talawas blog

Chuyên mục:

Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)

08/04/2010 | 1:20 sáng | 155 Comments

Tác giả: Vũ Hải Ngọc

Category: Phóng sự ảnh, Tôn giáo
Thẻ:

24: Theo thông báo của nhà nước, công trình sẽ khánh thành vào năm 2015. Hẳn nơi đây sẽ trở thành cơ sở kinh doanh tôn giáo lớn nhất Đông Nam Á (vậy là sẽ có thêm một kỷ lục)!

25: Đại lễ trong chùa thật hoành tráng, nhưng không thấy Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà chỉ thấy Ban Tuyên giáo tham gia? Đảng Cộng sản Việt Nam, sau hàng chục năm được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác-Lê, thay vì tránh “thuốc phiện” thì lại dùng “thuốc phiện”!

26: Có bao nhiêu rừng nguyên sinh đã mất để lấy gỗ cho công trình này?

27: Nếu đặt hàng ông đồ này viết một câu đối bằng chữ Việt Nam, liệu ông ấy làm được không nhỉ?

28: Đúng là đại lễ, khắp nơi và nhiều thành phần, đặc biệt là xe công nhiều chứ không phải ít.

29: Cái cổng tam quan đẹp và hoành tráng thế mà lại treo cái băng-rôn chình ình ở đó (làm du khách muốn chụp một bức ảnh đẹp cũng khó), rồi phía trước cái cổng thì như cái chợ làng!

30: Cái bia này cực kỳ phản cảm về nhiều góc cạnh!

  1. Gọi là “Vườn cây doanh nhân 1000 năm” nhưng doanh nhân thực sự được mấy người? Hễ đứng đầu doanh nghiệp thì được gọi là doanh nhân?
  2. Phật tại tâm, đâu cần trần tục biết? Trên tấm bia này, chỉ cần khắc tên A, nhà B cho mỗi ông/bà góp tiền trồng cây nơi đây là đủ.
  3. Còn 5 năm (hoặc lâu hơn) nữa nơi đây mới khánh thành. Gắn một công trình đang dang dở với “1000 năm Hoa Lư – Thăng long” chẳng khác một sự ăn theo và chắp vá!

31 và 32: Phút thư giãn của sư (!)

33 và 34: Phút (…) của sư (!)

© 2010 Vũ Hải Ngọc

© 2010 talawas

Bình luận

155 Comments (bài “Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)”)

  1. Lê Quốc Trinh viết:

    Thân chào bác Hoà Nguyễn,

    Nói có sách mách có chứng, tôi xin trích dẫn một trang trong Google nói về “Sự tích Phật A Di Đà” tôi đang chờ Talawas post lên đây trang số 9 của tập kinh mà tôi đã thỉnh từ chùa Huyền Không (2006):
    ……………………………

    Đây là những lời thệ nguyện của vua Vô Tránh Niệm trước Đức Bảo Tạng Như Lai, để được vinh danh Phật A Di Đà:

    Bạch đức Thế Tôn!

    1- Nay tôi nguyện trong khi tôi thành Phật, làm sao đặng một thế giới đủ sự vui đẹp, hình dạng nhơn dân trong cõi ấy toàn là sức vàng và không có những đường địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh xen ở chung lộn. Hết thảy chúng sanh nơi cõi ấy chẳng khi nào còn phải thối chuyển mà đọa vào trong ba đường dử đó nửa, và người nào cũng đủ sáu phép thần thông và căn thân tốt đẹp.

    2- Tôi nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy, đều thành đàn ông tươi tốt vô cùng, không còn thọ báo sắc thân đàn bà và cũng chẳng cần có danh hiệu của người đàn bà nữa. Hết thảy chúng sanh khi được về đó, thần thức đầu thai trong bông sen, lúc bông nở ra thì căn thân xinh tốt, thọ mạng lâu dài, không kể xiết đặng.

    3- Tôi nguyện cõi ấy đặng trang nghiêm, cảnh vật thiệt xinh đẹp, không có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt hương thơm mùi bay các hướng.

    4- Tôi nguyện cho chúng sanh trong cõi ấy, ai nấy cũng đều đặng ba mươi hai tướng tốt, sáu phép thần thông, trong giây phút dạo khắp các cõi Phật trong mười phương, đặng cúng dường và nghe Pháp, rồi trở về cũng chưa trễ buổi ăn.

    5- Tôi nguyện nhơn dân trong cõi ấy đều đặng mọi sự thọ dụng tự nhiên, đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ hiện ra trước mắt, còn muốn bận đồ gì thì có áo xiêm tốt đẹp hiện ra bên mình, không cần phải sắm sửa như trong cõi nhơn gian vậy.

    6- Tôi phát nguyện cầu đặng cõi Phật như vậy, đặng từ rày về sau, đời đời kiếp kiếp, thường tu hạnh Bồ tát, làm sự hi hữu mà tạo thành cõi Tịnh Độ, đến thời kỳ chứng đạo thì ngồi dưới cây Bồ đề mà thành quả Chánh Giác, phóng hào quang soi các thế giới cho các Đức Phật đều xem thấy, đặng khen ngợi danh hiệu của tôi.

    7- Tôi nguyện khi thành Phật rồi, những loài chúng sanh ở trong thế giới khác, đã có tu tập thiện căn, hể nghe danh hiệu tôi mà muốn sanh về cõi tôi, đến khi lâm chung đặng vãng sanh, chỉ trừ những người phạm tội ngũ nghịch, tội chê bai các Pháp Đại thừa và phá hư Chánh Pháp mà thôi.

    8- Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi, mà có chúng sanh ở các thế giới đã phát Bồ đề tâm, tu Bồ tát đạo, muốn sanh về cõi tôi, thì đến khi mạng chung, tôi và đệ tử tôi đều hiện thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn.

    9- Tôi nguyện khi tôi nhập diệt, trải vô số kiếp về sau những người nữ nhơn ở trong các thế giới nghe danh hiệu tôi mà chăm lòng vui mến và phát Bồ đề tâm, cho đến lúc thành Phật, cứ cảm báo đặng làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào còn mang lấy thân đàn bà nữa.

