talawas blog

Chuyên mục:

Trương Nhân Tuấn – Trao đổi thêm với anh Mai Thái Lĩnh về Ải Nam Quan

11/05/2010 | 1:00 sáng | 70 Comments

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung
Thẻ:

Sau bài «Ải Nam Quan trong hiện tại» của anh Mai Thái Lĩnh đăng trên talawas ngày 12 tháng 3 năm 2010, tôi có viết bài «Vài dòng xin thưa cùng anh Mai Thái Lĩnh về bài viết ‘Ải Nam Quan trong hiện tại», đăng trên talawas ngày 22-3-2010.

Tiếp theo, tác giả Mai Thái Lĩnh có bài «Trao đổi ý kiến về Ải Nam Quan trong hiện tại», đăng trên talawas ngày 14 tháng 4 năm 2010, phản biện lại một số ý kiến của tôi. Để tránh những ngộ nhận của độc giả, tôi viết thêm trao đổi này.

__________________

1.Về cột mốc 19

Anh Mai Thái Lĩnh viết rằng: ta thấy cột mốc đó phải nằm trên đỉnh của quả đồi ở phía đông của Ải Nam Quan».

Không hiểu anh đặt điểm qui chiếu ở nơi nào để có kết luận như vậy? Thử lấy cổng Nam Quan làm điểm chuẩn, bản đồ SGI làm bản đồ qui chiếu, ta thấy:

Cột mốc 19 ở về phía đông cột 18. Khoảng cách từ mốc 18 đến mốc 19 tương đương với khoảng cách từ mốc 18 đến cổng Nam Quan (khoảng 100m).

Cột mốc 19 cắm trên đỉnh núi phía đông nam của cổng Nam Quan.

Theo bản đồ 249C:

Cột 19 ở phía đông mốc «zéro», phía đông nam thiên nam của cổng Nam Quan, tức ở lệch xa hơn nữa về phía nam. (Việc này cho thấy cột 19 trên bản đồ 249C đã bị dời đi về phía nam.)

Trái núi nào hiện nay ở phía đông nam cổng Nam Quan và có một công sự của Trung Quốc trên đỉnh? Nếu có một trái núi như vậy thì cột mốc số 19 phải được cắm trên đỉnh núi đó. Với những tấm hình vùng Nam Quan đã công bố trên internet, tôi chỉ thấy tấm hình này là hội đủ hai yếu tố đó:

Nhưng nếu cổng Nam Quan đã thay đổi chỗ (sau những lần xây dựng lại), đây là giả thuyết mà tôi đã đặt ra trong các bài viết từ những năm 2002-2003. Giả sử cổng này xây tại cột mốc 18 cũ. Như thế cột mốc 19 sẽ ở về phía đông của cổng Nam Quan. Nhưngviệc đầu tiên phải chứng minh là cổng Nam Quan đã dời chỗ (cho đến mốc 18) với những bằng chứng khoa học, thuyết phục. Đến giờ phút này vẫn chưa ai làm được việc đó.

2. Về tòa nhà kiểu Pháp

Anh Mai Thái Lĩnh viết: « Tuy nhiên, trong bài viết, tôi cũng không hề kết luận rằng hai tòa nhà này là một. Hơn thế nữa, tôi không đưa ra kết luận, mà chỉ đưa ra một cách lý giải khác để thay cho cách lý giải của phía Trung Quốc. Xin trích lại nguyên văn: “… chúng ta có thể tìm ra một cách giải thích tương đối hợp lý hơn về nguồn gốc của Tòa nhà kiểu Pháp: Tòa nhà kiểu Pháp là của người Pháp, do người Pháp xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1940…»

Anh nói là trích «nguyên văn», nhưng thực ra trích như thế không thể gọi là nguyên văn được.

Nguyên văn phải là thế này: «So sánh hai bức ảnh nói trên, chúng ta có thể tìm ra một cách giải thích tương đối hợp lý hơn về nguồn gốc của Tòa nhà kiểu Pháp: Tòa nhà kiểu Pháp là của người Pháp, do người Pháp xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1940…»

Thiếu một mệnh đề quan trọng:  So sánh hai bức ảnh nói trên».

Anh cho rằng anh «không hề kết luận rằng hai tòa nhà này là một», vậy anh dẫn hai tấm hình này ra và so sánh chúng để làm gì? Và câu, phía sau dấu hai chấm: Tòa nhà kiểu Pháp là của người Pháp, do người Pháp xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1940… (thiếu khúc này: Sau này, khi xây lại Hữu Nghị Quan, phía Trung Quốc đã dời cửa quan đến một vị trí khác trên lãnh thổ Việt Nam, vì thế tòa nhà kiểu Pháp lọt vào lãnh thổ Trung Quốc) là gì nếu không phải là một kết luận?

Theo tôi mọi so sánh đều có mục đích dẫn tới một kết luận. Trong phần 5 ở dưới, ta sẽ thấy rõ rệt hơn.

Anh Mai Thái Lĩnh viết tiếp: «Điều cần nhấn mạnh là: cho dù hai tòa nhà đó không phải là một, lập luận tôi nêu trên đây vẫn có thể đứng vững

Lập luận «tòa nhà kiểu Pháp là của Pháp, xây trên đất Việt… sau này phía TQ dời cửa quan đến một vị trí khác nên tòa nhà kiểu Pháp lọt vào lãnh thổ Trung Quốc» không hề đứng vững. Đâu phải nhà kiểu Pháp thì nhà đó của Pháp? Tôi đã viết trong bài góp ý trước, không tiện nhắc lại.

Nhưng điều quan trọng là anh Mai Thái Lĩnh nhìn nhận hai tòa nhà không phải là một. Điều này làm cho lập luận của anh bị sụp đổ, vì nó là bằng chứng nền tảng.

Tôi đã viết mở đầu như thế này trong bài góp ý: «Bài viết mang tựa đề «Ải Nam Quan trong hiện tại» của anh Mai Thái Lĩnh vừa đăng trên talawas thật là công phu, kèm nhiều hình ảnh, sự kiện lịch sử rất mới. Theo thiển ý thì các dữ kiện lịch sử sẽ quan trọng, vì chưa có sách vở nào ghi lại, nếu chúng được xác minh thật sự là những « dữ kiện lịch sử». Với tinh thần ham học, cầu tiến, tôi ghi lại ở đây vài ý kiến chủ quan đặt lại vấn đề về các chi tiết lịch sử này, đồng thời đóng góp thêm một vài chi tiết về biên giới Việt-Trung, hy vọng được anh Mai Thái Lĩnh và độc giả đón nhận như là một cái nhìn từ góc cạnh khác.»

Dữ kiện «rất giống nhau» của hai «tòa nhà» là một trong các «chi tiết lịch sử» mà tôi muốn đặt lại vấn đề. Anh Mai Thái Lĩnh đã nhìn nhận «hai tòa nhà đó không phải là một», vấn đề đối với tôi như vậy đã sáng tỏ.

3. Về địa điểm của tòa nhà trong tấm ảnh (quân Pháp đầu hành quân Nhật)

Theo tôi thì tấm hình chụp tại Lạng Sơn vì hai lý do:

– Nhìn kỹ tấm hình, đàng xa, phía sau tòa nhà là một con sông. Lạng Sơn ở kế cận một con sông, bên bở tả ngạn, đó là sông Kỳ Cùng (đối diện với Kỳ Lừa ở bờ hữu ngạn).

