Nguyễn Hữu Liêm – Nơi bến đò cuối tháng Tư
01/05/2010 | 3:59 chiều | 23 Comments
Category: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975
Thẻ: 30 tháng Tư > Thạch Hãn
Quảng Trị, làng Bích La. Hầu như hằng năm tôi vẫn trở về lại dòng sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, đứng bên bờ sông cũ, nơi miếng đất mà 35 năm trước đã từng là căn nhà thơ ấu của tôi. Dòng sông vẫn như xưa. Vẫn đôi bờ, bên lở, bên bồi. Ở nơi mà dòng nước chảy ngang qua vùng đất này, những tháng ngày của hơn 35 năm trước, bao nhiêu bom đạn và máu xương đã đổ xuống đây.
Tôi nhìn dòng nước phản chiếu dưới ánh nắng hè của miền Trung, nhìn kỹ vào từng khoảng bờ đất lở loang lổ, như là nhìn lại chính lòng mình với đầy vết thương từ quá khứ. Tôi nhìn qua bên phải của bụi tre cuốn mình trong gió để coi lại cái hố bom B52 vẫn còn trũng xuống nơi mà nền nhà của tôi đã từng ở đó. Không ai nhìn lại nỗi đau trên ba lần – người ta có nói. Nhưng tôi đã nhìn lại cái hố bom đó, nhìn lại bờ đất lở Thạch Hãn này nhiều hơn là ba bốn lần. Nhìn lại vết thương của mình có lẽ là một phương thức trị liệu tinh thần cho một con người đã đi xa quê nhà nhưng chưa từng rời khỏi quê hương.
Năm nay, một ngày 30 tháng Tư nữa lại về. Tôi nhớ lại trong huyền thoại cổ xưa của Hy Lạp thì cái gì đã xảy ra sẽ xảy ra lần nữa, và lần nữa, trở lại mãi mãi, trong tương lai. Nó sẽ trở lại không phải vì bản chất biến cố chỉ nằm trên bình diện vật thể – mà là của tâm thức. Mọi chuyện ở thế gian từ thực tính là hiện thân của một ý niệm, một thoáng của tâm. Thời quán ý niệm này là khuôn thức cho hiện tượng. Và con người với hiện trạng bị đày đọa vào lịch sử trần gian chỉ là một nét cọ trên bản vẽ của dòng tâm ý vĩnh hằng này.
Vâng! Ngày 30 tháng Tư 1975 là một chuyện đã xảy ra hầu như rất xa vời trong quá khứ. Đã 35 năm rồi còn chi? Nhưng cái tâm ý về sự kiện lịch sử này vẫn còn đó bên ngoài cõi hiện tượng lịch sử. Và tôi đang trải nghiệm trong tôi, với cộng đồng người Việt ở California, một sự dấy động trong tâm ý về câu chuyện tưởng như là không còn nữa.
Tôi nhớ lại mùa Hè năm 1972. Khi dòng Thạch Hãn đã là chiến tuyến mới chia cách đôi bờ. Tôi đã đứng bên ni, nhìn sang bên tê, kẻ thù đâu không thấy, người thân cũng bặt dạng tăm hơi. Tôi đã chỉ thấy lấp lánh bóng dáng chính mình phản chiếu dưới mặt nước cùng với luỹ tre kia.
Bây giờ là mùa Hè 2010. Có những lần bên bờ biển từ California tôi nhìn về phía Tây, tưởng như là nhìn thấy bờ biển Việt Nam, cũng bên này, bên kia, như cũ, như xưa. Nhưng bến bờ đâu thấy. Tôi chỉ thấy vất vưởng những bến bờ quá khứ vẫn còn chia cách như là một tâm tưởng của cõi vĩnh hằng đứng trên thời gian và không gian hữu hạn. Cái mất, cái còn như là bên bồi bên lở từ một cuộc chiến xưa cũ vẫn hằn sâu như là bờ đất của con sông Thạch Hãn hôm nay.
