Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)
08/04/2010 | 1:20 sáng | 155 Comments
Category: Phóng sự ảnh, Tôn giáo
Thẻ: chùa Bái Đính
24: Theo thông báo của nhà nước, công trình sẽ khánh thành vào năm 2015. Hẳn nơi đây sẽ trở thành cơ sở kinh doanh tôn giáo lớn nhất Đông Nam Á (vậy là sẽ có thêm một kỷ lục)!
25: Đại lễ trong chùa thật hoành tráng, nhưng không thấy Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà chỉ thấy Ban Tuyên giáo tham gia? Đảng Cộng sản Việt Nam, sau hàng chục năm được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác-Lê, thay vì tránh “thuốc phiện” thì lại dùng “thuốc phiện”!
26: Có bao nhiêu rừng nguyên sinh đã mất để lấy gỗ cho công trình này?
27: Nếu đặt hàng ông đồ này viết một câu đối bằng chữ Việt Nam, liệu ông ấy làm được không nhỉ?
28: Đúng là đại lễ, khắp nơi và nhiều thành phần, đặc biệt là xe công nhiều chứ không phải ít.
29: Cái cổng tam quan đẹp và hoành tráng thế mà lại treo cái băng-rôn chình ình ở đó (làm du khách muốn chụp một bức ảnh đẹp cũng khó), rồi phía trước cái cổng thì như cái chợ làng!
30: Cái bia này cực kỳ phản cảm về nhiều góc cạnh!
- Gọi là “Vườn cây doanh nhân 1000 năm” nhưng doanh nhân thực sự được mấy người? Hễ đứng đầu doanh nghiệp thì được gọi là doanh nhân?
- Phật tại tâm, đâu cần trần tục biết? Trên tấm bia này, chỉ cần khắc tên A, nhà B cho mỗi ông/bà góp tiền trồng cây nơi đây là đủ.
- Còn 5 năm (hoặc lâu hơn) nữa nơi đây mới khánh thành. Gắn một công trình đang dang dở với “1000 năm Hoa Lư – Thăng long” chẳng khác một sự ăn theo và chắp vá!
31 và 32: Phút thư giãn của sư (!)
33 và 34: Phút (…) của sư (!)
© 2010 Vũ Hải Ngọc
© 2010 talawas
Bình luận
155 Comments (bài “Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)”)
« Trang trước 1 … 3 4 5 6 7 … 11 Trang sau »










Ông Lee Can quả thật nhầm lẫn chăng?
Tôi đề cập tới lá cờ búa liềm – đảng kỳ – của quốc tế cộng sản, mà đảng công sản Việt Nam là một chi bộ, được treo trong Chùa Bái Đính (xem loạt hình số 25) chứ không phải lá cờ đỏ sao vàng như ông LEE Can nêu ra. Lá cờ với hình búa liềm không phải của nhân dân mà là của kẻ thống trị nhân dân Việt Nam. Nhân dân nào mà lị thấy kẻ sang bắt quàng làm họ như thế!
Chính đảng cộng sản phải cảm ơn dân tộc Việt Nam, bởi máu xương của hàng triệu người Việt đổ xuống đã giúp họ giành được vai trò thống trị độc tài một nửa đất thay thế thực dân Pháp từ năm 1954 và phần còn lại của đất nước sau năm 1975. Còn đối với nhân dân Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”. Những yêu sách chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc đòi hỏi chính quyền thuộc địa cách đây hơn nửa thế kỷ cũng chính là những yêu sách người dân Việt Nam thấp cổ bé họng ngày này đòi hỏi nơi nhà nước độc tài.
Thưa ông Hòa Nguyễn,
1/ Tôi thông cảm sự giận dữ, nỗi ám ảnh của ông Hòa Nguyễn với Công giáo. Khi đọc hồi ký của mục sư Lê Văn Thái (đã dẫn trong phản hồi trước) cảm giác lúc đó của tôi là ghê tởm trước một hành động bất dung, biểu hiện sâu xa tư tưởng bất dung. Minh giải: mục sư Thái “xin cụ cất bỏ bàn thờ trong nhà đi”, cụ chủ nhà “bay muốn làm gì thì làm”, và mục sư Thái đã thể hiện cụ thể sự “muốn làm gì thì làm” là “Tất cả những đồ thờ phượng bằng gỗ trên ba bàn thờ lớn giữa ba căn nhà đều được dọn ra ngoài sân. Nội trong đêm đó chúng tôi đập bể và đốt hết, đến hơn mười hai giờ khuya mới xong”.
Ông cụ chắc không trông đợi điều này. Người hiểu biết chỉ hành động trong giới hạn của lời yêu cầu đầu tiên “cất bỏ bàn thờ trong nhà đi”, nếu muốn làm hơn thế thì nên trình bày rõ ràng đề nghị, và để gia chủ có thời giờ suy nghĩ, cân nhắc về hành động sẽ xảy ra rất là triệt để, thái qúa của mình đối với những gia sản truyền từ bao thế hệ, ghi dấu ấn, kỷ niệm, truyền thống của giòng tộc. Nhưng hành động của mục sư Thái là “Chúng tôi hết sức ngợi khen Chúa và bắt tay vào việc ngay”. Khác gì việc taliban đập tượng Phật ở Afghanistan mà thế giới lên án về sự độc đoán, hẹp hòi, tối tăm, bất dung những khác biệt?
