talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Hữu Liêm – A Lưới, Khe Sanh, Huế, Hà Nội, Sài Gòn

24/06/2010 | 7:00 sáng | 34 Comments

Tác giả: Nguyễn Hữu Liêm

Category: Chiến tranh Việt Nam, Chính trị - Xã hội
Thẻ:

Trong chuyến đi Việt Nam lần này, với tư cách là một nhà báo làm việc cho Renaissance Journalism Center của San Francisco State University, do The Ford Foundation tài trợ, tôi đã đến các vùng xa ở miền Trung Việt để tìm hiểu về hệ luỵ của chất độc da cam và dioxin từ thời chiến tranh Việt Nam. Sau đây là một số ghi chép về hành trình này. (Độc giả muốn tìm hiểu thêm về vấn đề chất độc da cam/dioxin và các chương trình liên hệ, và đọc blog bằng Anh ngữ của tôi, xin vào trang nhà www.vietnamreportingproject.org)

Cam Lộ, Quảng Trị, 10 tháng Sáu, 2010

Tôi đến thăm Trần Viết Trâm, người bạn cùng đi lính không quân với tôi trước 1975, nay về làm ruộng ở Cam Lộ. Anh ra lệnh cho bà xã cắt cổ con gà trống duy nhất đang gáy sau vườn. Bà vợ chảy nước mắt tuân theo. (Tôi cũng thấy thương con gà trống to đẹp, đang ca hát huyênh hoang trong cõi sống của nó. Nhưng vì ở cõi người cao hơn, chúng tôi “phải” ăn nó – và với tôi thì lặng lẽ kèm theo lời cầu nguyện “hóa kiếp cho mầy”). Ăn trưa xong, người bạn dẫn tôi đến thăm vài gia đình có trẻ em dị dạng mà theo dân làng, vì chất độc da cam.

Hai trẻ em, nạn nhân chất độc da cam tại Cam Lộ. Tay các em bị trói ra sau để không tự cào cấu.

Nhìn các em này nằm la liệt trên nền nhà, một số em bị cột chặt tay chân để không cào cấu thân thể, tôi không cầm được nước mắt. Vài em thấy chúng tôi đến thăm là rú lên từng cơn như loài thú điên dại. Thật là một di sản, một thảm kịch bi đát trùng trùng.

Chiều đến, tôi ghé qua Trung tâm Phục hồi cho trẻ em khuyết tật ở gần đấy. Gọi nó là một “trung tâm” thì thật thậm xưng. Đó là một ngôi nhà nhỏ được quét vôi và đang được sửa chữa. Ông Trung, giám đốc, cho tôi biết là Trung tâm chỉ có thể điều trị 15 đứa trẻ cùng một lúc. Ngân khoản hoạt động trong một tháng vào khoảng 10 triệu đồng (khoảng 600 Mỹ kim). Chỉ nội trong hạt này thôi đã có trên 2.000 trẻ em được cho là bị nhiễm chất độc da cam. Phần lớn số tiền tài trợ đến từ các cơ quan từ thiện quốc tế và hội Hồng Thập tự.

Tôi hỏi ông Nguyễn Hoàn, Chủ tịch Hội Nạn nhân Chất độc Da cam quận Cam Lộ, về chuyện làm việc thiếu sót và tham nhũng. Tôi lặp lại lời quả quyết của một người dân làng rằng phần lớn viện trợ khi đến tay các nạn nhân thì chẳng còn bao nhiêu. Ông chăm chú nghe với một bộ mặt nghiêm trọng và cho rằng có thể là người ta không biết hết các dữ kiện. Ông  cắt nghĩa, “Thí dụ chúng tôi được tài trợ 100 triệu đồng (khoảng 6000 Mỹ kim). Người ta cho đó là một số tiền lớn. Nhưng khi chúng tôi bắt đầu chia đều số tiền này cho nhiều quận hạt với cả ngàn gia đình có nhiều nạn nhân, thì số tiền đến tay từng nạn nhân thật là ít ỏi. Người ta không biết được tầm cỡ của vấn đề. Đúng, có những vụ tham nhũng, tiền bị ăn chặn từ trên xuống, nhưng tôi cam đoan với anh, theo tôi được biết thì chuyện đó rất hiếm. Trong nhiều trường hợp, chúng tôi phân phối 100% mọi trợ giúp thẳng cho nạn nhân.”

