Trương Nhân Tuấn – Trao đổi thêm với anh Mai Thái Lĩnh về Ải Nam Quan
11/05/2010 | 1:00 sáng | 70 Comments
Category: Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung
Thẻ: Ải Nam Quan
Sau bài «Ải Nam Quan trong hiện tại» của anh Mai Thái Lĩnh đăng trên talawas ngày 12 tháng 3 năm 2010, tôi có viết bài «Vài dòng xin thưa cùng anh Mai Thái Lĩnh về bài viết ‘Ải Nam Quan trong hiện tại’», đăng trên talawas ngày 22-3-2010.
Tiếp theo, tác giả Mai Thái Lĩnh có bài «Trao đổi ý kiến về Ải Nam Quan trong hiện tại», đăng trên talawas ngày 14 tháng 4 năm 2010, phản biện lại một số ý kiến của tôi. Để tránh những ngộ nhận của độc giả, tôi viết thêm trao đổi này.
__________________
1.Về cột mốc 19
Anh Mai Thái Lĩnh viết rằng: ta thấy cột mốc đó phải nằm trên đỉnh của quả đồi ở phía đông của Ải Nam Quan».
Không hiểu anh đặt điểm qui chiếu ở nơi nào để có kết luận như vậy? Thử lấy cổng Nam Quan làm điểm chuẩn, bản đồ SGI làm bản đồ qui chiếu, ta thấy:
Cột mốc 19 ở về phía đông cột 18. Khoảng cách từ mốc 18 đến mốc 19 tương đương với khoảng cách từ mốc 18 đến cổng Nam Quan (khoảng 100m).
Cột mốc 19 cắm trên đỉnh núi phía đông nam của cổng Nam Quan.

Theo bản đồ 249C:

Cột 19 ở phía đông mốc «zéro», phía đông nam thiên nam của cổng Nam Quan, tức ở lệch xa hơn nữa về phía nam. (Việc này cho thấy cột 19 trên bản đồ 249C đã bị dời đi về phía nam.)
Trái núi nào hiện nay ở phía đông nam cổng Nam Quan và có một công sự của Trung Quốc trên đỉnh? Nếu có một trái núi như vậy thì cột mốc số 19 phải được cắm trên đỉnh núi đó. Với những tấm hình vùng Nam Quan đã công bố trên internet, tôi chỉ thấy tấm hình này là hội đủ hai yếu tố đó:

Nhưng nếu cổng Nam Quan đã thay đổi chỗ (sau những lần xây dựng lại), đây là giả thuyết mà tôi đã đặt ra trong các bài viết từ những năm 2002-2003. Giả sử cổng này xây tại cột mốc 18 cũ. Như thế cột mốc 19 sẽ ở về phía đông của cổng Nam Quan. Nhưngviệc đầu tiên phải chứng minh là cổng Nam Quan đã dời chỗ (cho đến mốc 18) với những bằng chứng khoa học, thuyết phục. Đến giờ phút này vẫn chưa ai làm được việc đó.
2. Về tòa nhà kiểu Pháp
Anh Mai Thái Lĩnh viết: « Tuy nhiên, trong bài viết, tôi cũng không hề kết luận rằng hai tòa nhà này là một. Hơn thế nữa, tôi không đưa ra kết luận, mà chỉ đưa ra một cách lý giải khác để thay cho cách lý giải của phía Trung Quốc. Xin trích lại nguyên văn: “… chúng ta có thể tìm ra một cách giải thích tương đối hợp lý hơn về nguồn gốc của Tòa nhà kiểu Pháp: Tòa nhà kiểu Pháp là của người Pháp, do người Pháp xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1940…»
Anh nói là trích «nguyên văn», nhưng thực ra trích như thế không thể gọi là nguyên văn được.
Nguyên văn phải là thế này: «So sánh hai bức ảnh nói trên, chúng ta có thể tìm ra một cách giải thích tương đối hợp lý hơn về nguồn gốc của Tòa nhà kiểu Pháp: Tòa nhà kiểu Pháp là của người Pháp, do người Pháp xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1940…»
Thiếu một mệnh đề quan trọng: So sánh hai bức ảnh nói trên».
Anh cho rằng anh «không hề kết luận rằng hai tòa nhà này là một», vậy anh dẫn hai tấm hình này ra và so sánh chúng để làm gì? Và câu, phía sau dấu hai chấm: Tòa nhà kiểu Pháp là của người Pháp, do người Pháp xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1940… (thiếu khúc này: Sau này, khi xây lại Hữu Nghị Quan, phía Trung Quốc đã dời cửa quan đến một vị trí khác trên lãnh thổ Việt Nam, vì thế tòa nhà kiểu Pháp lọt vào lãnh thổ Trung Quốc) là gì nếu không phải là một kết luận?
Theo tôi mọi so sánh đều có mục đích dẫn tới một kết luận. Trong phần 5 ở dưới, ta sẽ thấy rõ rệt hơn.
Anh Mai Thái Lĩnh viết tiếp: «Điều cần nhấn mạnh là: cho dù hai tòa nhà đó không phải là một, lập luận tôi nêu trên đây vẫn có thể đứng vững.»
Lập luận «tòa nhà kiểu Pháp là của Pháp, xây trên đất Việt… sau này phía TQ dời cửa quan đến một vị trí khác nên tòa nhà kiểu Pháp lọt vào lãnh thổ Trung Quốc» không hề đứng vững. Đâu phải nhà kiểu Pháp thì nhà đó của Pháp? Tôi đã viết trong bài góp ý trước, không tiện nhắc lại.
Nhưng điều quan trọng là anh Mai Thái Lĩnh nhìn nhận hai tòa nhà không phải là một. Điều này làm cho lập luận của anh bị sụp đổ, vì nó là bằng chứng nền tảng.
Tôi đã viết mở đầu như thế này trong bài góp ý: «Bài viết mang tựa đề «Ải Nam Quan trong hiện tại» của anh Mai Thái Lĩnh vừa đăng trên talawas thật là công phu, kèm nhiều hình ảnh, sự kiện lịch sử rất mới. Theo thiển ý thì các dữ kiện lịch sử sẽ quan trọng, vì chưa có sách vở nào ghi lại, nếu chúng được xác minh thật sự là những « dữ kiện lịch sử». Với tinh thần ham học, cầu tiến, tôi ghi lại ở đây vài ý kiến chủ quan đặt lại vấn đề về các chi tiết lịch sử này, đồng thời đóng góp thêm một vài chi tiết về biên giới Việt-Trung, hy vọng được anh Mai Thái Lĩnh và độc giả đón nhận như là một cái nhìn từ góc cạnh khác.»
Dữ kiện «rất giống nhau» của hai «tòa nhà» là một trong các «chi tiết lịch sử» mà tôi muốn đặt lại vấn đề. Anh Mai Thái Lĩnh đã nhìn nhận «hai tòa nhà đó không phải là một», vấn đề đối với tôi như vậy đã sáng tỏ.
3. Về địa điểm của tòa nhà trong tấm ảnh (quân Pháp đầu hành quân Nhật)
Theo tôi thì tấm hình chụp tại Lạng Sơn vì hai lý do:

– Nhìn kỹ tấm hình, đàng xa, phía sau tòa nhà là một con sông. Lạng Sơn ở kế cận một con sông, bên bở tả ngạn, đó là sông Kỳ Cùng (đối diện với Kỳ Lừa ở bờ hữu ngạn).
– Lịch sử chiến tranh Pháp-Nhật tại Việt Nam chỉ có hai lần. Lần thứ nhứt vào tháng 9 năm 1940, Pháp đầu hàng (chỉ ở) tại Lạng Sơn (và không còn nơi nào khác). Lần thứ nhì vào tháng 3 năm 1945, tại Lạng Sơn quân Pháp chết hơn 1.000 người, không có đầu hàng.
Anh Mai Thái Lĩnh cho rằng «tòa nhà đó vẫn có thể hiện diện ngay tại Đồng Đăng».
Theo tôi thì không. Tại Đồng Đăng không có con sông nào và không hề có việc quân Pháp đầu hàng quân Nhật tại đây.
4. Về cái gọi là «Liên quân Pháp-Việt (Trường Sĩ quan Đồng Đăng)»
Anh Mai Thái Lĩnh viết về việc này như sau: «Về việc có hay không có “trường sĩ quan Đồng Đăng”, tôi xin dành câu trả lời cho tác giả Chân Mây hoặc những người am hiểu về tình hình quân sự dưới thời Pháp thuộc.»
Thì ra anh cũng không biết là «Trường Sĩ quan Đồng Đăng» có hay không. Như đã ghi lại, lý do tôi viết bài góp ý nhằm đặt lại vấn đề về các chi tiết lịch sử dẫn trong bài của anh, sự hiện hữu của «Trường Sĩ quan Đồng Đăng» là một chi tiết. Tôi viết trong bài góp ý như sau: «Để dữ kiện này thành một dữ kiện có giá trị lịch sử cũng như kết luận trong bài có giá trị thì anh Mai Thái Lĩnh cần phải đưa các dữ kiện xác minh việc này.»
