Nguyễn Hữu Liêm – A Lưới, Khe Sanh, Huế, Hà Nội, Sài Gòn
24/06/2010 | 7:00 sáng | 34 Comments
Category: Chiến tranh Việt Nam, Chính trị - Xã hội
Thẻ: Chất độc da cam
Trong chuyến đi Việt Nam lần này, với tư cách là một nhà báo làm việc cho Renaissance Journalism Center của San Francisco State University, do The Ford Foundation tài trợ, tôi đã đến các vùng xa ở miền Trung Việt để tìm hiểu về hệ luỵ của chất độc da cam và dioxin từ thời chiến tranh Việt Nam. Sau đây là một số ghi chép về hành trình này. (Độc giả muốn tìm hiểu thêm về vấn đề chất độc da cam/dioxin và các chương trình liên hệ, và đọc blog bằng Anh ngữ của tôi, xin vào trang nhà www.vietnamreportingproject.org)
Cam Lộ, Quảng Trị, 10 tháng Sáu, 2010
Tôi đến thăm Trần Viết Trâm, người bạn cùng đi lính không quân với tôi trước 1975, nay về làm ruộng ở Cam Lộ. Anh ra lệnh cho bà xã cắt cổ con gà trống duy nhất đang gáy sau vườn. Bà vợ chảy nước mắt tuân theo. (Tôi cũng thấy thương con gà trống to đẹp, đang ca hát huyênh hoang trong cõi sống của nó. Nhưng vì ở cõi người cao hơn, chúng tôi “phải” ăn nó – và với tôi thì lặng lẽ kèm theo lời cầu nguyện “hóa kiếp cho mầy”). Ăn trưa xong, người bạn dẫn tôi đến thăm vài gia đình có trẻ em dị dạng mà theo dân làng, vì chất độc da cam.
Nhìn các em này nằm la liệt trên nền nhà, một số em bị cột chặt tay chân để không cào cấu thân thể, tôi không cầm được nước mắt. Vài em thấy chúng tôi đến thăm là rú lên từng cơn như loài thú điên dại. Thật là một di sản, một thảm kịch bi đát trùng trùng.
Chiều đến, tôi ghé qua Trung tâm Phục hồi cho trẻ em khuyết tật ở gần đấy. Gọi nó là một “trung tâm” thì thật thậm xưng. Đó là một ngôi nhà nhỏ được quét vôi và đang được sửa chữa. Ông Trung, giám đốc, cho tôi biết là Trung tâm chỉ có thể điều trị 15 đứa trẻ cùng một lúc. Ngân khoản hoạt động trong một tháng vào khoảng 10 triệu đồng (khoảng 600 Mỹ kim). Chỉ nội trong hạt này thôi đã có trên 2.000 trẻ em được cho là bị nhiễm chất độc da cam. Phần lớn số tiền tài trợ đến từ các cơ quan từ thiện quốc tế và hội Hồng Thập tự.
Tôi hỏi ông Nguyễn Hoàn, Chủ tịch Hội Nạn nhân Chất độc Da cam quận Cam Lộ, về chuyện làm việc thiếu sót và tham nhũng. Tôi lặp lại lời quả quyết của một người dân làng rằng phần lớn viện trợ khi đến tay các nạn nhân thì chẳng còn bao nhiêu. Ông chăm chú nghe với một bộ mặt nghiêm trọng và cho rằng có thể là người ta không biết hết các dữ kiện. Ông cắt nghĩa, “Thí dụ chúng tôi được tài trợ 100 triệu đồng (khoảng 6000 Mỹ kim). Người ta cho đó là một số tiền lớn. Nhưng khi chúng tôi bắt đầu chia đều số tiền này cho nhiều quận hạt với cả ngàn gia đình có nhiều nạn nhân, thì số tiền đến tay từng nạn nhân thật là ít ỏi. Người ta không biết được tầm cỡ của vấn đề. Đúng, có những vụ tham nhũng, tiền bị ăn chặn từ trên xuống, nhưng tôi cam đoan với anh, theo tôi được biết thì chuyện đó rất hiếm. Trong nhiều trường hợp, chúng tôi phân phối 100% mọi trợ giúp thẳng cho nạn nhân.”
Vài dân làng cho tôi biết họ được nhận rất ít khi có trợ giúp. Ví dụ, là nạn nhân chất độc da cam, anh sẽ được nhận thêm một gói mì ăn liền vào dịp Tết. Tuy nhiên, khi thăm hỏi nhiều gia đình hơn thì tôi được biết rằng, thực ra các gia đình có trẻ em dị dạng, nằm liệt thì được trợ cấp từ 300.000 đến 700.000 đồng một tháng. Tuy nhiên, nếu kinh tế gia đình nào khá hơn, ví dụ có buôn bán, cửa hàng ở chợ, thì sẽ không được trợ cấp.
Việc kế đến là những điều kiện để được trợ giúp. Tôi đặt vấn đề này với ông Hoan. Để được giúp đỡ, người ta phải hội đủ ba điều kiện. Trước tiên, nạn nhân phải là con cháu trong một gia đình “kháng chiến”, tức là có tham dự đánh Pháp và Mỹ. Hai, gia đình phải ở dưới mức nghèo đói (ở Việt Nam, điều này có nghĩa là nghèo xác xơ) và ba, là mức độ bị khuyết tật. Điều kiện thứ nhất thì rõ ràng là phân biệt đối xử. Tôi cho ông Hoan biết, nếu cộng đồng người Việt ở hải ngoại biết điều này, họ sẽ chống đối đến cùng sự tiếp tế ở bất cứ một mức độ nào cho nạn nhân chất độc da cam.
Ông Hoan thừa nhận điều đó và trả lời tôi rằng, vâng, đã có một điều kiện như vậy. Nhưng trong mấy năm qua, điều kiện này đã bị loại bỏ. Hiện nay chỉ còn hai đòi hỏi thôi. Tôi hỏi ông một cách thẳng thừng, có chắc chắn là điều này được loại trừ hẳn rồi chưa. Ông ta xác định một cách chắc nịch, đúng là như vậy.
Hà Nội, 16 tháng Sáu

Những người tham dự cuộc họp báo của Nhóm Đối thoại về chất độc da cam tại Hà Nội, 16 tháng Sáu 2010
Trong buổi họp báo ở khách sạn Công Đoàn, Hà Nội ngày 16 tháng Sáu, do Nhóm Đối thoại Việt-Mỹ về chất độc da cam tổ chức, tôi lại nhắc lại vấn đề kỳ thị khi trợ cấp cho nạn nhân chất độc da cam với ông Đỗ Hoàng Long, Vụ trưởng Vụ Đối ngoại Nhân dân của Đảng Cộng sản. Ông ta trấn an tôi rằng đòi hỏi đó đã được loại bỏ bằng một nghị quyết của Bộ Chính trị mấy năm trước đây. Nhưng theo ông vẫn có một số người ở địa phương không đồng ý với chuyện đối xử đồng đều với mọi người. Ông nói: “Anh biết rằng, loại bỏ những rào cản vật chất trong chiến tranh thì dễ, nhưng những rào cản về tư tưởng thì khó, bất kỳ ở đâu và bất cứ phía nào!”