    Bạch Đức Thế Tôn! Tôi nguyện đặng cõi Phật như vậy, chúng sanh như vậy, mọi sự thanh tịnh trang nghiêm như vậy, thì tôi mới chịu thành Phật.
    ……………………………….

    Xin hỏi bác Hoà Nguyễn, bác có một version nào khác về sự tích Phật A Di Đà không, đề nghị yết lên đây cho mọi người biết.

    Tôi không hề có ý bôi nhọ Đạo Phật, ngược lại tôi vô cùng trân trọng nghiên cứu nghiêm chỉnh giáo pháp Nhà Phật, những luận đề căn bản mà ai ai cũng từng nghe đến.

    Bác nhắc đến ông Nguyễn Hữu Liêm làm gì vậy ? Ông ta chưa hề quyết định hành trang hồi hương về hẳn VN, cứ ngồi một xó ở San José mà lải nhải mãi, có khác gì bọn trí thức “ấu trĩ chính trị” danh từ mà ông dùng để chỉ trích bạn bè ông bên Mỹ. Bác chưa từng biết tôi là ai, thì đề nghị bác nên khoanh chuyện tranh luận trên vấn đề Đạo Phật tốt hơn.

  2. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Lê Quốc Trinh viết:” 1)- Tại sao miền Tây Phương Cực Lạc chỉ chấp nhận nam giới “.

    Đây là sự xuyên tạc hay hiểu sai. Tôi không đọc thấy hay nghe nói như vậy. Nhưng chỉ nghe nói ở cõi Cực lạc chúng sinh được “liên hoa hóa sinh”, nghĩa là thân xác là hoa sen kết hợp, không do tinh huyết sinh ra, nên không còn phân biệt là nam hay nữ , và không cần có sự phân biệt về mặt sinh dục đó. Cũng nên biết quan niệm “trọng nam khinh nữ” là một thành kiến rất lâu đời của nhân loại (chắc phải có từ khi loài người theo phụ hệ), nên trong kinh sách cũ của đạo Phật có nói người nữ nhiều công đức kiếp sau sinh làm nam nhân (ý cho như thế là cao hơn). Cũng nên biết Bồ tát Quan Thế Âm là một thị giả của Phật A Di Đà, cùng với Bồ tát Đại Thế Chí ba vị hợp thành “Tây phương Tam Thánh”, cùng lo việc “tiếp dẫn”. Quan Thế Âm được thờ trong hình tướng nữ , như vậy làm sao nói ở Tây phương không có người nữ ?

    Lê Quốc trinh viết:”: 2/ Tuyệt nhiên không nghe nói chuyện tu hành gì trên cõi Trời này”.

    Thât ra là nóí rất nhiều, ngay cả nói tiếng chim hót, tiếng nuớc suối chảy cũng âm vang lời kinh Xin chép lại một đoạn kinh Vô Lương Thọ :
    “Trong ấy, có kẻ ở trên mặt đất tụng kinh, giảng kinh; có kẻ ở trên mặt đất lãnh nhận kinh, nghe kinh; có kẻ đi kinh hành, suy nghĩ đạo lý và toạ Thiền trên mặt đất; có người ở trên hư không giảng, tụng, thọ, lãnh, nghe kinh, suy nghĩ đạo lý và toạ Thiền.”.

    Lê Quốc Trinh viết:”: 3)- Tại sao khi còn sống không được vãng sanh lên miền Tây Phương mà phải đợi đến khi chết mới được lên

    Lên cõi Cực lạc không theo ý muốn riêng, mà đói hỏi trước hết phải có tín tâm, và tiếp theo thực hành pháp môn Tịnh Độ . Đây là cách tu dựa vào tha lực, sự độ trì , nhưng ngưới tu cũng phải có tự lực, phải chuyên trì tu niệm, kề cả giử giới. Dù vậy, nhiều thiền sư theo Tịnh Độ cũng nói tới cảnh Cực lạc “hiện tiến” (Cực Lạc ngay ở trước mặt), hay câu họ thướng nói là “duy tâm Tịnh Độ” (chuyên chú quay nhìn vào Tâm sẽ thấy được Tịnh Độ). Thiền sư Nhất Hạnh có một quyển sách nói vế pháp môn Tịnh Độ, và thiền sư Thanh Từ cũng giảng vế pháp môn Niệm Phật, dù hai ngài nhìn Tịnh Độ theo quan điểm của Thiền Tông.

    Ông Trinh nói mính nghiên cứu Mật Tông Tây Tạng, vậy thử nói vế các pháp quán tường Quan Thế Âm và Phật A Di Đà trong Mật Tông. Sau đó muốn phê phán gí thí tuỳ ý, nhưng phải hiều biết trước đã..

    Lê Quốc Trinh viết:”: 4)- Tại sao chỉ có Đức Phật A Di Đà mới có phép thần thông đưa người vãng sanh lên Tây Phưong.

    Không phài “chỉ” có cõi Phật của A Di Đà. Thật ra kinh Phật còn nói đến cõi Tịnh Độ của Phật A Súc ở phương Đông mà người Nhật thường tin tưởng, hay cõi trời Đâu Suất của Phật Di Lặc, và nhiều cõi Phật khác nữa làm công việc “tiếp dẫn”. Nhưng người Trung Hoa và Việt Nam quy ngưỡng cõi Tây Phương Tịnh Độ hơn.

    Cõi Cực Lac trong Tịnh Độ không phải là Thiên Đường của các tôn giáo khác, còn chưa phải là Niết Bàn của người đắc đạo Phật, mà chỉ là nơi có nhiều thiên duyên (với cảnh trí, môi sinh tốt đẹp, không phải lao động cưc nhọc) để những người theo Tịnh Độ có điều kiện thuận lợi tiếp tục công cuộc tu hành đã bắt đầu ở trần thế trước khi chết.

