Dũng Vũ – Trao đổi với ông Trần Lâm và ông Đông A
30/11/2009 | 8:00 sáng | 16 Comments
Category: Lịch sử
Thẻ: Kiêu dân > Ngô Đình Diệm
Vừa rồi, khi viết bài Từ “ngụy”, “Việt kiều” cho tới “kiêu dân”, tôi chỉ muốn đề nghị một điều duy nhất: Nên tránh hành vi dụng ngữ tiêu cực vì ý đồ chính trị hoặc nhu cầu tự mãn để tránh gây chia rẽ, hận thù dân tộc. Chỉ thế thôi. Và tôi nghĩ đó không phải là ý xấu.
Tôi cảm ơn hồi ý của ông Trần Lâm nhưng rất tiếc tôi phải nói với ông rằng: ông không thuyết phục được tôi rằng ông là người khách quan khi làm việc với sử.
Ông không cần phải giãi bày: “Tôi xin ghi nhận lời chê trách cho rằng tôi có thành kiến với dòng họ Ngô Đình và dân Công giáo. Đây là lời chê trách thường được nghe thấy trong các cuộc tranh luận về những vấn đề lịch sử. Do đó nên người tìm hiểu lịch sử phải cố gắng tìm ra cách để hóa giải nó.”
Bạn đọc có cảm tưởng, ngay từ đầu ông đã bộc lộ rõ rệt thành kiến đối với chế độ Ngô Đình Diệm và dân Công giáo. Theo tôi đoán, hình như ông hoặc gia đình, người thân của ông đã có một kinh nghiệm xấu nào đó từ chế độ Ngô Đình Diệm và người dân Công giáo, khiến ông căm thù và biến nó thành động cơ để viết.
Người đọc dễ nhận ra cảm tính qua cách đọc và viết của ông. Một cuốn sách ông đọc chắc hẳn bao gồm đủ thông tin từ A tới Z, tiêu cực có, tích cực có, song ông chỉ quan tâm khai thác vài điểm A, B, C nói về cái xấu của đối tượng, còn những các khác ông bỏ.
Viết cũng vậy, người đọc cũng bắt gặp nơi ông một cách dụng ngữ đầy thành kiến. Chẳng hạn tôi đặt ông một câu hỏi trung hòa: “Kiêu dân có nghĩa là gì?”. Ông chỉ cần trả lời “Kiêu dân có nghĩa là… (thế này)” là xong. Nhưng ông không muốn vậy mà lại tự đặt câu hỏi: “Kiêu dân, ngươi là ai?”. Ông thừa biết “ngươi” là một từ mang cực tính xấu thường thấy trong truyện chưởng. Hoặc khi cắt nghĩa (thay vì định nghĩa) hai tiếng “kiêu dân”, ông bắt đầu bằng cụm từ “Thời dòng họ Ngô Đình ‘dĩ đức vi chính’…”. Nếu là người trung dung, ông không cần phải thêm phụ ngữ “dĩ đức vi chính” tỏ ý mỉa mai vào đó làm gì.
Còn vô số trường hợp tương tự.
Tôi cho rằng cách làm việc như vậy không nghiêm chỉnh, nhất là đối với sử. Ở Đức, theo chỗ tôi biết, một sinh viên học ngành sử năm thứ nhất không những phải học đọc và viết lại sử mà phải học trở thành người khách quan, duy lý, nghiêm túc. Tôi tin ở xứ văn minh tiên tiến nơi ông cư ngụ cũng thế; ông có thể tự kiểm chứng.
Cả việc sử dụng sử liệu của ông cũng tự thú rằng ông chưa đạt khả năng cần thiết để làm công việc ông ham thích và muốn đạt trình độ hàn lâm. Nhiều dữ liệu ông dùng không kiểm chứng được, nhất là của các tác giả Việt Nam. Thiếu trung thực là một căn bệnh tiêu biểu của người Việt nói chung. Bắc cũng như Nam. Ví dụ, người Nam chê người Bắc toàn đẻ ra những chuyện hoang đường, đại loại như Lê Văn Tám, nhưng chính họ cũng đẻ ra những chuyện hoang đường, đại loại như khi rời bỏ nước, ông Nguyễn Văn Thiệu đã ôm theo mấy chục tấn vàng.
Cho nên những chuyện như ném gạch lên mái tôn, cưỡng hiếp vợ ông này ông kia,… chẳng ai biết được có đúng vậy không, thế nhưng ông lại đưa vào bài viết.