– Lịch sử chiến tranh Pháp-Nhật tại Việt Nam chỉ có hai lần. Lần thứ nhứt vào tháng 9 năm 1940, Pháp đầu hàng (chỉ ở) tại Lạng Sơn (và không còn nơi nào khác). Lần thứ nhì vào tháng 3 năm 1945, tại Lạng Sơn quân Pháp chết hơn 1.000 người, không có đầu hàng.

Anh Mai Thái Lĩnh cho rằng «tòa nhà đó vẫn có thể hiện diện ngay tại Đồng Đăng».

Theo tôi thì không. Tại Đồng Đăng không có con sông nào và không hề có việc quân Pháp đầu hàng quân Nhật tại đây.

4. Về cái gọi là «Liên quân Pháp-Việt (Trường Sĩ quan Đồng Đăng)»

Anh Mai Thái Lĩnh viết về việc này như sau: «Về việc có hay không có “trường sĩ quan Đồng Đăng”, tôi xin dành câu trả lời cho tác giả Chân Mây hoặc những người am hiểu về tình hình quân sự dưới thời Pháp thuộc.»

Thì ra anh cũng không biết là «Trường Sĩ quan Đồng Đăng» có hay không. Như đã ghi lại, lý do tôi viết bài góp ý nhằm đặt lại vấn đề về các chi tiết lịch sử dẫn trong bài của anh, sự hiện hữu của «Trường Sĩ quan Đồng Đăng» là một chi tiết. Tôi viết trong bài góp ý như sau: «Để dữ kiện này thành một dữ kiện có giá trị lịch sử cũng như kết luận trong bài có giá trị thì anh Mai Thái Lĩnh cần phải đưa các dữ kiện xác minh việc này.»

Anh đã không đưa được dữ kiện xác minh việc này. Anh lên tiếng kêu cứu tác giả Chân Mây và «những người am hiểu». Theo tôi, việc kiểm chứng tính khả tín của các dữ kiện là bổn phận của tác giả viết bài biên khảo chứ không phải công việc của người nào khác.

5. Về «Liên quân Pháp-Việt (Trường Sĩ quan Đồng Đăng)  – Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật»

Anh Mai Thái Lĩnh viết: “Bây giờ chúng ta tiếp tục xem xét hai tấm ảnh do Chân Mây sưu tầm. Tác giả chú thích ảnh 30 như sau: “Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng). Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940)”. Tòa nhà này rõ ràng là của quân đội Pháp. Ảnh chụp cho thấy tù binh người Pháp người nằm kẻ ngồi trong tư thế bại trận. Những người lính đứng gác là người Nhật. Điều rất dễ nhận ra là hình dáng của tòa nhà này rất giống với Tòa nhà Pháp Quốc nằm ở phía sau Hữu Nghị Quan ngày nay.”

Ở đây anh «tiếp tục xét», tức xét đi xét lại nhiều lần, hai tòa nhà trong hai tấm hình (đã nói ở phần 2) và đưa ra kết luận: «Điều rất dễ nhận ra là hình dáng của tòa nhà này rất giống với Tòa nhà Pháp Quốc nằm ở phía sau Hữu Nghị Quan ngày nay».

Từ đó anh đưa kết luận «liên quan Pháp Việt bảo vệ ải Nam Quan».

Đáng tiếc là bằng chứng của anh đưa ra (hai tòa nhà giống nhau) thì đã không sử dụng được. Nhưng anh vẫn cố vớt vát: «nếu bỏ cụm từ “trường Sĩ quan Đồng Đăng” thì câu chú thích sau đây: “Liên quân Pháp-Việt – Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật” vẫn hoàn toàn có ý nghĩa. »

Tôi thấy không có ý nghĩa gì cả.

Quân Pháp-Việt không hề «bảo vệ ải Nam Quan», vì  Nam Quan là của người Hoa, xây trên đất Trung Hoa. Tôi có đầy đủ bằng chứng (xem phần 6) chứng minh quân Pháp không hề đồn trú tại Nam Quan. Quân Pháp từ cảnh sát biên giới, quân đội, quan thuế cho đến đội bảo vệ đường xe lửa… tất cả đều đóng tại Đồng Đăng, cách cổng Nam Quan khoảng 2,5km.

6. Tôi có viết như sau: «Đồng Đăng là một huyện nhỏ, nếu không nói là một làng nhỏ gần biên giới, cách Nam Quan 2km5. Dưới thời Pháp thuộc, Đồng Đăng có một đồn binh gồm vài chục lính biên phòng. Đây là một vùng còn rất nghèo của Việt Nam, huê lợi chính ngày xưa là cây hồi (đinh hương). Dân số phần lớn là người dân tộc gốc Tày, Nùng. (…) Người ta không thể dựng một trường đào tạo sĩ quan, những người chỉ huy tương lai, ở một vùng biên giới cực bắc, đèo heo hút gió, việc tiếp liệu khó khăn, thường xuyên bị thổ phỉ quấy nhiễu

Anh Mai Thái Lĩnh phê bình tôi như sau:

«Đây là một suy luận hoàn toàn mang tính chủ quan. Mặc dù Đồng Đăng chỉ là một làng nhỏ, nhưng ở đó không phải chỉ có “vài chục lính biên phòng”. Làng Đồng Đăng thì nhỏ, nhưng ở đó người Pháp vẫn bố trí một (hay nhiều) trại lính (casernes) rất lớn. Chỉ cần nhìn vào tấm bưu ảnh số 791 của P. Dieulefils (ảnh 10) là có thể thấy điều đó. Cần chú ý là trên bưu thiếp ghi casernes (những trại lính) chứ không phải caserne (một trại lính)».

Tôi nghĩ rằng, trước khi phê bình như thế thì anh cũng cần tìm hiểu các «casernes» trong các tấm hình đó dựng lên từ bao giờ và nhằm vào các mục đích gì? Nếu chỉ dựa vào các trại lính trong tấm hình rồi hình dung ra quân số của trại lính thì tôi nghĩ anh kết luận hơi sớm. Tấm hình không ghi ngày chụp hình, như thế cũng thiếu một dữ kiện quan trọng.

Đoạn tôi viết ở trên tôi đã tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Về mô tả kinh tế nhân văn Đồng Đăng, dẫn từ nguồn: De Ha Noi à la frontière du Kouang-Si, tháng 9 năm 1881, phụ chú thêm tháng 5 năm 1884, của ông Aumoitte, hồ sơ CAOM, mã số Br 1156C.

Từ hồ sơ này tôi lấy được tấm hình vẽ cổng Nam Quan thời còn là bằng gỗ, lúc chưa bị giật sập, đã đăng ở đây:

Về tổ chức quân sự tại Bắc Kỳ vào thời kỳ đầu Pháp thuộc, có nhiều tài liệu viết về việc này, ở đây tôi sử dụng cuốn Au Tonkin et sur la frontière du Qwang Si của Commandant Famin, in năm 1894. Theo mô tả, xứ Bắc Kỳ được chia làm 5 đạo quân binh (territoire militaire), theo nghị định ngày 20-8-1891, theo hình dưới đây:

Vùng Cao Bằng, Lạng Sơn và một phần Tuyên Quang, Thái Nguyên thuộc đạo quân binh thứ hai (2e territoire militaire).