Sau buổi họp báo, bà Thảo Griffiths, giám đốc điều hành của tổ chức Cựu Chiến binh Mỹ ở Việt Nam, cùng tôi tháp tùng đại sứ Ngô Quang Xuân, chủ tịch Nhóm Đối thoại, đến khách sạn Metropole để dùng nước. Ngồi cạnh ông, tôi lại hỏi về chính sách phân biệt đó. Đại sứ Xuân đổ lỗi cho hệ luỵ chiến tranh, nhưng theo ông thì điều kiện phân biệt đó được sử dụng nhằm giới hạn số người được đền bù vì số tiền tài trợ ít ỏi. Ông cho biết ông mừng là chính sách đó hiện nay là chuyện của quá khứ.
Trong buổi họp báo, tôi hỏi Nhóm Đối thoại, họ có thông điệp gì cho cộng đồng người Mỹ ở Hoa Kỳ, vì ý kiến của họ là chìa khoá cho những biểu quyết của Quốc hội Hoa Kỳ. Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng nhấn mạnh rằng nạn nhân của chất độc da cam/ dioxin không chỉ là người ở Việt Nam mà còn là người trong các cộng đồng Việt ở Mỹ cũng như khắp nơi trên thế giới. Đây không chỉ là vấn đề của những nông dân trong các khu vực bị ảnh hưởng. Đây là một vấn đề hoàn cầu cho người Việt khắp nơi.
Tôi hỏi thêm Nhóm Đối thoại, họ có thông điệp gì cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, vì ý kiến của họ là chìa khoá cho quyết định chuẩn chi, nếu có, của Quốc hội Hoa Kỳ cho vấn đề này. Đại sứ Ngô Quang Xuân và bác sĩ Phượng nói rằng Nhóm Đối thoại mong làm việc với mọi người, bất kể những liên hệ mà những người này có trong chiến tranh quá khứ. Đây là một vấn đề nhân đạo. Nó không còn là chuyện chính trị nữa.
Một số ký giả quốc tế đã đặt câu hỏi về hai vấn đề vốn chưa được trình bày một cách thuyết phục trong buổi họp báo. Thứ nhất là bằng chứng khoa học và nguyên do đưa đến bệnh da cam; thứ hai là vì sao họ nghĩ rằng chính phủ Mỹ lại sẵn sàng tài trợ dự án vào thời điểm này. Tôi tự nhủ, Nhóm Đối thoại cần phải làm việc nhiều hơn nữa, không hẳn chỉ đưa ra lý do nhân đạo cho nạn nhân trước một cử tọa thân thiện mà thôi. Nhưng mọi chuyện đều phải có sự bắt đầu. Nhóm Đối thoại đang bước đi những bước đầu tương đối vững chắc. Con đường còn dài và với nhiều thử thách.
Những chuyện khác…
À, còn các tiểu tiết khác như cái nóng ẩm ướt ở Hà Nội và những chuyện nhỏ nhặt khác, như… cái bìa đựng tất cả mọi địa chỉ và điện thoại liên lạc và tài liệu của chuyến đi này bỗng nhiên không cánh mà bay, biến mất trong phòng khách sạn. Tôi hốt hoảng tìm nó trong vòng ba ngày, và tôi suy rằng có lẽ công an đã lấy đi, nhưng có người lại nói là nếu công an lấy thì họ đã không làm như vậy. Cứ cho là như vậy đi.
Tôi cũng đã ghé qua làng Bích La Đông để giám sát công tác xây trường học ở đó do Hội Doanh nhân Việt-Mỹ và tổ chức VNHelp ở California tài trợ. Trong bữa cơm trưa do một doanh nhân ở thị trấn Quảng Trị khoản đãi, tôi gặp lại một bạn học từ năm 1972 ở trường Nguyễn Hoàng. Anh nay là bí thư của thị trấn. Hai chúng tôi nhận ra nhau. Bao nhiêu câu chuyện và tâm sự về những ngày ấu thơ gian khổ cùng trường, cùng lớp. Tôi không ngờ là anh bạn ngồi bên cạnh mình ở lớp 10B2 là một “cán bộ nằm vùng”. Anh bảo tôi rằng anh đã đọc rất nhiều các bài viết của tôi và về tôi trên mạng. Tôi hỏi anh thích bài nào nhất thì anh trả lời rằng có lẽ là bài “Nguyễn Hữu Liêm: Con chó liếm máu đồng loại không biết đắng”. Chúng tôi cùng cười vang trong men bia Huda hòa với gió Lào thổi vào từ sông Thạch Hãn.
Tôi đã gặp hai người lương thiện ờ Sài Gòn và Hà Nội. Ở Sài Gòn, khi chuẩn bị xuống lễ tân trả phòng ở khách sạn Bông Sen, có một người đàn ông tìm đưa tôi một phong bì chưa dán, bên trong có 10 tờ giấy $100 đôla, mà tôi bỏ quên trên bàn viết khi trả phòng. Tại một cái bar ở Hà Nội, khi xem World Cup, tôi đưa cho anh phục vụ một tờ 500.000 đồng, tưởng là 20.000 đồng. Một chập sau anh quay lại và nói tôi đã nhầm. Các bạn biết rằng các tờ tiền giấy Việt Nam chúng rất giống nhau!
Mưa đã không theo tôi ra Hà Nội – như tôi mong mỏi. Trời nóng (43 độ C) và oi bức đến độ không khí như bị đun sôi. Khi tôi than vãn, có người nói đùa, “Đây là một quốc gia cộng sản, bạn có sauna (tắm hơi) miễn phí mà!” Nhưng khi đứng bên hồ Hoàn Kiếm, nhìn chung quanh, tôi nghĩ rằng dù thời tiết – và nhiều chuyện khác – có khắc nghiệt đến thế nào, cả thành phố và con người Hà Nội vẫn thanh lịch và xinh đẹp như muôn thuở.