Để có thể thông cảm nỗi giận dữ mà một số người lương chất chứa, người Ki-tô hữu thử tưởng tượng kiểu hoán vị: hãy thay những đồ thờ phượng bị đập, bị đốt như kể trên, bằng việc thánh giá bị đập, bị đốt; rồi đặt mình vào vị trí, vào tình cảm của những Ki-tô hữu khác khi nghe tới chuyện này. Đây chỉ là một vụ việc trong nhiều va chạm của một người tới cắm dùi nơi một mảnh đất khác, và hất chủ cũ đi rất triệt để, không nhân nhượng.
Tuy nhiên, giận dữ tới mức ám ảnh sẽ không giải quyết được vấn đề, nếu không làm nó càng ngày càng trầm trọng hơn. Xin thử đề nghị:
Người cảm thấy bị xúc phạm có quyền, và nên công khai bày tỏ rõ ràng nỗi giận của mình, hãy đặt vấn đề và câu hỏi để bên kia phúc đáp, thí dụ như: trong suốt 2 ngàn năm nay, thực tế lịch sử nhiều lần lập lại là Ki-tô giáo có xung đột, nhiều lúc đẫm máu với các tôn giáo khác, và ngay giữa những người cùng niềm tin nơi chúa Ki-tô với nhau; khi tới Việt Nam, là nơi ý niệm ông trời (thượng đế) rất mông lung, ba phải, chỉ có tổ tiên, ông bà là cụ thể và được hưởng sự kính ngưỡng là thờ cúng tổ tiên, việc này bị bài xích, bị miệt thị. Kết qủa của sự ăn miếng, trả miếng là hàng trăm ngàn tổ tiên Việt Nam đã mạng vong. Vết rách trong tâm thức dân tộc chưa bao giờ lành, vẫn ngậm mủ, chảy máu. Xin quí vị Ki-tô hữu cho biết về những biện pháp cụ thể, khả thi có thể làm để chữa lành những tổn thương cũ, và phòng xung đột, hận thù tái hiện. Thay vì mang Tin Mừng, mang yêu thương tới, thì có thực tế là đã gây tổn thương, hiềm thù. Vì không nhận diện, không đối diện việc này, thì loạn lạc, hiềm khích sẽ còn xảy ra không bao giờ dứt.
2/ Báng bổ: có vô số giai thoại Phật giáo như “gặp Phật, giết Phật” (phùng Phật, sát Phật), Phật tính của con chó… diễn đạt như vậy có phải là báng bổ hay không, câu trả lời tùy nhiều yếu tố, tuỳ người.
Thiền sư Nhất Hạnh khi giảng về kinh Pháp Hoa trong cuốn Sen nở trời phương ngoại đã dạo một vòng trên các kinh Duy Ma Cật, Hoa Nghiêm … cho thấy sự biến chuyển của suy nghĩ, nhận thức, cách diễn đạt của các hành giả và người học Phật qua các thời kỳ, và các kinh khác nhau. Với tôi, Phật giáo là một tôn giáo của trí tuệ, không phải niềm tin hay tín lý bất di, bất dịch, và kinh sách là những ghi chép, bản thân chúng không có gía trị tự thân, tuyệt đối. Trên nguyên tắc, việc sửa chữa, bôi bác lời kinh cũ, nhưng vẫn giữ nguyên tên của bộ kinh là điều không nên làm, vì nó không nghiêm túc, vô phương pháp. Nhưng nếu sửa chữa lời cũ và đặt tên mới (thí dụ Neo-Bát-Nhã) như một variation, thì cũng trên nguyên tắc, điều này không sai.
Có 2 điều ông Hòa Nguyễn cần lưu ý:
– Tôi không có lời cợt nhả trong Neo-Bát-Nhã, bỏ qua thành kiến – đụng tới kinh sách là báng bổ, untouchable – nếu đọc theo kiểu toán học, sẽ thấy chỉ là đảo dấu, và sửa chữa lại các ký hiệu để đạt đưọc sự đồng nhất (consistency) cho bài toán.
– Tôi đã không đọc cho bố tôi nghe Neo-Bát-Nhã dù theo thiển ý, nếu có đọc, cũng không sai, không hại, vì nghiệp qủa của bố tôi đã làm một đời, vào giây phút chót chữ nghĩa chỉ là trợ duyên, là chất xúc tác, nhưng không gây ra thay đổi nào đáng kể.
3/ Phản hồi trước đây của tôi tới ông Hòa Nguyễn đã được biên tập, cắt đi một số ý (tương tự trường hợp nguyen mai linh/Nguyễn Mai Sơn), làm ông không nắm được hòan tòan điều tôi muốn trình bày, đây là điều ngoài ý muốn của tôi.
Bài thơ ly kỳ … cục, xin các bác đọc để đổi không khí, từ văn xuôi chuyển qua văn không vần, có gì sai xin lượng thứ cho
Sắc Không Đời Đạo
Vô Thường Bến mê
Chỉ chưa tới một sát na
Sắc chuyển thành không, không thành sắc
Có chi mà thắc mắc
Kể cả
Chuyện Đại Nam Quốc Tự nước nhà
Thờ Phật lẫn thờ Ma
Tại sao?