Anh đã không đưa được dữ kiện xác minh việc này. Anh lên tiếng kêu cứu tác giả Chân Mây và «những người am hiểu». Theo tôi, việc kiểm chứng tính khả tín của các dữ kiện là bổn phận của tác giả viết bài biên khảo chứ không phải công việc của người nào khác.
5. Về «Liên quân Pháp-Việt (Trường Sĩ quan Đồng Đăng) – Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật»
Anh Mai Thái Lĩnh viết: “Bây giờ chúng ta tiếp tục xem xét hai tấm ảnh do Chân Mây sưu tầm. Tác giả chú thích ảnh 30 như sau: “Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng). Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940)”. Tòa nhà này rõ ràng là của quân đội Pháp. Ảnh chụp cho thấy tù binh người Pháp người nằm kẻ ngồi trong tư thế bại trận. Những người lính đứng gác là người Nhật. Điều rất dễ nhận ra là hình dáng của tòa nhà này rất giống với Tòa nhà Pháp Quốc nằm ở phía sau Hữu Nghị Quan ngày nay.”
Ở đây anh «tiếp tục xét», tức xét đi xét lại nhiều lần, hai tòa nhà trong hai tấm hình (đã nói ở phần 2) và đưa ra kết luận: «Điều rất dễ nhận ra là hình dáng của tòa nhà này rất giống với Tòa nhà Pháp Quốc nằm ở phía sau Hữu Nghị Quan ngày nay».
Từ đó anh đưa kết luận «liên quan Pháp Việt bảo vệ ải Nam Quan».
Đáng tiếc là bằng chứng của anh đưa ra (hai tòa nhà giống nhau) thì đã không sử dụng được. Nhưng anh vẫn cố vớt vát: «nếu bỏ cụm từ “trường Sĩ quan Đồng Đăng” thì câu chú thích sau đây: “Liên quân Pháp-Việt – Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật” vẫn hoàn toàn có ý nghĩa. »
Tôi thấy không có ý nghĩa gì cả.
Quân Pháp-Việt không hề «bảo vệ ải Nam Quan», vì Nam Quan là của người Hoa, xây trên đất Trung Hoa. Tôi có đầy đủ bằng chứng (xem phần 6) chứng minh quân Pháp không hề đồn trú tại Nam Quan. Quân Pháp từ cảnh sát biên giới, quân đội, quan thuế cho đến đội bảo vệ đường xe lửa… tất cả đều đóng tại Đồng Đăng, cách cổng Nam Quan khoảng 2,5km.
6. Tôi có viết như sau: «Đồng Đăng là một huyện nhỏ, nếu không nói là một làng nhỏ gần biên giới, cách Nam Quan 2km5. Dưới thời Pháp thuộc, Đồng Đăng có một đồn binh gồm vài chục lính biên phòng. Đây là một vùng còn rất nghèo của Việt Nam, huê lợi chính ngày xưa là cây hồi (đinh hương). Dân số phần lớn là người dân tộc gốc Tày, Nùng. (…) Người ta không thể dựng một trường đào tạo sĩ quan, những người chỉ huy tương lai, ở một vùng biên giới cực bắc, đèo heo hút gió, việc tiếp liệu khó khăn, thường xuyên bị thổ phỉ quấy nhiễu.»
Anh Mai Thái Lĩnh phê bình tôi như sau:
«Đây là một suy luận hoàn toàn mang tính chủ quan. Mặc dù Đồng Đăng chỉ là một làng nhỏ, nhưng ở đó không phải chỉ có “vài chục lính biên phòng”. Làng Đồng Đăng thì nhỏ, nhưng ở đó người Pháp vẫn bố trí một (hay nhiều) trại lính (casernes) rất lớn. Chỉ cần nhìn vào tấm bưu ảnh số 791 của P. Dieulefils (ảnh 10) là có thể thấy điều đó. Cần chú ý là trên bưu thiếp ghi casernes (những trại lính) chứ không phải caserne (một trại lính)».
Tôi nghĩ rằng, trước khi phê bình như thế thì anh cũng cần tìm hiểu các «casernes» trong các tấm hình đó dựng lên từ bao giờ và nhằm vào các mục đích gì? Nếu chỉ dựa vào các trại lính trong tấm hình rồi hình dung ra quân số của trại lính thì tôi nghĩ anh kết luận hơi sớm. Tấm hình không ghi ngày chụp hình, như thế cũng thiếu một dữ kiện quan trọng.
Đoạn tôi viết ở trên tôi đã tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Về mô tả kinh tế nhân văn Đồng Đăng, dẫn từ nguồn: De Ha Noi à la frontière du Kouang-Si, tháng 9 năm 1881, phụ chú thêm tháng 5 năm 1884, của ông Aumoitte, hồ sơ CAOM, mã số Br 1156C.
Từ hồ sơ này tôi lấy được tấm hình vẽ cổng Nam Quan thời còn là bằng gỗ, lúc chưa bị giật sập, đã đăng ở đây:

Về tổ chức quân sự tại Bắc Kỳ vào thời kỳ đầu Pháp thuộc, có nhiều tài liệu viết về việc này, ở đây tôi sử dụng cuốn Au Tonkin et sur la frontière du Qwang Si của Commandant Famin, in năm 1894. Theo mô tả, xứ Bắc Kỳ được chia làm 5 đạo quân binh (territoire militaire), theo nghị định ngày 20-8-1891, theo hình dưới đây:

Vùng Cao Bằng, Lạng Sơn và một phần Tuyên Quang, Thái Nguyên thuộc đạo quân binh thứ hai (2e territoire militaire).
(Đến tháng 8 năm 1896 thì Lạng Sơn thuộc đạo quân binh thứ nhứt gồm Lạng Sơn, Móng Cái và Yên Thế. Đến tháng 6 năm 1905 thì việc bình định đã xong, chế độ đạo quân binh bãi bỏ, Lạng Sơn thuộc quyền hành chánh của dân sự. Nhưng đến tháng 7 năm 1940 thì chế độ đạo quân binh được tái lập tại Lạng Sơn, do tình hình chiến sự. Chế độ đạo quân binh tương tự chế độ quân quản sau 1975 ở miền Nam Việt Nam).
Việc xây dựng các trại lính «casernes»: trang 79, các trại quân to lớn được xây cất ở Đồng Đăng (sau đó là Na Cham) nhằm mục đích «răn đe» quân cướp (kể cả triều đình nhà Thanh), cho những người này biết rằng quân Pháp đã kiểm soát và đóng quân đông đảo tại các nơi đây, nhưng cũng nhằm vào việc trấn an dân chúng trong vùng. Không thấy ghi xây dựng các trại lính chính xác năm nào nhưng có lẽ vào thời đại tá Galliéni chỉ huy đạo đệ nhị quân binh, tức khoảng 1893-1894. Như thế việc xây dựng các trại binh to lớn cũng nhằm mục đích «nghi binh», hay để «thị oai» kẻ địch.

Bản đồ đánh dấu các đồn binh trên vùng biên giới (organisation défensive).
Về quân số: Các đồn binh nhỏ được xây dựng ngay trên đường biên giới, thường đối diện với đồn binh của Thanh Triều, được ghi bằng dấu chấm đen trên bản đồ, gồm có từ 20 đến 25 lính cơ, mộ từ dân chúng trong vùng, thường là người Nùng hay Thổ (trang 97). Quân Pháp thì chỉ đóng tại các đồn Đồng Đăng, Thanh Moi, Na Cham, Thất Khê, Quảng Yên, Mo Xat, Na Thông, Bac Lan… được ghi bằng chấm đỏ trên bản đồ, quân số từ một «poloton» đến một «compagnie», tức từ một chi đội đến một đại đội (trang 97). Một «poloton» là chi đội, có thể là một tiểu đội hay một trung đội.
Một cách tổng quát, quân số các đồn biên giới chỉ là «vài chục người» đến hơn một trăm người trong thời gian dưới chế độ đạo quân binh, tức thời chiến. Từ năm 1905 trở đi (cho đến 1940), chế độ đạo quân binh hủy bỏ, con số quân đồn trú tại các đồn biên giới càng thấp hơn nữa. Quân đội được thay thế bằng cảnh sát.