Vào lại Sài Gòn hôm sau, có ông bạn thi sĩ gốc Quảng Trị, nay là đại gia ở Bà Rịa, đến đón tôi ở khách sạn bằng xe hơi mà ông mới mua năm ngoái ở San Jose. Khi xe dừng ở ngã tư trên đường Lý Tự Trọng, gần chợ Bến Thành, tôi nghe anh tài xế la lên. Có hai tên lái xe máy áp theo, vặn lấy mất tấm kiếng chiếu hậu bên hông trái. Sự việc xẩy ra trong vòng khoảng hai giây đồng hồ. Chúng tôi không ai phản ứng kịp. Một giờ sau, khi chúng tôi đang ngồi uống cà phê trên đường Đồng Khởi thì có kẻ đến gạ bán lại cái kiếng vừa bị cướp đó với giá 2 triệu rưỡi đồng. Ông bạn “vừa vui vừa chửi” mua lại ngay, vì theo ông, giá mua ở đại lý là 13 triệu. Đúng là “sống chung với lũ” cùng với nạn cướp cạn giữa trưa.
Trước khi về lại Mỹ, tôi được mời thuyết giảng về triết học tại quán “Cafe Thứ Bảy” của nhạc sĩ Dương Thụ. Phần lớn khách tham dự, khoảng 50, là sinh viên trẻ muốn nghiên cứu và theo học ngành triết. Theo nhạc sĩ Dương Thụ thì đây là buổi nói chuyện thân mật có nhiều người tham dự nhất. Không khí thảo luận thật là sôi nổi và hào hứng. Khán giả đã đặt nhiều câu hỏi về các vấn đề tư tưởng đương đại ở Hoa Kỳ và các vấn đề chuyên môn của ngành triết. Chương trình được công bố bắt đầu lúc 9:30 sáng. Nhưng đúng 9:00 giờ là phòng họp đã hết chỗ ngồi. Nhiều người đến đúng giờ đã không tham dự được. Và chương trình bắt đầu ngay lúc 9:05 sáng. Tôi cảm nhận được tinh thần học hỏi hăng say ở giới trẻ Việt Nam. Chương trình kéo dài đến 12:00 trưa. Sài Gòn, dù hơi oi bức, nhưng khi cơn mưa chiều đổ xuống, so với Hà Nội, thì mát nhẹ hơn nhiều.
*
Với tôi, đây là một chuyến đi về quê nhà đầy cảm xúc, đầy ý nghĩa. Điều gây ấn tượng nặng nhất trong tôi là không ngờ có nhiều nạn nhân chất độc da cam như thế. Riêng ở quận Cam Lộ, gần Đông Hà không thôi, con số nạn nhân đã lên hơn 2000 trẻ em. Các vùng như Hải Lăng, A Lưới… con số còn tệ hơn. Tôi đã xúc động nhiều khi tiếp xúc với họ. Tôi có nhiều điều để viết, để chia sẻ và tâm sự, để góp phần kêu gọi cho vấn đề nhân đạo lớn lao và bi thảm này.
Có những ngày ở Huế, ban ngày tôi lên vùng núi xa xôi tận biên giới Lào, giữa núi non trùng điệp, đến các bản làng để tìm hiểu. Con người ở các vùng sâu thì quá chân chất, nghèo xơ xác, giản dị, đơn sơ. Chiều tối đến, về lại giữa thành phố Huế với không khí lễ hội Festival Huế 2010 đang náo nhiệt phô diễn khắp đường phố. Tôi cảm nhận được những trái nghịch, những tương phản, từ cái thấp đến cái cao, giữa hình thức và nội dung, giữa cái khổ và cái hạnh phúc vô thường, ở ngay giữa miền Trung đất nước này.
Từ những khi đứng bên phi đạo của căn cứ Khe Sanh cũ, giữa núi rừng hùng vĩ, đến lúc cùng đám đông đi bộ trên cầu Tràng Tiền, Huế, tôi đã nhận ra rằng đất nước và con người Việt Nam, như là núi sông của những vùng cao, như sông Hương nước chảy dưới chân mình, mang nhiều nét xinh đẹp và hùng tráng vô vàn. Nhưng ẩn ngầm dưới cái xinh tươi bao la ngút ngàn kia là một di sản chiến tranh tàn độc, vật thể hay tinh thần, hữu hình hay vô hình, đang giày xéo và xói mòn bao nhiêu những tâm hồn trong sáng của cả một thế hệ sau chiến tranh. Tôi chỉ mong sao cho tất cả được bình an – và những gì hạnh phúc họ đang có được, hay khổ đau mà họ đang gánh nặng, phải là của cơ năng tiến hóa cho cái hiện tượng con người Việt Nam còn nhiều hứa hẹn này.
(Ảnh trong bài của tác giả)
© 2010 Nguyễn Hữu Liêm
© 2010 talawas


Con người hậu chiến
Tác giả Nguyễn Hữu Liêm chắc chắn đã đi nhiều đường đất. Tôi tin những chữ anh viết trong đoạn cuối: “… đây là một chuyến đi về quê nhà đầy cảm xúc, đầy ý nghĩa.”. “Cảm xúc” là về quê hương; “ý nghĩa” là về con người với “một di sản chiến tranh tàn độc, vật thể hay tinh thần, hữu hình hay vô hình, đang giày xéo và xói mòn bao nhiêu những tâm hồn trong sáng của cả một thế hệ sau chiến tranh.” Nếu coi đó là nhận thức có được qua chuyến đi của tác giả thì cũng có thể đoan chắc một trong các nguồn dẫn đến nhận thức này là khi cùng công nhận “… , loại bỏ những rào cản vật chất trong chiến tranh thì dễ, nhưng những rào cản về tư tưởng thì khó, bất kỳ ở đâu và bất cứ phía nào!”
– Hai điều chứng nghiệm:
* Cuối những năm chín-mươi, cậu cháu rể của tôi là bác sĩ vừa đi thực tế cơ sở ở Bình Phước về kể lại: Ngồi uống rượu với Ấp trưởng, nó hỏi: Thằng Bảy bịnh hoài, nhà lại không có tiền; Sao bác không cấp đất cho nó làm ăn? Trả lời: Trước đây nó là ngụy quân, ngụy quyền!… – Thương đau là cụ thể chứ không hề trừu tượng!
* Trước khi bắt đầu World Cup, đài ZDF (Đức) có làm một phóng sự qua Nam Tư cũ là nơi có đội bóng sẽ đấu với đội tuyển Đức. Chiến tranh Balkan đã phá tung nước Nam Tư với thật nhiều danh thủ bóng đá mà hậu quả còn thấy được ở khắp nơi. Phỏng vấn bao nhiêu người thì đều có ý tương tự: Nhà cửa của tôi tan nát, người thân của tôi chết vì bom đạn; Tôi không thể nào quên được… Lời bình cuối phim: Đó là vấn nạn của cả một thế hệ… Không thể bước qua, dù vẫn phải đi tới!
Vậy nghĩ sao cho phải?
Trong lúc tư lự, tôi bỗng đọc được câu cuối trong bài của nhà văn Đặng Tiến viết về tướng Marcel Bigeard sau cái chết của ông này: Không ai có thể làm lại được lịch sử. Bình thường, là những người chấp nhận lịch sử. Sáng suốt là kẻ hòa giải với lịch sử. Hiền triết là hòa đồng với lịch sử. Đó là bài học qua câu chuyện tro bụi này.