Chắc chỉ có mình tôi nghĩ mãi không ra
Chỉ vì quá chấp, chưa đạt được vô ngã
Thiên thượng địa hạ
Chắc chỉ mình ta độc tôn duy ngã
Hay là vì bờ bến quá xa
Hoặc là vì không nghiên cứu Tâm Kinh Bát Nhã
Nguyễn Mai Linh
@Ông Trung Thứ.
Đặt câu hỏi như ông là đúng nếu người trong cuộc nhìn lá cờ đỏ sao vàng như ông đã nhìn. Nhưng thử đặt mình vào vị trí người miền Bắc. Có mấy ai nghĩ đó là lá cờ của riêng đảng CS, “đã vấy máu hàng trăm triệu sinh linh”? Trái lại, họ có thể (được) biết, đó là lá cờ có quan hệ đến cuộc Nam Kì Khởi Nghĩa chống Pháp, là cờ có mặt với tuyên ngôn độc lập, thoát ách đô hộ, cờ có với họ từ bé đến lớn, đã thấm máu bao nhiêu là chiến sĩ chống Mĩ cứu nước … Người khác muốn nghĩ sao thì nghĩ, là cờ đó vẫn là lá cờ của họ, của một Việt Nam độc lập và, bây giờ, hoà bình và thống nhất.
Từ cái nhìn như thế, họ không có mấy lí do để không chấp nhận giương cờ trong chùa trong những dịp lễ lạc. Người công giáo miền Bắc là ngoại lệ; nếu có cái nhìn như thế hay giông giống như thế thì nhà thờ ở VN vẫn phải giống hệt ở nơi khác.
@O/B nguyen mai linh và …
Ông/Bà nguyen mai linh đã đọc -có lẽ quá nhanh, nên -nhầm rồi: Câu hỏi “Bờ nào?” không do tôi đặt ra, mà của ông Lê Anh Dũng, không hiểu có phải do kiến giải của ông về ý chỉ của Tâm Kinh Bát-nhã hay không.
Tôi thì thấy yên tâm hơn với một kiến giải hơi khác, qua đó tôi không thấy “hơi chói” như ông LAD, mà cũng không thấy có lí do lớn lao gì để câu hỏi “Bờ nào?” phải có mặt.
Trong lối hiểu của tôi Tâm kinh Bát-nhã nói lên một khác biệt trong nhận thức thực tại. Một bên là nhận thức đúng đắn, xác thực về thế giới (như sự nối dài của ngũ uẩn), rằng mọi sự mọi vật đều do duyên sinh, do đó vô thường, và do đó vô ngã.
Đúng đắn, xác thực nhưng nhận thức này thật ra bị khuôn nắn trong cơ chế của sự khái niệm hoá như bao nhiêu nhận thức khác về thực tại. Nó là chân lí nhưng là chân lí tương đối, nhìn từ “bờ mê”. Bên khác là nhận thức của một “cao thủ” như Bồ-tát Quán Tự Tại, bậc đã rời bờ mê nhờ thực hành thâm sâu phương thức tu tập Bát-nhã. -Rời bờ mê, thoát được sự chi phối của cơ chế khái niệm hoá, cái đó cũng có nghĩa là cái “bờ bên kia bờ mê” cũng chính là … bờ cũ với lớp sơn khái niệm dày cộm đã được bóc bỏ.
Chắc như thế cũng tạm đủ để nói, cái bờ bên kia mà ông/bà nguyen mai linh giảng giải có lắm điểm … li kì, hơn cả thơ Trần Tế Xương cải biên của ông trước đây nữa!
Ông Nguyễn Mai Linh ỡm ờ: “Chẳng hạn, trước khi ông Lữ Giang đưa ra bằng chứng về việc các ông tướng nhận tiền Mỹ làm đảo chánh, thì ông tướng Trần Văn Đôn đã dẫn chứng cớ với các chứng tờ nhận tiền của các tướng trong sách hồi ký của ông rồi.” Thế là muốn nói điều gì?
Nếu đọc hồi ký Trần Văn Đôn (“Việt Nam Nhân Chứng” từ trang 268) thì biết Conein, người của đại sứ Mỹ Lodge (hơn là của CIA không dứt khoát ủng hộ đảo chính) đem số tiền 3 triệu đồng VN thời đó đến bộ Tổng Tham mưu vào trưa ngày 1-1-1963, khi đảo chính đã bắt đầu, nói với ông Đôn là để úy lạo những đơn vị VNCH đang hành quân đảo chính và trợ cấp cho gia đình binh sĩ tử nạn vì đảo chính. Số tiền 3 triệu đồng có mua chuộc được những tướng tá để họ đánh đổi sự an toàn, chức vụ đang có với việc đảo chính nguy hiểm không? Anh em ông Diệm chết chỉ vì số tiền nhỏ như thế sao, trong khi Tú Gàn cho biết, trong loạt bài trên Thông Luận, ông Diệm gửi cho một linh mục dòng Chúa Cứu Thế 10 triệu USD, lấy từ quỹ đen riêng của ông (sau đảo chính tướng Trần Văn Minh đến thu lại tiền và linh mục đó bỏ trốn qua Pháp). Làm lẫn lộn chuyện thật và biạ đặt là sở trường của Tú Gàn, cho nên nghi ngờ những người bắt tay với Tú Gàn cũng thế.