Về quân số quân đội đóng tại Đồng Đăng trong khoảng thời gian Thê chiến II : Trong một số tài liệu ở các trang web cựu chiến binh Pháp, lúc đụng độ với Nhật lần thứ nhứt (tháng 9-1940) quân số ở đây là khoảng 80 người. Lúc đụng độ lần thứ hai (tháng 3-1945) quân số gồm 150 người. Trong khi đó quân đội Pháp-Việt tại Lạng Sơn có khoảng 2.000 người. Do Thế chiến II, tình hình chiến sự nóng bỏng do Nhật đã tiến chiếm Hoa Nam và đang lăm le xứ Bắc Kỳ, các tỉnh biên giới chuyển sang chế độ «đạo quân binh – territoire militaire», do đó quân số đóng các đồn biên giới tăng nhiều hơn bình thường. Nhưng dầu vậy ở Đồng Đăng con số này cũng chỉ từ vài chục đến hơn một trăm người.
Như vậy khi tôi viết ở Đồng Đăng có «vài chục người lính» thì không hề đi xa sự thật, kể cả lúc tình hình chiến sự nóng bỏng nhất.
Riêng hai nơi Cao Bằng và Lạng Sơn (trang 98) thì có quân số được mô tả là «đủ để» đối phó các «biến cố». «Đủ» là bao nhiêu? Dĩ nhiên là tùy vào tình hình chiến sự. Lúc chiến tranh với Trung Hoa lần thứ nhứt, đạo quân của tướng Négrier phụ trách vùng Lạng Sơn là một lữ đoàn (brigade). Phụ trách vùng Tuyên Quang là đạo quân thứ hai, quân số một lữ đoàn, do tướng Brière de L’Isle chỉ huy.
Cũng theo Cdt Famin, khi xây dựng đường sắt thì có bổ sung thêm một lữ đoàn lưu động bảo vệ đường sắt, nhưng sau khi xây xong và việc bình định kết thúc thì đạo quân bảo vệ này cũng giải tán.(Việc xây dựng đường sắt chia làm 3 thời kỳ : Hà Nội-Lạng Sơn, Hải Phòng-Lạng Sơn và Hải Phòng-Côn Minh (Vân Nam). Đường xe lửa xây dựng thời kỳ này là Hà Nội-Lạng Sơn. Đường xe lửa Hải Phòng Vân Nam làm từ 1903 đến năm 1910, cần đến 64.000 công nhân, do đó cũng cần đến một đạo quân lưu động lớn để bảo vệ.
Về trạm quan thuế: (Trang 89) năm 1893, 3 trạm quan thuế được dựng lên Na Thông trên sông Bằng Giang (bên Trung Hoa là Thủy Khẩu), Pac Lam trên sông Kỳ Cùng (tức Bình Nhi) và Đồng Đăng. Không thấy trạm quan thuế tên Nam Quan.
Về cảnh sát biên giới: Theo điều 10 của điều luật « Cảnh Sát Biên Giới », các đồn biên giới được thành lập trên các cửa ải (khẩu) sau đây : Theo điều 10 của điều luật « Cảnh Sát Biên Giới », các đồn biên giới được thành lập trên các cửa ải (khẩu) sau đây : (Pháp-Trung Hoa) Móng Cái – Tong hing (Ðông Hưng), Than Puon – Na Luong, Hoành Mô – Lang Dong, Ban Co – Cao Tac, Chí Mã – Ải Điếm, Ðồng Ðăng – Nam Quan, Bình Nhi – Bình Nhi Quan, Tà Lung – Thủy Khẩu, Hà Lang – Ðông Quang, Trà Lĩnh – Binh Mang, Bảo Lạc – Pak Nam, Chang Poung – Tien Fong, Ðồng Văn – Tung Can, Pho Bong – Siao Tchas, Quan Ba – Pan Tze Hoa, Thanh Thủy – Bắc Bảo, Lao Tchay – Mường Tung, Xin Man – Mao Ping, Pha Long – Tong Song Ping, Lào Kay – Ho Kéou, Bát Xát – Pa Sat, Ba Nậm Cúm – Na Fa.
Cũng không có đồn cảnh sát biên giới Pháp tại Nam Quan.
Như thế, theo các dữ kiện trên đây, không hề có quân Pháp đóng tại Nam Quan, từ cảnh sát biên giới cho đến quan thuế hay quân đội. Không có quân đội Pháp-Việt đóng tại Nam Quan thì «liên quân Pháp-Việt» nào bảo vệ Nam Quan?
Tất cả nhân viên quan thuế, cảnh sát biên giới hay quân đội đều đóng tại Đồng Đăng.
Anh Mai Thái Lĩnh cho rằng lý lẽ của tôi là một suy luận hoàn toàn mang tính chủ quan. Thực tế những dữ kiện dẫn ra cho thấy những gì tôi viết đều dựa trên những tài liệu lịch sử có thật và kiểm chứng được.
7. Trong bài viết của tôi có ghi sai một chi tiết về ông Cam Nhữ Lai. Tôi ghi đúng năm, đúng triều vua, nhưng thay vì nhà Thanh tôi lại ghi nhà Minh, cám ơn anh Mai Thái Lĩnh đã nhắc việc này. Đúng là một sai lầm «ấu trĩ»!
Tôi rất đồng ý với anh Mai Thái Lĩnh về nhận định: «Nói chung, phần lớn các tài liệu về lịch sử của Trung Quốc hiện nay đều lẫn lộn thực hư, nhất là khi chúng được dùng để phục vụ cho mục tiêu chính trị, vì thế chúng ta phải cảnh giác, không thể tin hoàn toàn. Điều tôi muốn nhấn mạnh là: không những ghi nhiều điều bịa đặt trong các tấm bia bằng gỗ, đá, xi-măng ở Hữu Nghị Quan, phía Trung Quốc còn đưa lên mạng để tuyên truyền cho người Việt chúng ta». Đây mới chính là điều tôi muốn nói (mà tôi đã nhất mạnh trong phần kết luận của bài góp ý trước). Công việc của chúng ta là phải chứng minh rằng các tài liệu về lịch sử của Trung Quốc thì sai, bằng những bằng chứng khoa học, chứ không phải là thái độ đả phá bằng những «giả thuyết», hay những suy luận chủ quan, thiếu thực tế.
8. Về sự khả tín của các nguồn internet
Tôi thấy anh Mai Thái Lĩnh thường dẫn những nguồn tin internet. Mặc dầu anh đã cảnh giác «phía Trung Quốc còn đưa lên mạng để tuyên truyền cho người Việt chúng ta». Nhưng anh vẫn sử dụng và biện hộ cho sự khả tín của nó.
Trang nhà www.vn.sinoviet.com hay các trang khác mà anh Mai Thái Lĩnh đã dẫn, theo tôi thì ai cũng có thể lập ra một trang nhà có “chấm com” phía sau với cái tên miền giật gân như thế. Đâu phải lấy cái tên miền «sinoviet» như vậy rồi nó có được cái uy tín của hai nước Việt-Trung? Anh còn dẫn tên miền «ChinAsean». Tất cả đều không có ý nghĩa gì cả. Người ta có thể lấy nhiều tên miền hấp dẫn hơn. Quan trọng là cái nội dung của nó. Tôi đã vào trang nhà này và không thấy gì là đặc sắc.
Đối với tôi, những trang nhà có thể tin tưởng, hay có giá trị “tham khảo”, là các trang mạng có “gov” ở phía sau hay các trang mạng đã có một quá trình hoạt động mà mọi người đều công nhận tính hàn lâm của nó.
Tôi cũng thấy anh Mai Thái Lĩnh trích dẫn một cách rất dễ dãi các dữ kiện chưa được kiểm chứng từ các bài viết khác. Bằng chứng là bài viết «Ải Nam Quan trong hiện tại».
Nhưng đây là quyết định của cá nhân. Anh Mai Thái Lĩnh có toàn quyền trích dẫn bất kỳ dữ kiện nào từ một nguồn bất kỳ nào.
8. Kết luận : vai trò trí thức nhằm hướng dẫn dư luận hay để dư luận hướng dẫn?
Động lực thúc đẩy tôi lên tiếng góp ý với anh Mai Thái Lĩnh trong bài vừa qua là vì trong bài của anh đã có một số kết luận về các vấn đề thuộc về lãnh thổ, một chủ đề trọng đại và tế nhị quan hệ đến cả hai dân tộc Việt-Trung. Trong khi đó các dữ kiện chứng minh của anh đưa ra đều sai, nếu không là không thể kiểm chứng được. Sau khi có góp ý của tôi đăng lên talawas, bài viết này anh Mai Thái Lĩnh có «điều chỉnh» lại, nhìn nhận bài viết «Ải Nam Quan trong hiện tại» của anh «chưa thể trở thành một công trình nghiên cứu khoa học mà chỉ có thể được coi như một bài viết thuộc thể loại báo chí». Anh đã nhận ra như thế thì tôi không còn gì để nói thêm và sẽ ngưng lại ở đây, từ nay sẽ không góp ý về bài viết này nữa.