Vài dân làng cho tôi biết họ được nhận rất ít khi có trợ giúp. Ví dụ, là nạn nhân chất độc da cam, anh sẽ được nhận thêm một gói mì ăn liền vào dịp Tết. Tuy nhiên, khi thăm hỏi nhiều gia đình hơn thì tôi được biết rằng, thực ra các gia đình có trẻ em dị dạng, nằm liệt thì được trợ cấp từ 300.000 đến 700.000 đồng một tháng. Tuy nhiên, nếu kinh tế gia đình nào khá hơn, ví dụ có buôn bán, cửa hàng ở chợ, thì sẽ không được trợ cấp.

Việc kế đến là những điều kiện để được trợ giúp. Tôi đặt vấn đề này với ông Hoan. Để được giúp đỡ, người ta phải hội đủ ba điều kiện. Trước tiên, nạn nhân phải là con cháu trong một gia đình “kháng chiến”, tức là có tham dự đánh Pháp và Mỹ. Hai, gia đình phải ở dưới mức nghèo đói (ở Việt Nam, điều này có nghĩa là nghèo xác xơ) và ba, là mức độ bị khuyết tật. Điều kiện thứ nhất thì rõ ràng là phân biệt đối xử. Tôi cho ông Hoan biết, nếu cộng đồng người Việt ở hải ngoại biết điều này, họ sẽ chống đối đến cùng sự tiếp tế ở bất cứ một mức độ nào cho nạn nhân chất độc da cam.

Ông Hoan thừa nhận điều đó và trả lời tôi rằng, vâng, đã có một điều kiện như vậy. Nhưng trong mấy năm qua, điều kiện này đã bị loại bỏ. Hiện nay chỉ còn hai đòi hỏi thôi. Tôi hỏi ông một cách thẳng thừng, có chắc chắn là điều này được loại trừ hẳn rồi chưa. Ông ta xác định một cách chắc nịch, đúng là như vậy.

Hà Nội, 16 tháng Sáu

Những người tham dự cuộc họp báo của Nhóm Đối thoại về chất độc da cam tại Hà Nội, 16 tháng Sáu 2010

Trong buổi họp báo ở khách sạn Công Đoàn, Hà Nội ngày 16 tháng Sáu, do Nhóm Đối thoại Việt-Mỹ về chất độc da cam tổ chức, tôi lại nhắc lại vấn đề kỳ thị khi trợ cấp cho nạn nhân chất độc da cam với ông Đỗ Hoàng Long, Vụ trưởng Vụ Đối ngoại Nhân dân của Đảng Cộng sản. Ông ta trấn an tôi rằng đòi hỏi đó đã được loại bỏ bằng một nghị quyết của Bộ Chính trị mấy năm trước đây. Nhưng theo ông vẫn có một số người ở địa phương không đồng ý với chuyện đối xử đồng đều với mọi người. Ông nói: “Anh biết rằng, loại bỏ những rào cản vật chất trong chiến tranh thì dễ, nhưng những rào cản về tư tưởng thì khó, bất kỳ ở đâu và bất cứ phía nào!”

Sau buổi họp báo, bà Thảo Griffiths, giám đốc điều hành của tổ chức Cựu Chiến binh Mỹ ở Việt Nam, cùng tôi tháp tùng đại sứ Ngô Quang Xuân, chủ tịch Nhóm Đối thoại, đến khách sạn Metropole để dùng nước. Ngồi cạnh ông, tôi lại hỏi về chính sách phân biệt đó. Đại sứ Xuân đổ lỗi cho hệ luỵ chiến tranh, nhưng theo ông thì điều kiện phân biệt đó được sử dụng nhằm giới hạn số người được đền bù vì số tiền tài trợ ít ỏi. Ông cho biết ông mừng là chính sách đó hiện nay là chuyện của quá khứ.