Vì những người còn quá tôn kính anh em ông Diệm, mưu toan phục hồi chế độ đó, hay lấy lại danh vọng cũ mất sau đảo chính 1963, mới có những tay viết như Tú Gàn, mới có những người tranh giành cuốn “Chính Đề VN”, trong khi gia đình ông Nhu không nói tới cuốn sách này, và những cộng sự viên của ông Nhu không ai biết chắc điều gì, không chứng minh được đã đọc bản tiếng Pháp nếu có, mà họ chỉ dựa vào suy đoán là ông Nhu phải tài trí hơn người mới viết nổi quyển sách. Tại sao họ đợi đến khi bà Nhu, ông Ngô Đình Luyện đều chết hết mới tung tin tác phẩm đó của ông Nhu? Vì có thể biết hai người này bảo là sách không phải của ông Nhu, hay không hề nghe ông Nhu nói tới.
Tôi đã viết vấn đề tác giả thật sự của cuốn Chính đề VN chỉ có một số người Công giáo, và nhóm Cần Lao cũ quan tâm (cũng thấy nhóm ông Kiểng khác họ trong vụ này khi cho Tùng Phong chính là tác giả).
Việc không có gì mà ầm ĩ cả! Bao nhiêu năm rồi, cái việc tra cứu lý lịch vẫn còn nằm trong đầu của một số người Việt, làm tôi quá thất vọng. Ông Nguyễn Gia Kiểng có đạo Công giáo hay không có đạo? Anh em với ông Nguyễn Gia Hiến hay không? Lôi vào bàn cãi thì được gì đây? Vấn đề ai là tác giả cuốn Chính Đề Việt Nam cũng vậy? Theo tôi, cái chính là ông Kiểng đã làm được gì ? Những vấn đề, viễn kiến chính trị của cuốn Chính Đề Việt Nam có đúng đắn không? Có ích lợi gì cho đất nước không? Hay chỉ là một mớ lý thuyết suông?
Việc thứ hai là những sự kiện chính trị, chứng cớ, chỉ vì lý luận người viết không đủ khả tín đối với một số người, mà đã phủ nhận chứng cớ thì sai lầm lắm. Chẳng hạn, trước khi ông Lữ Giang đưa ra bằng chứng về việc các ông tướng nhận tiền Mỹ làm đảo chánh, thì ông tướng Trần Văn Đôn đã dẫn chứng cớ với các chứng tờ nhận tiền của các tướng trong sách hồi ký của ông rồi.
Còn sự việc chùa Bái Đính thì tất cả chỉ dựa vào những sự kiện, hình ảnh mà đưa ra những giả định, còn chuyện chứng minh đúng sai thì chưa có lời giải. Tuy nhiên, việc Hồ Chí Minh được đưa vào thờ ở Đại Nam Quốc Tự, thì mọi người có thể có một phần của lời giải rồi.
Ông Lê Anh Dũng viết rất dài và không tập trung, nhưng tôi thừ phản hồi theo cách ngắn nhất có thể được.
Ông Dũng viết: “trong những phản hồi trước của ông (HN) cũng kết nối Thông Luận với Công Giáo”.
Nhớ lại, bắt đầu khi có vụ Lê Công Định bị bắt ở VN, trong một góp ý tôi viết “Thông Luận của ông Nguyễn Gia Kiểng”. Ông Dũng phản đối câu viết này cho là tôi có dụng ý (xấu) sao đó. Nhưng tôi cũng thường đọc Thông Luận (TL), thấy ghi là của nhóm chủ trương ” đa nguyên, đa đảng”, và ông Kiểng nổi bật như một trưởng nhóm, nếu không là người lãnh đạo. Đến cuối năm 2009 vừa qua, TL ra thông báo cho biết sẽ tổ chức tiệc họp tất niên của nhóm và thân hữu, công khai mời nhiều người đến dự. Cuối thông báo, hay thư mời, ghi thêm: “ông Nguyễn Gia Kiểng cũng sẽ có mặt”, rõ là coi ông Kiểng như một nhân vật quan trọng, vì (ngầm) cho thấy “sự hiện diện của ông làm buổi họp mặt thêm phần long trong”. Tới chỗ này tôi chưa thấy có gì không đúng, gần đây qua bài phỏng vấn của Nguyễn Văn Lục lại thấy thêm ông Kiểng có vai trò lớn trong nhóm TL (mà đại diện trong cuộc phỏng vấn là ông Phạm Đình cho biết).
