talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Hữu Liêm – Nơi bến đò cuối tháng Tư

01/05/2010 | 3:59 chiều | 23 Comments

Tác giả: Nguyễn Hữu Liêm

Category: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975
Thẻ: >

Quảng Trị, làng Bích La. Hầu như hằng năm tôi vẫn trở về lại dòng sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, đứng bên bờ sông cũ, nơi miếng đất mà 35 năm trước đã từng là căn nhà thơ ấu của tôi. Dòng sông vẫn như xưa. Vẫn đôi bờ, bên lở, bên bồi. Ở nơi mà dòng nước chảy ngang qua vùng đất này, những tháng ngày của hơn 35 năm trước, bao nhiêu bom đạn và máu xương đã đổ xuống đây.

Tôi nhìn dòng nước phản chiếu dưới ánh nắng hè của miền Trung, nhìn kỹ vào từng khoảng bờ đất lở loang lổ, như là nhìn lại chính lòng mình với đầy vết thương từ quá khứ. Tôi nhìn qua bên phải của bụi tre cuốn mình trong gió để coi lại cái hố bom B52 vẫn còn trũng xuống nơi mà nền nhà của tôi đã từng ở đó. Không ai nhìn lại nỗi đau trên ba lần – người ta có nói.  Nhưng tôi đã nhìn lại cái hố bom đó, nhìn lại bờ đất lở Thạch Hãn này nhiều hơn là ba bốn lần. Nhìn lại vết thương của mình có lẽ là một phương thức trị liệu tinh thần cho một con người đã đi xa quê nhà nhưng chưa từng rời khỏi quê hương.

Năm nay, một ngày 30 tháng Tư nữa lại về. Tôi nhớ lại trong huyền thoại cổ xưa của Hy Lạp thì cái gì đã xảy ra sẽ xảy ra lần nữa, và lần nữa, trở lại mãi mãi, trong tương lai. Nó sẽ trở lại không phải vì bản chất biến cố chỉ nằm trên bình diện vật thể – mà là của tâm thức. Mọi chuyện ở thế gian từ thực tính là hiện thân của một ý niệm, một thoáng của tâm. Thời quán ý niệm này là khuôn thức cho hiện tượng. Và con người với hiện trạng bị đày đọa vào lịch sử trần gian chỉ là một nét cọ trên bản vẽ của dòng tâm ý vĩnh hằng này.

Vâng! Ngày 30 tháng Tư 1975 là một chuyện đã xảy ra hầu như rất xa vời trong quá khứ.  Đã 35 năm rồi còn chi? Nhưng cái tâm ý về sự kiện lịch sử này vẫn còn đó bên ngoài cõi hiện tượng lịch sử. Và tôi đang trải nghiệm trong tôi, với cộng đồng người Việt ở California, một sự dấy động trong tâm ý về câu chuyện tưởng như là không còn nữa.

Tôi nhớ lại mùa Hè năm 1972. Khi dòng Thạch Hãn đã là chiến tuyến mới chia cách đôi bờ.  Tôi đã đứng bên ni, nhìn sang bên tê, kẻ thù đâu không thấy, người thân cũng bặt dạng tăm hơi. Tôi đã chỉ thấy lấp lánh bóng dáng chính mình phản chiếu dưới mặt nước cùng với luỹ tre kia.

Bây giờ là mùa Hè 2010. Có những lần bên bờ biển từ California tôi nhìn về phía Tây, tưởng như  là nhìn thấy bờ biển Việt Nam, cũng bên này, bên kia, như cũ, như xưa. Nhưng bến bờ đâu thấy. Tôi chỉ thấy vất vưởng những bến bờ quá khứ vẫn còn chia cách như là một tâm tưởng của cõi vĩnh hằng đứng trên thời gian và không gian hữu hạn. Cái mất, cái còn như là bên bồi bên lở từ một cuộc chiến xưa cũ vẫn hằn sâu như là bờ đất của con sông Thạch Hãn hôm nay.

Mỗi lần dân tộc Việt Nam phải kinh qua một biến cố lớn – như ngày 30 tháng Tư của 35 năm trước – cái được, cái mất đã là một sự bù trừ. Từ chính cá nhân mình, tôi mất hết quá khứ để có được một tương lai khác. Từ lịch sử, dân tộc ta đã bước qua một chân trời ý thức mới mà nhu cầu ngày cũ nay đã không còn. Từ bình diện vĩnh hằng, một thoáng ý niệm về hiện tượng con người Việt Nam đã hoàn tất một thời quán tiến hóa.