Trong buổi họp báo, tôi hỏi Nhóm Đối thoại, họ có thông điệp gì cho cộng đồng người Mỹ ở Hoa Kỳ, vì ý kiến của họ là chìa khoá cho những biểu quyết của Quốc hội Hoa Kỳ. Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng nhấn mạnh rằng nạn nhân của chất độc da cam/ dioxin không chỉ là người ở Việt Nam mà còn là người trong các cộng đồng Việt ở Mỹ cũng như khắp nơi trên thế giới. Đây không chỉ là vấn đề của những nông dân trong các khu vực bị ảnh hưởng. Đây là một vấn đề hoàn cầu cho người Việt khắp nơi.

Tôi hỏi thêm Nhóm Đối thoại, họ có thông điệp gì cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, vì ý kiến của họ là chìa khoá cho quyết định chuẩn chi, nếu có, của Quốc hội Hoa Kỳ cho vấn đề này. Đại sứ Ngô Quang Xuân và bác sĩ Phượng nói rằng Nhóm Đối thoại mong làm việc với mọi người, bất kể những liên hệ mà những người này có trong chiến tranh quá khứ. Đây là một vấn đề nhân đạo. Nó không còn là chuyện chính trị nữa.

Một số ký giả quốc tế đã đặt câu hỏi về hai vấn đề vốn chưa được trình bày một cách thuyết phục trong buổi họp báo. Thứ nhất là bằng chứng khoa học và nguyên do đưa đến bệnh da cam; thứ hai là vì sao họ nghĩ rằng chính phủ Mỹ lại sẵn sàng tài trợ dự án vào thời điểm này. Tôi tự nhủ, Nhóm Đối thoại cần phải làm việc nhiều hơn nữa, không hẳn chỉ đưa ra lý do nhân đạo cho nạn nhân trước một cử tọa thân thiện mà thôi. Nhưng mọi chuyện đều phải có sự bắt đầu. Nhóm Đối thoại đang bước đi những bước đầu tương đối vững chắc. Con đường còn dài và với nhiều thử thách.

Những chuyện khác…

À, còn các tiểu tiết khác như cái nóng ẩm ướt ở Hà Nội và những chuyện nhỏ nhặt khác, như… cái bìa đựng tất cả mọi địa chỉ và điện thoại liên lạc và tài liệu của chuyến đi này bỗng nhiên không cánh mà bay, biến mất trong phòng khách sạn. Tôi hốt hoảng tìm nó trong vòng ba ngày, và tôi suy rằng có lẽ công an đã lấy đi, nhưng có người lại nói là nếu công an lấy thì họ đã không làm như vậy. Cứ cho là như vậy đi.

Cầu Dakrong trên tuyến đường TPHCM-Quảng Trị

Tôi cũng đã ghé qua làng Bích La Đông để giám sát công tác xây trường học ở đó do Hội Doanh nhân Việt-Mỹ và tổ chức VNHelp ở California tài trợ. Trong bữa cơm trưa do một doanh nhân ở thị trấn Quảng Trị khoản đãi, tôi gặp lại một bạn học từ năm 1972 ở trường Nguyễn Hoàng. Anh nay là bí thư của thị trấn. Hai chúng tôi nhận ra nhau. Bao nhiêu câu chuyện và tâm sự về những ngày ấu thơ gian khổ cùng trường, cùng lớp. Tôi không ngờ là anh bạn ngồi bên cạnh mình ở lớp 10B2 là một “cán bộ nằm vùng”. Anh bảo tôi rằng anh đã đọc rất nhiều các bài viết của tôi và về tôi trên mạng. Tôi hỏi anh thích bài nào nhất thì anh trả lời rằng có lẽ là bài “Nguyễn Hữu Liêm: Con chó liếm máu đồng loại không biết đắng”.  Chúng tôi cùng cười vang trong men bia Huda hòa với gió Lào thổi vào từ sông Thạch Hãn.

Tôi đã gặp hai người lương thiện ờ Sài Gòn và Hà Nội. Ở Sài Gòn, khi chuẩn bị xuống lễ tân trả phòng ở khách sạn Bông Sen, có một người đàn ông tìm đưa tôi một phong bì chưa dán, bên trong có 10 tờ giấy $100 đôla, mà tôi bỏ quên trên bàn viết khi trả phòng. Tại một cái bar ở Hà Nội, khi xem World Cup, tôi đưa cho anh phục vụ một tờ 500.000 đồng, tưởng là 20.000 đồng. Một chập sau anh quay lại và nói tôi đã nhầm. Các bạn biết rằng các tờ tiền giấy Việt Nam chúng rất giống nhau!