Mỗi lần dân tộc Việt Nam phải kinh qua một biến cố lớn – như ngày 30 tháng Tư của 35 năm trước – cái được, cái mất đã là một sự bù trừ. Từ chính cá nhân mình, tôi mất hết quá khứ để có được một tương lai khác. Từ lịch sử, dân tộc ta đã bước qua một chân trời ý thức mới mà nhu cầu ngày cũ nay đã không còn. Từ bình diện vĩnh hằng, một thoáng ý niệm về hiện tượng con người Việt Nam đã hoàn tất một thời quán tiến hóa.
Nếu đem tâm lý vui buồn ra làm thước đo thì tôi lại rơi vào vũng lầy của hiện tượng. Nhưng có một điều không thể chối cãi rằng, con người Việt Nam, từ viễn cảnh bên bến bờ California, thì đối với ngày 30 tháng Tư, cái buồn vẫn nặng hơn cái vui. Rất nhiều.
Tôi mất đi căn nhà ấu thơ bên bờ Thạch Hãn để có một nơi chốn khác bên bờ biển California. Một khối rất đông dân ta mất đi cái Sài Gòn cũ để có được các khu phố Little Saigon ở Quận Cam và San Jose. Tôi đã bao lần tự nhủ rằng đừng cố níu kéo cái gì đã mất. Tôi cũng đã viết bao nhiêu lần rằng chúng ta hãy quên đi ngày 30 tháng Tư. Nhưng cái gì tự nó đã xảy ra thì phải đi theo quy luật vượt qua chủ ý con người. Tôi so sánh chuyện này với sự kiện bồi lở của dòng sông đang đe dọa khu vườn nhà ấu thơ, tôi đã cố gắng tìm cách chặn bờ đất, nhưng cuối cùng, như là lịch sử và hoài niệm, nó vẫn như là dòng sông Thạch Hãn cứng đầu và mãnh liệt, vẫn ngang tàng chuyển động theo quy luật vĩnh hằng.
Ít nhất, cho đến khi chính mình và dân tộc có một cái Tôi khác, đứng cao hơn một nấc, để nhìn kỹ vào dòng lịch sử, bên lở bên bồi này, nhìn ra vết thương lòng, công nhận nó là một nỗi đau chung của Việt Nam, không riêng chi mình, không chỉ là hơn, là thua, mà là đôi bờ phải được bao gồm vào tâm ý.
Nhưng với cái tôi đang là, cứ mải nhìn hố bom, nhìn bờ đất lở của làng xưa, mà quên bẵng đi rằng, dưới dòng nước kia, vẫn còn đó chuyến đò kiên tâm chở dân làng qua chợ Hôm mỗi buổi chiều. Chuyến đò vẫn còn, dù mái chèo nay đã thay bằng động cơ dầu, với những chiếc nón lá, những gánh rau quả, cuộn lá chuối của bà con. Tôi hình dung ra hình ảnh mạ tôi, em gái tôi đang gánh rau, lá chuối qua sông đi chợ mua mắm ruốc về lo cho con, cho cả nhà. Chuyến đò sang sông đó, trước và sau 30 tháng Tư 1975, vẫn còn đang nối liền hai bờ, mãi mãi với dòng chảy thời gian.
Tôi lắc đầu trở về với thực tại, từ giã hố bom, khu vườn, bờ đất lở để đi lần xuống bãi cát, bước lên mái đò chòng chành. Tôi muốn vượt qua sông này thêm lần nữa. Bác lái đò nhìn tôi cười sún răng trong ngạc nhiên: “Ôi chao, chú Liêm hà! Chú về khi mô rứa?” “Dạ chào bác, tui mới lại trở về.”
© 2010 Nguyễn Hữu Liêm
© 2010 talawas
Về những câu hỏi của vietnguyen http://www.talawas.org/?p=19762&cpage=1#comment-13250
tôi thiển nghĩ:
1) “© 2010 talawas” là talawas giữ bản quyền. Talawas đăng bài này ngày 1.5.2010. Đồng thời “© 2010 Nguyễn Hữu Liêm”, nên Nguyễn Hữu Liêm có quyền gửi cho bất kỳ báo nào đăng lại. Do đó, hôm sau, Tuần Việt Nam mới đăng lại, ngày 2.5.2010.
2) “Instructor” có lẽ là “giáo viên”, vì “lecturer” mới là “giảng viên”. Có phải vậy không nhỉ.