“Cái gọi là văn minh Trung Quốc kỳ thực chỉ là bữa tiệc thịt người bày ra cho bọn giàu sang hưởng thụ, mà cái gọi là nước Trung Quốc kỳ thực chỉ là cái bếp để sửa soạn bữa tiệc thịt người đó. Không biết mà tán dương thì còn tha thứ được, nhưng biết mà còn tán dương, thì cả thế hệ này sẽ bị người đời sau nguyền rủa mãi mãi!”(Lỗ Tấn – Trước đèn tùy bút)
Tôi đã đọc bài viết này của “triết gia hú còi” NHL từ hôm đăng, và cũng rất muốn viết vài dòng trao đổi với tác giả và với các bác lắm. Nhưng vì mải xem đá banh với “ông già” tôi, và trong đầu chưa hình thành ý gì cụ thể, nên tôi đã không viết PH ngay. Riêng “ông già” tôi, thì có nói một cái ý, mà đã làm tôi “giật mình”. Ba tôi nói rằng, “tay” NHL này (nếu có cảm tình với ai, ba tôi thường gọi bằng “tay”, còn không có là “gã”! ) “triết lý” ra phết, tay này “mở bài” bằng cảnh “Anh ra lệnh cho bà xã cắt cổ con gà trống duy nhất đang gáy sau vườn. Bà vợ chảy nước mắt tuân theo.(Tôi cũng thấy thương con gà trống to đẹp, đang ca hát huyênh hoang trong cõi sống của nó. Nhưng vì ở cõi người cao hơn, chúng tôi “phải” ăn nó – và với tôi thì lặng lẽ kèm theo lời cầu nguyện “hóa kiếp cho mầy”).” là không phải là không có dụng ý gì đâu đấy. Mày(là cái thằng tôi) có viết PH thì cũng nhớ mà nêu ra cái ý như nhà văn Lỗ Tấn nói về Trung Hoa! Cái ý có ở mảng xanh xanh bên phải trang nhà talawas đó!
Tôi “vâng lệnh” ba tôi, và bây giờ xin được trao đổi vài ý kiến của mình với các bác như thế này:
1. Những điều nhà văn TQ Lỗ Tấn nói về văn minh và đất nước TQ, dường như nó cũng đúng với văn minh và đất nước VN nói riêng, hay rộng ra là với văn minh và thế giới loài người nói chung. Về đề tài của bài viết này, tôi không thể nói gì khác thêm ngoài cái ý của bác Nguyễn Đăng Thường, “1. Xin thưa: “Chất độc màu da cam”, dù muốn dù không, cụm từ này luôn luôn (và mãi mãi) có dính dáng đến chính trị vì nó đã trở thành biểu tượng về “tội ác chiến tranh của đế quốc và tư bản Mỹ”, không chỉ riêng với Việt Nam mà với cả “thế giới” ngụ ý “nhân loại”, tuy chỉ là cái “toàn cầu” của “cộng đồng VN trên khắp thế giới” như đã được/bị khai thác triệt để.” Ở đây, tôi muốn “đi sâu” vào phạm trù triết học của đề tài. Tôi đã suy nghĩ rất “mông lung” rằng, nếu quả thực tác giả NHL có dụng ý muốn nói cuộc đời của chúng ta “chỉ là bữa tiệc thịt người bày ra cho bọn giàu sang hưởng thụ” với cái cách “khai màn” bài viết là miêu tả “bữa cơm thịt gà trống”, thì đúng là “danh bất hư truyền”, ông là một triết gia! Về ý nghĩa triết học của “bữa tiệc thịt người”, thì tôi không dám mạn đàm vì trình độ có hạn của mình, tôi chỉ muốn nêu ra đây cái “nghĩa đen” của nó. Đó là, lịch sử nhân loại, có thể nói là lịch sử của những cuộc chiến tranh triền miên, những cuộc chiến tranh để xâm chiếm đất đai, của cải, nô lệ, quyền lực… Tất cả những cuộc chiến tranh ấy đều mang tính chính trị, tất nhiên. Và kẻ chiến thắng luôn luôn (và mãi mãi) là “bọn giàu sang”, cũng tất nhiên! Và cũng tất nhiên là “chúng” sẽ “ăn mừng” sau khi chiến thắng chứ còn gì nữa! Vậy thì “bữa tiệc ăn mừng chiến thắng” sẽ là gì, nếu không là “bữa tiệc thịt người”? “Thịt người” ở đây nên hiểu là những “chiến lợi phẩm” (đất đai, của cải, nô lệ, quyền lực,…) được đánh đổi bằng những mạng người (binh lính, dân thường…) đã chết trong cuộc chiến tranh.
2. Thiết nghĩ, nói riêng với VN, và cụ thể là với “vấn đề chất độc màu da cam”, về sâu xa, nếu không xảy ra cuộc chiến tranh đẫm máu “Chiến tranh Việt Nam” từ 1954 đến 1975, thì cũng không có “vấn đề chất độc màu da cam”. Ai đã gây ra cuộc chiến tàn ác này? Ai là những kẻ được tham dự những “bữa tiệc thịt người”? Ai là kẻ với những mục đích chính trị đã gây ra “hậu họa”(cụ thể là những nạn nhân chất độc màu da cam) cho “dân đen” để rồi bây giờ lại “lớn tiếng” rao giảng là “hoàn toàn phi chính trị”?
Tôi “thấy” được những đồng tiền cứu trợ cho các nạn nhân chất độc màu da cam đang “xủng xẻng” trên những “bàn tiệc thịt người” của “bọn giàu sang”. Kính mời các bác đọc truyện ngắn “Đại gia” của nhà văn Nguyễn Viện để biết thêm “bọn giàu sang VN” là những hạng người nào!
Chúc các bác một cuối tuần vui vẻ!
Về Nhóm Đối Thoại:
Đối thoại theo nghĩa thông thường là hai bên trao đổi, thảo luận để hiểu nhau, nhằm tiến tới giải quyết sự khác biệt quan điểm, quyền lợi, và sau cùng đạt tới hoà giải, thỏa hiệp thường có lợi cho cả hai bên. Nhóm Đối Thoại này, gồm 5 người Việt và 5 người Mỹ, sẽ đối thoại với ai: với cả hai bên Mỹ và Việt, hay là các ông bà trong Nhóm đối thoại với nhau? Nếu họ chỉ nói chuyện với nhau thôi thì đâu cần phải lập kế hoạch dài tới 10 năm. Còn nếu là đối thoại song phương ở cấp chính quyền giữa Việt Nam (5 người Việt có vẻ thuộc chính quyền VN) và Mỹ (5 người Mỹ có vẻ không đại diện cho chính quyền Mỹ), thì nhóm ĐT ở tư cách gì và có thẩm quyền gì? Tiếng nói của 10 nhân vật này có trọng lượng thế nào đối với hai chính phủ Việt-Mỹ? Giả như phía VN tán đồng đề nghị nào đó của nhóm họ, thì như thế có tạo được áp lực đủ mạnh để phía Mỹ nghe và chấp thuận thi hành không? Có lẽ là không.