Lời cuối tôi muốn đề cập là, với vai trò người cầm bút, ta có nhiệm vụ hướng dẫn dư luận hay để dư luận hướng dẫn ngòi bút của mình? Bài viết «Ải Nam Quan trong hiện tại» điển hình là một bài viết bị dư luận hướng dẫn. Các chi tiết «rất giống nhau» của hai «tòa nhà», cái sự việc gọi là «liên minh Pháp Việt bảo vệ Nam Quan», cái gọi là «Trường Sĩ quan Đồng Đăng»… được anh Mai Thái Lĩnh trích dẫn từ những nguồn không kiểm chứng được. Cho dầu các tin tức này rất «giật gân», ăn khách, nhưng đều chỉ là tin đồn, hoàn toàn không đúng sự thật. Một người thận trọng, khi sử dụng những nguồn tin của «dư luận» như thế đều phải kiểm chứng lại.
Người trí thức có thể có một thái độ riêng, tức cái «bản sắc» của mình, trong việc hướng dẫn «dư luận». Nhưng khi người trí thức bị chi phối bởi các «tin đồn», sử dụng các tin này mà một cách máy móc không kiểm chứng, thì người trí thức đã bị dư luận hướng dẫn. Bằng không, người trí thức đã bỏ áo trí thức để dấn thân vào chính trị. Theo tôi, người trí thức không thể cùng lúc phục vụ cho một mục tiêu chính trị và bảo vệ chân lý.
15-4-2010
© 2010 Trương Nhân Tuấn
© 2010 talawas
Bình luận
70 Comments (bài “Trương Nhân Tuấn – Trao đổi thêm với anh Mai Thái Lĩnh về Ải Nam Quan”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 Trang sau »
Bác Tuấn,
Education militaire dịch là giáo dục quân sự hay giáo dục quan sự ?
Uniforme militaire là quân phục hay quan phục ?
Servive militaire là quân dịch hay quan dịch ?
Những câu hỏi của bác hơi vớ vẩn.
Âm “quan” trong từ “đạo quan binh” đâu phải là cho từ “militaire” đâu mà bác hỏi những câu hỏi vớ vẩn “quân X hay quan X” trên.
Tại sao người ta dùng từ “quan binh” thì bác Phùng Tường Vân đã nói rồi.
Cơ bản hơn, ngôn ngữ có tiêu chuẩn riêng của nó cho đúng sai, tiêu chuẩn đó không nhất thiết logical.
Nếu trong khoảng thời gian x người ta dùng từ “đạo quan binh” thay vì từ “đạo quân binh” thì trong khoảng thời gian x từ “đạo quan binh” là chuẩn, từ “đạo quân binh” là sai. Nếu trong khoảng thời gian y người ta dùng từ “đạo quân binh” thay vì từ “đạo quan binh” thì trong khoảng thời gian y từ “đạo quân binh” là chuẩn, từ “đạo quan binh” là sai.
Còn nếu bác muốn biết “khám phá” là gì, “nghiên cứu” là gì, “công trình khoa học” là gì, “học thuật” là gì trên thực tế thì tôi đề nghị bác viết bài gửi cho các tạp chí học thuật, hay đi làm một bằng tiến sĩ gì đó, trong 1 lãnh vực nào đó, thay vì không biết và tối ngày đem những từ đó ra hù thiên hạ.
Tiếng Việt có tục ngữ, “Chưa đỗ ông nghè mà đã đe hàng tổng”, nhưng như vậy cũng còn đỡ vì ít nhất cái anh chàng “đe hàng tổng” đó còn có đi học để làm ông nghè.
Xin hỏi bạn Dương Danh Huy:
Education militaire dịch là giáo dục quân sự hay giáo dục quan sự ?
Uniforme militaire là quân phục hay quan phục ?
Servive militaire là quân dịch hay quan dịch ?
V.v…
Territoire militaire : nhiều tự điển dịch là quân khu, sao không thấy ai dịch là quan khu ?
Bạn nói tôi dịch « đạo quân binh » là sai, đạo quan binh mới đúng. Vậy bạn có thể cắt nghĩa tại sao « đạo quân binh » thì sai và tại sao « đạo quan binh » thì đúng ?
« Đạo » (danh từ) chỉ nơi chốn, tương đương với « khu » (vực). « Quân binh » hay « quân » (tĩnh tự), bổ túc nghĩa cho danh tự « đạo » (hay « khu ») . Đạo quân binh (hay quân khu) là một vùng đất thuộc thẩm quyền của quân đội.
Thử thay thế « quân binh » bằng « quan binh », thì có ý nghĩa gì ?
Theo tôi, không phải nhiều người viết như thế thì cách viết đó là đúng.
Tiếng Việt có rất nhiều sai phạm do thói quen. Một số thí dụ về cách viết sai, do xài lâu ngày thành thói quen : cửa ngọ môn (cửa = môn) , đường cái quan (đường = quan) v.v…
Riêng về chủ trương « nghiên cứu », bạn có quyền chọn cách nào bạn thích, như internet chẳng hạn. Nhưng tôi cho rằng không bao giờ bạn « khám phá » được cái mới. Như tôi có viết trong bài chủ, internet có lợi nhưng chỉ trong việc « tham khảo ». Vấn đề kiểm chứng nguồn tham khảo là một chuyện không thể thiếu nếu muốn công trình tham khảo của mình là một công trình « khoa học ».
Tôi cũng thấy một số bạn « sốt ruột » vì không thấy tôi lên tiếng. Các bạn thông cảm, mỗi ngày tôi chỉ có vài giờ rảnh vì còn phải đi làm. Và tôi cũng tự cho quyền mình không trả lời những câu hỏi vớ vẩn không quan hệ đến bài viết.
“…1. “Đạo quan binh” là thuật ngữ chuẩn.
2. “Quân khu” thì cũng được như một cách dịch phổ thông. Có lẽ không chính xác bằng “Đạo quan binh” cho văn cảnh cụ thể này, nhưng nhiều người quen thuộc với từ này hơn.
3. “Đạo quân binh” là sai.” (Dương Danh Huy)
Chuyện này nhũng nhẵng đã hơi lâu
Kéo dài tí nữa cũng không sao! (Nhại thơ XD)
Ở đây tôi thấy tôi tôi hoàn toàn đồng ý với ông Dương Danh Huy. Bởi vì:
1/ Phải “cho” đơn vị cai trị ấy một tù ngữ thích hợp với vai trò của nó trong bối cảnh lịch sử ấy. Nó là một đơn vị mà quan chế được tổ chức để cho giới quân sự, giới binh bị nắm cả quyền hành chánh, quyền tư pháp; dịch là quân khu tuy không sai, nhưng từ này giới hạn giới “nhà binh” trong phạm vi thuần túy quân sự, thí dụ Đệ Tam Quân Khu có Bộ Tư Lệnh ở Đường Trần Hưng Đạo, Hà nội (trước 1954, vị Tư Lệnh sau cùng là ông Nguyễn Văn Vận, Trung Tướng), việc Hành Chánh ở Bắc Việt lúc ấy là thuộc thẩm quyần Phủ Thủ Hiến Bắc Việt.
2/ Dịch là “Đạo Quân Binh” thì mắc cái lỗi, như ông Nguyễn Hiến Lê thường hay nhắc, có khác nào nói:
Nửa đêm, giờ Tý, canh ba
Vợ tôi, con gái, đàn bà, nữ nhi!
cho nên tôi cũng xin đi đến kết luận của ông Huy ở trên: nếu cần tạo một từ Hán Việt mới để gọi một thực tại mới như ở văn cảnh này thì từ quan binh là chuẩn đấy, dịch là “quân khu” tuy không sai lại có phần thông dụng nhưng không cho ta cái nuance cần thiết.
anh Hưng Quốc thân mến,
Cám ơn câu chuyện vui về “cái cưa XHCN” mà anh đã kể cho nghe. Và trong khi chờ câu trả lời “chính thức” từ tác giả Trương Nhân Tuấn đến với anh và những người quan tâm(tôi nói thế là bởi vì từ lúc anh hỏi, 17/05/2010 lúc 1:53 sáng, đến bây giờ vẫn chưa thấy “động tĩnh” gì cả từ phía tác giả bài viết này), tôi xin kể vài câu truyện cười về “cái cưa”, “gian dối”, “hơn thua”,”sáng như ban ngày”,… với mong muốn, gọi là “giết thì giờ” và “giữ hòa khí” trên talawas này như sau (và cũng xin nói trước là tôi không có ý “ám chỉ” điều gì đâu đấy!):
1.Bác sĩ tâm thần đến thăm các bệnh nhân của mình. Ông vào một phòng, thấy một bệnh nhân đang hua chân múa tay nhảy lên nhảy xuống, một bệnh nhân khác thì treo ngược chân lên trần nhà, đầu quay xuống đất. Bác sĩ hỏi người đang nhảy: „Ông làm cái trò gì thế?”.