Mưa đã không theo tôi ra Hà Nội – như tôi mong mỏi. Trời nóng (43 độ C) và oi bức đến độ không khí như bị đun sôi. Khi tôi than vãn, có người nói đùa, “Đây là một quốc gia cộng sản, bạn có sauna (tắm hơi) miễn phí mà!” Nhưng khi đứng bên hồ Hoàn Kiếm, nhìn chung quanh, tôi nghĩ rằng dù thời tiết – và nhiều chuyện khác – có khắc nghiệt đến thế nào, cả thành phố và con người Hà Nội vẫn thanh lịch và xinh đẹp như muôn thuở.

Vào lại Sài Gòn hôm sau, có ông bạn thi sĩ gốc Quảng Trị, nay là đại gia ở Bà Rịa, đến đón tôi ở khách sạn bằng xe hơi mà ông mới mua năm ngoái ở San Jose. Khi xe dừng ở ngã tư trên đường Lý Tự Trọng, gần chợ Bến Thành, tôi nghe anh tài xế la lên. Có hai tên lái xe máy áp theo, vặn lấy mất tấm kiếng chiếu hậu bên hông trái. Sự việc xẩy ra trong vòng khoảng hai giây đồng hồ. Chúng tôi không ai phản ứng kịp. Một giờ sau, khi chúng tôi đang ngồi uống cà phê trên đường Đồng Khởi thì có kẻ đến gạ bán lại cái kiếng vừa bị cướp đó với giá 2 triệu rưỡi đồng. Ông bạn “vừa vui vừa chửi” mua lại ngay, vì theo ông, giá mua ở đại lý là 13 triệu. Đúng là “sống chung với lũ” cùng với nạn cướp cạn giữa trưa.

Trước khi về lại Mỹ, tôi được mời thuyết giảng về triết học tại quán “Cafe Thứ Bảy” của nhạc sĩ Dương Thụ. Phần lớn khách tham dự, khoảng 50, là sinh viên trẻ muốn nghiên cứu và theo học ngành triết. Theo nhạc sĩ Dương Thụ thì đây là buổi nói chuyện thân mật có nhiều người tham dự nhất. Không khí thảo luận thật là sôi nổi và hào hứng. Khán giả đã đặt nhiều câu hỏi về các vấn đề tư tưởng đương đại ở Hoa Kỳ và các vấn đề chuyên môn của ngành triết. Chương trình được công bố bắt đầu lúc 9:30 sáng. Nhưng đúng 9:00 giờ là phòng họp đã hết chỗ ngồi. Nhiều người đến đúng giờ đã không tham dự được. Và chương trình bắt đầu ngay lúc 9:05 sáng. Tôi cảm nhận được tinh thần học hỏi hăng say ở giới trẻ Việt Nam.  Chương trình kéo dài đến 12:00 trưa. Sài Gòn, dù hơi oi bức, nhưng khi cơn mưa chiều đổ xuống, so với Hà Nội, thì mát nhẹ hơn nhiều.

*

Với tôi, đây là một chuyến đi về quê nhà đầy cảm xúc, đầy ý nghĩa. Điều gây ấn tượng nặng nhất trong tôi là không ngờ có nhiều nạn nhân chất độc da cam như thế. Riêng ở quận Cam Lộ, gần Đông Hà không thôi, con số nạn nhân đã lên hơn 2000 trẻ em. Các vùng như Hải Lăng, A Lưới… con số còn tệ hơn. Tôi đã xúc động nhiều khi tiếp xúc với họ. Tôi có nhiều điều để viết, để chia sẻ và tâm sự, để góp phần kêu gọi cho vấn đề nhân đạo lớn lao và bi thảm này.

Có những ngày ở Huế, ban ngày tôi lên vùng núi xa xôi tận biên giới Lào, giữa núi non trùng điệp, đến các bản làng để tìm hiểu. Con người ở các vùng sâu thì quá chân chất, nghèo xơ xác, giản dị, đơn sơ. Chiều tối đến, về lại giữa thành phố Huế với không khí lễ hội Festival Huế 2010 đang náo nhiệt phô diễn khắp đường phố. Tôi cảm nhận được những trái nghịch, những tương phản, từ cái thấp đến cái cao, giữa hình thức và nội dung, giữa cái khổ và cái hạnh phúc vô thường, ở ngay giữa miền Trung đất nước này.