– Không biết ông Liêm tự xưng thế nào mà trên trang chungta.com, Bùi Văn Nam Sơn gọi ông Liêm là “giáo sư triết học Nguyễn Hữu Liêm”:
http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Van-Hoa/Bui_Van_Nam_Son_lu_hanh_theo_chan_triet_gia/
– Đầu năm 2006, ông Liêm về tp.HCM thuyết trình về đề tài “Những vấn đề của triết học Tây phương hiện đại” với danh xưng là “giáo sư triết học Nguyễn Hữu Liêm”
http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Nhung-van-de-cua-triet-hoc-Tay-phuong-hien-dai/45180823/416/
– Trên trang Văn nghệ Quảng Trị (quê hương của ông Liêm), người ta gọi ông là
“Tiến sĩ triết học”
http://vannghequangtri.blogspot.com/2010/03/ho-si-binh-nhung-cuoc-choi-cho-vui.html
Thật ra ông chỉ có bằng M.A. về triết ở San Jose State University (1998).
1) Đã thấy bài này xuất hiện trên VietnamNet: http://www.tuanvietnam.net/2010-04-29-nguoi-ve-ben-dong-thach-han-
Chẳng hiểu được “Copyright 2010 talawas” có nghĩa gì?
2) Gớm, một anh chỉ là giảng viên (instructor) [1] của một trường community college (những nơi mà hầu như không có, hoặc rất ít, chức danh professor) [2] mà tại sao lại thích xưng mình là “giáo sư Triết học ở San Jose City College, bang California” [3] thế nhỉ? Hóa ra trường hợp Đỗ Ngọc Bích không phải là hiếm hoi!
————————————–
[1] Giảng viên hay giáo sư Henry NHL? http://www.skybridgeidc.com/upload/liem_resume_2007.pdf
[2] Trường đại học cộng đồng: http://en.wikipedia.org/wiki/San_Jose_City_Colleg
[3] Xem cuối bài viết trên Vietnamnet, link đã dẫn.
———————–
Chú ý: các thông tin về Henry NHL, trường SJCC, … đã được hiển thị công khai trên internet, nên ở đây hoàn toàn không có chuyện tọc mạch đời tư, nhỏ mọn !!!
Bước lên đò? Có “còi hụ” không?
Trích sử gia Trương Thái Du: “Do đó, lấy sự KHÔNG THẤY của ông/bà khi đọc câu văn trên để biện hộ cho sự THẤY méo mó nào đó, quả thật rất hài hước, đến độ nhỏ mọn.”
Tui ngưỡng mộ thày Thái Du đã xỉa được tui, có điều ý tui mới chỉ là “nghi” thày Hữu Liêm (NHL) không nói thiệt lòng thôi mà, tới mức quá mải mê màu mè tới nỗi kể chuyện “ra đứng bờ sông mà nhìn thấy được mình dưới nước” lận, tức là quăng cả ba cái luật quang học cơ bản (lớp 11) vô sọt rác luôn đó. Đành là có người sẽ chỉnh lại tui liền: “Đó là người ta nhìn bằng tâm thức lãng mạn chớ không bằng con mắt thịt như người phàm tụi bay”, nhưng mà tui vẫn tưởng lãng mạn tới mức viết (hồi ký) “tui tới ĐÀNG SAU tấm gương, ngắm và cười duyên với mình TRONG GƯƠNG” thì người đọc bình thường (nghĩa là không lãng mạn xuất sắc chi lắm, như tui) không trố hai con mắt mà thốt lên “Xạo vừa thôi cha!” cho được, có chi mà thày Thái Du phải quở là “nhỏ mọn” lận ta? Còn nếu tui có “ngờ oan cho người ngay” thì xin thày quảng đại chứng minh đặng cho tui có dịp giác ngộ một phen mới là phải, chớ ai đời chi mô mà quở trách rít lời như rứa thời răng mà tui tỏ cho thấu cái chơn lý cao xa ý nhị của thày bây chừ hè?