    Lê Quốc trinh viết:” 5)- đọc kỹ cuốn kinh sẽ thây tình tiết khởi đầu giống y chang truyện Tây Du Ký bên Tàu

    Nếu tình cờ truyện Tây Du nói đến vài địa danh trong kinh Phật, thì đó không phải là trùng hợp, mà vì người viết truyện rất thông hiểu kinh Phât (tôi không nói là tin theo Phật). Tác giả chỉ chép lại các địa danh được nói tới trong kinh với nghĩa ẩn dụ, do đó không thể lấy cái biết “thực dụng” để hiều hay giài thích.

    Ông LQT trước khi bài bác điều gì, nên nghiên cứu hiểu biết đối tượng mình bài bác. Xin giới thiệu các kinh Đại Thừa nóí về Tịnh Độ tông và Phật A Di Đả như:

    Kinh Vô Lượng Tho, kinh Quán Vô lượng Thọ, Kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện, Kinh Lăng Nghiêm, chương Đại Thế Chí. Còn tài liệu ông Trinh thấy đâu đó ở Canada thì tôi không có ý kiến, vì người viết để giảng ngoài kiến giải riêng còn nhắm vào đối tượng đọc có hiểu biết khác nhau.

    Tôi nhớ lại một chuyện thực tế được nghe ông Trinh kể ở đây. Nếu trước khi đem tiền về VN đầu tư sinh lợi hay với ý giúp dân giúp nước, ông Lê Quốc Trinh tìm gặp ông Nguyễn Hữu Liêm để được hướng dẫn tường tận đướng lối làm ăn, thì lần đó không phải thất vọng bẽ bàng để bây giớ thành người quyết liệt chống Cộng !

  3. Lê Quốc Trinh viết:

    Chào bạn Trần Lâm,

    Cám ơn bạn đã nhắc nhở tôi về sự kiện Pháp Nạn 1963. Bạn yên tâm đi khi tôi nói về thời kỳ đó lẽ đương nhiên tôi có đủ bằng chứng giấy trắng mực đen, chư’ng từ do chính những nhân vật chủ chốt cung cấp.

    Cách đây hơn một năm tôi đã từng vào tranh luận mãnh liệt trong môt website hai ngoại, từ đó người ta đã hướng dẫn tôi đọc những dữ liệu liên quan đến sự kiện này:

    – Bạn hãy tìm đọc Lá Bạch Thư của HT Thích Tâm Châu viết khi HT đặt chân lên Canada (di tản 1980);

    – Bạn có biết chính TT Thích Trí Quang là người đầu tiên đứng ra ngăn cản phái đoàn biểu tình từ SaiGon ra Huế dưới sự lãnh đạo của HH TT Châu, ngay cả khi trái lựu đạn nổ (do ai đó ném để kích động đám đông) đưa đến vụ thảm sát trước Đài Phát Thanh Huế.

    – Bạn có biết ai là người đã ra lệnh tổ chức đoàn tuần hành đưa đến vụ hoả thiêu TT Thích Quảng Đức không ?

    – Bạn có biết HT Thích Quảng Đức là một người Hoa, không hề biết tiếng Việt ?

    – Bạn có biết sau khi ông Diệm đổ, phong trào PG đã bùng lên quá cao, đưa đến đụng chạm với phe Công Giáo (Hố Nai) bắt đầu một thời kỳ đen tối, loạn kiêu binh ngay giữa thủ đô SaiGon, một tình trạng hoàn toàn vô chính phủ ?

    – Bạn có biết những nhân vật thường hay tổ chức sách động sinh viên học sinh xuống đường như cơm bữa: Nguyễn Trọng Nho, Lê HữU Bôi và Trương Thuý Loan không ? Họ đang cư ngụ bên Mỹ đấy, muốn biết sự thật cứ việc tiếp xúc họ là xong.

    Tôi vẫn thường bứt rứt khi nghĩ đến thời kỳ này, vì tôi đã góp phần như một học sinh trẻ tuổi dễ bị xách động. Nay ngồi nghĩ lại phải biết rút tỉa kinh nghiệm để tránh bị lỗi lầm như xưa. Vì thế mà tôi phải lên tiếng mạnh trong topic này chỉ vì thấy người ta đang sử dụng PG vào những mưu đồ chính trị không trong sáng tý nào. Chẳng lẽ lịch sử sẽ lập lại một lần nữa gieo đau thương tang tóc trên đất nước mến yêu ?

    Mến chào bạn,

  4. Trần Lâm viết:

    @ Lê Quốc Trinh

    Việc chế độ CS đang cố gắng lạm dụng PG tại VN hiện nay không làm cho nhận định của GS Nguyễn Thế Anh et al về nguyên nhân phía sau phong trào PG 1963 trở nên thiếu chính xác.

    Căn cứ vào những gì đã thu thập được qua sách vỡ và tài liệu tôi thấy ĐG Nguyen Mai Linh góp ý có phần không đúng nên tôi lên tiếng theo sự hiểu biết này. Tôi không nghĩ rằng chỉ vì người CS muốn lạm dụng PG mà chúng ta lại có thể phát ngôn thiếu cẩn trọng về phong trào PG 63.

  5. Lê Quốc Trinh viết:

    Thân chào bác Hoà Nguyễn,

    Đáng lẽ tôi đã nói chấm dứt tranh luận với bác thì thôi, nhưng nay nghe bác nhắc lại chuyện chống đối Phật A Di Đà, tôi đành phải lên tiếng một lần nữa.

    Tôi xin phép Talawas cho tôi yết lên đây trang 09 trong tập kinh mỏng “Sự tích Phật A Di Đà” mà tôi đã thỉnh từ chùa Huyền Không (26-11-2005, Quebec, Canada). Vào Google click lên hàng chữ Phật A Di Đà cũng sẽ thấy hiện ra tập kinh mỏng y chang.

    Điều tôi muốn nhấn mạnh rằng khi Phật tử chắp tay tụng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” với thái độ cung kính thành tâm thì cũng nên có hiểu biết chút it về đối tượng mình tin. Vì lẽ đó mà tôi đã thắc mắc và vào chùa thỉnh tập kinh này về đọc.

