến chưa dắt vợ con về sống hẳn ở Việt Nam để thực hiện cái “triết lý” siêu đẳng của mình?

    Xin thưa: Cá sấu cũng có… nước mắt. Và Ả Quay (A Q.), Chí Phèo cũng có… triết lý.

  15. Trần Ngọc Cư viết:

    Tôi không dám tranh cãi cái đúng cái sai trong vấn đề chất độc da cam. Nhưng với truyền thống “đu dây và vòi vĩnh” của giới lãnh đạo VN, biết đâu chính phủ Mỹ lại không dùng những chi viện gọi là “hàn gắn vết thương chiến tranh” để duy trì ảnh hưởng của mình tại Đông Á.

    Mời quí độc giả đọc thêm thông tin liên quan đến đề xuất 300 triệu đôla do Ủy ban Đối thoại Việt-Mỹ về Chất độc Màu da cam đưa ra:
    http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/LF18Ae01.html

    Xin trích dịch đoạn kết luận của bài viết:

    “Khi được hỏi về những đề xuất nêu ra trong báo cáo [của ủy ban đối thoại], người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Mỹ, ông Philip Crowley, đã ca ngợi công tác của nhóm này và thêm rằng: ‘chúng tôi đặc biệt chú ý đến chương trình hành động có ý nghĩa chiến lược của ủy ban và mong muốn có cơ hội duyệt xét những chi tiết mà ủy ban đưa ra’”.

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>