Chừ cho phép tui nói chuyện khác thày he: Cái ôông Márai Sándor, triết gia người Hung-Gia-Lợi chi đó có viết trong tiểu luận “KHÔNG AI CÓ THỂ BẢO VỆ ĐƯỢC NHÀ VĂN” (mà bà Hồng Nhung mô đó dịch: http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenHongNhung/ThoTuyBut/SucManhCuaChuNHNhung.htm) những giòng như ri:
“Đã một vài lần tôi bị săn đuổi và bị tấn công – và trong sự nghiệp của một nhà văn, sự săn đuổi bị lặp lại này là không thể tránh khỏi – tôi đã nghiệm thấy rằng, sự cứu giúp bên ngoài chưa bao giờ cứu nổi một nhà văn bị tấn công. Kể cả quyền lực, tòa án, sự ủng hộ của các bạn đồng nghiệp, thậm chí cả sự cổ vũ tự nguyện của những kẻ thiện chí lẫn các bậc thông thái có kinh nghiệm cũng vậy. Nhà văn chỉ được cứu vớt bằng những tác phẩm của mình.
Mà cũng chưa cần kể đến chất lượng tác phẩm, báu vật duy nhất của nhà văn, mà là ý đồ, thứ được thắp sáng trong cuộc đời nhà văn. Đấy là thứ ánh sáng, là sức mạnh bí ẩn –là thứ mà một cách nào đấy– đem lại cho nhà văn sự kiên cố.
Như vậy nhà văn chỉ có thể bị thất bại, nếu người khác chứng minh được rằng ý đồ của nhà văn là không chân thành.Lúc đó dẫn đến sự tự vẫn của nhà văn và tác phẩm. Còn tất cả những điều khác đều không đáng kể: bản án, sự bảo vệ.”
Thiển ý tui là nếu thày Hữu Liêm mà “chân thành” thiệt, thì “sự tấn công” của tất cả thiên hạ là “không đáng kể”, còn nếu ngược lại, thời thày Thái Du có nghĩa hiệp ra tay “bảo vệ” cách mấy cũng không cần thiết, heng thày?
Hì hì, tui thì thấy là ai cũng biết lắng nghe nếu biết cách nói với họ, bất kể cộng sản hay là chống cộng cực đoan, ví dụ như tui tin là nếu chánh quyền biết cách nói chuyện hòa giải thì tui nghĩ dân hải ngoại chống cộng cực đoan cũng sẽ lắng nghe thôi, mà bây chừ họ chưa lắng nghe có lẽ là do chánh quyền nói chưa đúng cách chăng? 🙂
Tôi trân trọng cái cảm nhận của ông NHL và sự trở về của ông. Tuy nhiên đó chỉ là một cái nhìn của một người VN ở một góc độ nào đó thôi. Ông không thể đem cái nhìn của mình ra và bảo đó là cái nhìn chung của cả một dân tộc. Thật là đáng tiếc. Nhà cầm quyền VN hiện nay cũng có thái độ và cái nhìn hạn hẹp như thế trong khi ăn “mừng” chiến thắng và giải phóng 30 tháng 04. Cách họ ăn “mừng” đó không đem đến hoà hợp hoà giải dân tộc mà còn nói lên một sự kiệu ngạo và một hống hách đầy nông cạn của một lũ người vô tâm.
Xin nhại bài của Nhị Hà mà bạn LQT đã trân trọng chép lại, để thay lời kết:
Cùng nhau trở về nơi chốn yêu thương
Lắng nghe dân chúng đang đòi quyền sống
Lắng nghe cả nước đang lo phập phồng
Cùng tiếng hăm doạ của bọn người vô tâm
@ sucmanhmem (SMM)01/05/2010: “Người Cộng sản họ biết lắng nghe nếu biết cách nói với họ” (trích dẫn từ LS Liêm, bởi SMM).
LS Liêm là Chủ tịch Hội Doanh nhân VN muốn về đầu tư, làm ăn với NN/VN. Tất nhiên, ông đi với “túi bạc lè kè”, thì đúng theo tục ngữ VN có câu: “Vai mang túi bạc lè kè, nói năng nhảm nhí mọi người cũng nghe” – hoặc “Nói thánh nói tướng mọi người cũng nghe”?. Có phải, cách nói của LS Liêm là trả lời đúng câu hỏi… “ĐẦU TIÊN” của lãnh đạo Đảng và NN/VN?