Khi ký giả quốc tế đặt câu hỏi “vì sao (nhóm) họ nghĩ rằng chính phủ Mỹ lại sẵn sàng tài trợ dự án“. Không thấy có câu trả lời.
Cho là họ muốn đóng vai trò trung gian, trong trường hợp hai bên khó nóí chuyện trực tiếp với nhau, thì cũng không chắc, vì ngày nay hai nước Việt Mỹ đã bang giao, không còn trong thế đối nghịch về các vấn đề ngoại giao, đừng nói về quân sự, nên vấn đề gì hai bên cũng có thể trao đổi được với nhau, vừa dễ dàng, vừa mau chóng.
Về chính sách đối xử phân biệt.
Ông Nguyễn Hữu Liêm ghi lại lời kể của một chủ tịch Hội Nạn nhân Chất độc Da cam: “Để được giúp đỡ, người ta phải hội đủ ba điều kiện. Trước tiên, nạn nhân phải là con cháu trong một gia đình “kháng chiến”, tức là có tham dự đánh Pháp và Mỹ“. Nêu lên vấn đề phân biệt như vậy cũng là cái tài giỏi của “nhà báo”, vì tạo ra cơ hội để các giới chức giải thích, làm sáng tỏ, và cho biết rõ “ chính sách” đó đã được bãi bỏ vài năm (nhưng nếu cho là chính sách bắt đầu từ năm 1975, trong thời gian dài trên 30 năm nhiều người đã chết, vì không được giúp đỡ gì). Có hai ý kiến đáng chú ý về vấn đề phân biệt đối xử:
1/ “ông Đỗ Hoàng Long, Vụ trưởng Vụ Đối ngoại Nhân dân của Đảng Cộng sản… trấn an tôi rằng đòi hỏi đó đã được loại bỏ bằng một nghị quyết của Bộ Chính trị mấy năm trước đây“. (Trong phản hồi trước, tôi không ghi tên ông ĐHL này, và ghi chức vụ ông là giám đốc, vì báo Mỹ viết là “director”).
2/ “ Đại sứ (Ngô Quang) Xuân đổ lỗi cho hệ luỵ chiến tranh, nhưng theo ông thì điều kiện phân biệt đó được sử dụng nhằm giới hạn số người được đền bù vì số tiền tài trợ ít ỏi“.
Tôi nghĩ ông Đỗ Hoàng Long chân thật khi nói tiếp: “Theo ông vẫn có một số người ở địa phương không đồng ý với chuyện đối xử đồng đều với mọi người“. Ông Ngô Quang Xuân có cái tài ngôn ngữ của nhà ngoại giao khi đổ lỗi cho hệ luỵ chiến tranh, và nói thêm: “ Ông cho biết ông mừng là chính sách đó hiện nay là chuyện của quá khứ“. Các nạn nhân của sự đối xử phân biệt như vậy nếu còn sống chắc cũng mừng như ông đại sứ, và còn có thể nhớ ơn Đảng (nay bỏ chính sách), nhưng nỗi mừng của họ dù lớn thế nào đến với họ cũng hơi chậm.
NTT: Xem bóng đá xong đã gần 3h sáng, tôi vào mạng đọc được một bài viết đầy ý nghĩa của một người Việt ở Mỹ khi về thăm đất nước cùng với những công việc ở đó đang chờ anh. Tôi cũng gặp trong bài viết tên người bạn học của tôi là Ngô Quang Xuân. Cũng như anh Nguyễn Hữu Liêm bất ngờ gặp lại người bạn học cũ trong một cuộc nhậu tại thị xã Quảng Trị, tôi bất ngờ gặp Ngô Quang Xuân qua bài viết này dù mới cùng nhau về quê lo chuyện cúng giỗ ba tuần trước. Lo lắng cho những nạn nhân bị chất độc dioxin là câu chuyện của mọi người, nhưng với anh Liêm, anh Xuân chắc còn nhiều gánh nặng… Chia sẻ với tấm lòng các anh, tôi xin đăng lại bài viết có tính nhật ký rất cảm động này.
http://nguyentrongtao.org/nguy%e1%bb%85n-h%e1%bb%afu-liem-%e2%80%93-a-l%c6%b0%e1%bb%9bi-khe-sanh-hu%e1%ba%bf-ha-n%e1%bb%99i-sai-gon.xml
Chất độc da cam là một đòn phép chính trị của CS VN moi tiền bồi thường của chính phủ Mỹ. Tôi có thể khẳng định điều này vì tôi có một người bà con có ba đứa con khi sanh ra trước năm 1975 bị ung bướu, chữa hoài không lành. Khi đi khám bệnh các bác sĩ đều đổ lỗi cho bệnh ung bướu các em do chất độc da cam nhiễm vào. Và các bác sĩ này giới thiệu cha mẹ các em qua tổ chức đòi bồi thường để xin tiền nếu muốn. Cha mẹ ba em đều lặng thinh không nói dù trong bụng biết không phải như vậy. Các em từ ngày sinh ra toàn ở Sài Gòn không đi đâu, không về các miền quê hay những nơi nhiềm chất độc khai quang. Nhìn hình các em bị nhiễm độc trong bài trông giống như các em bị bịnh “hội chứng down(down syndrome) khi mới sinh. Bệnh này ở đâu cũng có, cứ gì ở VN. Trẻ em có thể bị dị tật vì trăm nghìn lý do khác như khi đẻ bị ngộp, người mẹ dùng ma tuý khi mang thai hay nhiễm bệnh aids hoặc di truyền căn bệnh từ gia đình. Còn ở miền Bắc có nguyên một làng bị ung thư vì nguồn nước trong làng bị nhiễm độc do các chất thải ra từ các nhà máy chế tạo những chất độc hay nguyên liệu độc hại. Liệu chính quyền Việt Nam có xếp họ vào nạn nhân bị nhiễm độc da cam. Khi nhìn các em chúng ta chỉ thấy tội nghiệp mà không ai có thể kiếm chứng được do đâu nếu không có thử nghiệm.
Tiền bồi thường nhân đạo đòi được là tiền vô tội vạ, đòi được đồng nào tốt đồng đó, có thì chia cho trẻ em khuyết tật vài gói mì gói cho chúng im miệng, còn lại thì thẩm quyền đút vào túi riêng cho lẹ. Lại thêm được lợi thế chính trị là đổ thừa Mỹ đã để lại những tàn tích chiến tranh độc hại.