    Từ hồi nhỏ tôi chỉ nghe người ta chắp tay nhau chào “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. Tôi quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) cho nên tiểu sử Đức Phật Thích Ca tôi thuộc nằm lòng , Giáo Pháp Ngài truyền dạy (Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Nhân Duyên, Nhân Quả, Trùng trùng duyên khởi, Nghiệp Quả, Luân Hồi, Thập Nhị Nhân Duyên, Vô Thường, Vô Ngã, Sắc Sắc Không Không) tôi kiên nhẫn tìm hiểu và vô cùng sung sướng khi hiểu được triết lý thâm sâu siêu việt của Nhà Phật.

    Bây giờ đột nhiên tôi nghe người ta tụng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, tôi ngạc nhiên hết sức, hỏi trăm người hầu hết không ai biết sự tích lý lịch ông Phật A Di Đà này là thế nào ? Ngược lại họ rất mong chờ hy vọng đức Phật này cứu độ vãng sanh linh hồn họ lên miền Tây PhươNg Cực Lạc … sau khi chết. Tại sao kỳ lạ vậy ?

    Khi đọc kỹ cuốn kinh Sự tích Phật A Di Đà này tôi cảm thấy chới với, đồng ý rằng đã là sự tích thì không có thật, đồng ý rằng Phật A Di Đà chỉ là một hình ảnh tưởng tượng, thế nhưng có những điều tôi ngạc nhiên vô cùng, ví dụ:

    1)- Tại sao miền Tây Phương Cực Lạc chỉ chấp nhận nam giới (đàn ông con trai) mà tẩy chay sự hiện diện của nữ giới (đàn bà, con gai’) ? Tại sao có sự kỳ thị nữ tính ở đây ?

    2)- Tại sao lên miền Tây Phưong Cực Lạc thì được hưởng hết tất cả mọi vật chất giàu sang vàng bạc châu báu, được đi chơi khắp mọi miền trong không gian, khi về thì đã có mâm cơm sơn hào hải vị chờ sẵn ? Phải chăng con người sống trên thế gian vì nghèo đói mà phải mơ ước một thiên đàng đầy đủ tiện nghi cho họ ? Tuyệt nhiên không nghe nói chuyện tu hành gì trên cõi Trời này;

    3)- Tại sao khi còn sống không được vãng sanh lên miền Tây Phương mà phải đợi đến khi chết mới được lên ?

    4)- Tại sao chỉ có đỨuc Phật A Di Đà mới có phép thần thông đưa người vãng sanh lên Tây Phưong với điều kiện khi sống họ thành tâm tụng niệm danh hiệu A Di Đà Phật ? Ai không tụng niệm chắc sẽ bị đóng cửa không cho vào, mặc dù khi sống họ không có lỗi lầm gì ?

    5)- Bác đọc kỹ cuốn kinh sẽ thâ’y tình tiết khởi đầu giống y chang truyện Tây Du Ký bên Tàu, tức là bốn châu: Đông Thắng Thần Châu, Nam Thiện Bộ Châu, Tây Ngưu Hoá Châu và Bắc Cu Lô Châu . Do đâu có sự trùng hợp ly kỳ vậy ? Và Tây Phương Cực Lạc nằm ở đâu trong khoảng không gian vũ trụ này ? Cách xa Trái Đất bao nhiêu năm ánh sáng ? Đi tới đó bằng phương tiện chi ?

    6)- Bản thân lý lịch Phật A Di Đà cũng không rõ ràng trong cuốn kinh đó. Chỉ cần nêu lên mấy chục điều thệ nguyện, tức khắc được mang danh hiệu Phật liền ? Sao dễ dàng vậy ?

    Nếu bác muốn nghiên cứu cứ việc vào Google click lên một cái là xong, dễ dàng.

    Tôi chỉ có bấy nhiêu thắc mắc của một Phật tử tầm thường, muốn tìm hiểu cặn kẽ hiện tượng Phật A Di Đà. Kinh mời bác Hoà Nguyễn lên tiếng giải thích dùm.

    Cám ơn nhiều,

  6. Hoà Nguyễn viết:

    Nói thêm về Tứ Ân với ông Tri Ngộ.
    Theo “Phật học Từ Điển” của Đoàn Trung Còn, quyển 2, trang 1619, Tứ Ân là bốn ơn, cũng gọi Tứ Trọng Ân,, gồm có:
    1/ Ơn Cha mẹ
    2/ Ơn chúng sinh
    3/ Ơn vua trong nước
    4/ Ơn Tam bảo

    Trong góp ý trước, tôi viết dè dặt “Tứ Ân thường kể” (4 ơn trên), vì cũng biết có sách, có người giảng Tứ Ân khác đi. Nhưng ở đây ông Lee Can và tôi hiểu ơn thứ ba là ơn quốc vương, với nghĩa rộng là ơn đất nước, mà tiêu biểu đối với người xưa là vua, hay ngày nay là quốc trưởng (với nhiều tên gọi khác nhau). Tôi không biết Tứ Ân Hiếu Nghĩa được mở đạo năm 1876 ở miền Tây Nam Bộ (theo Tạ Chí Đại Trường, trong quyển “Thần, Người và Đất Việt”) đã giảng Tứ Ân gồm những ơn nào, nhưng từ thời đó vai trò của vị “thầy” trở nên rất lớn, nên có phải đã thay thế vị trí của “quốc vương” trong Tứ ân chăng? (chỉ là nghi vấn, nhưng tôi nghĩ là không phải thế).

    Điều tôi muốn viết trong góp ý đó là nói thêm cho ai chưa quen biết vế nghĩa Tứ Ân trong đạo Phật, chứ đừng hiểu lầm tôi cho chùa Đại Nam quốc tự thờ Tứ Ân, vì tôi nêu rõ tuy có “ơn vua ” nhưng không thấy hình tượng trong chùa nêu lên ơn cha mẹ.

    Tri Ngộ: “Xây Chùa lớn, thờ ông này ông nọ chỉ là hoa phấn trên mắt nhung”.