Từ những khi đứng bên phi đạo của căn cứ Khe Sanh cũ, giữa núi rừng hùng vĩ, đến lúc cùng đám đông đi bộ trên cầu Tràng Tiền, Huế, tôi đã nhận ra rằng đất nước và con người Việt Nam, như là núi sông của những vùng cao, như sông Hương nước chảy dưới chân mình, mang nhiều nét xinh đẹp và hùng tráng vô vàn. Nhưng ẩn ngầm dưới cái xinh tươi bao la ngút ngàn kia là một di sản chiến tranh tàn độc, vật thể hay tinh thần, hữu hình hay vô hình, đang giày xéo và xói mòn bao nhiêu những tâm hồn trong sáng của cả một thế hệ sau chiến tranh. Tôi chỉ mong sao cho tất cả được bình an – và những gì hạnh phúc họ đang có được, hay khổ đau mà họ đang gánh nặng, phải là của cơ năng tiến hóa cho cái hiện tượng con người Việt Nam còn nhiều hứa hẹn này.

(Ảnh trong bài của tác giả)

© 2010 Nguyễn Hữu Liêm

© 2010 talawas

Bình luận

34 Comments (bài “Nguyễn Hữu Liêm – A Lưới, Khe Sanh, Huế, Hà Nội, Sài Gòn”)

  1. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Văn chương, triết lý Nobel hay… nô bền?

    1.
    “Tôi hốt hoảng tìm nó trong vòng ba ngày, và tôi suy rằng có lẽ công an đã lấy đi, nhưng có người lại nói là nếu công an lấy thì họ đã không làm như vậy. Cứ cho là như vậy đi.” (NHL)
    – Chào hàng?

    2.
    “Tôi hỏi anh thích bài nào nhất thì anh trả lời rằng có lẽ là bài “Nguyễn Hữu Liêm: Con chó liếm máu đồng loại không biết đắng”. Chúng tôi cùng cười vang trong men bia Huda hòa với gió Lào thổi vào từ sông Thạch Hãn.” (NHL)
    – Tiệc máu?

    3.
    “Nhưng khi đứng bên hồ Hoàn Kiếm, nhìn chung quanh, tôi nghĩ rằng dù thời tiết – và nhiều chuyện khác – có khắc nghiệt đến thế nào, cả thành phố và con người Hà Nội vẫn thanh lịch và xinh đẹp như muôn thuở.” (NHL)
    – Bợ?

    4.
    “Trước khi về lại Mỹ, tôi được mời thuyết giảng về triết học tại quán “Cafe Thứ Bảy” của nhạc sĩ Dương Thụ. Phần lớn khách tham dự, khoảng 50, là sinh viên trẻ muốn nghiên cứu và theo học ngành triết. Theo nhạc sĩ Dương Thụ thì đây là buổi nói chuyện thân mật có nhiều người tham dự nhất. Không khí thảo luận thật là sôi nổi và hào hứng.” (NHL)
    – Thuyết giảng “Chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa bóc lột”, “Chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa nhân đạo”?

    5.
    “[…] tôi đã nhận ra rằng đất nước và con người Việt Nam […] mang nhiều nét xinh đẹp và hùng tráng vô vàn” (NHL)
    – Bây giờ mà mới nhận ra thì hơi… bị trễ đó nha. Cái đáng quan ngại là nó sẽ còn “xinh đẹp và hùng tráng vô vàn” được bao lâu nữa? Và trong một tương lai chắc không mấy xa, nó có bị chung số phận với Tây Tạng hay không?