Kể cả những gì các học giả Việt Nam viết cũng cần nên suy ngẫm. Theo tôi biết, nhiều người quen cách làm việc của phương Tây, khi tiếp cận với tài liệu học thuật của Việt Nam, họ thường dè dặt.
Ví dụ trong ngành ngôn ngữ học Việt Nam, giáo sư, tiến sĩ thì nhiều, nhưng người có thẩm năng và uy tín thực sự thì rất hiếm. Ngay đến các vị nổi tiếng như Nguyễn Đình Hòa ở Mỹ hoặc Nguyễn Kim Thản ở Hà Nội vẫn có giới hạn. Về văn hóa, lịch sử cũng vậy. Kim Định, Nguyễn Hiến Lê là những người tôi kính nể nhưng không phải các ông nói gì nghe cũng lọt lỗ tai.
Nhìn chung, mặc dù trình độ học thuật của các học giả Việt Nam không cao như các học giả Tây phương do điều kiện khách quan, nhưng nói thế không có nghĩa Tây phương cái gì cũng nhất. “Dĩ Âu vi trung” không phải là chân lý. Ít ra trong suốt hơn 20 năm làm việc trong địa hạt khoa học, tôi đã học được kinh nghiệm ấy. Đến người thày dạy tin học cũ của tôi với một chuỗi Dr. nằm trên danh thiếp, từng được gắn huân chương Chữ Thập Đức (tựa như Huân chương Hồ Chí Minh hạng nhất) cũng không hẳn đã hoàn thiện. Nhân vô thập toàn.
Cho nên chớ có cả tin khi làm việc với khoa học và nhất là những loại khoa học như sử, không rõ ràng, khó kiểm chứng như khoa học tự nhiên.
Dẫu sao đi nữa, cái cần vượt qua trước hết là “cái Tôi” của mình. Làm được việc đó, tôi tin những gì ông Trần Lâm dự định viết sẽ đạt được một trình độ cao hơn.
Còn đối với ông Đông A, tôi xin cảm ơn ông về tài liệu hai tiếng “kiêu dân” từ đâu mà có. Chắc ông cũng hiểu, không phải ai cũng có những gì ông có. Đối với một từ không phổ biến, thiết nghĩ ông nên phụ chú trong bài viết của mình để tránh hiểu lầm và để bài viết thêm nghiêm chỉnh. Giả sử tôi cũng viết một bài giống trường hợp ông, tôi không thể đòi hỏi độc giả rằng “Xin lưu ý, trước khi đọc bài viết của tôi, bạn cần phải có kiến thức thời nhà Tống”.
Cuối cùng, tôi có một thắc mắc thế này. Đất nước và xã hội Việt Nam hiện tại có quá nhiều vấn đề thiết thực đáng quan tâm. Chúng quyết định sự phát triển và tồn tại của người dân trong nước. Làm sao giải quyết vấn đề Trung Quốc xâm lăng? Làm sao giải quyết vấn đề giáo dục, y tế yếu kém? Làm sao nâng cao dân trí? Làm sao cho giai cấp giàu nghèo bớt chênh lệch? Làm sao nâng đỡ người nghèo, bênh vực kẻ yếu đuối? Làm sao để người dân được tự do hơn, được đối xử công bình, nhân bản hơn? Làm sao thuyết phục nhà nước nên tôn trọng ý kiến của người dân? Làm sao giải quyết vấn đề công nghiệp hóa? Làm sao làm ra những sản phẩm trí tuệ, thay vì trồng lúa bán, nuôi tôm cá, đào mỏ bán, đào được gì bán đó, v.v… và v.v… Còn vô số việc làm cần sự góp sức của người có lương tâm, đặc biệt là giới trí thức.
Thiết nghĩ, mình là người có cuộc sống may mắn hơn nhiều người khác tại Việt Nam, thì nên góp ý cải thiện xã hội, còn hơn viết những đề tài thiếu thiết thực, phiến diện, chỉ khơi thêm chia rẽ, hận thù.
Vừa viết đến đây, tôi được biết bài viết “Kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm“ của ông Trần Lâm được phổ biến trên trang Giao Điểm, một diễn đàn nổi tiếng xưa nay về sự bài xích Công giáo và chế độ ông Diệm bởi những người Phật giáo cực đoan và người cộng sản Việt Nam.