Tôi cũng đọc biết trên TL có nhiều bài viết của những nhà phản kháng, những ký giả chống Công, ở trong nước cũng như ngoài này, và đó là trang báo tập trung nhiều bài viết giá trị của nhiều nhân vật tên tuổi, mà nội dung phần lớn là chống lại chế độ độc đảng trong nước hiện nay. Đến trước ngày kỷ niệm đảo chính năm 1963 ở mìền Nam, TL cho đăng loạt bài của Lữ Giang tức Tú Gàn (tên thật Nguyễn Cần) là ký giả của tờ báo quảng cáo SàiGòn Nhỏ, trụ sở chính đât tại Little Saigon, Nam Cali. Nhiều người biết Tú Gàn hay Lữ Giang là Công giáo, chuyên viết bài chống lại tổ chức Phật giáo VN Thống Nhất hiện do Thích Quảng Độ chủ trì, chống ông Võ Văn Ái (thuộc tổ chức Phật giáo quốc tế đặt tại Pháp), chống Công Đồng NV ở Nam Cali, chống và bôi xấu nhiều sĩ quan trong quân đội VNCH trước kia từng tham gia đảo chính ông Ngô Đình Diệm. Trong loạt bài trên TL năm vừa qua, Tú Gàn tố cáo vu vơ, với dẫn chứng chỉ lấy từ một phía nhìn, cho các tướng Dương Văn Minh, TT Nguyễn Văn Thiệu là phản bội (đối với ông Diệm), là nhận tiền của Mỹ để làm đảo chính, và làm việc cho CIA. Với tình hình trong nước, Tú Gàn từng công kích đến mức độ chửi bới, nhục mạ LM Nguyễn Văn Lý và các hoạt động, tổ chức của LM Lý, sau này có thái độ gần giống như vậy đối với hoạt động của các nhóm khác như của luật sư Lê Công Định. Tú Gàn rất ít khi chống đối mạnh mẽ nhà cầm quyền Việt Nam, ngay khi có nhiều phản kháng của giáo dân trong nước về đất, nhà thờ, chỉ trừ khi giữa Hà Nội và Vatican có sự căng thẳng, lúc đó Tú Gàn mớí cho thấy mình cũng “chống Cộng”. Từ đó, tôi hoặc ai khác, có thể đặt câu hỏi: TL có liên hệ với những người (như Tú Gàn) còn hoài vọng về chế độ Ngô Đình Diệm trước kia không, mà cả thế giới lúc đó đều cho là nghiêng về Công giáo, ít ra không khoan dung về mặt tôn giáo khi có vụ Phật giáo tranh đấu xảy ra năm 1963.
Mới đây, qua bài phỏng vấn của ông Nguyễn Văn Lục, người ta biết thêm ông Kiểng có qua lại thân tình với các ông Ngô Đình Luyện, em trai ông Diệm, và cũng hợp tác trong việc soạn thảo đề cương chính trị tới mức nào đó với ông Lê Văn Đồng, tức Tùng Phong, tác giả cuốn “Chính Đề Việt Nam” mà hiện đang có tranh cãi về ai là tác giả thật sự. Ông Lê Văn Đồng từng là quan chức cấp cao trong chính phủ ông Diệm, phần chắc cũng trong đảng Cần Lao do ông Nhu lập ra, nên mới được ông Nhu tin cậy giao cho công việc dịch “tài liệu học tập” trong đảng, sau in thành sách (theo lời các ông Cao Xuân Vỹ, Huỳnh Văn Lang).
Những người hoạt động hay tham gia vào việc chính trị, hay việc nước nói chung, đều trở thành người của công chúng. Cho nên mọi người có quyền nhìn sâu hơn để tìm hiểu tường tận về họ, nhưng nên không cho chuyện gì còn nghi vấn là sự thật. Dù sao, nếu mọi chuyện trờ nên minh bạch thì có lợi cho tất cả mọi người, và cho hoạt động chung. Một câu hỏi được đưa lên cũng là môt cơ hội làm sáng tỏ một thắc mắc, nghi ngờ nhiều khi không đúng nhưng có thể gây hoang mang.
Về một chuyện khác: tôi đồng ý với ông Lee Can là đặt “nhại” lời kinh Phật (hay tôn giáo nào khác) phải được đánh giá từ mức đùa cợt, chế giễu, đến nhạo báng, phỉ báng. Các tôn giáo đều cho lời kinh không nên (hay không được) sửa đi dù chỉ một lời, một chữ vì sẽ làm sai lạc ý kinh nguyên thủy. Tôi cho việc đặt lại lời Tâm kinh (của Phật giáo) theo ý riêng là thái độ ngông cuồng, và có hại cho hương linh người chết khi nghe trước khi nhắm mắt “Neo-Tâm kinh” chứ không phải Tâm kinh với ý nghĩa thâm sâu trong nguyên bản của đạo Phật.
Không ai tính lời lỗ khi muốn lấy tiếng. Trong não trạng này, có được tiếng là lời lắm rồi. Tốn một chút chỗ này thì dùng chỗ khác đắp lại. Dân chơi khi chạy theo đồ hiệu, xe hiệu không tính chuyện lời lỗ. Nga Mỹ khi lao vào cuộc chạy đua không gian, vấn đề lời lỗ lập tức được gạt sang một bên. v.v… Nhu cầu lấy tiếng khi xây Bái Đính càng lúc càng lộ liễu. Xây chưa xong mà đã được chọn làm chỗ cho Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo như một độc giả cho biết. Tiếng của Đảng như người bảo trợ cho các hoạt động tôn giáo khởi sắc thì còn hơn nữa.
Phật giáo đang trở thành món hàng độc để Đảng chui vào núp bóng dân tộc khi ngọn cờ XHCN hồ hởi phất lên sau cuộc nội chiến không còn ăn khách nữa. Chùa chiền càng nguy nga, có ban tuyên giáo tới ban sắc, có tượng Hồ Chí Minh, nằm ở chỗ khách thập phương lui tới đông đúc thì hình ảnh của Đảng như người bảo trợ cho Phật giáo càng sáng ngời hơn nữa. Phật giáo càng mang hình thái mê tín dị đoan càng tốt cho nhu cầu này. Buôn thần bán thánh là chuyện thường ngày của mê tín dị đoan. Người bình dân dốt nát phật pháp cứ thấy chùa thấy phật là vô lạy xin phước đức, hoặc vô cầu khẩn bằng cách đổi chác con sẽ cúng thứ này nếu được thứ nọ. Chùa càng lớn, càng đông, càng linh. Chùa nằm ngay khu du lịch, thì ngay cả đi chơi mà cũng có lời càng linh nữa.