    6.
    “Nhưng ẩn ngầm dưới cái xinh tươi bao la ngút ngàn kia là một di sản chiến tranh tàn độc đang giày xéo và xói mòn…” (NHL)
    – Xanh tươi bao la ngút ngàn? Bauxite, ô nhiễm đi chỗ khác chơi? “Di sản chiến tranh tàn độc” (do “Pháp-Mỹ-Ngụy gây ra?) không những không “ẩn ngầm” mà còn chình ìn trong các viện bảo tàng. Có “ẩn ngầm” chăng thì ắt hẳn phải là những tội ác đỏ? Mặt khác, nếu “ẩn ngầm” thì sức mấy mà “giày xéo và xói mòn”? Còn “di sản hòa bình tàn ác” (cải tạo, kinh tế mới, hộ khẩu, bao cấp, kỳ thị Bắc-Nam, tịch thu tài sản, thuyền nhân…) lạ thay sao không thấy nhắc tới?

    7.
    […] giày xéo và xói mòn bao nhiêu những tâm hồn trong sáng của cả một thế hệ sau chiến tranh.” (NHL)
    – Sáu câu chi bảo? Thế hệ nào, ở đâu, đã già nua, đã trưởng thành, hãy còn bé, Nam hay Bắc? Nếu già nua hay trưởng thành, nghĩa là đã sống trong/đã sống với chiến tranh thì nó đã hết “trong sáng” từ khuya rồi ạ. Nếu mới sinh ra hay còn hãy bé bỏng thì tự nó không thể “trong sáng” hay “tối tăm” được. Sự “trong sáng” hay “tối tăm” của thế này trong hòa bình (sau chiến tranh) sẽ/đã do ảnh hưởng của chế độ, của xã hội và môi sinh, của giáo dục ở trường và ở gia đình. v.v… Con người có ký ức nhưng cũng biết lãng quên. Nếu cái hiện tại mà tốt đẹp và hạnh phúc thì nó sẽ quên “nỗi buồn chiến tranh” ngay tức thì.

    8.
    “Tôi chỉ mong sao cho tất cả được bình an – và những gì hạnh phúc họ đang có được, hay khổ đau mà họ đang gánh nặng, phải là của cơ năng tiến hóa cho cái hiện tượng con người Việt Nam còn nhiều hứa hẹn này.”(NHL)
    – Nếu “tất cả không bình an” thì… ráng chịu? Hứa hẹn gì mà nhiều thế? Hứa hẹn sân gôn, hoa hậu, siêu mẫu, cô dâu hàn đài, mại dâm, người rơm, giải phóng mặt bằng, xuất khẩu lao động, tàu lạ ngoài khơi…? Xin thưa: Hứa cuội, bánh vẽ đã quá nhiều rồi. Tại sao “hạnh phúc họ đang có được, hay khổ đau mà họ đang gánh nặng, phải là của cơ năng tiến hóa” mà không phải là bầu cử dân chủ, xê dịch tự do, công ăn việc làm, trợ cấp xã hội, giáo dục bệnh viện miễn phí, v.v…

    9.
    Nói tóm lại, toàn quốc đã “chấp nhận, hòa giải, hòa đồng” với chiến tranh/lịch sử, nghĩa là đã quên hết từ khuya rồi. Chỉ riêng Đảng và Nhà nước là còn nhớ để tiếp tục… khai thác mà thôi. Cái mà đại đa số không chấp nhận, không hòa giải, không hòa đồng chính là cái… đang chễm chệ trên cái ngai vàng kia.

    Bài học “lịch sử” rút tỉa: Yêu Đảng là bình thường, sáng suốt, hiền triết. Chống đối là bất thường, u mê, cực đoan.

  2. noileo viết:

    “biết hòa giải hay không biết hòa giải với lịch sử?” (P nói, 29/06/2010 lúc 12:04 chiều)

    Nói đến “lịch sử” là nói đến quá khứ, là nói đến những gì đã qua, không còn nữa… Thế nhưng, tại Việt Nam ngày nay, chế độ cộng sản vẫn tiếp tục “đàn áp trí thức, trấn lột dân nghèo, ăn cắp quốc khố, mãi quốc cầu vinh”, những hành động mà họ đã vẫn tiến hành từ trên 60 năm qua.

    Có một luận điệu, rằng, người ta phải “quên đi quá khứ” để “hoà hợp hoà giải”! Nhưng cho dù luận điệu trên có đúng bao nhiêu, thì, như đã nói trên, chưa hề có một tội ác nào của cộng sản đã bị/được đưa vào quá khứ & bị /được coi là không còn nữa…, để mà có thể nói, đại loại, “hãy quên đi quá khứ” & “hoà hợp hoà giải với lịch sử”.