– Bác sĩ không thấy là tôi đang thử cưa đôi một tấm ván à? – Người bệnh trả lời.
– Thế còn người kia? – Bác sĩ hỏi tiếp.
– À, ông ấy tưởng tượng mình là chùm đèn treo trên trần nhà – người bệnh vẫn nhảy, trả lời.
– Thôi, thôi, ông bảo bạn ông chấm dứt ngay đi! Máu tụ tím hết đầu ông ta rồi kìa! – Bác sĩ nhắc người bệnh.
– Bác sĩ muốn gì đấy? Tôi phải cưa trong bóng tối á?
2.Hai bác sĩ giải phẫu người Nga và người Hung nói chuyện với nhau trong giờ giải lao của hội nghị:
– Chỗ tôi, ngành phẫu thuật đã đạt đến trình độ khá cao, khi mẹ tôi bị mù, chúng tôi đã cấy đôi mắt của một con cá vào cho bà, và từ đó mẹ tôi nhìn rõ mọi thứ! – bác sĩ Nga tự hào.
– Mắt của một con cá? Và nhìn được?
– Vâng, dĩ nhiên!
– Ở chỗ tôi thì có một trường hợp như thế này: một ông thợ mộc bị cái cưa máy cưa đứt năm ngón tay. Gần đấy có một con bò sữa, chúng tôi đã cắt bầu vú của con bò và khâu thành công vào bàn tay của ông thợ mộc. Từ đó, ông ta không chỉ sử dụng hoàn hảo bàn tay của mình, mà bàn tay ấy còn cho ra 7-8 lít sữa nữa trong một ngày, nếu ông ấy ăn đủ lượng cỏ!
– Aha, nếu ăn đủ lượng cỏ! Thế có ai nhìn thấy không?
– Có, bà mẹ của ông với đôi mắt cá chứ ai!!!!
“Thật ra Internet là một phương tiện rất quý cho việc nghiên cứu trong môi trường nghiên cứu của đại học, của viện nghiên cứu, của doanh nghiệp. Ăn thua là khả năng của người dùng phương tiện đó, cũng như khả năng của người dùng phương tiện sách.” (trích lời của bác Dương Danh Huy)
Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định này của bác Dương Danh Huy. Bất kỳ ai nghiên cứu về bất cứ lãnh vực nào hiện nay đều nhận thấy Internet là một phương tiện cực kỳ quý báu để hỗ trợ cho trí nhớ cũng như cho việc tìm kiếm thông tin. Chối bỏ việc sử dụng Internet trong việc nghiên cứu, theo tôi, là tự mình chặt tay, bịt mắt mình. Vấn đề, như bác Huy đã phát biểu rất đúng, là khả năng sử dụng và đánh giá thông tin của người nghiên cứu, chứ không phải hể thông tin lấy từ sách báo là chính xác, còn thông tin lấy từ Internet la không khả tín.
Một thí du, cụ thể (và có lẽ khá hùng hồn) về lợi ích của Internet là thông tin về việc sử dụng hai cụm từ ĐẠO QUAN BINH và ĐẠO QUÂN BINH do bác Dương Danh Huy nêu ra trên đây. Đọc thông tin nói trên, tôi nghĩ hầu hết mọi người đều nhận thấy ĐẠO QUAN BINH là cụm từ chính xác nhất để dịch TERRITOIRE MILITAIRE trong bối cảnh của việc phân chia khu vực tại Bắc Kỳ thời thuộc Pháp trong giai đoạn những năm cuối thế kỷ 19. Xin thành thật cám ơn bác Huy rất nhiều.
Nhân tiện cũng xin mạo muội góp ý rằng tư duy kiểu “dùng sách là nghiên cứu xịn, dùng internet là nghiên cứu rởm”, chính nó là tư duy rởm, tư duy của những người chưa bao giờ từng nghiên cứu trong môi trường nghiên cứu của đại học, của viện nghiên cứu, của doanh nghiệp.
Xin lỗi câu trên của tôi có thể gây hiểu lầm. Ý của tôi không phải là phê phán việc “chưa bao giờ từng nghiên cứu trong môi trường nghiên cứu của đại học, của viện nghiên cứu, của doanh nghiệp” mà là phê phán tư duy rởm kiểu “dùng sách là nghiên cứu xịn, dùng internet là nghiên cứu rởm”.
Chào các bác,
Tôi gúc thử “đạo quan binh” thì thấy trang thứ nhì của anh Gúc có cái này:
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=144FaWQ9MzYzNDkmZ3JvdXBpZD05JmtpbmQ9JmtleXdvcmQ9&page=5
ĐẠO QUAN BINH:
đơn vị cai trị hành chính đặc biệt do giới quân sự tiến hành nhằm bảo vệ sự thống trị của Pháp tại các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam trong thời cận đại. Thành lập theo nghị định của toàn quyền Đông Dương 6.8.1891. Có 4 ĐQB: 1) Phả Lại; 2) Lạng Sơn; 3) Yên Bái; 4) Sơn La. Đến 21.1.1915, lại điều chỉnh, địa giới cai quản và chỉ huy sở đến: 1) Hải Ninh (Móng Cái); 2) Cao Bằng; 3) Hà Giang; 4) Lai Châu. Tháng 3.1916, lập thêm ĐQB 5 gồm một phần đất của ĐQB 4 và vùng Thượng Lào. Đứng đầu ĐQB là một tư lệnh. Trước 1908, về quân sự, viên tư lệnh là người chỉ huy độc lập mọi cuộc hành quân của ĐQB dưới sự chỉ đạo của tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương; về dân sự, ngang với thống sứ Bắc Kỳ dưới sự chỉ đạo của toàn quyền Đông Dương. Từ sau Nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 16.4.1908, ĐQB được coi tương đương cấp tỉnh, có quyền hành chính, tư pháp ngang với công sứ các tỉnh dân sự và đặt dưới sự chỉ đạo của thống sứ Bắc Kỳ; về quân sự, chịu sự chỉ đạo của tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Kỳ. ĐQB cũng chia thành các đơn vị hành chính như các tỉnh dân sự. Tồn tại cho đến khi Nhật Bản đảo chính lật đổ Pháp (9.3.1945).
Và cái này:
http://portal.laocai.gov.vn:2009/home/vn/news/pages/channel.aspx?cid=4&g=2;3;667;
Sau khi đánh chiếm Lào Cai (3 -1886) và khi hoàn thành công cuộc bình định quân sự, thực dân Pháp cai quản địa hạt Lào Cai theo chế độ quân sự. Ngày 7/01/1899, đạo quan binh IV được thành lập bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai. Lào Cai là đạo lỵ, thủ phủ của đạo quan binh IV.
Còn trang thứ nhất có cái này:
http://thainguyen.gov.vn/wps/portal/soxd/PrintNews?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/Web+Content/Sites/Home/GT.TC.TN.BD
Dưới thời Pháp thuộc, từ năm 1890, để dễ cai trị và đán áp cuộc nổi dậy của nhân dân ta, chúc chia tách huyện Bình Xuyên khỏi Thái Nguyên để lập tỉnh Vĩnh Phúc và thực thi chế độ quân quản, chia nhỏ địa bàn Thái Nguyên nhập vào các Tiểu Quân khu thuộc các đạo quan binh:
– Phủ Tòng Hóa, phủ Phú Bình nhập với một số địa hạt khác thuộc Lục Nam, Bắc Ninh lập thành tiểu Quân khu Thái Nguyên (một trong ba Tiểu Quân khu thuộc Đạo Quan binh I Phả Lại thành lập ngày 9/9/1891).
– Phủ Thông Hóa nhập với Lạnh Sơn, Cao Bằng và một phần Tuyên Quang lập thành Đạo Quan binh II Lạng Sơn).
– Như vậy, từ tháng 10/1890 đến tháng 9/1892, tỉnh Thái Nguyên bị xóa bỏ, phân tán vào các địa bàn khác nhau đặt dưới quyền quản lý của giới cầm quyền quân sự Pháp.
Gúc “đạo quân binh thì” thấy tranh web của Yên Bái dùng cả 2 từ:
http://www.yenbai.gov.vn/vi/Pages/yenbaiquacacthoiky.aspx
Thời thuộc Pháp, vào đời Thành Thái (1886) thực dân Pháp trích đất Hưng Hóa đặt tỉnh Lào Cai làm đạo quan binh thứ tư của miền thượng du Bắc Kỳ. Tỉnh lỵ đặt ở Lào Cai (Lão Nhai) gồm có 4 hạt: Lao Cai, Bảo Hà, Nghĩa Lộ, Yên Bái và hai châu: Chiêu Tấn và Thủy Vĩ. Hạt Bảo Hà có 1 châu là Văn Bàn. Hạt Nghĩa Lộ có 2 châu: Văn Chấn và Tú Lệ. Hạt Yên Bái có 1 huyện: Trấn Yên.