Nếu đem tâm lý vui buồn ra làm thước đo thì tôi lại rơi vào vũng lầy của hiện tượng. Nhưng có một điều không thể chối cãi rằng, con người Việt Nam, từ viễn cảnh bên bến bờ California, thì đối với ngày 30 tháng Tư, cái buồn vẫn nặng hơn cái vui. Rất nhiều.

Tôi mất đi căn nhà ấu thơ bên bờ Thạch Hãn để có một nơi chốn khác bên bờ biển California. Một khối rất đông dân ta mất đi cái Sài Gòn cũ để có được các khu phố Little Saigon ở Quận Cam và San Jose. Tôi đã bao lần tự nhủ rằng đừng cố níu kéo cái gì đã mất.  Tôi cũng đã viết bao nhiêu lần rằng chúng ta hãy quên đi ngày 30 tháng Tư. Nhưng cái gì tự nó đã xảy ra thì phải đi theo quy luật vượt qua chủ ý con người. Tôi so sánh chuyện này với sự kiện bồi lở của dòng sông đang đe dọa khu vườn nhà ấu thơ, tôi đã cố gắng tìm cách chặn bờ đất, nhưng cuối cùng, như là lịch sử và hoài niệm, nó vẫn như là dòng sông Thạch Hãn cứng đầu và mãnh liệt, vẫn ngang tàng chuyển động theo quy luật vĩnh hằng.

Ít nhất, cho đến khi chính mình và dân tộc có một cái Tôi khác, đứng cao hơn một nấc, để nhìn kỹ vào dòng lịch sử, bên lở bên bồi này, nhìn ra vết thương lòng, công nhận nó là một nỗi đau chung của Việt Nam, không riêng chi mình, không chỉ là hơn, là thua, mà là đôi bờ phải được bao gồm vào tâm ý.

Nhưng với cái tôi đang là, cứ mải nhìn hố bom, nhìn bờ đất lở của làng xưa, mà quên bẵng đi rằng, dưới dòng nước kia, vẫn còn đó chuyến đò kiên tâm chở dân làng qua chợ Hôm mỗi buổi chiều. Chuyến đò vẫn còn, dù mái chèo nay đã thay bằng động cơ dầu, với những chiếc nón lá, những gánh rau quả, cuộn lá chuối của bà con. Tôi hình dung ra hình ảnh mạ tôi, em gái tôi đang gánh rau, lá chuối qua sông đi chợ mua mắm ruốc về lo cho con, cho cả nhà. Chuyến đò sang sông đó, trước và sau 30 tháng Tư 1975, vẫn còn đang nối liền hai bờ, mãi mãi với dòng chảy thời gian.

Tôi lắc đầu trở về với thực tại, từ giã hố bom, khu vườn, bờ đất lở để đi lần xuống bãi cát, bước lên mái đò chòng chành. Tôi muốn vượt qua sông này thêm lần nữa. Bác lái đò nhìn tôi cười sún răng trong ngạc nhiên: “Ôi chao, chú Liêm hà! Chú về khi mô rứa?” “Dạ chào bác, tui mới lại trở về.”

© 2010 Nguyễn Hữu Liêm

© 2010 talawas

Bình luận

23 Comments (bài “Nguyễn Hữu Liêm – Nơi bến đò cuối tháng Tư”)

  1. Đào Nguyên viết:

    Về HHHG: xin kính mời quý độc giả talawas vào link sau đây đọc một bài thơ của tác giả vô đề nói lên tâm trạng bi thống nhưng khẳng khái của một người tỵ nạn về vấn đề này
    http://www.youtube.com/user/Vietpostscriptum#p/a/u/0/KAdD6SDDAZw
    Không biết rồi đây ai sẽ lỡ chuyến đò: ĐCSVN, người tỵ nạn hay cả dân tộc Việt trước trào lưu tiến triển của nhân loại trong một thế kỷ được xem là thế kỷ mở đầu cho thiên niên kỷ của tình yêu.

  2. Hoa Bất Tử viết:

    Tác giả Nguyễn Hữu Liêm không nhắc đến 1 chữ nào đến việc hòa hợp hòa giải. Tôi có thể nhận định rằng đó là một dụng ý tốt của tác giả khi viết về ngày 30-4, để tránh vết xe đổ của những bài báo trong cũng như ngoài nước về việc HHHG này.