Ông Trần Lâm thấy không, ông đã đặt câu hỏi “Kiêu dân, ngươi là ai?”, thì bây giờ người ta có quyền đặt câu hỏi “Trần Lâm, ông là ai?”
© 2009 Dũng Vũ
© 2009 talawas blog
Ông Hải Dương:” về Tạ Chi Diệp, Nguyễn Bảo Toàn, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn…
Tạ Chí Diệp và những người được ông Hải Dương nhắc tới đều là những nhân vật lịch sử hạng hai, và họ thuộc ba nhóm khác nhau, nên tôi suy đoán ông HD theo dõi kỹ giai đoạn lịch sử đó và có thể đã biết rõ về họ hơn nhiều người. Phần tôi, không hề làm chuyện nghiên cứu lịch sử, mà chỉ thích đọc sử theo thói quen từ thời còn đi học, và hiện chỉ có vài quyển sách viết về sử hoặc hối ký tình cờ mua được ở nơi vốn rất ít sách Việt ngữ. Nhưng nhân câu hỏi của ông HD, xin ghi lại vài điều đọc thấy cho những ai quan tâm.
Tạ Chí Diệp, tức Nguyễn Phan Châu, gọi cụ cử Tạ Chương Phùng bằng bác, tức anh em chú bác với nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, và được ông TCĐT nhắc đến tên nhiếu lần, nhưng thường với rất ít chi tiết, chỉ như TC Diệp từng ủng hộ ông Ngô Đình Diệm, theo đảng Duy Dân của Lý Đông A, và chết, hay mất tích, rất bí mật, mà gia đình không biết nguyên do, bị giết ở đâu, hồi nào.
Những điều tôi ghi lại sau đây dựa theo quyển “Việt Nam máu lửa Quê hương tôi” của Đỗ Mậu, là người đã gặp, và có thể đã lôi cuốn Tạ Chí Diệp (TCD) vào sinh hoạt chính trị rất phức tạp ở miền Nam VN từ năm 1954.
Cụ Tạ Chương Phùng, sinh quán Bình Định, là đồng chí và từng giúp đỡ Ngô Đình Diệm, bằng cả tiền bạc, từ lúc hai ông cùng vận động cho Cường Để trước 1945, và có thể Đỗ Mậu vào thời Nhật hoạt động cho NĐD đã quen biết cụ TCP. Khi NĐD về nước năm 1954 để nhận chức thủ tướng toàn quyền, Đỗ Mậu đã đến dinh Thủ hiến Hà Nội để chào mừng NĐD, như là một người “thầy” cũ. Tại đây, Đỗ Mậu gặp Ngô Đình Nhu, Tạ Chương Phùng và Võ Văn Hải, người đã theo ông Diệm khắp nơi, và sau này là Chánh văn phòng của ông Diệm tại dinh Độc lập. Cuối tháng 9-54, tướng Nguyễn Duy Hinh chì huy quân đội quốc gia (miền Nam) khiêu khích, thách thức quyền hành thủ tướng Diệm trên đài phát thanh quân đội, Đỗ Mậu công khai phản đối, và được lệnh trở về đơn vị cũ lúc đó ở Nha Trang. Tại đây, Đỗ Mậu họp với nhiều người là sĩ quan, như Nguyễn Ngọc Lễ, và dân sự miền Trung đã quen hay biết NĐD từ trước để cùng ủng hộ ông Diệm, và họ quyết định lập chiến khu ở Phan Rang, do đại uý Thái Quang Hoàng phụ trách, để làm thế chống lại tướng Hinh, cũng dự trù là nơi NĐD về ẩn náu nếu phải chạy ra khỏi Sài Gòn (lúc đó có tin tường Hinh sẽ đảo chính). Tạ Chí Diệp có mặt trong buổi họp, và sau đó Diệp đưa 50 đồng chí từ Bình Định vào chiến khu Đông ở Phan Rang, làm cán bộ nồng cốt, phụ trách bộ phận chính trị. Nguyễn Ngọc Lễ và Đỗ Mậu bị quân đội lùng bắt, phải chạy vào Sài Gòn, đến trốn tại dinh thủ tướng của ông Diệm, ở chung phòng với Võ Văn Hải. Chiến khu Đông cũng tan rã (tướng Hinh không đảo chính và bị Bảo Đại triệu qua Pháp, mất chức), Tạ Chí Diệp vào Sài Gòn, cũng vào dinh thủ tưóng gặp Đỗ Mậu. Những ngày sống tại đó, họ không được gặp ông Diệm, Khủng hoảng với quân đội đã yên, anh em ông Diệm muốn đẩy họ đi để trách rắc rối với bên quân đội, nên đề nghị cho hai ông Mậu và Lễ đi Mỹ học, nhưng hai ông từ chối. Khi cả ba rời khỏi dinh, TC Diệp tỏ vẻ bất mãn, nói với Đỗ Mậu:”Bác xem lại liệu chúng ta có lầm ủng hộ gia đình phong kiến tầm thường không”.