@ Trương Thái Du (TTD)02/05/2010: “Sự “thấy” và “không thấy” của anh NHL không đơn giản và dễ nắm bắt… Điều ông bà THẤY đầu tiên khi bước vào quán là KHÔNG THẤY người bạn ấy…” (TTD).
Luận về cái sự THẤY “không đơn giản và dễ nắm bắt này” (TTD), kinh Lăng Nghiêm của đạo Phật cho rằng cái Thấy là biểu hiện một phần tiến trình của cái Biết vốn thường hằng (thường trực hiện hữu) nên nói “TÔI THẤY KHÔNG CÓ người bạn” đúng hơn là nói “tôi KHÔNG THẤY người bạn”. Người Mỹ họ thường nói: “I saw (or heard) nothing” hơn là “I didn’t see (or hear) it”. Tuy họ nói theo thói quen mà cũng… thuận hợp với cái nhìn của đạo lý Phật đấy chứ?
Tuy nhiên khi nhà thơ Trần Dần với các câu thơ nổi tiếng: “Tôi bước đi, không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ…” thì theo tôi, nó vẫn hợp mà lại hay nữa! Bởi vì nó là THƠ và thi / văn nhân là Thượng Đế mà (thay vì khách hàng, theo chủ nghĩa tư bản, hay cơ chế thị trường dù có “đuôi” hay không)!
Trở về thôn cũ
Nghe ông Liêm bùi ngùi tâm trạng Việt kiều khi về thăm con sông Thạch Hãn xưa kia, tôi xin phép trích dẫn ra đây bản nhạc “Trở về thôn cũ” của Nhị Hà (thập niên 60).
Đặc biệt chú ý rằng bài ca gốc chỉ có một lời (do cô Mỹ Thể và Quỳnh Giao hát, trước 1975). Sau này cô Mỹ Lệ (SaiGon thập niên 80) hát thêm lời ca 2, do ai đó bày thêm (tôi không biết) nhưng chắc chắn nó mang dụng ý “chiêu hồi Việt kiều”, cho nên nếu ông Nguyễn Hữu Liêm bị “trúng mánh” thì dễ hiểu thôi.
Trở Về Thôn Cũ
Sáng tác: Nhị Hà
Slow 4/4 (chậm buồn, tha thiết)
(Lời 1)
Làng tôi nghiêng mình soi bóng Hương Giang
Những đêm trăng sáng long lanh giòng sông
Dáng ai giặt yếm bên bờ dịu dàng
Thả tiếng khoan hò theo nhịp chèo vọng xa
Làng tôi những chiều Thu gió lên khơi
Nắng hanh phơn phớt pha hồng gò má
Những cô thôn nữ trên đường về chợ
Và tiếng sáo diều dìu dặt buông lời thơ
Nhưng sao hôm nay ta trở lại quê hương
Tuy con sông xưa vẫn êm đềm uốn quanh
Còn đâu đồng xanh?
Còn đâu gia đình?
Còn đâu bóng hình mẹ già mến yêu?
Nơi đây điêu linh !
Nơi đây quạnh quẽ !
Nơi đây chẳng còn bóng người ngày trước
Nơi đây tang thương buông bức màn thê lương
Quê hương còn đó nhưng người về đâu?
Vì đâu thôn làng thành chốn nương hoang?
Cớ sao bao cánh chim xa tổ ấm?
Biết bao giờ gió tha phương trở về
Cùng tiếng sáo diều dìu dặt lời nhạc xưa?
__________________________________________
(Lời 2)
Sau bao Thu qua oán than ngập quê hương
Thu nay dâng lên gió thanh bình ngát hương
Dập tắt sầu thương
Dẹp hết u buồn
Đồng quê tưng bừng dân cày ấm no
Xua tan điêu linh
Xua tan quạnh quẽ
Nơi đây chẳng còn oán hờn ngày trước
Quê hương vươn lên
Xua bức màn thê lương
Non sông chào đón bóng người ngày xưa
Cùng nhau trở về nơi chốn yêu thương
Lắng nghe câu hát yên vui ngàn hướng
Lắng nghe lời gió êm đềm rì rào
Cùng tiếng sáo diều hòa lại bản đàn xưa
Lắng nghe lời gió êm đềm rì rào
Cùng tiếng sáo diều hòa lại bản đàn xưa
____________________________________________
Chú thích:
Lời 2 bản nhạc này có thể đã được người khác thêm vào sau năm 1975!