    Blogger Sphinx đã viết 1 bài khá ấn tượng về chủ đề HHHG này, tôi xin phép được giới thiệu với tác giả và những bạn độc giả khác có ý quan tâm tới chủ đề này cũng như những vấn đề xung quanh ngày 30-4 http://hoabattublog.multiply.com/journal/item/591/591

    Trong đó có những đoạn đáng lưu ý:

    “Ta thấy rõ, gần đây rất nhiều bạn trẻ người Bắc, Hà Nội ra nước ngoài du học, thì cộng đồng vẫn chào đón họ 1 cách bình thường chẳng ai phân biệt là Bắc kỳ, Trung kỳ hay Nam kỳ gì cả. Và nếu nhìn cho kỹ, ta sẽ thấy rằng nếu có kỳ thị, phân biệt với nhau thì tư tưởng đó xuất phát từ chính những người Việt Nam trong nước, bởi qua hệ thống tuyên truyền của 1 chế độ độc tài luôn tự nhận mình là “đỉnh cao trí tuệ nhân loại” và mọi kẻ thù của họ đều phải xấu xa, đáng chết thì những người ra đi trong mắt những người ở lại là bọn bám đít phương Tây, tham sống sợ chết, vơ vét của cải, chuồn đi kiếm bơ thừa sữa cặn của tư bản… nói cách khác, nếu có thì chính là người trong nước khinh bỉ và phân biệt người hải ngoại đúng hơn.

    Song, như đã nói, người tị nạn, lưu vong cũng rất đa dạng loại người: người Trung, người Nam, người Bắc… miền nào mà người ta chẳng nháo nhào bỏ chạy những ngày tháng ấy. Thế cho nên, người ở lại trong nước là gì? Là cha mẹ, anh chị, con em, họ hàng, bằng hữu của những người ra đi, có lẽ nào họ thù hận lẫn nhau sao? Cũng như người hải ngoại, đất lành thì chim đậu, giờ Việt Nam đất không còn ành nữa vì người ta đã đem bẫy đem lồng đến đặt nhưng chim thì cũng vẫn là chim, há có lẽ nào con chim may mắn bay thoát được về với tự do lại khinh ghét hay thù hận những con chim hẻo số?! Nên giữa người dân với người dân, người Việt Nam đâu có chia rẽ gì nhiều để cần phải có những tiến trình hòa hợp và hòa giải.Thôi nói mãi chuyện loài người chán lắm, nên chuyển sang tâm sự của loài chim cho đỡ buồn rầu.

    Thế nhưng, có 1 điều… đó là những kẻ bẫy chim. Những kẻ này, vì mong muốn những con chim trong lồng không thấy căm ghét và tìm cách phá bỏ cái lồng, không muốn những con chim tù túng so sánh mình với những sải cánh tự do mới nghĩ ra cái trò chia rẽ. Chia rẽ để con chim trong lồng căm ghét những con chim đang nhảy nhót tung tăng, lượn bay ríu rít ngoài trời và nhồi nhét, sao chép vào đầu những con chim bị nhốt rằng chỉ có bên trong cái lồng mới là nơi an toàn nhất cho những con chim tránh được mọi hiểm nguy; để rồi từ đó, con chim bị nhốt thấy căm ghét con chim tự do rồi chuyển sang căm ghét cả bầu trời, nơi mà đầu óc nó bị tiêm nhiễm rằng thật là nguy hiểm và kinh tởm. Song cái lồng cứ mỗi ngày một mục, một lỏng lẻo đi và nhiều con chim trong lồng sống lâu cũng biết so sánh thế nào là hơn là thiệt và chúng muốn phá lồng để bay đến chân trời rộng mở, vậy cho nên những kẻ bắt chim kia, vì thấy lo sợ cái lồng sẽ sập, lo sợ những con chim bay thoát sẽ quay trở lại mổ chúng để trả thù những tháng ngày bị cầm tù lỏng, bị mất tự do cho nên, bằng mọi giá, kẻ nhốt chim phải tạo ra cho được 1 sự chia rẽ để những con chim trong lồng và những con chim tự do không chịu sống với nhau, và cũng để tiếp tục lừa những con chim bị nhốt rằng cái lồng vẫn là tốt đẹp chúng đã nghĩ đến 1 kế hoạch sử dụng mỹ từ hòa hợp và hòa giải.