(Đến tháng 8 năm 1896 thì Lạng Sơn thuộc đạo quân binh thứ nhứt gồm Lạng Sơn, Móng Cái và Yên Thế. Đến tháng 6 năm 1905 thì việc bình định đã xong, chế độ đạo quân binh bãi bỏ, Lạng Sơn thuộc quyền hành chánh của dân sự. Nhưng đến tháng 7 năm 1940 thì chế độ đạo quân binh được tái lập tại Lạng Sơn, do tình hình chiến sự. Chế độ đạo quân binh tương tự chế độ quân quản sau 1975 ở miền Nam Việt Nam).

Việc xây dựng các trại lính «casernes»: trang 79, các trại quân to lớn được xây cất ở Đồng Đăng (sau đó là Na Cham) nhằm mục đích «răn đe» quân cướp (kể cả triều đình nhà Thanh), cho những người này biết rằng quân Pháp đã kiểm soát và đóng quân đông đảo tại các nơi đây, nhưng cũng nhằm vào việc trấn an dân chúng trong vùng. Không thấy ghi xây dựng các trại lính chính xác năm nào nhưng có lẽ vào thời đại tá Galliéni chỉ huy đạo đệ nhị quân binh, tức khoảng 1893-1894. Như thế việc xây dựng các trại binh to lớn cũng nhằm mục đích «nghi binh», hay để «thị oai» kẻ địch.

Bản đồ đánh dấu các đồn binh trên vùng biên giới (organisation défensive).

Về quân số: Các đồn binh nhỏ được xây dựng ngay trên đường biên giới, thường đối diện với đồn binh của Thanh Triều, được ghi bằng dấu chấm đen trên bản đồ, gồm có từ 20 đến 25 lính cơ, mộ từ dân chúng trong vùng, thường là người Nùng hay Thổ (trang 97).  Quân Pháp thì chỉ đóng tại các đồn Đồng Đăng, Thanh Moi, Na Cham, Thất Khê, Quảng Yên, Mo Xat, Na Thông, Bac Lan… được ghi bằng chấm đỏ trên bản đồ, quân số từ một «poloton» đến một «compagnie», tức từ một chi đội đến một đại đội (trang 97). Một «poloton» là chi đội, có thể là một tiểu đội hay một trung đội.

Một cách tổng quát, quân số các đồn biên giới chỉ là «vài chục người» đến hơn một trăm người trong thời gian dưới chế độ đạo quân binh, tức thời chiến. Từ năm 1905 trở đi (cho đến 1940), chế độ đạo quân binh hủy bỏ, con số quân đồn trú tại các đồn biên giới càng thấp hơn nữa. Quân đội được thay thế bằng cảnh sát.

Về quân số quân đội đóng tại Đồng Đăng trong khoảng thời gian Thê chiến II : Trong một số tài liệu ở các trang web cựu chiến binh Pháp, lúc đụng độ với Nhật lần thứ nhứt (tháng 9-1940) quân số ở đây là khoảng 80 người. Lúc đụng độ lần thứ hai (tháng 3-1945) quân số gồm 150 người. Trong khi đó quân đội Pháp-Việt tại Lạng Sơn có khoảng 2.000 người. Do Thế chiến II, tình hình chiến sự nóng bỏng do Nhật đã tiến chiếm Hoa Nam và đang lăm le xứ Bắc Kỳ, các tỉnh biên giới chuyển sang chế độ «đạo quân binh – territoire militaire», do đó quân số đóng các đồn biên giới tăng nhiều hơn bình thường. Nhưng dầu vậy ở Đồng Đăng con số này cũng chỉ từ vài chục đến hơn một trăm người.

Như vậy khi tôi viết ở Đồng Đăng có «vài chục người lính» thì không hề đi xa sự thật, kể cả lúc tình hình chiến sự nóng bỏng nhất.

Riêng hai nơi Cao Bằng và Lạng Sơn (trang 98) thì có quân số được mô tả là «đủ để» đối phó các «biến cố». «Đủ» là bao nhiêu? Dĩ nhiên là tùy vào tình hình chiến sự. Lúc chiến tranh với Trung Hoa lần thứ nhứt, đạo quân của tướng Négrier phụ trách vùng Lạng Sơn là một lữ đoàn (brigade). Phụ trách vùng Tuyên Quang là đạo quân thứ hai, quân số một lữ đoàn, do tướng Brière de L’Isle chỉ huy.

Cũng theo Cdt Famin, khi xây dựng đường sắt thì có bổ sung thêm một lữ đoàn lưu động bảo vệ đường sắt, nhưng sau khi xây xong và việc bình định kết thúc thì đạo quân bảo vệ này cũng giải tán.(Việc xây dựng đường sắt chia làm 3 thời kỳ : Hà Nội-Lạng Sơn, Hải Phòng-Lạng Sơn và Hải Phòng-Côn Minh (Vân Nam). Đường xe lửa xây dựng thời kỳ này là Hà Nội-Lạng Sơn. Đường xe lửa Hải Phòng Vân Nam làm từ 1903 đến năm 1910, cần đến 64.000 công nhân, do đó cũng cần đến một đạo quân lưu động lớn để bảo vệ.

Về trạm quan thuế: (Trang 89) năm 1893, 3 trạm quan thuế được dựng lên Na Thông trên sông Bằng Giang (bên Trung Hoa là Thủy Khẩu), Pac Lam trên sông Kỳ Cùng (tức Bình Nhi) và Đồng Đăng. Không thấy trạm quan thuế tên Nam Quan.

Về cảnh sát biên giới: Theo điều 10 của điều luật « Cảnh Sát Biên Giới », các đồn biên giới được thành lập trên các cửa ải (khẩu) sau đây : Theo điều 10 của điều luật « Cảnh Sát Biên Giới », các đồn biên giới được thành lập trên các cửa ải (khẩu) sau đây : (Pháp-Trung Hoa) Móng Cái – Tong hing (Ðông Hưng), Than Puon – Na Luong, Hoành Mô – Lang Dong, Ban Co – Cao Tac, Chí Mã – Ải Điếm, Ðồng Ðăng – Nam Quan, Bình Nhi – Bình Nhi Quan, Tà Lung – Thủy Khẩu, Hà Lang – Ðông Quang, Trà Lĩnh – Binh Mang, Bảo Lạc – Pak Nam, Chang Poung – Tien Fong, Ðồng Văn – Tung Can, Pho Bong – Siao Tchas, Quan Ba – Pan Tze Hoa, Thanh Thủy – Bắc Bảo, Lao Tchay – Mường Tung, Xin Man – Mao Ping, Pha Long – Tong Song Ping, Lào Kay – Ho Kéou, Bát Xát – Pa Sat, Ba Nậm Cúm – Na Fa.

Cũng không có đồn cảnh sát biên giới Pháp tại Nam Quan.

Như thế, theo các dữ kiện trên đây, không hề có quân Pháp đóng tại Nam Quan, từ cảnh sát biên giới cho đến quan thuế hay quân đội. Không có quân đội Pháp-Việt đóng tại Nam Quan thì «liên quân Pháp-Việt» nào bảo vệ Nam Quan?