Trích NHL: “Tôi đã đứng bên ni, nhìn sang bên tê, kẻ thù đâu không thấy, người thân cũng bặt dạng tăm hơi. Tôi đã chỉ thấy lấp lánh bóng dáng chính mình phản chiếu dưới mặt nước cùng với luỹ tre kia”.
Sự “thấy” và “không thấy” của anh NHL không đơn giản và dễ nắm bắt. Tôi xin đơn cử: Giả sử có một người bạn hẹn ông/bà xyz tại góc một quán café quen thuộc. Vì lý do nào đó người bạn ấy không thể đến được mà cũng không thể báo lại. Điều ông bà THẤY đầu tiên khi bước vào quán là KHÔNG THẤY người bạn ấy. Do đó, lấy sự KHÔNG THẤY của ông/bà khi đọc câu văn trên để biện hộ cho sự THẤY méo mó nào đó, quả thật rất hài hước, đến độ nhỏ mọn.
Bỏ qua chi tiết LS Liêm là người đang được tranh cãi nhiều, cố gắng khách quan có vài lời.
Tuỳ bút, gợi cảm xúc chân thật giản dị và ẩn chưa hoài bão gắn bó tha thiết, của những con người với vùng quê, và xa hơn là tha thiết đoàn kết dân Việt.
Tôi có biết về quê ấy, nơi Thôn Bích La của ông, của nào là hoạ sỹ Lê Bá Đảng, trước có Lê Duẩn. Cạnh làng bên là của nhạc sỹ Hoàng Thi Thơ, của chủ tịch RASS Hoàng Kiều, xã bên là ca sỹ Duy Khánh. Và cùng huyện của ông thì còn nhiều người danh tiếng ở nước ngoài.
Khi ông viết : ” cái gì đã xảy ra sẽ xảy ra lần nữa, và lần nữa, trở lại mãi mãi, trong tương lai. Nó sẽ trở lại không phải vì bản chất biến cố chỉ nằm trên bình diện vật thể – mà là của tâm thức. Mọi chuyện ở thế gian từ thực tính là hiện thân của một ý niệm, một thoáng của tâm.”
Tôi không phân định là vật thể hay tâm thức mà tôi đồng nhất Sắc là Không. Và ông nói đúng, lịch sử Quảng Trị từ đời nhà Lý ranh giới Việt- Chăm đã vào đến sông Hiếu,thời công chúa Huyền Trân giao chiến với bao tang thương, và là nơi Chúa Nguyễn Hoàng định đô đầu tiên trước Huế trong cuộc Nam tiến trường kỳ. Và rồi, vĩ tuyến 17 năm 1954, sông Thạch Hãn từ năm 1972 đến 1975, biết bao nhiêu lần, bao nhiêu máu xương dân việt đổ xuống mỗi lần hàng mấy vạn người trên cái mãnh đất có lịch sử bao lần làm giới tuyến.
Và nếu ai còn hiểu thời cuộc bằng thực tế chứ không giới hạn trong không gian Internet sẽ thấy nỗi đau chia cắt từ trong lòng người trên mãnh đất này vẫn còn đó chưa nguôi.
Ông đã khéo léo khi mượn cảm xúc của ông về miền quê để nói về 1 khát vọng cao xa hơn. Tôi hiểu ông phần nào, bởi tôi là người đánh giá cao ngày 30/4/1975 là ngày thống nhất đất nước, nhưng không giống cách nghĩ của những người xung quanh, tôi chỉ muốn nó là ngày kỷ niệm sự kiện, nhưng đừng nên là ngày vui khi liền sau đó là biết bao thuyền nhân chen chúc ra đi và nhiều người phải kêu gào thảm thiết bỏ xác nơi biển khơi, nơi đất khách tị nạn….