Cho đến năm 1891, thấy công cuộc bình định kém hiệu quả, thực dân Pháp quyết định nâng cao hơn nữa quyền lực của các khu vực quân sự nên đã lập ra các đạo quân binh ở Bắc Kỳ thay thế cho các quân khu cũ.
Như vậy dường như
1. “Đạo quan binh” là thuật ngữ chuẩn.
2. “Quân khu” thì cũng được như một cách dịch phổ thông. Có lẽ không chính xác bằng “Đạo quan binh” cho văn cảnh cụ thể này, nhưng nhiều người quen thuộc với từ này hơn.
3. “Đạo quân binh” là sai.
Nhân tiện cũng xin mạo muội góp ý rằng tư duy kiểu “dùng sách là nghiên cứu xịn, dùng internet là nghiên cứu rởm”, chính nó là tư duy rởm, tư duy của những người chưa bao giờ từng nghiên cứu trong môi trường nghiên cứu của đại học, của viện nghiên cứu, của doanh nghiệp.
Thật ra Internet là một phương tiện rất quý cho việc nghiên cứu trong môi trường nghiên cứu của đại học, của viện nghiên cứu, của doanh nghiệp. Ăn thua là khả năng của người dùng phương tiện đó, cũng như khả năng của người dùng phương tiện sách.
Bác Hoàng Trường Sa,
1. Nếu bác tra kỹ từ điển Hán-Việt hơn bác sẽ thấy rằng từ “đạo” có nghĩa khá xa với “territoire” (nếu muốn dịch sang Hán-Việt thì có lẽ từ “thổ” là hợp).
2. Còn hai chữ “quân binh” có nghĩa gì thì bác chưa có ý kiến, tôi gọi đó là cách đọc sách “phúc thống phục nhân sâm”.
3. Bác thấy “thuyết phục” với “đạo quan binh” sau khi tra từ điển nhưng không giải thích ra đây, vậy nên điều đó chỉ “thuyết phục” được mình bác mà thôi, và tôi cũng rất muốn nghe bác giảng giải xem bác được “thuyết phục” ra sao. (tôi coi nhẹ tính khả tín của hai nguồn TNT đưa ra)
4. Bác nói việc tranh luận “hơn thua” là bác coi thường tôi quá. Nếu bác có ý coi thường đó thì cũng xin bác bớt lại cho, TNT đã ra một “series đòn” này rồi với “hiếu sự, ăn theo, tầm gửi..”
Và nữa, nếu đây là “lỗi vặt” và việc tranh luận chỉ vì “hơn thua” thì bác có một sự hiểu biết “hổng”, mọi ngôi nhà đều được xây lên từ những viên gạch nhỏ đấy bác ạ. Nếu vậy thì ta cũng có thể coi những tranh luận về việc khai thác bô-xít, xây dựng ở khi Hoàn Kiếm, vôi ve các công trình cổ.. cũng là “hơn thua” của “bè lũ phản động” chăng? Cổ nhân nói “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, nếu “tu thân” mà còn không nổi nói gì đến “trị quốc” với cả “bình thiên hạ”? Những lập luận gian dối, loanh quanh, cẩu thả, “bưng bít, ém nhẹm” từ những cái lỗi nhỏ, những cái thậm chí ngay cả khi sự thật đã “sáng như ban ngày” thì làm sao có thể “tìm kiếm sự thật, học hỏi lẫn nhau để tăng cường kiến thức của mỗi người về các lảnh vực mình quan tâm” và cũng như “Đặc biệt là quan tâm về dân chủ tự do của VN”?
Đây là người mình với nhau thôi, nhưng với “người bạn lớn” của chúng ta xem, biết đâu là làm trò hề cho họ xem?
Tóm lại, dù gì đi chăng nữa chúng ta phải có TRÁCH NHIỆM với phát ngôn của mình. Hãy học tập những Kiến trúc sư Chile, họ phải chịu trách nhiệm cho công trình của mình đến 20 năm và thành quả cho sự quan tâm đến “cái nhỏ” được thấy rõ sau cơn động đất vừa qua (chắc không cần nói đến cơn động đất ở Haiti nữa).
Vô cùng mong bác hiểu cho,
Kính chào bác Hưng Quốc,
Cám ơn bác đã ủng hộ cách dịch cụm từ “territoire militaire” của bác Dũng Vũ và tôi là “quân khu”. Tuy nhiên, tôi xin mạo muội không đồng ý với bác khi bác cho rằng tôi không được “kiên định” trong ý kiến của mình. Thật ra, việc tôi đã hiểu sai cụm từ “đạo quân binh” của bác Trương Nhân Tuấn là do đọc quá nhanh và bị chi phối bởi ấn tượng gây ra do hai chữ “quân binh” đi liền theo sau chữ “đạo”. Thế nhưng, chữ “đạo” vốn là một từ cổ trong sử Việt (và sử Tàu) dùng để phân chia khu vực hành chánh. Không cần đến lời giải thích của bác Tuấn qua việc nêu ra thêm vài tài liệu của một số sử gia khác (ngoài Chính Đạo) về cụm từ “đạo quan binh”, cá nhân tôi, sau khi tra cứu lại Tự điển Hán Việt Thiều Chửu, đã tự thấy thuyết phục (convinced) về sự đúng đắn của việc sử dụng từ “đạo” để dịch từ “territoire” trong tiếng Pháp. Do đó việc xin lỗi bác Tuấn và quý vị độc giả đối với tôi chỉ đơn thuần là thái độ biết phục thiện của một người cố gắng tiếp cận sự thật.
Theo tôi, việc tranh cãi thảo luận như chúng ta đang thực hiện trên diển đàn talawas này, mục tiêu cốt yếu là để tìm kiếm sự thật, học hỏi lẫn nhau để tăng cường kiến thức của mỗi người về các lảnh vực mình quan tâm (như văn học, nghệ thuật, chính trị v.v…). Đặc biệt đối với tôi là quan tâm về dân chủ tự do của VN cùng tìm hiểu hoàn cảnh của đất nước VN ta trước sự xâm lấn tiệm tiến đất đai, hải đảo của Tổ quốc ta của TQ cũng như những phản ứng hèn yếu, nhu nhược của ĐCSVN trước âm mưu đồng hoá VN của TQ, và tìm cách chống lại việc này qua việc bạch hóa và quảng bá trước công luận những sự thật về việc mất mát đất biển hiện nay của VN. Bởi vì tôi quan niệm rằng một khi đa số nhân dân ta trong nước biết được những sự thật mất mát lảnh thổ và lảnh hải của Tổ quốc mà ĐCSVN đã tìm đủ cách để bưng bít, ém nhẹm, thì toàn dân sẽ có phản ứng đúng đắn trước hành vi phản bội Tổ quốc và dân tộc này của ĐCSVN. Do đó, tôi không coi việc tranh luận là để hơn thua mà trái lại chỉ chú trọng vào mục đích chính là tiếp cận sự thật.
Bạn Trương Nhân Tuấn có thể đưa ra một “pô” ảnh cuốn “Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập 2” có đoạn đó được không, vì nguồn bạn trích cũng search được trên mạng từ hai nguồn sau:
http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=367&Itemid=35
http://diendan.haiphong360.net/14105-dot-khai-thac-thuoc-dia-lan-thu-nhat-cua-thuc-dan-phap-1897-1914-a.html (lấy nguồn từ nguồn trên)
Vì nếu TNT đưa ra chi tiết tên cuốn sách và cũng có khẳng định “có tra thêm một vài cuốn sách (mà tôi hiện có)” thì có nghĩa là bạn phải có cuốn sách đó chứ nếu bạn chỉ search trên mạng (như đã từng làm) rồi nhập nhèm cho rằng mình có sách thì đây là hành động GIAN DỐI. Hãy suy nghĩ thật đơn giản, người ta hiếm khi tìm được chính xác một cụm từ trong một cuốn sách (trừ thơ, thành ngữ, tục ngữ.. có nghĩa là những thứ học thuộc), nhất là tủ sách của một cá nhân là hữu hạn. Nếu hỏi ông Trần Lâm, một độc giả trung thành của Vũ Ngự Chiêu, rằng trong cuốn sách nào có “đạo quan binh” thì tôi chín phần mười không cho là ông ta biết cho dù ông Trần Lâm có trong tay cuốn sách đó.
Đằng này thì trí nhớ/tuệ của TNT thật “trác tuyệt”, tìm được chính xác 2 cuốn sách (một là “Từ Từ Điện Biên Phủ đến Genève” và hai là “Đại Cương Lịch Sử Việt Nam – Tập 2”), đúng vị trí từ đó không khỏi khiến độc giả có nghi ngờ nên tôi đã yêu cầu việc chụp hình nhưng TNT chưa từng đưa ra một hình chụp nào như ông Trần Lâm đã từng làm (cũng may có ông Trần Lâm không thì tôi tưởng không có cuốn sách đó).