    Điều này cứ được lặp đi lặp lại. Xây chùa lớn là để làm nơi tu tập cho nhiều tăng ni, chứa được nhiều kinh Phật, và tiếp nhận dược nhiều người đền chiêm bái. lễ Phật, nghe giảng kinh. Cho nên chùa lớn không phải điều đáng chỉ trích. Làng Mai ở Pháp, Lộc Uyển (chi nhánh của Làng Mai) ở Mỹ được xây trên một diện tích rất rộng, để có thể làm nơi tĩnh tu cho hàng ngàn người cùng ngày, hay cùng lúc.

    Tri Ngộ “theo Lâm Tế Lục, tìm Phật và cầu Phật ở ngoài mình là đi sai lời Phật dạy 100%.”

    Lâm Tế (? – 867), đời Đường, chỉ là một tổ của chi phái Thiền Tông Lâm Tế, không ai cho Lâm Tế Nghĩa Huyền là Phật, và lời ông nói là kinh. Điều Lâm Tế nói là đúng với đạo Phật, nhưng những tông phái khác trong Phật giáo chủ trương có nhiều con đường để đi “vào Tâm”, thường phải qua một phương tiện, một hình thức trung gian bên ngoài, cho phù hợp với căn cơ của nhiều chúng sinh khác nhau. Không phải người theo đạo Phật nào cũng tu theo pháp tham công án của Lâm Tế. Người đã biết đạo Phật tất biết câu nói có tám vạn bốn ngàn pháp môn tu tập. Không phải chỉ có cách tham công án, khán thoại đầu, hay tu theo Thiền Tông (lại có nhiều chi phái). Vì vậy, khi Nam tông trước đây dùng hình tượng, vât thể Kasina để tập Thiền thì người theo tông phái Tịnh độ dùng pháp quán Phật, quán cảnh Tịnh độ, hay đơn giản hơn, họ niệm Phật để đạt tới “nhất tâm bất loạn”, và Mật tông còn dùng nhiều phương tiện khác để tu quán tưởng. Hãy tìm hiểu sâu hơn các phương pháp tu hành của họ để thấy họ không dừng lại ở phương tiện trung gian tu tập, dù là lời kinh hay cách thiền quán, mà luôn luôn đi sâu hơn nữa, để đến chỗ (hay trạng thái) tịch tĩnh của tâm thức, mà họ gọi chung là Chân Tâm. Như thế, họ đều đi theo bước chân của Đức Thế Tôn bằng nhiều phương cách riêng, nhưng không ngoài giáo lý Phật.

    Người chỉ trích, bài bác Phật A Di Đà không phải chỉ chống lại việc xây chùa Bái Đính (được họ dùng như cái cớ), nhưng là chống lại Phật giáo Đại Thừa, bao gồm nhiều tông phái trong đó có cả Thiền Tông và Mật tông (chưa nói chống chung các tôn giáo khi nhân danh chống mê tín). Người cho mình nghiên cứu Mật tông phải biết trước đây Mật tông Tây Tạng coi Ban Thiền Đạt Ma như là hiện thân của Phật A Di Đà.

    Nếu ai cho mình theo đạo Phật không thích pháp môn niệm Phật, quán tưởng Phật thì tu theo Nam Tông, nhưng nên biết vào chùa Nam Tông cũng gặp tượng Phật.

  7. Trung Nu Hoang viết:

    @ Tri Ngộ:
    Có chỗ tôi đọc được từ lâu không còn nhớ rõ xuất xứ – kinh Phật Báo Ân (?)- Tứ Ân gồm:
    1)- Ân Tam bảo [Phật Pháp Tăng (theo tôi nghĩ, là THÁNH TĂNG và chư tăng nghiêm trì giới luật, chứ tăng của A.25, tăng chỉ vì có khoát áo ca-sa mà không nghiêm minh giới luật thì 100% là không!]
    2)- Ân Quốc Gia
    3)- Ân Cha Mẹ (cả cha mẹ sinh ra mình và cha mẹ nuôi dưỡng mình, nếu có)
    4)- Ân chúng sanh.

    Phật Giáo Hòa Hảo, tôi nghĩ, đã theo Tứ Ân này, trong đó lấy Ân Quốc Gia làm trọng, trong hoàn cảnh nước nhà nguy biến.

    Riêng Tứ Ân của bác Tri Ngộ nêu lên, 1. ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục – 2. ơn thầy cô giáo huấn
    3. ơn bạn bè và thiện tri thức giúp đỡ – 4. ơn mọi loài chúng sanh, cây cỏ và đất đá.
    theo tôi, có chỗ tương tự ít nhiều giữa #2 và #3: “thầy cô giáo huấn” , cũng có thể xem là “Thiện trí thức” hay ngược lại.

  8. nguyen mai linh viết:

    Tam thế Phật: không phải là Tam thân Phật. Tam thân Phật là Hoá Thân, Báo Thân và Pháp Thân,
    Báo thân: Cái thân do nghiệp báo hình thành
    Hoá thân: Do tu tập, cái thân đang thăng hoa chuyển hoá.
    Pháp thân: Cái thân trùng với bản thể.

  9. Lê Quốc Trinh viết:

    Tôi là người từng xuống đường biểu tình trong thời kỳ Pháp Nạn (1963), tôi cũng đã từng bị lôi cuốn trong những cuộc biểu tình diệu võ dương oai của Phật Giáo miền Nam và đụng chạm với giáo dân Hố Nai kéo lên Sai Gòn hồi 1964-1965. Tôi thấy rõ một xã hội cực kỳ xáo trộn, một đất nước vô chính phủ, do nạn “kiêu binh tôn giáo” gây ra.

    Khi sang Canada du học tôi đã cố gắng tìm hiểu nguồn cơn, sự thật và phải nhờ những Trang Mạng Internet này tôi giải mã được những bí ẩn nấp sau “phong trào đấu tranh Pháp Nạn trong thời ông Ngô Đình Diệm”. Tinh thần Vô Ngã của Đạo Phật chính thống do Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni truyền đạt đâu có cho phép đệ tử Ngài hành xử thiếu trí tuệ như thế !