    Như vậy, trong hiện tại, câu hỏi “biết hòa giải hay không biết hòa giải với lịch sử?” e rằng hơi sớm, nếu không muốn nói là hoàn toàn vô nghĩa…!

  3. Trương Đức viết:

    “Nhắm mắt, cúi mặt xuống mà đi bên rìa mép của lịch sử, làm như không biết đến những rác rưới tàn độc mà phường “tân chủ” trùm phủ trên quê hương và dân tộc, không dám một lần có những lời dõng dạc, “ngay ngắn” trước những hoành hành của kẻ cường đạo mà lại còn mượn hội này cơ nọ buông những lời siểm nịnh.

    Lùi!”(Phùng Tường Vân)

    Tôi suy nghĩ mãi về “những rác rưới tàn độc mà phường “tân chủ” trùm phủ trên quê hương và dân tộc”, và tôi phát hiện ra có 3 cái chết liên quan đến bài viết này cùng những PH của các bác. Xin chia sẻ với các bác như thế này:

    1. Cái chết của con gà trống: “Anh ra lệnh cho bà xã cắt cổ con gà trống duy nhất đang gáy sau vườn. Bà vợ chảy nước mắt tuân theo.” (trích NHL). Phải chăng, nếu ông NHL không “đến thăm Trần Viết Trâm, người bạn cùng đi lính không quân với tôi trước 1975”, thì con gà trống sẽ không bị “hóa kiếp cho mầy”? Muốn như vậy, phải chăng, nếu không có “vấn đề chất độc màu da cam và dioxin”, thì ông NHL đã không “đến các vùng xa ở miền Trung Việt để tìm hiểu về hệ lụy của chất độc da cam và dioxin từ thời chiến tranh Việt Nam.”? Tức là, phải chăng nếu không có “Chiến tranh Việt Nam”, thì cũng không có “vấn đề chất độc màu da cam và dioxin”? Nói tóm lại, “bài học lịch sử tro bụi” ở đây phải chăng là, nếu không có “Chiến tranh Việt Nam”, thì con gà trống vẫn “ca hát huyênh hoang trong cõi sống của nó”?

    2. Cái chết của bại tướng Marcel Bigeaud: Phải chăng nếu Marcel Bigeaud không là quân nhân, thì khi chết sẽ được mai táng như bao người Pháp bình thường khác? Phải chăng, nếu Marcel Bigeaud không chiến đấu ở Điện Biên Phủ, thì đã không muốn vợ con “Hãy rải tro hỏa táng tôi xuống lòng chảo Điện Biên Phủ.”? Nói tóm lại, phải chăng, nếu không có “Cuộc chiến Điện Biên Phủ”, thì ông Đặng Tiến đã không có “bài học qua câu chuyện tro bụi này”?

    3. Cái chết thứ 3 là cái chết của những người lính, dân thường (đàn ông, đàn bà, trẻ em, kể cả những người chết do chất độc màu da cam và dioxin sau chiến tranh) trong hai cuộc chiến tranh, “Chiến tranh chống Pháp” và “Chiến tranh Việt Nam 1954-1975”. Ở đây, “bài học tro bụi” phải chăng là, nếu không xảy ra chiến tranh, thì đã không có “những cái chết vô nghĩa” của người dân Việt Nam?

    4. Với “lịch sử” (“thật” hay “giả”), mỗi cá nhân có một cách “nhìn nhận” riêng, đó là quyền của mỗi con người. Tôi xin trích ra đây phát biểu của nhà văn George Orwell về chiến tranh, “Bản chất của chiến tranh là tiêu diệt, không nhất thiết phải là con người, mà là sản phẩm do con người tạo ra.”(trích George Orwell – “1984”) Phải chăng chiến tranh là một trong “những rác rưới tàn độc mà phường “tân chủ” trùm phủ trên quê hương và dân tộc”?

    Vậy thì, ông Đặng Tiến từ cái chết của Marcel Bigeaud “nâng” lên thành “bài học lịch sử tro bụi “sáng suốt”, “hiền triết”” để làm gì?