Tất cả nhân viên quan thuế, cảnh sát biên giới hay quân đội đều đóng tại Đồng Đăng.

Anh Mai Thái Lĩnh cho rằng lý lẽ của tôi là một suy luận hoàn toàn mang tính chủ quan. Thực tế những dữ kiện dẫn ra cho thấy những gì tôi viết đều dựa trên những tài liệu lịch sử có thật và kiểm chứng được.

7. Trong bài viết của tôi có ghi sai một chi tiết về ông Cam Nhữ Lai. Tôi ghi đúng năm, đúng triều vua, nhưng thay vì nhà Thanh tôi lại ghi nhà Minh, cám ơn anh Mai Thái Lĩnh đã nhắc việc này. Đúng là một sai lầm «ấu trĩ»!

Tôi rất đồng ý với anh Mai Thái Lĩnh về nhận định: «Nói chung, phần lớn các tài liệu về lịch sử của Trung Quốc hiện nay đều lẫn lộn thực hư, nhất là khi chúng được dùng để phục vụ cho mục tiêu chính trị, vì thế chúng ta phải cảnh giác, không thể tin hoàn toàn. Điều tôi muốn nhấn mạnh là: không những ghi nhiều điều bịa đặt trong các tấm bia bằng gỗ, đá, xi-măng ở Hữu Nghị Quan, phía Trung Quốc còn đưa lên mạng để tuyên truyền cho người Việt chúng ta». Đây mới chính là điều tôi muốn nói (mà tôi đã nhất mạnh trong phần kết luận của bài góp ý trước). Công việc của chúng ta là phải chứng minh rằng các tài liệu về lịch sử của Trung Quốc thì sai, bằng những bằng chứng khoa học, chứ không phải là thái độ đả phá bằng những «giả thuyết», hay những suy luận chủ quan, thiếu thực tế.

8. Về sự khả tín của các nguồn internet

Tôi thấy anh Mai Thái Lĩnh thường dẫn những nguồn tin internet. Mặc dầu anh đã cảnh giác «phía Trung Quốc còn đưa lên mạng để tuyên truyền cho người Việt chúng ta». Nhưng anh vẫn sử dụng và biện hộ cho sự khả tín của nó.

Trang nhà www.vn.sinoviet.com hay các trang khác mà anh Mai Thái Lĩnh đã dẫn, theo tôi thì ai cũng có thể lập ra một trang nhà có “chấm com” phía sau với cái tên miền giật gân như thế. Đâu phải lấy cái tên miền «sinoviet» như vậy rồi nó có được cái uy tín của hai nước Việt-Trung? Anh còn dẫn tên miền «ChinAsean». Tất cả đều không có ý nghĩa gì cả. Người ta có thể lấy nhiều tên miền hấp dẫn hơn. Quan trọng là cái nội dung của nó. Tôi đã vào trang nhà này và không thấy gì là đặc sắc.

Đối với tôi, những trang nhà có thể tin tưởng, hay có giá trị “tham khảo”,  là các trang mạng có “gov” ở phía sau hay các trang mạng đã có một quá trình hoạt động mà mọi người đều công nhận tính hàn lâm của nó.

Tôi cũng thấy anh Mai Thái Lĩnh trích dẫn một cách rất dễ dãi các dữ kiện chưa được kiểm chứng từ các bài viết khác. Bằng chứng là bài viết «Ải Nam Quan trong hiện tại».

Nhưng đây là quyết định của cá nhân. Anh Mai Thái Lĩnh có toàn quyền trích dẫn bất kỳ dữ kiện nào từ một nguồn bất kỳ nào.

8. Kết luận : vai trò trí thức nhằm hướng dẫn dư luận hay để dư luận hướng dẫn?

Động lực thúc đẩy tôi lên tiếng góp ý với anh Mai Thái Lĩnh trong bài vừa qua là vì trong bài của anh đã có một số kết luận về các vấn đề thuộc về lãnh thổ, một chủ đề trọng đại và tế nhị quan hệ đến cả hai dân tộc Việt-Trung. Trong khi đó các dữ kiện chứng minh của anh đưa ra đều sai, nếu không là không thể kiểm chứng được. Sau khi có góp ý của tôi đăng lên talawas, bài viết này anh Mai Thái Lĩnh có «điều chỉnh» lại, nhìn nhận bài viết «Ải Nam Quan trong hiện tại» của anh «chưa thể trở thành một công trình nghiên cứu khoa học mà chỉ có thể được coi như một bài viết thuộc thể loại báo chí». Anh đã nhận ra như thế thì tôi không còn gì để nói thêm và sẽ ngưng lại ở đây, từ nay sẽ không góp ý về bài viết này nữa.

Lời cuối tôi muốn đề cập là, với vai trò người cầm bút, ta có nhiệm vụ hướng dẫn dư luận hay để dư luận hướng dẫn ngòi bút của mình? Bài viết «Ải Nam Quan trong hiện tại» điển hình là một bài viết bị dư luận hướng dẫn. Các chi tiết «rất giống nhau» của hai «tòa nhà», cái sự việc gọi là «liên minh Pháp Việt bảo vệ Nam Quan», cái gọi là «Trường Sĩ quan Đồng Đăng»… được anh Mai Thái Lĩnh trích dẫn từ những nguồn không kiểm chứng được. Cho dầu các tin tức này rất «giật gân», ăn khách, nhưng đều chỉ là tin đồn, hoàn toàn không đúng sự thật. Một người thận trọng, khi sử dụng những nguồn tin của «dư luận» như thế đều phải kiểm chứng lại.

Người trí thức có thể có một thái độ riêng, tức cái «bản sắc» của mình, trong việc hướng dẫn «dư luận». Nhưng khi người trí thức bị chi phối bởi các «tin đồn», sử dụng các tin này mà một cách máy móc không kiểm chứng, thì người trí thức đã bị dư luận hướng dẫn. Bằng không, người trí thức đã bỏ áo trí thức để dấn thân vào chính trị. Theo tôi, người trí thức không thể cùng lúc phục vụ cho một mục tiêu chính trị và bảo vệ chân lý.