    Bây giờ chính tập đoàn lãnh đạo CS VN lại muốn đem lá bài Phật Giáo ra làm cái bung xung bình phong để bảo vệ quyền lợi của họ, tình thế đã đi quá xa đến mức độ gây tranh cãi xung đột giữa hai tôn giáo, rồi kẻ mang danh nghĩa “ngư ông đắc lợi” chắc chắn không phải là chính quyền CS VN mà là những người láng giềng phương Bắc.

    Nguy hiểm gần kề, không gióng lên tiếng chuông báo động thì đất nước sẽ đi về đâu ?

  10. Trần Lâm viết:

    Nguyen Mai Linh viết:

    “Đạo Phật ở Việt Nam không chỉ bị cộng sản lợi dụng ở cái thời nhiễu nhương này, mà đã bị lợi dụng trong chế độ VNCH. Trước đây lợi dụng Phật giáo để khuấy nhiễu, xách động quần chúng Phật tử đứng lên phá rối chính phủ VNCH từ thời đệ nhất cho đến đệ nhị VNCH.”

    1/ Nhận định PG bị CS lợi dụng để phá rối đệ nhị VNCH là một nhận định (tương đối) chính xác.

    Còn nói rằng phong trào PG đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm cũng do CS giật dây thì tôi e rằng không đúng.

    GS Nguyễn Thế Anh, nguyên Trưởng ban sử học Đại học Văn khoa Sài Gòn, có nhận định rằng nguyên nhân chính phía sau phong trào này là chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm và thái độ đắc thắng (hay kiêu ngạo) của thiểu số Công giáo mà chế độ này muốn biến thành nền tảng chính trị của nó. Sử gia Tạ Chí Đại Trường, người từng sống dưới chế độ Ngô Đình Diệm, thậm chí đã gọi đồng bào Công giáo từ Bắc di cư vào Nam thời đó “ít nhiều gì cũng là kiêu dân”. Còn Vũ Tài Lục, một học giả cũng đã từng sống trong thời Ngô Đình Diệm, thì lại khẳng định rằng đến tháng 5 năm 1963 thì sự kỳ thị tôn giáo dưới chế độ này (mà ông gọi là chế độ Diệm-Thục để nhấn mạnh vai trò của Đức Tổng Giám mục Ngô Đình Thục trong đó) đã đến mức không thể chịu đựng hơn được nữa, nên Phật tử đã phải xuống đường để phản đối.

    GS Nguyễn Thế Anh cho biết thêm rằng ngay từ đầu phong trào PG 1963 đã nhận được sự hậu thuẩn của những thành phần đối lập tại Miền Nam đang đi tìm một phương pháp không CS để bày tỏ thái độ thù nghịch của họ đối với chế độ Ngô Đình Diệm.

    2/ Những gì tôi viết trong PH này là những điều tôi đã từng viết trên DĐ Talawas, nên không cần ghi lại một lần nữa xuất xứ của những lời trích dẫn nói trên. Căn cứ vào những sách và tài liệu mà tôi đọc được tôi thấy nhận định của Nguyễn Thế Anh et al là đáng tin hơn nhận định của những tác giả khác cho rằng CS hay người Mỹ là thế lực chủ động phía sau phong trào PG 1963. Nhưng một PH không phải là nơi có thể đi sâu vào vấn đề này. Nếu cần thì tôi sẽ làm việc này trong một bài phân tích dài hơn.

    3/ Cuối cùng xin được nghi thêm một suy nghĩ về việc thờ HCM trong một ngôi “chùa” tại một khu du lịch ở VN hiện nay: tôi đoán rằng tượng HCM rồi cũng sẽ chịu chung một số phận như tượng Hai Bà “Trưng” do chế độ Ngô Đình Diệm dựng lên trước khi chế độ này sụp đổ.

  11. Tri Ngộ viết:

    @ Hoà Nguyễn
    Tôi đọc sách về những nghi thức lễ hội thì cũng thấy có Tứ Ân sau đây :
    1. ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục
    2. ơn thầy cô giáo huấn
    3. ơn bạn bè và thiện tri thức giúp đỡ
    4. ơn mọi loài chúng sanh, cây cỏ và đất đá.
    hơi khác với Tứ Ân của bạn Hoà Nguyễn, chép ra đây để các bạn cùng tham khảo.
    Vì nhu cầu du lịch, vì nhu cầu tín ngưỡng và thần quyền, vì nhu cầu bảo vệ tư duy cộng sản, các Chùa ở VN được phát triển theo một chiều hướng có thể gọi là đi quá xa lời Phật dạy.
    Đạo Phật sở dĩ có mặt là vì có khổ đau (Bốn Sự Thật Tuyệt Vời), lấy khổ đau đi thì Đạo Phật sẽ không có chỗ hiện hữu. Con đường duy nhất để thắng được khổ đau và đem đến hạnh phúc an lạc là Tám Con Đường Tu Chân Chính (Bát Chánh Đạo). Xây Chùa lớn, thờ ông này ông nọ chỉ là hoa phấn trên mắt nhung (de la poudre aux yeux). Ngay cả kinh Phật cũng chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng. Tuy nhiên dùng Chùa to như là một phương tiện thiện xảo để giúp những người căn cơ kém quay về với Đạo Phật là một điều tốt. Nhưng theo Lâm Tế Lục, tìm Phật và cầu Phật ở ngoài mình là đi sai lời Phật dạy 100%. Thêm nữa, xây Chùa lớn mà không giúp được nhiều người tu, không xoá được sự nghèo khó và khổ đau của những làng xóm lân cận và xã hội xung quanh, lại càng đi xa lời Phật dạy hơn nữa.

  12. Hoà Nguyễn viết:

    Tôi thấy dưới tấm ảnh chùa Đại Nam quốc tự tại:

    http://en.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Nam_V%C4%83n_Hi%E1%BA%BFn

    ghi chú thích : “Main workship place in Đại Nam Quốc Tự, with Buddha Amitābha, Hung Vuong, and Ho Chi Minh, what has sometimes become entangled in social controversies”

    Như vậy tại chánh điện chùa này đặt thờ Phật A Di Đà, Hùng Vương, và Hồ Chí Minh. Do đó, đây không phải chùa thuộc Phật giáo thuần tuý, dù có thờ Phật A Di Đà.