Đơn thuần không chỉ là vấn đề của Phật giáo nữa, hoặc tranh chấp lương giáo (để lấy tiếng!?) gì đó nữa. Bàn tay lông lá của chính trị đã thò vô Phật giáo chơi trò bài triệt từ lâu lắm rồi. Nay là lúc con bài Phật giáo mình (dĩ nhiên phải là lá bài tự mình vẽ ra) đưọc mang ra dùng thôi. Các bác chỉ cần nói với các chú. Các chú kêu các anh chị em tới. Mấy anh chị em tụ con cháu trong nhà. Con cháu dạ để con gọi đám lâu la. Đám lâu la hú bạn bè.
Cách làm việc như vậy thì đòi chứng minh bằng chứng cứ thì thôi đành chịu. Cứ nhìn thực tế trước mắt mà suy luận nhé.
@ Nguyễn Mai Sơn
<>
Có đủ bằng chứng hình ảnh rằng những năm đầu người ta lũ lượt đến những địa điểm hành hương đó, từ lúc chưa có nhà cửa gì cả, phải cắm lều để ngủ qua đêm… Còn chuyện “e rằng khó mà thành công, bất cứ về mặt kinh tế hay mục tiêu nào khác!” thì đúng chỉ là dự đoán của tôi.
Câu “chui vào hang đá thì sẽ mau lên trời?” tôi không hiểu ông Sơn lấy ở đâu ra?! Ai mới “mê tín dị đoan” ở đây?
TB. Theo tôi biết, đa số những người đi hành hương ở Lourdes, Fatima vì do lòng sùng kính Đức Mẹ Maria, cũng không ít người tàn tật, hay bị những chứng bịnh hiểm nghèo bác sĩ “chê” đến đó để cầu xin “phép lạ” để khỏi bịnh. Nhưng cũng có những người đến để cầu Đức Mẹ cứu nhân loại khỏi nạn cộng sản Nga như lời “tuyên hứa” của đức Mẹ Maria (theo wikipedia tại http://en.wikipedia.org/wiki/Our_Lady_of_F%C3%A1tima).
@ Nguyễn Hòa
<>
Lạ thật, ông không nhớ là nghe ai nói nữa, nhưng vẫn nói như thật! Mà có ai bảo “ông Kiểng không phải Công giáo” đâu mà ông bắt phải chứng minh? Ông Kiểng (NGK) “theo đạo Công giáo” thì chứng minh được điều gì? Ông Nguyễn Văn Lục (NVL) cũng theo đạo CG, vậy NVL có suy nghĩ giống NGK không?
Vấn đề là ông lôi ông này cho làm em ông kia, rồi lôi tiểu sử lòng thòng ông kia ra kể để dẫn người đọc đến kết luận nào đó…
Ngắn gọn, tôi chỉ xin đề nghị từ nay ta chỉ nói đến những điều cụ thể, ai đã nói gì làm gì, mà không lý tới chuyện “lý lịch” nữa.
TB. Nếu ông Hòa thấy chuyện “anh em” quan trọng thì cứ viết lá “thư độc giả” hỏi thẳng ông Kiểng bên Thông Luận thì biết ngay, chứ khó gì!
Ông Nguyễn Mai Sơn:
Tôi đã giải thích tại sao tôi nói thờ Hồ chí Minh chung với Phật là một sự báng bổ Phật giáo ở trong phần góp ý, nhưng phần giải thích đó bị talawas kiểm duyệt, tôi chẳng biết tại sao? Tuy nhiên, Nếu muốn bàn luận thêm, thì xin ông liên lạc thẳng với tôi, tôi sẽ giải thích tại sao.
Ông Lê Văn viết: “Một người bạn của tôi, cháu ruột gọi bằng bác của cụ Nguyễn Gia Hiến, có khẳng định với tôi là ông Nguyễn Gia Kiểng chẳng có liên hệ dây dưa rễ má gì với bên giòng họ của cụ Hiến cả “.
Ông Lê Văn nên chứng minh các bước:
1/ Trước hết, ông Nguyễn Gia Hiến có người cháu gọi ông ấy là bác ruột.
2/ Người đó thật là bạn của ông Lê Văn
3/ Người đó quả có nói với ông Lê Văn rằng ông Kiểng không phải là em hay bà con gì với ông Hiến.
Mỗi bước nên có nhân chứng đáng tin.
Ở trong thế giới ảo, không nên dẫn lời nói của cha mẹ, vợ, con, người trong gia đình mình ra và cho là đúng, còn khi dẫn lời bạn bè là cháu của ai đó nói về người đó càng kém mức khả tín.