1. Xin thưa: “Chất độc màu da cam”, dù muốn dù không, cụm từ này luôn luôn (và mãi mãi) có dính dáng đến chính trị vì nó đã trở thành biểu tượng về “tội ác chiến tranh của đế quốc và tư bản Mỹ”, không chỉ riêng với Việt Nam mà với cả “thế giới” ngụ ý “nhân loại”, tuy chỉ là cái “toàn cầu” của “cộng đồng VN trên khắp thế giới” như đã được/bị khai thác triệt để. Xin trích dẫn: “Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng nhấn mạnh rằng nạn nhân của chất độc da cam/ dioxin không chỉ là người ở Việt Nam mà còn là người trong các cộng đồng Việt ở Mỹ cũng như khắp nơi trên thế giới. Đây không chỉ là vấn đề của những nông dân trong các khu vực bị ảnh hưởng. Đây là một vấn đề hoàn cầu cho người Việt khắp nơi.” (bài chủ)
2. Xin thưa: Chính trị ở đây tất nhiên không phải là chính trị giữa Miền Nam cộng hòa và Miền Bắc cộng sản, mà giữa chủ nghĩa dân chủ (Mỹ) và chủ nghĩa cộng sản (Hà Nội). Cứu trợ và thiện nguyện không nhất thiết phải “phi chính trị” mà thường là ngược lại, tương tợ với “phản chiến” là để… chống Mỹ, hơn là vì yêu chuộng… hòa bình. Những người Mỹ trong nhóm “Đối Thoại Việt – Mỹ về Chất độc màu Da cam/Dioxin” có thể thuộc giới trí thức thân cộng, hay tả khuynh, hay chí ít bị “mặc cảm tội lỗi”, nghĩa là có thể không “trung lập”, không “phi chính trị”, cho nên việc khẳng định “Đây là một vấn đề nhân đạo. Nó không còn là chuyện chính trị nữa.” (Nguyễn Hữu Liêm) là hoàn toàn chủ quan, nếu không muốn nói là tuyên truyền, bốc thơm. Hữu xạ tự nhiên hương. Không cần phải la toáng lên rằng “nó… không chính trị”. Càng la to càng khiến… “thiên hạ” nghi ngờ.
3. Cái tệ hại khi “sống chung với lũ” té ra chỉ là “nạn cướp cạn giữa trưa” do hai tên “găng tơ” (tép riu) ở Sài Gòn “vặn lấy mất tấm kiếng chiếu hậu bên hông trái” khi tác giả ngồi “xe hơi mới mua năm ngoái ở San Jose” của một “ông bạn thi sĩ gốc Quảng Trị, nay là đại gia ở Bà Rịa”. Bị cướp nhưng không bị mất vì khổ chủ có thể chuộc/mua lại tấm kiếng. Thế nhưng, những trò cướp cạn giữa thanh thiên bạch nhật tày đình hơn bởi các tên mafia của xã hội đỏ hạng gộc thì không nghe tác giả… bình luận.
4. Tác giả bài chủ rất “khéo tay”. Một bài ký ngắn về một chuyến đi công tác với giọng văn nhẹ nhàng, dễ thương, có kinh có thượng, có giàu có nghèo, có bạn bè cũ có người quen mới, có “Huế-Sài Gòn-Hà Nội”, có lương thiện trong khách sạn có cướp giật trên đường phố, có trường học mới (tuổi thơ hạnh phúc) có lớp học cũ (tuổi thơ đau khổ), có tiếng cười vui có giọt lệ buồn, đủ cả. Nghĩa là một bức tranh “quê hương” toàn cảnh “xinh đẹp và hùng tráng vô vàn”, vẽ theo bút pháp của phái “ấn tượng”, để đi đến kết luận “rằng dù thời tiết – và nhiều chuyện khác – có khắc nghiệt đến thế nào, cả thành phố và con người Hà Nội vẫn thanh lịch và xinh đẹp như muôn thuở”, và những “vấn đề” của đất nước hôm nay đều là do hệ quả của “một di sản chiến tranh tàn độc” – một cuộc chiến tất nhiên phải hiểu ngầm là xâm lược đã do bọn “Mỹ ngụy” gây ra.
5. “Cả thành phố và con người Hà Nội vẫn thanh lịch và xinh đẹp như muôn thuở”. Xin hỏi: Tác giả đã sống tại Hà Nội từ… bao đời?
6. Khi được trao trả lại “một phong bì chưa dán, bên trong có 10 tờ giấy $100 đôla, mà tôi bỏ quên trên bàn viết khi trả phòng” chắc tác giả đã rút ra một hay hai tờ giấy $100 đưa lại cho “người đàn ông lương thiện” trong khách sạn để… cám ơn?
7. Nói tóm lại, bài chủ chỉ là một chén chè bắp chè khoai “tình tự dân tộc”, ngọt xớt, có thêm chút mùi lá dứa (khôi hài nhẹ hay cái gì đó) cho thơm miệng, nên đã có độc giả khen… ngon.
@Nguyễn Đăng Thường:
“Chất độc da cam” đã làm cho hình hài của anh em tôi mang nhiều dị tật.
“Chất đẹp da đỏ” đã làm cho bạn bè tôi biến thành súc vật và ăn thịt anh em tôi.
@Nguyễn Hữu Liêm,
Bằng nhận thức lý tính sẵn có ở trong mình, ông có đặt câu hỏi truy nguyên có tính triết học về nguyên nhân vì sao mà những người anh em, xứ xở mình bị chất độc da cam?
Về VN với tư cách làm báo, ông Liêm còn dành thời gian để nói chuyện triết học với sinh viên ở quán cà phê. Thật đáng mừng.
Vậy khi đi làm công việc nhân đạo, việc đặt một câu hỏi mang tính triết học về nguyên nhân vì sao mà xứ sở mình, anh em mình bị loang lở da cam, cũng đáng lắm! Phải không?
Tôi không dám lạm bàn vào những tình tự quê hương, những cảm xúc nhân đạo dạt dào dành cho các nạn nhân chất độc da cam của anh Liêm (dù vẫn có thể hiểu lí do khiến ông Nguyễn Đăng Thường phải dị ứng) Tôi chỉ theo lời mời của anh (“ĐỘC GIẢ MUỐN […] ĐỌC BLOG BẰNG ANH NGỮ CỦA TÔI, XIN VÀO TRANG NHÀ http://www.vietnamreportingproject.org“), nên có vào trang của anh và đọc qua blog trên cùng (“Eating on the way”) đăng ngày 17/6/2010 (http://www.vietnamreportingproject.org/blog/eating-way), và có hai thắc mắc nhỏ (về tiếng Anh): #1) Ở đoạn đầu, câu “The monthly budget is about 10 million dongs”: Danh từ “VN dong” (cũng giống một vài danh từ Anh ngữ khác như “JP yen”/”aircraft”/…) khi đổi sang số nhiều có nên thêm “S”? và #2) Đoạn cuối, câu “Rain did not follow me to Hanoi – as I have hoped”: Trong ngữ cảnh này thì Hiện tại hoàn thành (have hoped) không phù hợp, mà lẽ ra nên là thì Quá khứ hoàn thành (had hoped)? Nếu hỏi không phải, mong anh Liêm bỏ qua.