    HHHG để tiếp tục lừa mị những con chim trong lồng rằng những con chim ngoài kia là xấu xa, là sai lầm, là phản bội, là đáng bị xử tội vì đã không biết trân trọng nơi tuyệt vời là cái lồng đây và không trân trọng thành tâm của kẻ bẫy chim bảo vệ chúng bằng việc nhốt chúng vào lồng. Hòa hợp, hòa giải để cho những con chim trong lồng thêm 1 lần bị gạt gẫm rằng cái lồng đây chính là tổ ấm, và kẻ bẫy chim kia cao cả như 1 đấng ban ơn nên những cánh chim tự do kia khi tấn công kẻ bẫy chim này thì tức là phạm tội. Để từ đó, con chim trong lồng vì bị lừa bịp nhưng lại có tấm lòng nhân nghĩa sẽ căm hờn những sải cánh tự do kia rằng tại sao lại đối xử với ân nhân như vậy.”

    Và thực tế là:

    “…Hòa hợp, hòa giải đó là những từ dùng để chia rẽ những con chim, 1 cách âm thầm và khéo léo, để 1 số con chim cam chịu bị nhốt trong lồng và sống cúc cung phục vụ cho kẻ bắt chim nhốt vào trong đó và 1 số những con chim khác mất lòng tin trong công cuộc đưa đồng loại trở lại với bầu trời nơi gió sẽ nâng vút những cánh chim và nắng làm cho màu lông chúng trở nên óng ánh.”

    “…Chúng hò hét to và lâu lắm, chúng nhảy múa ăn mừng suốt sáng thâu đêm thế nhưng những con chim trong lồng chưa 1 lần nhìn thấy cảnh tượng này, bởi trước khi đãi tiệc, chúng đã bịt hết tai lũ chim kia và che kín cái lồng bằng tấm vải dày và lớn, trên có viết 5 từ cũng thật là to “Hòa Hợp và Hòa Giải”.”

  3. Võ Tấn Phong viết:

    “Mỗi lần dân tộc Việt Nam phải kinh qua một biến cố lớn – như ngày 30 tháng Tư của 35 năm trước – cái được, cái mất đã là một sự bù trừ.”

    What the hell!!!

  4. Trương Đức viết:

    “Thiết nghĩ chỉ cần nhìn những chỗ bị cắt là đủ biết. Tác giả NHL nghĩ gì về chuyện này nhỉ?” (Nguyễn Phong)

    Đọc lời phản hồi này của Nguyễn Phong, tôi giật mình đánh “thót” một cái! Bởi vì một ý nghĩ chợt xuất hiện trong đầu tôi: Lại một “vụ Thơ đến từ đâu?” chăng? Tôi nghĩ tiếp: việc bài viết của NHL sau khi đã bị/được “cắt xén” đăng trên Tuần Việt Nam, có vẻ như là một dấu hiệu mở đầu cho việc sẽ có một nhân vật nào đấy tập hợp lại những bài viết trong chuyên mục “Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975” của diễn đàn talawas này, đem về Việt Nam xuất bản hoặc đăng tải trên các trang mạng trong nước, để phục vụ cho cái gọi là chương trình “hòa giải hòa hợp” của ĐCSVN. Dĩ nhiên, cũng giống với “vụ Thơ đến từ đâu?”, các bài viết sẽ bị/được “thiến” một cách ngon lành, như trường hợp bài viết này chẳng hạn, trước khi ra mắt độc giả trong nước.

  5. Lenguyenhieu viết:

    Đầu tiên, tôi thích cách hành văn và triết lý được lồng ghép trong các bài viết của Nguyễn Hữu Liêm. Ông luôn có cái nhìn thoáng đạt của người trí thức.

    Kế đến, đây là bài viết hay nhất vào dịp 30/4 trong năm nay mà tôi đọc. Vẫn còn những cách biệt trong niềm tâm tư của kẻ thắng – người bại, vui – buồn, hoan hỉ – sầu bi, huênh hoang – mặc khải… Tuy nhiên cuộc sống vẫn trôi đi một cách bình dị như nó vốn có, nhịp sống dung dị của người Sài Gòn vẫn hiện hữu trở lại sau ngày mitting hoành tráng trước Dinh Thống Nhất. Điều quan trọng là hồn Việt vẫn được nâng niu và giữ gìn.