15-4-2010

© 2010 Trương Nhân Tuấn

© 2010 talawas

Bình luận

70 Comments (bài “Trương Nhân Tuấn – Trao đổi thêm với anh Mai Thái Lĩnh về Ải Nam Quan”)

  1. Trương Nhân Tuấn viết:

    Đây là link của hình chụp hai trang cuốn « Đại Cương Lịch Sử Việt Nam – quyển II » mà một vài người nhất định muốn xem.
    http://farm5.static.flickr.com/4006/4620298955_d21dcebf1e_b.jpg
    http://farm4.static.flickr.com/3382/4620912224_303f9f3770_b.jpg
    Lý ra tôi không thể thỏa mãn đòi hỏi phi lý của các vị này. Tài liệu tôi dẫn ra, nếu ở trong bài viết thì người đọc có bổn phận kiểm chứng nguồn dẫn này có trung thực hay không. Ở trong những góp ý ở đây tôi chỉ nói nguồn như thế, những người không tin thì cũng phải tự mình đi tìm nguồn dẫn để so sánh.
    Cũng nói thêm về các tài liệu của các sử gia Việt Nam mà tôi có quen biết hay có tên tuổi (như Vũ Ngự Chiêu, Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Thế Anh, Trần Gia Phụng, Nguyễn Kỳ Phong, Trần Đông Phong, Lê Xuân Khoa…), một số tác phẩm của các vị này tôi có được do tác giả tặng hay tôi mua trong các nhà sách. Tuy nhiên, một số tài liệu thì tôi « cóp py » lại trên internet, sau đó trữ trong một hộc riêng trong máy. Tài liệu của Vũ Ngự Chiêu (Chánh Đạo) và Tạ Chí Đại Trường, do có phổ biến trên internet, do đó tôi có lưu trữ một số lượng khá lớn tài liệu của quí vị này để « tham khảo ». Tôi làm vậy vì e rằng các trang web có thể sụp, và các tài liệu có thể bị mất bất cứ lúc nào. Tôi nghĩ rằng tôi không có bổn phận phải « thành thực khai báo » các trang web đăng các bài này ở đâu mà điều quan trọng là những gì tôi trích dẫn có trung thực với nguyên bản của tác giả hay không. Một khi trang web không ghi « copyright » dưới bài thì không có gì bắt buộc tôi cả. Tôi chỉ có trách nhiệm với tác giả của tài liệu trích dẫn mà thôi.
    Tôi cũng nghĩ rằng những gì tôi viết về « trí thức » và « kinh nghiệm chính trị » của bản thân tôi trong vài góp ý ở trên đây có thể đã làm một số bạn lo lắng, do đó đã có thái độ « mượn gió bẻ măng » nhằm trả đũa. Nhưng vì là một góp ý, nên còn rất sơ lược, do đó dễ hiểu lầm. Có lẽ tôi phải viết lại bài về « trí thức, cái danh và chính trị » (bài này đã viết từ gần một năm nay, nhưng không may hard-disc bị hư, chỉ còn giữ lại vài đoạn) để các bạn (thay vì ẩn danh qua những nick name) chính danh lên tiếng góp ý.
    Tôi cũng thành thật cám ơn tất cả các bạn đã góp ý với tôi trong bài viết này. Đúng hay sai, nói vào vấn đề hay ngoài vấn đề, tôi cũng học hỏi được rất nhiều.

  2. Trương Sỏi viết:

    Thưa quý học giả Trương Nhân Tuấn,
    Do không có nhiều thời gian để chờ sự hồi đáp của ngài, vậy tôi phải xin mạo muội giải thích ngay khi đang rảnh, nếu sai chỗ nào xin được ngài hay các quý độc giả góp ý.

    ———————

    Gọi:
    Sự kiện “ dịch “territoire millitaire” thành “đạo quân binh” ” là P
    Sự kiện “ dịch “territoire millitaire” thành “đạo quân binh” ” là Q.
    Giá trị cho P và Q hoặc là 0 (SAI) hoặc là 1 (ĐÚNG), hoặc là ∞ cho trường hợp không xác định, mập mờ nước đôi (ví như “hình như đúng”, “có vẻ như sai”, “ổn ổn”..).

    7 phản hồi của ngài như sau:

    1

    Tôi dùng chữ « đạo quân binh » để chỉ « territoire millitaire » vì còn các danh từ như sau : « région millitaire » và « cercle millitaire ». Nếu dùng « quân khu » để chỉ « territoire millitaire » thì « région millitaire » sẽ dịch làm sao ? Và « cercle millitaire » thì dịch thế nào ?

    Kết luận: P = ∞; Q= ∞ (“Tôi dùng P vì còn X,Y. Nếu dùng P thì Z sẽ là gì? Và W thì sao?” Sự kiện P tùy thuộc vào sự kiện X,Y,Z, W mà các sự kiện này bằng ∞)

    2

    Người ta dịch « dictature militaire » thành « độc tài quân phiệt », hay « độc tài quan phiệt » ? Vì thế tôi dịch thành « đạo quân binh ».Dĩ nhiên mỗi người có mỗi các dịch khác nhau (và có cách giải thích khác nhau). Tôi không nói tôi dịch đúng nhưng tôi nghĩ tôi dịch như thế cũng là tạm ổn.

    Kết luận: P = ∞ (vì TNT “không nói dịch đúng” (P≠1) và cũng không nói mình dịch sai (P≠0), chỉ nói dịch “ổn”là một tính từ chung chung). Q không được xét.

    3

    Tôi thấy dịch « territoire militaire » thành ra « đạo quân binh » là ổn (theo nghĩa không sai), nhưng có thể nó không đúng (cách, ý nghĩa) hàn lâm. Tôi cũng muốn tìm chữ khác để dịch (để không bị chê… ngớ ngẫn), nhưng không thấy từ nào ổn hơn. Đề nghị mọi người (nhất là người nào thấy cách dịch này là ngớ ngẫn) đề xuất một chữ khác để thích ứng hơn.

    Kết luận: P = ∞ (vẫn “ổn” và “theo nghĩa không sai” là sự nước đôi (P≠0,1)). Và nghi hoặc có từ “ổn hơn” (một giá trị ∞ “khác”)
    Q không được xét.

    4

    Tôi nhận thấy chữ « đạo quan binh » có lẽ thông dụng hơn, vì ít ra đã có (một số) học giả (Chính Đạo, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ) đã sử dụng. Nhưng tôi vẫn cho rằng « đạo quân binh » ổn hơn.

    Kết luận: P = Q = ∞ (TNT nói “có lẽ thông dụng” hơn có nghĩa rằng cả P và Q đều “ổn” tuy “mức độ ổn” có hơi khác nhau).

    Cũng CÓ THỂ (tương đương với “có lẽ” của TNT) kết luận: P = Q = 1 vì TNT nói Q “có lẽ thông dụng hơn”, đã là “thông dụng” thì là đúng vì cả P và Q cùng được sử dụng (=1) tuy mức độ “thông dụng” có khác.

    5

    Thử thay thế « quân binh » bằng « quan binh », thì có ý nghĩa gì ? Theo tôi, không phải nhiều người viết như thế thì cách viết đó là đúng.
    Không có manh mối (no clue)

    6

    – Nhưng tôi vẫn cho rằng cách dịch của tôi là đúng : « đạo quân binh » chứ không thể dịch « đạo quan binh »,

    Kết luận: P = 1 ; Q = 0 (Rõ ràng, không cần giải thích thêm)

    7

    Theo tôi cách dịch thích hợp nhất cho « territoire militaire » phải là « đạo quân binh » chứ không thể dịch thành « đạo quan binh ».

    Kết luận: P = 1 ; Q= 0 (Rõ ràng, không cần giải thích thêm)

    Như vậy giá trị của P và Q đã thay đổi chóng mặt theo thời gian phản hồi, từ “Lạ tai nghe chửa biết đâu” cho đến “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà”. Không hiểu những biến số nào làm thay đổi giá trị của P, Q?

    Xin tạm đưa ra “đáp số”: Cho đến nay Q “gần như” đã được xác định là bằng 1 (đúng) vì có nhiều bằng chứng và nhiều độc giả công nhận. Còn P cho đến nay chưa có một bằng chứng nào được đưa ra, và cũng chưa được ai sử dụng (“sản phẩm trí tuệ”) ngoài ngài. Nếu ngài cho rằng Đúng và thuyết phục được nhiều người sử dụng và cả Nhà XB từ điển, tôi cho rằng ngài có công “phát minh” từ mới, nếu vậy thì xin có lời nhiệt liệt chúc mừng… trước.