    Tôi đọc thấy các chùa Bắc Tông ở Việt Nam và Trung Quốc thuộc khuynh hướng Tịnh Độ thường thờ “Tam Thế Phật” gồm có ba vị Phật:
    Dược sư Phật (còn gọi Đông phương Lưu ly Quang Phật), Phật Thích ca Mâu Ni, Phật A Di Đà (Tây phương Tịnh Thổ).

    Cũng có chùa thờ ba vị Tam Thế Phật khác, nhưng ít thấy hơn, gồm Phật Quá khứ là Ca Diếp Phật, Phật Hiện tại là Thích Ca Mâu Ni, và Phật Vị lai là Di Lặc.

    Trong phóng sự ảnh của ông Vũ Hải Ngọc tôi nhớ có nói đến nơi thờ Tam Thế Phật ở chùa Bái Đính, nhưng không nói rõ ba vị Phật nào. Nhưng Tam Thế Phật không phài Tam Thân Phật, như ông Nguyễn Mai Linh nói, thuôc Mật tông, gồm Tỳ Lô Giá Na Phật (Pháp Thân), Lô Xá Na Phật (Báo Thân), và Thích Ca Mâu ni Phật (Ứng Thân). Tôi nghĩ nếu ai cho ông Hồ Chí Minh là Ứng Thân Phật thì đó là một xuyên tạc lớn, hoặc từ những người đặt các vị Phật ở chánh điện “chùa” Đại Nam quốc tự nếu họ cho là như thế, hoặc từ ông Nguyễn Mai Linh xuyên tạc ý nghĩa họ muốn biểu hiện trên bàn thờ.

    Trong Phật giáo có nói đến Tứ Ân , như ông Lee Can dẫn, thường kể gồm có: ơn cha mẹ, ơn chúng sinh, ơn quốc vương, ơn Tam bảo, Ơn chúng sinh ngày nay coi như ơn xã hội, hay mở rộng hơn là ơn đối với muôn (sinh) vật. Khi Hùng vương, HCM đặt trên bàn thờ có thể tượng trưng cho ơn quốc vương, nhưng không thấy các ơn khác, như cha mẹ. Cho nên đây chắc không phải thuộc đạo Tứ Ân! Xin nói thêm, Tứ Ân có trong kinh Tâm Địa Quán của Phật giáo, và đạo Hiếu Nghĩa ở Hậu Giang Nam Bộ trước kia , tiền thân của đạo Phật giáo Hòa Hảo, nêu cao Tứ Ân trong giáo lý của họ.

    Chưa thấy có những tương đồng trong cách thờ phượng ở chùa Bái Đính và “chùa” Đại Nam Quốc tự.

  13. nguyen mai linh viết:

    Ở trong chánh điện thờ Phật, với ý nghĩa Phật có tam thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Cách bài trí các tượng Phật ở chánh điện theo đúng ý nghĩa ấy cho nên ở tầng trên cùng là thờ Pháp thân Phật, tầng thứ hai thờ Báo thân Phật, tầng thứ ba là thờ Ứng thân Phật, tức là thờ Phật đã hoá hiện ra dưới xác thân ở trần thế. Nhìn vào tượng Hồ chí Minh ở Đại Nam Quốc Tự sẽ thấy họ Hồ ngồi vào vị trí của thế “ứng thân” Phật trong cơ cấu của Phật Tam Thế, chứ chẳng phải [ ”tượng thờ” có lẽ nói lên giáo lí Tứ Ân, trên thờ Phật và thánh chúng, giữa là tổ tiên, dưới cùng là anh hùng dân tộc (Lee Can)]. Theo tôi, Tứ Ân khác xa với Tam Thế là cách thức sắp xếp tượng trong chánh điện nhiều lắm

  14. nguyen mai linh viết:

    Đạo Phật ở Việt Nam không chỉ bị cộng sản lợi dụng ở cái thời nhiễu nhương này, mà đã bị lợi dụng trong chế độ VNCH. Trước đây lợi dụng Phật giáo để khuấy nhiễu, xách động quần chúng Phật tử đứng lên phá rối chính phủ VNCH từ thời đệ nhất cho đến đệ nhị VNCH. Đến bây giờ, thì lợi dụng tôn giáo để ru ngủ quần chúng. Việc xây dựng các chùa chiền hiện nay làm những người tâm huyết phải cảnh giác, không chỉ vì vai trò tuyên truyền mị dân về tự do tôn giáo của nhà nước Cộng sản, mà còn thấy đằng sau những việc đó là cả một âm mưu của kẻ thù phương Bắc, đang tìm mọi cách “Tàu hoá” dân Nam. Việc các chùa chiền mang đậm phong cách Tàu làm người ta nghĩ về một thời kỳ Bắc thuộc mới, không chỉ bằng súng đạn mà còn về vấn đề văn hoá. Phật giáo truyền vào nước ta bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng theo tôi Phật giáo Việt Nam mang đậm dấu ấn Phật giáo Tàu, và chính ở điểm này Phật giáo đang bị khai thác và lợi dụng. Cho nên, việc xây nhà thờ to lớn, rộng đẹp lại không bị “soi rọi” như việc xây các chùa như Đại Nam, Bái Đính v.v… Phải chăng, vì những lý do trên, mà các nhà yêu nước, những người có tâm huyết phải lên tiếng.

  15. Lê Quốc Trinh viết:

    Thân chào bác Lee Can,

    Xin được phép bàn luận tiếp với bác nhé.