  4. P viết:

    Quả là bài viết nào của tác giả Nguyễn Hữu Liêm cũng có nhiều phản hồi [một điều đáng tiếc là tác giả không trả lời phản hồi nào cả – nhưng dù sao đó cũng là quyền của mỗi người]. Và câu chuyện bây giờ không còn giới hạn ở phạm vi chất độc da cam nữa, mà đã lan [man] qua chuyện nên làm thế nào với lịch sử.

    Nhắc đến chuyện này, tôi lại nhớ đến một chuyện xảy ra cách đây 2 năm đã làm tôi khá sốc, và cho tới bây giờ ấn tượng của nó trong tôi vẫn còn mạnh mẽ.

    Câu chuyện bắt đầu bằng một cuộc biểu tình do một số bạn trẻ tổ chức trước ĐSQ TQ ở Mỹ. Cuộc biểu tình được kêu gọi trên tinh thần không sử dụng một màu cờ nào cả, chỉ sử dụng băng rôn và biểu ngữ để phản đối hành vi xâm lấn và sát nhân của chính quyền Trung Quốc. Lý do mà các bạn trẻ đưa ra cho việc “không màu cờ” là vì cuộc biểu tình trông đợi sự tham gia từ phía du học sinh lẫn những bạn trẻ người Mỹ gốc Việt.

    Tuy nhiên, sáng sớm hôm biểu tình, trước cổng ĐSQ TQ đã tràn ngập cờ vàng ba sọc đỏ của một đoàn người Việt cầm diễu hành và cắm chung quanh bồn hoa. Quá ngạc nhiên vì đây không phải là những người tham gia trao đổi với nhau để tổ chức, một số bạn trẻ đến hỏi và nhận được câu trả lời rằng họ đến đây cắm cờ vàng để ngăn chặn sự xuất hiện cờ đỏ của cộng sản, vì nghe nói hôm nay có du học sinh tham gia biểu tình. Sau một hồi nói qua nói lại, họ chấp nhận sẽ rút lui nhường chỗ, nhưng sẽ ở lại quan sát để chắc chắn cờ đỏ sao vàng không xuất hiện [nghĩa là nếu xuất hiện thì họ sẽ có biện pháp xử lý].

    Trong câu chuyện “xâm chiếm” trên tôi nghĩ không có ai vi phạm luật pháp [Mỹ], vì cả hai cùng xin giấy phép để biểu tình. Cảnh sát Mỹ có mặt ở đó nhưng họ chỉ có nhiệm vụ đảm bảo hai bên không xung đột, chứ đến nước cả hai cùng biểu tình chống một đối tượng, nhưng lại không chịu nhau thì họ cũng chẳng biết làm sao.

    Tuy không sai luật, tôi nghĩ về lý và tình, một hành vi như vậy là rất khó chấp nhận. Tôi nói khó chấp nhận vì tôi đã không thể nghĩ ra một lý do gì để [họ] làm như vậy, trừ khi điều đó mang lại một lợi ích thiệt thực cho họ, hay họ bị thôi thúc hoàn toàn bởi cảm tính, bởi ký ức đau thương đã hằn sâu vào trong tâm khảm. Nếu là điều sau, tôi có thể thông cảm, nhưng không thể xem đó là một lý do chính đáng.

    Khi đọc bài viết của Đặng Tiến tôi nghĩ ngay đến những người này, dù công bằng mà nói, so sánh trải nghiệm và quá khứ của họ với vị tướng kia là khập khiễng ở nhiều mặt. Điều tôi trông chờ ở họ không phải là việc chấp nhận lá cờ đỏ sao vàng như là quốc kỳ hiện tại và chính thức của nước Việt Nam, mà là một chút “dân chủ” để chấp nhận những khuynh hướng, hay thậm chí ở đây chỉ có ý nghĩa biểu tượng, khác biệt.
    Nếu được, tôi mong các bạn đọc đã tham gia phản hồi về vấn đề lịch sử trả lời giùm tôi xem hành vi của những bậc thuộc tuổi cha chú chúng tôi trong câu chuyện trên là đúng hay sai, là nên hay không nên, là biết hòa giải hay không biết hòa giải với lịch sử?

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>