  3. Trương Sỏi viết:

    Bác Trần Lâm,
    Cảm ơn bác đã làm rõ thêm về cuốn sách này, song tôi chỉ cần biết nguồn đó là trong “sách” chứ không phải trên internet nên chắc không có hiểu nhầm. Việc dẫn nguồn của nhà trí thức học giả Trương Nhân Tuấn “lúc linh lúc không”, TNT có dẫn ra ba nguồn:

    “Trong bài « Từ Điện Biên Phủ đến Genève »”

    “Theo Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập 2, tác giả Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, nhà xuất bản Giáo Dục 2003, tr 102-103 “

    “Theo Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn, nxb Đại Nam Hoa Kỳ, bản in lại bản chính Thư Lâm Ấn Thư Quán năm 1960, tr 695”

    Nguồn thứ 2 và thứ ba rất chi tiết, nguồn thứ ba là sách khá phổ biến nên không cần ảnh chụp, còn hai nguồn kia tôi cho là khá hiếm, và như bác Hưng Quốc nói “tủ sách của một cá nhân là hữu hạn” và hơn nữa khó mà nhớ như “máy tính” (chỉ cần Gúc hay “Ctrl+F”) chi tiết cụm từ đó ở 2 nguồn khác nhau như vậy.

    Tuy nhiên tôi cũng như (“ăn theo”) bác Hưng Quốc chỉ yêu cầu quý học giả Trương Nhân Tuấn có bức ảnh như bác đã làm, việc này không quá khó vì ngay trong bài này nhà học giả và nghiên cứu Trương Nhân Tuấn cũng đã chụp hình những trang sách của Văn khố Pháp đưa lên. Vậy thì có nhọc nhằn gì chụp hình hai trang sách (đã mất công giở ra rồi) đó để đập tan chút nghi ngờ nhỏ nhen của bác Hưng Quốc và tôi, phải không thưa bác Trần Lâm.

  4. Trần Lâm viết:

    Trương Sỏi viết:

    “…mong ngài cho bức ảnh chụp hai cuốn sách mà ngài “đang sở hữu, xin trích lời HQ” (một là “Từ Từ Điện Biên Phủ đến Genève” và hai là “Đại Cương Lịch Sử Việt Nam – Tập 2”)””

    Xin lưu ý: “Từ Từ Điện Biên Phủ đến Genève” khổng phải là một cuốn sách. Nó chỉ là 1 bài trong một cuốn sách gồm 5 bài mang tên “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng”.

    Xem phóng ảnh:

    http://docs.google.com/View?id=dwcmrfd_107gwwgk8g9

    Trong phải hồi đầu tiên về vấn đề này tôi đã viết một cách ngắn gọn:

    “Câu văn của Chính Đạo do Trương Nhân Tuấn trích dẫn có thể tìm được trong: Chính Đạo, “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng”, Văn Hóa, Houston, 2004, trang 73.”

    Có thể vì quá ngắn gọn nên ít nhiều gì cũng đã gây ra hiểu lầm cho độc giả.

  5. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoàng Trường Sa,

    DDH: 1. Vậy tại sao bác không dịch thành “quân đạo” hay “binh đạo”, mà lại dịch thành “đạo binh”, “đạo quân” để phải cho thêm chữ “quân” hay chữ “binh” vào.” (trích lời bác Dương Danh Huy)

    HTS: Câu hỏi này của bác Huy, tôi nghĩ rất dễ trả lời :
    Nếu dịch là “quân đạo” thì e rằng có người lại nghĩ là “đạo làm VUA” (chữ mới đặt ra thay cho “vương đạo”) thì sao đây, còn nếu dịch là “binh đạo” nhỡ có kẻ lại nghĩ rằng “đạo làm LÍNH” thì cũng bỏ mẹ.

    Bác làm tôi nhớ tới chuyện “Phòng thu âm hộ sinh viên” gì đó ngày nào.

    Ngay cả đối với những người dốt 100% về tiếng Hán như tôi thì cũng có thể hiểu theo văn cảnh. Thí dụ như bác Tuấn viết

    Vùng Cao Bằng, Lạng Sơn và một phần Tuyên Quang, Thái Nguyên thuộc đạo quân binh thứ hai (2e territoire militaire).

    (Đến tháng 8 năm 1896 thì Lạng Sơn thuộc đạo quân binh thứ nhứt gồm Lạng Sơn, Móng Cái và Yên Thế. Đến tháng 6 năm 1905 thì việc bình định đã xong, chế độ đạo quân binh bãi bỏ, Lạng Sơn thuộc quyền hành chánh của dân sự. Nhưng đến tháng 7 năm 1940 thì chế độ đạo quân binh được tái lập tại Lạng Sơn, do tình hình chiến sự. Chế độ đạo quân binh tương tự chế độ quân quản sau 1975 ở miền Nam Việt Nam).

    Giả sử như bác ấy dùng từ “quân đạo” hay “binh đạo” thì cũng khó mà hiểu lầm thành “đạo làm vua”, “đạo làm lính”.

    Cho nên tôi thấy ý kiến của bác Nghiêm Quang (về bác Tuấn đọc từ “đạo quan binh” ở đâu đó và sửa lại thành “đạo quân binh”) vẫn đúng.

    Bác Hoà,

    Tôi không nghĩ có ai dùng vụ “đạo quân binh” để phủ định bài của bác Tuấn.

    Nhưng có lẽ không chỉ tôi thấy cách bác Tuấn trả lời bác Hưng Quốc hơi có vấn đề.

    Ngoài ra tôi thấy bài chủ của bác Tuấn trả lời bác Mai Thái Lĩnh cũng hơi có vấn đề.

    Việc bác Lĩnh tìm hiểu về biên giới, lãnh thổ, là một điều đáng trân trọng. Nếu bác Trương Nhân Tuấn góp ý với bác Lĩnh một cách chân thật thì đó cũng là một điều đáng trân trọng. Bác Tuấn chắc là có nhiều tài liệu hơn bác Lĩnh rồi. Từ nhà bác Tuấn ở Marseille lái xe lên thư viện ở Aix-En-Provence chắc khoảng 30-40 phút. Còn bác Lĩnh chắc khó xin hộ chiếu, visa để sang Aix-En-Provence nghiên cứu về Ải Nam Quan.

    Ngay từ đầu bác Lĩnh đã “kêu cứu” (từ bác Tuấn dùng để chế diễu) rồi

    Vì thế chỉ có thể coi đây là một nỗ lực khiêm tốn nhằm phá thủng bức màn sương khói đã phủ lên khu vực này từ hơn nửa thế kỷ nay. Trên con đường tìm ra “sự thật về ải Nam Quan”, có lẽ cần có sự đóng góp nhiều hơn nữa của những người Việt Nam yêu nước

    Đáp lại lời “kêu cứu” đó, bác Tuấn, là một người với lợi thế về tài liệu, góp ý, nhưng cũng kèm theo một số lên lớp cho bác Lĩnh về trình độ của bài của bác Lĩnh, về tác phong, về tư cách của trí thức.