Tôi dẫn ông Nguyễn Gia Hiến ra, nếu đúng có mối liên gia đình thì thêm chứng cớ ông Kiểng là Công giáo, còn nếu không đúng thì trước đó tôi cũng đã biết ông Kiểng là Công giáo, nhưng không nhớ vì sao mà biết, nên không đưa ra được chứng cớ. Từ “biết” tôi dùng nên hiểu là tôi nghe nói. Muốn phản bác điều tôi nói thì nên chứng minh ông Kiểng không phải Công giáo.
Thât ra khi ông Lê Văn nói “Một người bạn của tôi, cháu ruột gọi bằng bác của cụ Nguyễn Gia Hiến, có khẳng định ông Kiểng ….”, đủ chứng tỏ đã có nhiều người nói ông Kiểng là bà con gì đó với ông Hiến. Bằng không, người cho là bạn của ông Văn không cần lên tiếng thanh minh, và ông Văn không phải hỏi bạn mình chuyện đó. Tôi còn có thể nghĩ ông Nguyễn Gia Kiểng thuộc dòng dõi của Nguyễn Gia Thiều vì có cùng họ khá hiếm, hay ông Kiểng là người miền Nam, vì trong Nam gọi Kiểng thay cho Cảnh. Và nếu có ai chứng minh tôi sai (cả hai điều đó rất có thể sai) thì có hại cho ai đâu.
Vượt qua, vượt qua bờ kia (Lê anh Dũng)
Bờ nào? (Lee Can)
Bờ là:
Tâm Vô Sai Biệt
Là Sắc là Không
Chẳng Vô Minh, chẳng Minh Triết
Chẳng Mất chẳng Được
Chẳng đi chẳng về
Chẳng sinh chẳng diệt
Không là Có mà Có cũng là Không
Là Vô thường, vô ngã
Vô Thủy vô Chung
Đó là Bờ
Thôi thì một cách vắn tắt
Bờ là:
Bờ là Bờ rồi khi không mà có
Bờ là Bờ có đó cũng như không
Thưa ông Lee Can.
Tôi đã đọc cho bố tôi thật nhiều lần kinh Bát Nhã, bản tiếng Việt của Nhất Hạnh khi ông còn tỉnh và nói chuyện với ông về kinh này. Chúng tôi đồng ý thầm với nhau đây là những lời cuối mà bố tôi sẽ nghe trong những giây phút cuối của đời ông. Lúc ông mê man có nhiều người tới tụng kinh cầu an cho ông, bằng đủ thứ tiếng, Hán Việt, Phạn, Việt… Tối hôm chót, tôi nắm tay ông trong thương yêu, đọc cho ông nhiều lần tâm kinh Bát Nhã lời Việt, dù mê man suốt một tuần không một phản ứng, nhưng tôi biết là ông vẫn nghe được, tàng thức của ông vẫn làm việc, và ông đã ra đi trong bình an.
Phản xạ của một người học toán làm tôi thấy vài điều có vẻ chỏi theo cách hiểu của tôi:
Sắc chẳng khác gì không
Không chẳng khác gì sắc
Sắc chính thực là không
Không chính thực là sắc
Không có tuyệt đối thì làm gì có “Ðạt Niết Bàn tuyệt đối”, chỏi, ít nhất là trên mặt từ ngữ.
Gate gate – Vượt qua, vượt qua
Pàragate – Vượt qua bờ bên kia
Pàrasaṃgate – Vượt qua hoàn toàn
Bodhi svàhà – Tuệ giác Thành tựu.
Không, sắc là một thì làm gì còn có ngằn mé, bờ bến mà “Vượt qua, vượt qua bờ kia”.
Không sa vào chữ nghĩa, sau khi đọc kinh nhiều lần, điều tôi giữ lại là tinh thần phá chấp, buông xả.
Nếu tôi hiểu không lầm thì ông Hòa Nguyễn dùng tên Nguyễn Gia Hiến và cuốn Chính Đề suy luận lan man tới Nguyễn Gia Kiểng là Công Giáo, và trong những phản hồi trước của ông cũng kết nối Thông Luận với Công Giáo… Những suy diễn, lập luận này lỏng lẻo, không chỉnh và không dẫn tới một kết luận nghiêm túc. Cũng cần nhắc trên Thông Luận có bài của Lê Văn Hảo, Bùi Tín, Trần Bình Nam (cựu cột trụ Phục Hưng) … Cần nhắc, chữ “đa nguyên” trong tên Tập hợp Dân chủ Đa nguyên là một tuyên ngôn, giải thích được sự liên hệ, trao đổi của họ với nhiều thành phần, nhân sự khác nhau.
Dẫu lập luận không chỉnh nhưng ông Hòa Nguyễn và rất nhiều người đã phản ánh một thực tế là có sự hiềm khích sâu xa giữa Ki-tô giáo và các tôn giáo khác, chuyện này không chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các nơi Ki-tô giáo muốn mở ảnh hưởng, và vẫn đang xảy ra.