    Tôi thích hình ảnh cuối của bài viết. Giữa ngổn ngang trăm mối từ quá khứ đến hiện tại, tác giả vẫn thấy sự dung dị của Bác lái đò trong lời hỏi thăm, thấy sự thanh bình của một làng quê nuôi dưỡng Hồn Việt muôn đời.

    Tôi là thế hệ trẻ, tôi yêu nước Việt. Tôi không thích sự tung hô và hận thù.

  6. Nguyễn Phong viết:

    Bài của NHL đăng trên Tuần Việt Nam khác với bài của NHL đăng trên talawas ở những điểm như sau:

    1. Tên bài và một chi tiết nhỏ là khi vào bài (trên talawas) có ghi “Quảng Trị, làng Bích La”

    2. Bản trên Tuần Việt Nam bị cắt đi những câu in đậm trong các đoạn:

    – Vâng! Ngày 30 tháng Tư 1975 là một chuyện đã xảy ra hầu như rất xa vời trong quá khứ. Đã 35 năm rồi còn chi? Nhưng cái tâm ý về sự kiện lịch sử này vẫn còn đó bên ngoài cõi hiện tượng lịch sử. Và tôi đang trải nghiệm trong tôi, với cộng đồng người Việt ở California, một sự dấy động trong tâm ý về câu chuyện tưởng như là không còn nữa.

    Nếu đem tâm lý vui buồn ra làm thước đo thì tôi lại rơi vào vũng lầy của hiện tượng. Nhưng có một điều không thể chối cãi rằng, con người Việt Nam, từ viễn cảnh bên bến bờ California, thì đối với ngày 30 tháng Tư, cái buồn vẫn nặng hơn cái vui. Rất nhiều. (nguyên đoạn này bị cắt hết)

    Tôi mất đi căn nhà ấu thơ bên bờ Thạch Hãn để có một nơi chốn khác bên bờ biển California. Một khối rất đông dân ta mất đi cái Sài Gòn cũ để có được các khu phố Little Saigon ở Quận Cam và San Jose. Tôi đã bao lần tự nhủ rằng đừng cố níu kéo cái gì đã mất. Tôi cũng đã viết bao nhiêu lần rằng chúng ta hãy quên đi ngày 30 tháng Tư. Nhưng cái gì tự nó đã xảy ra thì phải đi theo quy luật vượt qua chủ ý con người.

    Thiết nghĩ chỉ cần nhìn những chỗ bị cắt là đủ biết. Tác giả NHL nghĩ gì về chuyện này nhỉ?

  7. vietnguyen viết:

    Cám ơn độc giả Dang Tran Minh đã giải thích:

    1) Thật sự tôi không rõ các nguyên tắc copyright của báo phổ thông đại chúng như thế nào. Nhưng trong giới khoa học, một khi bài báo được nhận đăng ở một tạp chí hay hội nghị, thường thì tác giả bài báo sẽ ký một vào copyright form. Sau đó, tác giả không thể gửi đăng các tạp chí khác được nữa (nếu bị phát hiện thì sự nghiệp khoa học đi tong). Thậm chí, có tạp chí quy định rất khắt khe là tác giả bài báo không được đưa lên website của mình bài báo đã đăng đó, mà chỉ dẫn đường link.

    2) Tôi nghĩ Instructor dịch là giáo viên hay giảng viên đều ổn thôi, nhưng nhất định không thể nâng đời lên thành giáo sư được! Ngạch giảng viên/giáo viên và ngạch giáo sư ở Mỹ là hoàn-toàn-khác-nhau.

  8. Hoa Bất Tử viết:

    Tôi thấy bài này của tác giả Liêm viết khá hay, khá ngắn gọn, khá hoa mỹ, khá trung thực với cảm giác cá nhân của ông. Đó cũng là một điểm khác biệt so với những bài viết của các tác giả khác về cùng 1 chủ đề là ngày 30 tháng 4. Sự tiếc thương với những mất mát của quá khứ không phải là không có, nhưng cao hơn sự dằn vặt về quá khứ là ước mong vào một tương lai tươi sáng hơn cho dân tộc Việt Nam: người cũ gặp lại nhau mà có thể mở lời chào, đối đáp với nhau bằng thái độ thân thiện bất kể có đứng ở chiến tuyến nào. Thái độ đó là cần thiết để nhìn lại quá khứ và để sống tiếp với tương lai.

    Xin cám ơn tác giả Nguyễn Hữu Liêm. Mong ông hãy tiếp tục phát huy tnh thần đó. Dân tộc Việt Nam cần thái độ như vậy.

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>