    Dường như bác Tuấn viết bài, tay thì chìa ra giúp bác Lĩnh, giúp người đọc hiểu thêm vấn đề, nhưng chân thì đạp lên bác Lĩnh để cho hình ảnh của mình như một nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà trí thức, cao thêm một chút.

    Trường hợp này làm tôi nhớ đến lần bác Tuấn góp ý với bác Cù Huy Hà Vũ.

  6. Hoàng Trường Sa viết:

    Kính chào bác Trần Văn Tích,

    Xin thành thật cám ơn lời chỉ giáo của bác Tích. Tôi hoàn toàn đồng ý với bác Tích về cách dùng chữ Hán Việt. Thật sự, tôi từ trước đến nay vẫn hiểu vấn đề giống như bác Tích thôi, nhất là khi đã đọc góp ý trước của bác Tích với bác Trương Nhân Tuấn về chữ QUÂN cho VUA và chữ QUÂN cho LÍNH có bộ khẩu và xa khác nhau. Tôi viết góp ý trước về việc câu hỏi của bác Dương Danh Huy tại sao không dùng chữ “quân đạo” (hay “binh đạo”) thay cho “đạo quân” hay “đạo binh” của bác Trương Nhân Tuấn là muốn nói không phải ta có thể TÙY TIỆN muốn dịch như thế nào tùy thích. Mà cần phải lưu ý đến sự cảm nhận của độc giả khi đọc những từ do mình dịch. Vấn đề dịch thuật rất khó và đòi hỏi nhiều công phu. Bởi thế đã có câu “dịch là phản”.

    Sự thật là tất cả mọi từ hay cụm từ đều phải được hiểu theo CONTEXT của nó. Khi ta đang bàn về chia Bắc kỳ ra nhiều khu vực, thì “quân đạo” không thể nào hiểu là “đạo làm vua” được. Nhưng nếu viết “đạo quan binh” hay “khu quân quản” thì sẽ tránh được sự ngộ nhận của người đọc hơn là viết “quân đạo”. Dù tôi nghĩ không bao giờ ta có thể nắm bắt 100% ý nghĩa của một từ mới, nhưng khi tạo ra từ mới ta cần lưu ý làm thế nào để từ này càng gói ghém và lột tả được cái ý mình muốn diễn đạt thì càng tốt. Tuy nhiên, trong tiếng Pháp (hay Anh) thông thường ít gặp những trở ngại như ta đang gặp. Lấy thí dụ “territoire” và “militaire” là hai ý đơn giản và khi viết “territoire militaire” ta hiểu ngay là vùng (đất) hay khu (vực) có tính quân sự. Thì nếu dịch thành “vùng quân sự” ta cũng đã diễn đạt được ý này rồi. Việc hiểu những đặc tính cá biệt (như vùng này do giới quân sự quản trị theo một chế độ hành chánh đặc biệt) là do ta biết thêm, chứ “territoire militaire” tự nó không diễn đạt được. Do đó, theo tôi, dịch “territoire militaire” thành “đạo quan binh” như những người trước cũng tạm ổn, còn nếu dịch là “quân khu” hay tốt hơn nữa “khu quân quản” như được sử dụng trong thời gian gần đây hơn thì càng tốt hơn.
    Một lần nữa xin cám ơn bác Trần Văn Tích.

  7. Trương Sỏi viết:

    Kính thưa nhà học giả Trương Nhân Tuấn,

    Có lẽ tôi sẽ là hỏi “vớ vẩn”, nhưng vì không hiểu, không biết nên tôi cứ phải đánh liều hỏi, chân thành mong bác đừng mắng tôi là “vớ vẩn và ăn theo, dây máu ăn phần”:

    1. Thứ nhất là về ý kiến của ngài về việc dịch ra cụm “đạo quân binh”, tôi e rằng ý kiến của ngài “đá” lẫn nhau (tôi thấy đây là một case Logic học rất bổ ích), nhưng phản hồi này xin chưa giải thích ra đây, nếu ngài thấy ý kiến của mình trước sau như một thì cũng xin có lời, tôi sẽ sẵn sàng giải thích. Dưới đây là các ý kiến của quý ngài theo thứ tự thời gian:

    – Tôi dùng chữ « đạo quân binh » để chỉ « territoire millitaire » vì còn các danh từ như sau : « région millitaire » và « cercle millitaire ». Nếu dùng « quân khu » để chỉ « territoire millitaire » thì « région millitaire » sẽ dịch làm sao ? Và « cercle millitaire » thì dịch thế nào ?

    – Người ta dịch « dictature militaire » thành « độc tài quân phiệt », hay « độc tài quan phiệt » ? Vì thế tôi dịch thành « đạo quân binh ».Dĩ nhiên mỗi người có mỗi các dịch khác nhau (và có cách giải thích khác nhau). Tôi không nói tôi dịch đúng nhưng tôi nghĩ tôi dịch như thế cũng là tạm ổn.

    – Tôi thấy dịch « territoire militaire » thành ra « đạo quân binh » là ổn (theo nghĩa không sai), nhưng có thể nó không đúng (cách, ý nghĩa) hàn lâm. Tôi cũng muốn tìm chữ khác để dịch (để không bị chê… ngớ ngẫn), nhưng không thấy từ nào ổn hơn. Đề nghị mọi người (nhất là người nào thấy cách dịch này là ngớ ngẫn) đề xuất một chữ khác để thích ứng hơn.

    – Tôi nhận thấy chữ « đạo quan binh » có lẽ thông dụng hơn, vì ít ra đã có (một số) học giả (Chính Đạo, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ) đã sử dụng. Nhưng tôi vẫn cho rằng « đạo quân binh » ổn hơn.

    – Thử thay thế « quân binh » bằng « quan binh », thì có ý nghĩa gì ? Theo tôi, không phải nhiều người viết như thế thì cách viết đó là đúng.

    – Nhưng tôi vẫn cho rằng cách dịch của tôi là đúng : « đạo quân binh » chứ không thể dịch « đạo quan binh »,

    – Theo tôi cách dịch thích hợp nhất cho « territoire militaire » phải là « đạo quân binh » chứ không thể dịch thành « đạo quan binh ».

    2. Ngài có nói “Nhưng ngày hôm nay, tôi có đọc nhiều bài báo (nước ngoài), nhận thấy internet lần hồi trở thành một công cụ để « cóp py » các công trình nghiên cứu, hay các văn bản của người khác. Nhiều tiếng chuông báo động đã gióng lên cảnh báo hiện tượng học sinh, sinh viên đã lạm dụng tính chất « mở » của internet để « đạo văn ».”

    Tôi hoàn toàn đồng ý với ngài nhưng tôi cũng có đôi phần nghi ngại như độc giả Hưng Quốc đây và khẩn khoản mong ngài cho bức ảnh chụp hai cuốn sách mà ngài “đang sở hữu, xin trích lời HQ” (một là “Từ Từ Điện Biên Phủ đến Genève” và hai là “Đại Cương Lịch Sử Việt Nam – Tập 2”)” (Mong ngài thứ lỗi cho cái tính tò mò nhỏ nhen của tôi.) Vì rằng nếu ngài sử dụng nguồn intenet mà lại nói mình có sách thì đó cũng là một hành động “lạm dụng tính chất « mở » của internet để « đạo văn ».” đấy thưa ngài.
    Kính ngài,

  8. Phùng Tường Vân viết:

    Có Bao Nhiêu “QUÂN” ?