Ở Việt Nam, mối hiềm khích này đã tồn tại từ nhiều thế kỷ trước, có thể chấm phá thật sơ lược (đương nhiên là chấp nhận thiếu sót) qua vài mốc: Công Giáo truyền vào Việt Nam, bài xích tín ngưỡng, phong tục cổ truyền, dẫn tới “clash of civilizations”, do đó bị cấm đoán rồi bức hại, con số có thể có tới hàng trăm ngàn người; Để giữ, để phát triển niềm tin cũng như để sinh tồn, người Công Giáo đã cộng tác, lúc khoan lúc nhặt, với thực dân Pháp trong thời kỳ này, xung đột đã xảy ra giữa những người Việt Nam – vừa giữ nước vừa bảo vệ truyền thống thờ cúng tổ tiên – với chủ trương “bình Tây, sát tả” và những người Công Giáo; Sự chấm dứt của đệ I Cộng Hòa (VNCH) đã bắt đầu từ những vụ tự thiêu của các nhà sư Phật Giáo chống lại điều mà họ cho là kỳ thị tôn giáo tới từ gia đình một tổng thống Công Giáo với ông anh Giám mục với hoài bão đưa thật nhiều người “trở lại đạo” như tất cả tín hữu Ki-tô được đốc thúc phải làm. Gần đây nhất, vụ đòi tòa Khâm Sứ cũng được lái về hướng tranh chấp lương-giáo, được hâm nóng bởi những luận cứ thật cũng như hỏa mù của những người tham dự nhân danh Phật tử, tòa Khâm cuối cùng bị giằng kéo giữa Công Giáo, chính quyền và một nhóm người nhân danh Phật tử; kết qủa là chính quyền lấy quyết định bằng bạo lực, Công Giáo hậm hực, và “Phật tử” không cần đòi lại đất nữa cho tháp Báo Thiên khi đất không còn về tay tòa Khâm.
Có cái gọi là hiềm khích lương giáo hay không? Phản ứng của những người lương có chính đáng hay không? (tôi tạm gộp chung những tôn giáo không phải là Ky-tô giáo vào nhóm này, dù biết là không chính xác).
Năm 2009, linh mục Laurenso Quynh phát biểu “Từ một thế kỉ nay, tỉ số giáo dân ở Việt Nam không tăng : năm 1886 là 6,5 % (650 000 người Công giáo trên dân số 10 triệu người), năm 2000 vẫn là 6,5 % (5 triệu / 77 triệu). Bởi vì người ta vẫn tiếp tục rao giảng một thứ Ki tô giáo Tây phương. Ở đây, Giáo hội đã miệt thị đạo Phật, đạo Khổng, đạo thờ ông bà…” (xem thêm http://www.diendan.org/viet-nam/linh-muc-p-h-quynh-ab-phai-xay-dung-lai-tam-hon-kito-cua-giao-dan-viet-nam-bb/ ).
Mục sư Lê Văn Thái trong hồi ký “Bốn mươi sáu năm chức vụ” (K.D. số 4378/BTT/PHNT, ngày 13-10-1970) in năm 1970 tại Nha Trang viết “Chúng tôi liền phân tách để ông cụ rõ về câu chuyện thế nào là thờ phượng thật và thế nào là không thật mà Chúa Jesus đã nói với người đàn bà Sa-ma-ri. Chúng tôi nhắc lại câu: “Đức Chúa Trời là thần nên ai thờ lạy Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy”, để xin cụ cất bỏ bàn thờ trong nhà đi. Cụ tươi cười bảo: “Bay muón làm gì thì làm”. Chúng tôi hết sức ngợi khen Chúa và bắt tay vào việc ngay. Tất cả những đồ thờ phượng bằng gỗ trên ba bàn thờ lớn giữa ba căn nhà đều được dọn ra ngoài sân. Nội trong đêm đó chúng tôi đập bể và đốt hết, đến hơn mười hai giờ khuya mới xong” (trang 29).
Gần đây, qua những giao tiếp, sinh hoạt thường xuyên của tôi với Ki-tô hữu, qua cách diễn đạt của họ – đặc biệt là Tin Lành, tôi thấy sự xúc phạm Phật Giáo, truyền thống thờ ông bà, các tôn giáo không phải là Thiên Chúa giáo, vẫn còn như nhiều năm trước đây (Công giáo thì có đỡ hơn kể từ Công Đồng Vatican II, việc thờ cúng ông bà đã được chấp nhận http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_h%E1%BB%99i_C%C3%B4ng_gi%C3%A1o_R%C3%B4ma ). Thật ra, việc hiềm khích khó tránh khỏi, vì giữa Tin Lành và Công Giáo cũng có sự dè bỉu, giữa các hệ phái Tin Lành cũng có đánh gía lẫn nhau rằng hệ phái này là tà đạo, hệ phái này không; huống chi với các tôn giáo ngoài luồng.
Những xúc phạm, tổn thương, phản ứng tới từ hiềm khích lương giáo tại Việt Nam là có thật, là trầm trọng, có gốc rễ sâu xa, nhưng chỉ mới được nhắc tới ít ỏi, chưa được chức sắc tôn giáo cũng như giới trí thức quan tâm, đề cập, bàn thảo, tìm phương hướng giải quyết; chuyện này thật quá khó với Việt Nam, lạc hậu gần như trên tất cả các phương diện, mà trí tuệ là một trong những mặt yếu nhất.
Nhận diện vấn đề là điều cần thiết. Phật giáo là đạo của trí tuệ, có nhiều công cụ tư duy xuất sắc mà người Phật tử có thể dùng để tìm giải pháp, thoát vô minh cho người và cho chính mình, thay vì những cả đoán, trông gà hóa cuốc do thành kiến, cảm tính chỉ làm cho vấn đề thêm rối, làm màn vô minh thêm dày.