Tôi hiểu chữ phi chính trị ở đây nghĩa là không đem sự khác biệt về tư tưởng chính trị vào trong hoạt động này, là lời kêu gọi người Việt Nam với các khuynh hướng chính trị khác biệt, đối lập, hãy ngồi lại để làm một công việc nhân đạo. Vâng, phi chính trị cũng là một khuynh hướng chính trị, nhưng điều đó không làm thay đổi định nghĩa và bản chất của nó.
Tất nhiên mọi việc không đơn giản như vậy. Đơn cử là chuyện [đã từng có] chính sách phân biệt thành phần kháng chiến. Nhân đây, tôi hi vọng các thành viên của nhóm Đối Thoại sẽ có những biện pháp tích cực để làm rõ vấn đề này, xem nó còn tồn tại không, ở mức độ nào, chứ không đơn giản chỉ nghe và tin những lời hứa chắc nịch.
Riêng về mấy chữ “hệ lụy chiến tranh” để nói đến chính sách phân biệt, tôi nghĩ nói như vậy là đã bỏ qua, xem nhẹ những nguyên nhân trực tiếp hơn của cái kết quả [chính sách phân biệt] này. Những nguyên nhân đó, nói riêng về phía chính quyền Việt Nam, là những thái độ đối xử phân biệt rất sai lầm sau chiến tranh đối với phía bại trận. Những thái độ đó xuất phát từ văn hóa, dân trí, ý thức hệ, tuyên truyền, đường hướng lãnh đạo, etc. Chiến tranh cũng chỉ là hệ lụy của những điều kể trên.
Nhân nói về người tốt, tôi cũng xin kể một chuyện tốt mà chính tôi gặp được hồi đầu năm nay, ở Mỹ. Trong buổi gặp gỡ tất niên có một bác than rằng đợt cứu trợ bác tham gia ở Việt Nam chỉ gặp toàn những người thương binh do phía chính quyền cử ra nhận, và do không có sự chuẩn bị trước, hầu hết các phần quà chỉ được trao cho những gia đình thương binh này. Tôi không có lý do để tin hay không tin câu chuyện trên. Tuy nhiên, điều làm tôi khá ngạc nhiên là một bác mà tôi thấy thuộc dạng “chống Cộng hơi bị cực đoan” lại nói rằng thôi cũng tốt, họ cũng trải qua đau khổ chiến tranh như bao nhiêu người khác, họ không phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên cuộc chiến tranh đó.
“Nó không còn là chuyện chính trị nữa.” (Nguyễn Hữu Liêm)
– Mỗi chọn lựa là một hành động chính trị, dẫu là một lựa chọn “phi” chính trị. Tác giả bài chủ – hình như là một “triết gia”? – ắt phải biết rõ điều đó.
“Đúng là “sống chung với lũ” cùng với nạn cướp cạn giữa trưa.” (Nguyễn Hữu Liêm)
– Nếu tác giả cảm nhận nạn việc cướp cạn giữa trưa là “sống chung với lũ” mà không thắc mắc/không đặt ra câu hỏi “lũ” từ đâu/do đâu mà đến thì ông ta quá… sâu sắc.
“Từ những khi đứng bên phi đạo của căn cứ Khe Sanh cũ, giữa núi rừng hùng vĩ, đến lúc cùng đám đông đi bộ trên cầu Tràng Tiền, Huế, tôi đã nhận ra rằng đất nước và con người Việt Nam, như là núi sông của những vùng cao, như sông Hương nước chảy dưới chân mình, mang nhiều nét xinh đẹp và hùng tráng vô vàn. Nhưng ẩn ngầm dưới cái xinh tươi bao la ngút ngàn kia là một di sản chiến tranh tàn độc, vật thể hay tinh thần, hữu hình hay vô hình, đang giày xéo và xói mòn bao nhiêu những tâm hồn trong sáng của cả một thế hệ sau chiến tranh. Tôi chỉ mong sao cho tất cả được bình an – và những gì hạnh phúc họ đang có được, hay khổ đau mà họ đang gánh nặng, phải là của cơ năng tiến hóa cho cái hiện tượng con người Việt Nam còn nhiều hứa hẹn này.” (Nguyễn Hữu Liêm)
– Nếu tác giả vẫn nghĩ/vẫn đổ thừa bằng cách tránh né kiểu ba phải rằng “di sản chiến tranh tàn độc… đang giày xéo và xói mòn bao nhiêu những tâm hồn trong sáng của cả một thế hệ sau chiến tranh” (khi “đất nước ta không còn chiến tranh” đã hơn 35 năm rồi) thì quả thật ông ta là một ông thày cãi sử dụng triết lý… cải lương.
Xin thành thật ghi nhận tấm lòng của người viết. Tuy nhiên, vấn đề chánh, cốt lõi ở đây được đặt ra là:
1. Ai là nạn nhân chánh, người nhiều, hít nhiều, thở nhiều, uống nước khe, suối từ vùng đất bị nhiễm độc nhiều, gối đất nằm sương chung đụng nhiều, không phải một hay hai ngày mà nhiều khi cả năm, nếu không phải là người lính miền Nam, hay Đồng Minh, chứ lính Bắc hay lính du kích thì ở tận trong rừng già, dại gì xuất hiện ra chỗ khai quang trống trải! Còn người dân thì ai lại không hít, thở với bầu không khí nhiễm thuốc này khi qua đèo, qua ải, theo xe đò xuôi ngược, hay ra đồng thăm ruộng.
Ai mà biết sau khi thuốc thả xuống, hơi sẽ sẽ bay về nơi mô!
– Không biết những người lính ấy, đặc biệt lính Đồng Minh, có con cháu, hay bản thân họ bị hậu quả như những tấm hình chụp hay không. Nếu có, chắc là các công ty Mỹ chuyên sản xuất thuốc khai quang, đã sập tiệm từ khuya rồi.
– Theo lời một người thân trong nhà, hiện là y sĩ chuyên giám định y khoa cho chiến binh Hoa Kỳ, hầu hết triệu chứng của đa số cựu lính GI chiến đấu tại VN, là thuộc về bệnh tâm thần, bệnh cao máu, tiểu đường v.v…
Đề nghị những ai muốn kiện hay bàn về tác dụng của thuốc này, trước hết nên hợp tác với cựu chiến binh Hoa Kỳ hay miền Nam, đặc biệt những người lính chuyên giữ các lộ trình hay tiền đồn quan yếu, nơi mà tác dụng của thuốc ảnh hưởng vào cơ thể vật lý và sinh lý của họ nặng nề nhất, để tìm ra một mẫu số chung, chứ đưa ra mấy cái hình riêng rẻ kia, chắc khó mà thuyết phục!