Còn cuốn “Theo Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn” thì tôi cũng có nhưng không cần tra lại vì không có “đạo quan/quân binh”. Tại sao TNT lại có thể lấp liếm mỗi từ “đạo” rồi kết luận: “Không thấy ai dùng « khu » hay « vùng », có lẽ các từ này còn mới.” Một từ đơn trong nhiều tùy trường hợp người ta dịch khác nhau chứ, ví dụ “noir” được dịch là “đen” nhưng nếu là con chó thì phải là “mực”, chứ không thể nói từ “có lẽ từ “mực” này còn mới”. Tiếng Việt của TNT yếu thế này làm sao ông dám cả gan lao vào dịch thuật bừa bãi như thế?
Thêm nữa TNT chưa bao giờ giải nghĩa từ “quân binh” mà chỉ xăm xăm vào từ “đạo” để thấy mình dịch “tạm ổn”, đây khác nào “thầy bói xem voi”.
TNT nói “« đạo quan binh » có lẽ thông dụng hơn” là hết sức nhập nhèm. Không thể cùng lúc “đạo quan binh” và “đạo quân binh” đều đúng được. Mặt khác chỉ có “đạo quân binh” là “sản phẩm trí tuệ” của một mình ông thôi, sao ông không biện hộ cho việc dịch của mình mà lại “ăn theo, ăn ké” theo hai bài kia?
Thêm nữa, TNT nói: “Người ta dịch « dictature militaire » thành « độc tài quân phiệt » chứ đâu có ai dịch thành « độc tài quan phiệt » ?” với ý rằng từ “quân” của mình là đúng nhưng đây cũng là một điều nhập nhèm khác. Nếu ta giả định rằng từ “quân” là ĐÚNG thì hai bài kia của những tác giả kia là SAI, mà nếu ĐÚNG thì chỉ có duy nhất mỗi TNT thấy là đúng, vì cho đến bây giờ chưa có một bằng chứng nào về sự ra đời của “đạo quân binh” cả (cho dù TNT có thể đã search nát cả Google lẫn Yahoo)?
Tôi đồng ý với Dũng Vũ và HTS vì hai độc giả này đều cho rằng từ đó được dùng trong tiếng Việt là “quân khu” hay trong Nam trước đây gọi là “vùng chiến thuật”. Nếu TNT thấy việc dịch này là sai, xin cho ý kiến, nếu hợp lý tôi xin nhận “chân lý” mới. Với tôi đời luôn là một chuỗi học hỏi, và tôi không thích dấu dốt.
Anh Trương Nhân Tuấn thân mến,
ban đầu tôi nghĩ đây chỉ là chuyện nhỏ, không nhất thiết là chủ đề chính của bài viết, nên tôi muốn góp ý cho nhanh, không cần nhiều chi tiết. Còn nếu giải thích cho cặn kẽ thì đó lại là vấn đề dịch thuật của ngôn ngữ học. Vậy để đừng hiểu lầm nhau, chắc cũng nên bàn chi tiết hơn một chút.
1. territoire militaire theo chỗ tôi biết là một từ (ghép) có nghĩa là quân khu. Tra lại từ điển của Đào Đăng Vĩ (Việt-Pháp Từ Điển, Pháp-Việt Từ Điển, Sài Gòn, 1970) tôi thấy ông cũng dịch vậy. Để tôi trích đoạn ấy cho mọi người cùng xem:
Việt-Pháp Từ Điển: quân-khu Région, zone, territoire militaire.
Pháp-Việt Từ-Điển: territoire nm Đất, địa-hạt, lãnh-thổ, lãnh-vực, địa-vực.
2. Như anh viết: “Chữ « territoire » là danh từ và « militaire » là tĩnh từ”. Đúng vậy. “territoire militaire” là một từ ghép của tiếng Pháp có cấu trúc “chính trước, phụ sau”. “territoire” là từ chính, “militaire” là từ phụ (bổ nghĩa cho “territoire”). Cấu trúc “chính trước, phụ sau” thường thấy trong tiếng Việt, như: người đẹp (người = noun, đẹp = adj). Còn nếu ghép theo kiểu Hán-Việt thì ngược lại, tức “phụ trước, chính sau”: mỹ nhân (mỹ = adj, nhân = noun).
Mấy vấn đề “chính”, “phụ”, “bổ ngữ”, “phụ ngữ” này khá rắc rối, không thể giải thích hết ở đây. Nếu có quan tâm, xin anh và bạn đọc vui lòng xem chi tiết ở: http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=3811&rb=06
http://www.talawas.org/talaDB/pics/talawasNNDungVu181104_1.pdf
3. Như anh nói “Mình còn phải dịch làm sao cho phù hợp với bối cảnh thời đó”. Tôi tưởng, vấn đề chỉ nằm ở chỗ là “territoire militaire” có nghĩa gì trong tiếng Việt, đã có ai dịch chưa. Nhưng đã có người dịch rồi, v.d. Đào Đăng Vĩ, mà phiên bản từ điển đầu tiên của ông đã có từ năm 1952 (tính ra cũng khá xưa). Nếu các tác giả viết sử dịch khác thì họ dịch từ này từ ngôn ngữ gốc nào (tiếng Pháp, tiếng Hán, …), vào năm nào ? Hay là tôi vẫn chưa hiểu đúng ý anh?
Anh Trương Đức,
Tôi chưa từng ăn hay gặp từ “don/ron” trong sách vở tiếng Việt, chỉ nghe “ông già” tôi nói về những thứ bị coi rẻ mạt, tôi vẫn NGHĨ rằng từ đó phải là “ron” cơ, và nếu “ron” đi với “hến” thì chắc đều là loại có vỏ như nhau cả mà cái loại này thì nhiều vô kể, mỗi nơi gọi một kiểu, ở quê tôi người ta còn có con “giắt” nữa, nó nhỏ bằng đầu ngón tay út, thường dùng để nấu canh mồng tơi rất thơm và ngọt nước, tôi nghĩ con “don/ron” nó có thể là con này, vì “vỏ ron, vỏ hến” ngụ ý rằng nó nhỏ bé, vun vặt, thậm chí còn đáng vứt bỏ nữa (vỏ mà). Tài sản XHCN ở VN là một trong những thứ “vỏ ron vỏ hến” đó, hàng ngày tôi thấy những “con người XHCH” ném chúng đi một cách hết sức..bình thường mà cảm thấy “tiếc của Giời”. Nhân đây xin kể qua một câu truyện vui tôi đọc cũng khá lâu rồi nên kể lại một cách “sáng tạo” mới còn cốt truyện không thay đổi:
“Một ông quan mắng thằng con trai vì cho nhà ông quan hàng xóm mượn cái cưa, thằng con cãi trả: “Con thấy bố quý ông ta lắm kia mà, phong cho ông ta bao nhiêu bằng khen, lại còn tặng thưởng bao nhiêu đất đai, quà cáp cơ mà, sao cho mượn mỗi chiếc cưa mà bố đã ầm hết cả lên thế?” Ông ta mới gầm lên: “Cái thằng này ngu, những thứ đó có phải của tao đâu, đó là tài sản XHCH tao phong tặng cho nó, rồi nó lại phải “lại quả” cho tao, có mất gì đâu, nhưng cái cưa là của tao, thì dù chỉ cho nó mượn mà làm cùn lưỡi của tao thì tao cũng không chịu, mày hiểu chưa hả đồ ngu?” ”
Nhưng nếu anh từng thấy từ “don” đó ở đâu thì tôi xin ghi nhận và đưa vào “từ điển” của mình. Nhưng anh cũng đừng mất công tra cứu, chuyện “vỏ ron” thôi mà, không thì bác Phùng lại cho tôi là “chín bỏ làm một” thì “hơi oan cho tôi”.
Cảm ơn anh đã chia sẻ, dạo này tôi bận quá chưa hồi đáp được anh mong anh thông cảm, cái vụ “đạo quân/quan binh” mất thời giờ quá (không chỉ có tôi, còn nhiều người đi trước nhưng không thành rồi) nhưng tính tôi không làm thì thôi nhưng đã làm thì phải đến nơi đến chốn.