Sau cùng, cũng biết ông là người làm nhiều hơn là lý thuyết, nên tôi biết ông đang muốn tìm 1 tiếng nói chung với Nhà nước Việt Nam trong vấn đề đoàn kết dân tộc. Với cương vị là chủ tịch hiệp hội doanh nhân Mỹ Việt, nguyên là quân nhân Việt Nam CH, tất nhiên không tránh khỏi vấn đề từ cách nhìn của nhà nước VN, tuy nhiên nhận định của ông trước đây ( và của nhiều người, có người từng viết bài trên Talawas về việc kêu gọi tích cực thăm thân), tôi tin là đúng, và ông sẽ làm được, đó là : ( Xin không trích nguyên văn cho hợp ngữ cảnh này ) “Người Cộng sản họ biết lắng nghe nếu biết cách nói với họ”.
nơi bến đò xưa
đứng ở bờ sông bên bồi bên lở
mắt cứ mải mê nhìn
những chuyến đò chở dân làng
chiều chiều qua sông
tôi thấy đời sống sao thanh bình quá
……
mà quên bẵng đi rằng
mỗi ngày trên đất nước tôi
công an vẫn đang sách nhiễu bắt bớ
những nhà bất đồng chính kiến
ngư dân bị Trung Quốc bắt đòi tiền phạt
rừng đầu nguồn bị ngoại nhân thuê
môi trường sinh thái Tây Nguyên bị đe dọa
gái quê bị gả/bán chồng xa
sông Cửu Long bị hiểm họa hạ nguồn
thêm cái lưỡi bò láng giềng
đang liếm dần vào thềm lục địa
……
tôi lắc đầu tự nhủ
phải quay về hiện tại
phải khuyên đảng mấy câu
thực dụng…
bắc phong
Đây, theo tôi, có lẽ là bài viết hay nhất của ông Nguyễn Hữu Liêm từ trước tới nay. Ít nhất trong bài này tác giả tỏ ra có đôi chút thành thật với chính bản thân mình dù rằng theo cảm nhận của riêng tôi sự thành thật này cũng có phần làm dáng (kiểu Nguyễn Hữu Liêm như thường lệ).
Tuy nhiên, rất tiếc nhiều người khác (trong đó có tôi) không chia sẻ được với ông Liêm về cảm nhận của ông. Tác giả Phương Duy của bài dưới đây nói lên tâm trạng của những người như chúng tôi. Kính mời ông Nguyễn Hữu Liêm và quý vị theo dõi:
Ba mươi lăm năm: hận thù đã vơi, nỗi đau chưa dứt (Phương Duy)
Ông Liêm triết lý kinh thật! Tôi đọc văn ông thấy ngổn ngang tư tưởng, rối rắm hơn cả khi đọc I. Kant, H. Spencer… Nếu lịch sử khéo sắp đặt, có khi ông lại thành một nhà tư tưởng lớn đấy.
Sáo và rỗng tệ hại!
Luật sư kiêm triết gia kiêm nhà thơ Nguyễn Hữu Liêm nờ, thày biểu mùa Hè năm 1972 thày đã đứng bên ni bờ sông Thạch Hãn nhìn qua bên tê, … rồi thày “đã chỉ thấy lấp lánh bóng dáng chính mình phản chiếu dưới mặt nước cùng với luỹ tre kia.” Tui phục thày thiệt đó: Thày đã đứng sát bờ nước mấy xăng ti mét, chúi người xuống bao nhiêu độ so với mặt nước sông, mà thấy được hình bóng của mình “lấp lánh” (diễm lệ) dữ rứa hè? Tui cũng thử bắt chước thày, ra bờ kênh Nhiêu Lộc thúi hoắc gần nhà, ráng đứng sát mé, chúi nhũi tới mức xém rớt tòm xuống đó luôn mà có thấy được cái nhân dáng (cũng không kém phần diễm lệ) của mình chi mô tề? Vậy té ra thày còn là võ sư, đã xuống tấn cách răng mà khéo rứa, bày cho tui với đặng tui chụp một bô ảnh thiệt oách rồi pốt lên talawas cho thiên hạ coi đặng làm câm họng mấy đứa cà chớn dám biểu tui “Ông thầy Liêm còn là tổ sư nói dóc nữa đó bây nờ”, thày he!