    Khi tôi nói “công thức khoa học định lượng” tức là ý muốn nói khoa học đi từ lý thuyết trình bày và giải thích sự kiện mạch lạc xong rồi phải có công thức định lượng để có thể áp dụng vào thực tế, vì tuỳ vào mỗi hoàn cảnh khác nhau mà công thức áp dụng phải thay đổi thông số. Không có công thức toán học định lượng thì khoa học mang lớp vỏ lý thuyết tràng giang đại hải, mất sức thuyết phục. Đó chính là lý do khiến nhiều Phật tử còn thờ ơ với triết lý Nhà Phật. Bởi vì những luận đề mà Đức Thế Tôn giảng giải chỉ nằm trong phần lý luận chung chung, phát xuất từ trực giác của một con người tu hành dùng Thiền Định để suy tư, chưa đủ chứng cơ’ chi tiết để đi vào thực tiễn. Nên nhớ đó là thời điểm 2600 năm trước.

    Hành trình đi tìm kiếm sự thật chẳng khác gì những nhà bác học, trước tiên bản thân hành giả phải có một ưu tư thắc mắc dày vò tâm trí, đó là khởi điểm một chủ đề, một công án, hay một mục tiêu tìm tòi. Ở trong thâm tâm thái tử Tất Đạt Ta thời đó mục tiêu chính yếu là tìm cho ra lời giải “vì sao con người luôn luôn khổ đau”. Đương nhiên thái tử sinh ra trong thời đại phong kiến Ấn Độ: vương quyền đang kết hợp với thần quyền (Đạo Bà La Môn) cực kỳ thịnh hành. Câu hỏi của thái tử chắc chắn đã được các giáo sĩ Bà La Môn tận tình giảng giải cặn kẽ, thế nhưng không đủ sức thuyết phục thái tử. Đó chính là lý do tại sao thái tử phải rời bỏ kinh thành ban đêm để xông pha đi tìm chân lý. Cuộc sống gian truân cực khổ trăm bề, có lúc suýt chết vì cố gắng áp dụng đường lối khổ hạnh, chứng tỏ thái tử có một ý chí sắt đá cương quyết đi tới mục tiêu bằng mọi giá (ví dụ: lời thề nguyện trước khi nhập thiền 49 ngày dưới cội Bồ Đề). Nếu chúng ta lật lại tiểu sử các nhà bác học lỗi lạc, đều thấy họ cùng một mẫu số chung, đó là ý chi cương quyết mày mò kiên trì làm việc cho một mục tiêu trong đầu, bỏ mặc những lời đàm tiếu hay sức ép từ ngoại cảnh (Gallileo chẳng hạn).

    Điểm tương đồng thứ hai giữa các nhà khoa học và Đức Phật Thích Ca là khả năng tư duy dùng Thiền Định để mổ xẻ phân tích vấn đề. Thiền Định theo Nhà Phật có hai mức độ: trước tiên là Thiền Chỉ, tức là tập trung tư tưởng (năng lượng) không cho nó chạy lung tung. Sau đó là tới Thiền Quán, tức là bắt đầu quan sát, phân tích sự kiện phức tạp trong đầu. Dĩ nhiên chủ đề tìm tòi rất ư phức tạp, nào phải chuyện dễ hiểu, cho nên khả năng tư duy của Đức Phật hay các nhà bác học cũng phải đạt đến tầm mức nào đó mới khám phá được chân lý, người bình thường đâu thể so bì. Khi Đức Phật Thiền Định hay khi các nhà bác học suy nghĩ trầm tư mặc tưởng thì họ lui về trong một khoảng không gian vắng lặng, biệt lập với mọi sinh hoạt ồn ào bên ngoài, để tránh bị ảnh hưởng. Đó là điểm tương đồng thứ ba.

    Bác Lee Can có nhắc đến các giai thoại Thiền Công Án của Thiền Tông bên Tàu, tôi cũng nghe rất nhiều, nhưng bác có thấy họ đã chứng ngộ được điều chi để cho thế gian biết đến. Nếu họ giác ngộ thật (?) thì tại sao họ chỉ mang danh hiệu Tổ chứ không hề được gọi là Phật ? Đức Phật Thích Ca xứng đáng danh xưng Phật bởi vì Ngài chứng đắc rất nhiều điều mới mẻ quan trọng cho nhân sinh quan và vũ trụ quan, đó là những luận đề khoa học mà các nhà bác học đương thời phải thán phục.

    Bàn về những kiểu từ ngữ khó hiểu (Hán tự, hay tiếng Phạn phiên âm), tôi không hề thắc mắc, chỉ nghi ngờ khi người ta cố tình sử dụng nó như một đám mây đen, hoả mụ để làm rối trí người nghe. Nội danh tự PHẬT (Boudha) mà tất cả mọi người thường nói, có ai thắc mắc ý nghĩa của nó ra sao ? Có ai thắc mắc Giác Ngộ là gì không ? Bởi vì không bao giờ thắc mắc tìm hiểu cho nên cứ tự nhiên tụng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” và tự nhủ rằng khi chết sẽ được vãng sanh miền Tây Phưong Cực Lạc ? Có ai đủ can đảm vào Google tra cứu “Sự tích Phật A Di Đà” chưa để biết nó chứa chất biết bao chuyện mê tín, hoang đường ? Có ai đọc để thấy rằng Tây Phương Cực Lạc là nơi không chấp nhận đàn bà con gái (nữ giới), là nơi giàu sang xa hoa, vàng bạc châu báu, là nơi chỉ biết ăn chơi, sơn hào hải vị đầy ăm ắp, sáng đi chơi khắp mọi nơi, chiều về có mâm cơm dọn sẵn, tha hồ hưởng lạc !

    Thế đấy, tôi nói Đạo Phật ngày nay đang đi dần vào con đương mê tín vì lẽ nhiều Phật tử còn “Tin mà không bao giờ hiểu”. Đức Thế Tôn thường nhắc nhở “Ai tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”. Đạo Phật là Đạo của trí tuệ, tôn chỉ đặt nặng trên phần tìm hiểu. Khi hiểu rõ tận nguồn cơn thì hành giả có một niềm tin mãnh liệt: đó là tự tin chính mình “Phật tại Tâm, Tâm tức Phật”.

1 … 6 7 8 9 10 11
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>