Chúc anh tuần mới nhiều nhiệt huyết,
“(tất nhiên thiệt hại “tài sản XHCN” chỉ là vỏ ron vỏ hến ta có thể bỏ qua, nhưng lỗi có thể gây mất an toàn thì không thể chấp nhận được)”(Hưng Quốc)
anh Hưng Quốc thân mến,
Mặc dù thấy anh lại đang bị “sa” vào một “tình huống bức xúc” mới, nhưng tôi cũng “bạo dạn” xin nhắc anh một lỗi chính tả trong câu trích trên đây: “don” chứ không phải “ron”. Quảng Ngãi quê tôi, có một món đặc sản, đó là món DON rất ngon miệng. Don là một loài hến nhỏ sống ven biển. Còn RON thì tôi không biết là con gì và có có hay không ở Việt Nam.
bác Phùng Tường Vân thân mến,
Trong hai câu thơ bác dẫn: “Tiếc nhau từng giọt máu đào/Để đem máu ấy tắm vào địch quân”, tôi “chắt” ra được từ “máu đào” vì nó chứa cái thiện ý của bác là muốn giữ hòa khí giữa hai người, tác giả Trương Nhân Tuấn và anh Hưng Quốc. Nhưng khốn nỗi, tác giả TNT lại không cho đấy là “máu đào”, mà lại cho đấy là “máu tanh”. Ở đây, tôi nghĩ, khi mà một người mang trong mình dòng “máu tanh”, thì “ngửi” đâu họ cũng chỉ thấy mùi “máu tanh” thôi. Nên, những thiện ý mong giữ lấy “hòa khí” trên diễn đàn talawas này của những người như bác khó mà đạt được kết quả. Họa chăng, phải làm động tác “thay máu” mới mong có kết quả được. Và động tác này chỉ bản thân kẻ có “máu tanh” tự “làm” được mà thôi.
Bàn thêm về cách dịch « territoire militaire » : Cám ơn bác Hoàng Trường Sa và bác Dũng Vũ đã góp ý kiến. Các ý kiến của các bác về cách dịch « territoire militaire » đều « đúng » nhưng theo tôi thì chưa « ổn ». Chữ « territoire » là danh từ và « militaire » là tĩnh từ. Mình còn phải dịch làm sao cho phù hợp với bối cảnh thời đó. Thời đó tiếng Việt mình có các từ như sau chỉ một « vùng đất » : Lộ, bộ, trấn, quận, đạo, thừa tuyên, phủ, tổng, huyện, châu, động… Chữ nào thích hợp với « territoire », một vùng đất rộng lớn gồm khoảng 3 tỉnh gộp lại ? Theo tôi chữ « lộ », « thừa tuyên » hay « đạo » đều có thể dùng được. Tôi có tra thêm một vài cuốn sách (mà tôi hiện có) thì thấy họ dịch như sau :
– Theo Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập 2, tác giả Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, nhà xuất bản Giáo Dục 2003, tr 102-103 : « Đến 20-8-1891, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị Định cắt một số khu vực của một số tỉnh để thành lập tại Bắc Kì 4 đạo quan binh : Phả Lại, Lạng Sơn, Yên Bái, Sơn La. Năm 1916, đặt thêm đạo quan binh thứ 5 gồm Lai Châu và Thuợng Lào. Những đạo quan binh này, chú trọng nhiều về việc bố phòng, tiễu phỉ, đàn áp các cuộc nổi dậy chống đối của nhân dân trong vùng. »
– Theo Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn, nxb Đại Nam Hoa Kỳ, bản in lại bản chính Thư Lâm Ấn Thư Quán năm 1960, tr 695 : Việc cai trị Bắc Kỳ… Ở các miền biên giới và thuợng du, Pháp lập ra các đạo do các võ quan Pháp cai trị và tù trưởng địa phương mang chức Quản Đạo.
Như thế người miền Bắc hay miền Nam đều dịch giống nhau, đều dùng chữ « đạo » để chỉ cho vùng đất « territoire ». Không thấy ai dùng « khu » hay « vùng », có lẽ các từ này còn mới.
Tôi nhận thấy chữ « đạo quan binh » có lẽ thông dụng hơn, vì ít ra đã có (một số) học giả (Chính Đạo, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ) đã sử dụng. Nhưng tôi vẫn cho rằng « đạo quân binh » ổn hơn. Người ta dịch « dictature militaire » thành « độc tài quân phiệt » chứ đâu có ai dịch thành « độc tài quan phiệt » ? Hay là « chữ nghĩa » còn có một cái « lắc léo » nào đó mà tôi chưa biết ?
@Bác Hoàng Trường Sa,
Nếu bác đã giở từ điển để tra từ “đạo” thì bác cũng nên bỏ thêm vài phút tra thêm từ “quân”, “binh” và “quân binh”, bác đừng đọc sách theo kiểu “Phúc thống phục nhân sâm” chứ, sao bác vội vàng mở lời mong “tha thứ” thế? (giá như diễn đàn này ai cũng được như bác)
Từ “đạo” theo từ điển Hán-Việt (NXBKHXH – 2001) của Đào Duy Anh dịch theo nghĩa gần nhất với “teritoire” có nghĩa: “đường đi, đem đường”. Cái nghĩa ““một tên riêng để chia khu vực trong nước” là quá hẹp và gò bó, mặt khác nếu lấy “tên riêng” để dịch thì nghe chừng không hợp lý cho lắm. Nhưng đây chưa hẳn là vấn đề.
Từ “quân” dịch theo nghĩa gần nhất với “militaire” trong từ điển chú giải: “Đội binh, việc binh, đóng quân lại”. Không có từ ghép “quân binh”.
Từ “binh” theo nghĩa gần nhất với “militaire”: “người quân lính, đồ của quân dùng”
Như vậy từ “binh” không thể “nhồi” vào “teritoire militaire”, nhưng nếu bỏ từ này đi thì chỉ còn “đạo quân” mang nghĩa khác, xin không đi xa.
Cũng gần giống vậy Vũ Chính Đạo dịch là “đạo QUAN binh” cũng là SAI, thậm chí còn “sai hơn”, vì có từ ghép “quan binh” (binh lính của chính phủ – soldats du gouvernement), thêm từ “đạo” thành ra “đạo quan binh” lại càng thêm vô nghĩa.
Nói tóm lại “đạo quân binh” hay “đạo quan binh” từng từ một đều có nghĩa (là mạnh) nhưng ghép cả vào nhau lại thành ra lổn nhổn vô nghĩa, ngớ ngẩn (triệt tiêu lẫn nhau).
Cả Trần Vũ và TNT đều không có lời giải thích cho việc “DỊCH” mà chỉ nói vòng vo tam quốc lan man vô nghĩa. Và để “chạy lỗi”, TNT cũng tỏ ra loanh quanh. Ban đầu TNT nói “tôi nghĩ tôi dịch như thế cũng là tạm ổn” (NGHĨ LÀ TẠM ỔN) rồi sau đó với sự “giúp sức” hời hợt của Trần Vũ, TNT nói lại: “Tôi thấy dịch « territoire militaire » thành ra « đạo quân binh » là ổn” (THẤY LÀ ỔN).
Theo tôi Dũng Vũ và Hoàng Trường Sa đã góp ý đúng (nhưng HTS thiếu kiên định), tuy cái nghĩa này có từ lâu rồi vậy mà TNT vẫn không biết, mà cứ “Đề nghị mọi người (nhất là người nào thấy cách dịch này là ngớ ngẫn) đề xuất một chữ khác để thích ứng hơn.” Đến bao giờ thì TNT mới tiếp thu được cái “khác” mình?
@Phùng Tường Vân,
Cảm ơn ông về chút hương khói ngày cũ. Cái sự thể tất cho nhau với tôi là bình thường, tôi không phải nhỏ nhen nhưng tôi ghét nhất là cái loanh quanh không nhận lỗi. Cái kém, cái dốt ai cũng có, những ai không chấp nhận cái kém, cái dốt đó thì chỉ có 2 con đường, thứ nhất là tự học hỏi để khá hơn hoặc từ chối nó để thêm kém, thêm dốt.
Câu thơ của ông tôi mạn phép chia thành hai ý. Với những người biết phục thiện(để cải thiện mình) thì tôi “chín bỏ làm mười” mà “tiếc nhau đến giọt máu đào”, có những người bạn cùng công tác với tôi mắc lỗi kỹ thuật họ nhận lỗi ngay tôi thấy tiếc nhưng kính trọng, sai lầm ai chả có lúc nhưng biết nhận sai thì sẽ khó mắc lại, và quan trọng nó là tấm gương cho người khác. Còn những người chối cãi loanh quanh, ở chỗ tôi trước kia còn có những “ông tướng, con ông Giời” không chịu nhận lỗi mà thậm chí còn tỏ ra khiêu khích thì chúng tôi đã có lần xử nặng hơn, “Để đem máu ấy tắm vào địch quân”. Nhưng ở VN có một vài “hạn chế”, các “ông tướng con” ấy sau đó sẽ có “ân xá” và thậm chí còn thăng tiến nhanh hơn (tất nhiên thiệt hại “tài sản XHCN” chỉ là vỏ ron vỏ hến ta có thể bỏ qua, nhưng lỗi có thể gây mất an toàn thì không thể chấp nhận được), đó là một trong những điều mà tôi cảm thấy vô cùng bất mãn và bỏ đi. Có thể đây là một ác cảm đối với tôi, mong ông hiểu cho.