Nhóm Đối Thoại Việt –Mỹ về Chất độc màu Da cam/Dioxin thành lập năm 2007 được Quỹ Ford, Viện Aspen, và vài tổ chức phi lợi nhuận tài trợ. Mục đích của nhóm Đối Thoại này là “huy động mọi nguồn lực giải quyết vấn đề chất độc Da cam/Dioxin ở Việt Nam, ưu tiên cho các dự án làm sạch đất bị nhiễm dioxin, phục hồi môi trường, hỗ trợ những người bị phơi nhiễm dioxin và gia đình họ” (nguyên văn đăng trên báo của Đảng Cộng sản Việt Nam). Thành phần của nhóm gồm 10 người , báo Đảng CSVN không đăng tên, chỉ thấy trên báo Chicago Tribune ở Mỹ có 5 người Mỹ là học giả hay nhà thiện nguyện, và 5 người VN là các quan chức nhà nước, như đại sứ Ngô Quang Xuân, trung tướng Phung Khac Dung, một giám đốc cơ quan liên lạc thuộc Đảng CSVN, giáo sư Võ Quý chuyên về môi trường, và bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, giáo sư Đại học y khoa TP/HCM. Cụ thể, nhóm ĐT này kêu gọi chính quyền Mỹ và các nhà tài trợ cung cấp khoảng 300 triệu USD trong vòng 10 năm để đạt được hai mục tiêu chính: (1) làm sạch đất bị nhiễm dioxin và khắc phục hệ sinh thái đã bị tàn phá, (2) mở rộng các dịch vụ cung cấp cho người khuyết tật có liên quan đến chất độc da cam/dioxin và cho “những người bị khuyết tật khác cũng như cho gia đình họ”. (Theo báo Dân Trí)
Về phía Mỹ, đây là một hoạt động thiện nguyện, phi chính phủ, nhưng về phía Việt Nam vai trò của Đảng CS, và quan chức nhà nước rất nổi bật. Ở Mỹ, tổ chức này có trang mạng riêng để giúp phổ biến hoạt động của Nhóm. Bài viết của ông Nguyễn Hữu Liêm cũng không ngoài mục đích đó, nhưng được thêm vào vài câu chuyện cá nhân (hình ảnh các trẻ khuyết tật, chuyện ăn thịt gà trống, nhậu bia Huda ở Quảng Trị, gặp được những người lương thiện ở VN, giảng triết…) thành bài viết “sống động” thuộc loại du ký tả cả cảnh lẫn tình để đăng lên ở đây. Xét cho cùng, Ford Foundation phải trả tiền cho người viết bài này và cho báo đăng bài. Có thể đây là cái tài khéo riêng của hai ông Nguyễn Khoa Thái Anh và NHL (công bằng thì phải nhận NHL giỏi hơn), khi sử dụng blog hay báo mạng (tư nhân) phổ biến các thông tin (cả tuyên truyền) về liệt sĩ cùng thân nhân họ, và hoạt động của nhà nước hay Đảng VN (không xét là có lợi cho ai hay không).
Nhân đây xin nói thêm chuyện có liên quan. Tổng thống Obama đã chuyển sang Quốc hội Mỹ ngân sách bổ túc cho tài khóa 2010 số tiền 13,4 tỉ usd nhằm bồi thường (compensation) cho các cựu quân nhân Mỹ phục vụ tại VN trước đây và hiện mang bệnh do thuốc khai quang gây ra. Số tiền trên không phải nhỏ, và một số người Việt ở Mỹ có thể là nạn nhân của thuốc khai quang trong thời chiến ở VN đang nghĩ “có nên đòi hỏi quyền lợi đồng đều của người thọ thuế ở Mỹ hay không (theo bản thông tin riêng của nhóm). Chuyện này cũng được gián tiếp phản ánh trong bài viết, qua ý kiến của bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng: “nạn nhân của chất độc da cam/ dioxin không chỉ là người ở Việt Nam mà còn là người trong các cộng đồng Việt ở Mỹ cũng như khắp nơi trên thế giới. Điều này không có gì sai (nhưng ai sẽ giúp tranh đấu cho quyền lợi của họ).
Người cộng sản “khôn” nhỉ? Khi muốn nhận tiền viện trợ thì vấn đề chất độc da cam là vấn đề nhân đạo, không phải là chính trị. Có tiền viện trợ rồi thì bắt đầu phân biệt đối xử, phải là phe ta mới được giúp đỡ. Bao giờ thì hố cách ngăn mới được lấp đầy?
Bài viết quá hay, thuyết phục.
Nếu tui thuộc… “Nhóm Đối thoại về chất độc da cam tại Hà Nội”.
Do vậy, đa tạ nhưng… ko cám ơn.
Bởi lẽ, nhằm nhò gì cái hại của “chất độc da cam” so với cái lợi của “chất đẹp da đỏ”, đã thay đổi toàn diện “đất nước và con người Việt Nam… mang nhiều nét xinh đẹp và hùng tráng vô vàn” của tác giả.
Chẳng hạn, nhờ “chất đẹp da đỏ” cho nên:
– gái quê biến thành… cô dâu hàn, đài
– ruộng lúa biến thành… khách sạn, sân gôn, nhà nổi
– giòng An Giang “sông sâu nước biếc” biến thành… giòng Khô Giang sông cạn nước nhiễm
– mẹ già cuốc đất trồng khoai biến thành… mụ già bới rác nhặt chai
– tuổi thơ chăn trâu thả diều biến thành… tuổi thơ bán vé số, bán dâm, bị đánh đập tàn nhẫn
Vân vân và vân.
Nhiêu đó coi như tạm đủ.
Để cho ông luật sư và bạn hữu của ông, “nằm vùng” hay “nằm võng” có thể thịt “gà trống”, “cười vang trong men bia Huda hòa với gió Lào thổi vào từ sông Thạch Hãn”, đốt pháo hoa ăn khao, etc… etc…
Bởi:
Nói thêm đẹp Đảng xinh Dân
Nó hứng nó dựng cao tốc, gôn sân… trên trời!
Cảm ơn về bài viết nhiều tình cảm lẫn sự thật chồng chéo – vẫn giọng văn đặc thù của Nguyễn Hữu Liêm. Tôi tâm đắc nhất với câu trích này: “Anh biết rằng, loại bỏ những rào cản vật chất trong chiến tranh thì dễ, nhưng những rào cản về tư tưởng thì khó, bất kỳ ở đâu và bất cứ phía nào!”