    Xin thưa thực rằng qua PH mới nhất của ông (12:32 sáng) tôi thấy sự hiểu biết về từ Hán Việt của ông TNT, cả về từ vựng lẫn ngữ pháp, là “có vấn đề” lắm, điều này tôi chắc nhiều độc giả cũng dễ nhận ra. Chỉ riêng về chữ “QUÂN” viết theo dạng khác nhau (theo những “bộ” khác nhau) nhưng chỉ có một âm Hán Việt duy nhất là “quân” , có tới 12 chữ khác nhau : có quân là binh lính, có quân là vua, có quân là đều nhau (bình quân), có quân viết theo bộ thảo là một giống cây có lá xoắn xuýt, có quân viết theo bộ trúc lại có nghĩa là cật tre già, có quân là chỉ vết nứt nẻ ở chân tay vì rét, có quân viết theo bộ kim có ba bốn nghĩa khác nhau, trong đó có một nghĩa quan trọng dùng làm tiếng tôn xưng tôn trọng “Thiên hạ thùy nhân bất thức quân”….Còn tới 4,5 nghĩa “quân” khác nhau nữa không phổ thông lắm nên xin miễn liệt kê.

  9. Trương Nhân Tuấn viết:

    Cám ơn bác Trần Văn Tích đã nhắc nhở về sự khác nhau của hai chữ « quân = vua » và « quân = việc binh ».
    Sẵn tiện ở đây tôi xin nói thêm : « quân » có nghĩa là « việc binh » là một tĩnh từ trong khi đó « quan binh » là « binh sĩ của chính phủ », là một danh từ.
    Theo tôi cách dịch thích hợp nhất cho « territoire militaire » phải là « đạo quân binh » chứ không thể dịch thành « đạo quan binh ».

  10. Trương Đức viết:

    “Tuy nhiên, Tây cũng như Việt, “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, việc tranh luận trong khoa học nên hướng đến mục đích học thuật, mang tính xây dựng và ít nhiều cũng nên giữ ngôn từ nhã nhặn. “Văn là Người”.”(Nguyễn Huy Vũ)

    Các bác ạ,

    Tôi thấy, sau gần 60 cái phản hồi dưới bài viết này, nhưng “câu hỏi nghiêm chỉnh” là từ “territoire militaire” phải được dịch thành từ gì của tiếng Việt vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng. Điều này tôi không phải chứng minh mà làm gì, vì tất cả chúng ta cũng đã thấy. Và như thế, những cái gì ngoài “câu hỏi nghiêm chỉnh” đó là những “câu hỏi vớ vẩn”, thì có lẽ chẳng bao giờ có được câu trả lời thích đáng cả. Vì biết mình “dốt chữ”, nên từ khi bắt đầu có bài viết này, tôi đã không dám bàn luận một tí gì về “câu hỏi nghiêm chỉnh”, tức là về từ “territoire militaire” cả, mà tôi chỉ có vài ý kiến đóng góp xunh quanh những “câu hỏi vớ vẩn” thôi. Hôm nay, đọc những lời phản hồi của độc giả NHV, nhất là đoạn trích trên, tôi cũng thấy nó có nội dung không liên quan gì đến “câu hỏi nghiêm chỉnh”, mà chủ yếu về những “câu hỏi vớ vẩn” thôi. Vậy nên, tôi cũng lại xin chia sẻ với các bác một vài suy nghĩ “vớ vẩn” như thế này:

    1. Về cái sự “Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” trên talawas này, tôi nghĩ, độc giả NHV nói ra hơi bị “thừa” và mang tính “lên lớp” (tôi không muốn dùng từ nặng nề hơn là từ “dạy đời”) người khác. Thiết nghĩ, diễn đàn talawas ra đời đến nay luôn luôn nhận được sự tham gia đóng góp bài vở và ủng hộ nhiệt tình của giới trí thức Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Và tôi có thể nói không “quá” chút nào rằng, talawas đã đạt được một “đẳng cấp cao”, hay nói cách khác là đã tạo được một “chỗ đứng nghiêm chỉnh” cho mình trong môi trường sinh hoạt tri thức của giới trí thức Việt Nam. Điều này kéo theo là, talawas rất để ý và coi trọng cái việc “những con chữ phải như thế nào mới được xuất hiện trên diễn đàn”. Ý tôi muốn nói là, cái “lựa lời mà nói” đã được “làm” qua hai cái “ải”: trước nhất là cái “ải tác giả” ở bài viết, hay “ải độc giả” ở phản hồi, thứ hai là “ải BBT talawas”. Và tôi cũng cho rằng, sự hiện diện của các con chữ của bài viết cũng như của phản hồi trên talawas này như chúng đã hiện diện, thể hiện sự công bằng và nghiêm túc của talawas. Cho nên, khi tôi nói: “độc giả NHV nói ra hơi bị “thừa” và mang tính “lên lớp”” là có cái cơ sở và có cái lý của nó.

    2. Về tình, thì tôi thấy thế này, khi độc giả NHV “trách” ông Dương Danh Huy là “anh Dương Danh Huy phản biện gay gắt quá và nhiều khi đi đến mức độ có thể gọi là mạt sát.”, thì có lẽ độc giả NHV chưa đọc những lời tác giả Trương Nhân Tuấn viết về anh Hưng quốc, là “Riêng về góp ý của bạn Hưng Quốc : tôi thấy bạn hiểu biết rất ít về các vấn đề mà bạn đang nói đến. Vừa không biết chuyện, nhưng lại thích « hóng hớt », nghe có mùi « máu tanh » là ghé vào đánh hôi, « ăn ké ».”, hoặc “Nhưng những gì bạn (Hưng Quốc) góp ý trên đây đều là « tầm gởi », « ăn theo »… theo lối « hóng hớt » của một người hiếu sự.”. Những lời phát biểu trên của tác giả TNT, theo tôi, chúng vượt quá cả mức “gay gắt” và “mạt sát”. Nhưng chúng vẫn được “hiện diện” trên talawas, trước hết, vì sự “Văn là Người” như độc giả NHV đã nêu, thứ nữa, cũng chính vì cái sự công bằng của một diễn đàn học thuật như talawas. Tóm lại độc giả NHV, về tình là hơi bị “thiên vị” đấy, ông đã tỏ ra mình là “(đạo quân)binh” tác giả TNT hơi nhiều.

    3. Tôi nói dông dài như vậy là vì có một vấn đề nữa, mà không “vớ vẩn” chút nào. Đó là ý nghĩa của bài thơ “Lời mẹ dặn” của nhà thơ Phùng Quán. Tôi xin trích ra vài câu như sau:

    “Yêu ai cứ bảo là yêu
    Ghét ai cứ bảo là ghét
    Dù ai ngon ngọt nuông chiều
    Cũng không nói yêu thành ghét.
    Dù ai cầm dao dọa giết
    Cũng không nói ghét thành yêu…”

    Tôi “hiểu” ra được là, những người trí thức một khi đã viết, phải viết ra “sự thật” và bảo vệ đến cùng những con chữ của mình, cho dù có bị ai đó không “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, hay nguy hiểm hơn nữa, là có “ai cầm dao dọa giết”!

1 3 4 5
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>