Từ đó, TC Diệp xa lánh dần gia đinh ông Diệm. Đến khi ông bác của Diệp là TC Phùng bị gia đình ông Diệm chê bai là “quê mùa cổ hủ” (theo lời Đổ Mậu), hay không dùng đến, TC Diệp càng bất mãn, nên liên lạc với Bình Xuyên để chống lại thủ tướng Diệm. TC Diệp còn tổ chức nhiều biểu tình phàn đối, ngay trước dinh Độc lập, do đó Diệp bị bắt và bị giam chung với cán bộ CS ở Thủ Đức và Tam Hiệp (Biên Hoà) gần 5 năm. Trong lúc đó cụ Tạ Chí Phùng và người con rể cũng bị bắt. Khi được thả, TC Diệp thường liên lạc với Trần Kim Tuyến và Đỗ Mậu (sách dẫn trang 106-110).
Ngày 2-7-62, tại tư gia của bác sĩ Phan Huy Quát có buổi họp để giới thiệu “Hội nghị Đoàn kết toàn dân chống Cộng”, vá ông Ngô Đình Nhu được mới đến làm chủ toạ (ông Nhu và ông Quát chắc chắn quen biết nhau từ khi họ còn ngoài Bắc). Những người tham dự khác cũng đáng được giới thiệu, như: Nguyễn Văn Châu, chủ tịch quân ủy Cần Lao, giám đốc nha Chiến tranh tâm lý, Lê Văn Thái, nha Nghiên cứu chính trị phụ tá của Trần Kim Tuyến, bác sĩ Lý Trung Dung, ủy viên trung ương Cần lao, bác sĩ Đặng Văn Sung, chủ nhiệm một nhật báo lớn, và nhiếu chính khách, nhân sĩ ôn hoà. Đại hội cử Tạ Chí Diệp, vừa mãn hạn tù ra, làm thuyết trình viên. Sau đó đại hội đưa ra quyêt nghị gồm các điểm: “công khai hoá hoạt dộng các chính đảng, xét lại vấn đề chính trị phạm, lập hội đồng chính trị có nhiệm vụ phê bình, chất vấn chính quyền, và cử một uỷ ban vận động gồm 11 người để thực hiện nghị quyết”. Chắc chắn ông Nhu bị bất ngờ, bác bỏ ngay hết các đề nghị, và nặng lời chỉ trích các chính khách.
Sau đại hội Đoàn kết bất thành, Tạ Chí Diệp bị công an bắt và bị thù tiêu. Theo lời Đỗ Mậu, ông và Trần Kim Tuyến khi nghe tin đều “vô cùng bàng hoàng”(sách trang 370-371. Do đó, hiểu được khi chừng một năm sau, lúc khủng hoảng Phật giáo, có tin Trần Kim Tuyến dự định làm đảo chính để loại ông Nhu.
[…] về kiêu dân By donga01 Hôm nay trên Talawas có đường link dẫn đến blog sau viết về hai chữ “kiêu dân”. Tôi chỉ cần đặt câu […]
Ông Hoà Nguyễn có vẻ nghiên cứu khá kỹ về triều đại Ngô Đình Diệm. Nếu có thể, xin ông chia sẻ cùng độc giả về những trường hợp Nguyễn Phan Châu (Tạ Chi Diệp), Nguyễn Bảo Toàn, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn…
Đa tạ.
Tôi không quan tâm đến kiêu này kiêu kia nhưng vừa tạt vào blog của mình, thấy bên blog anh Giao có ý kiến về từ nguyên Hán ngữ của “kiêu dân”, xin giới thiệu đến bạn đọc để thêm rộng đường:
http://vn.myblog.yahoo.com/jw!k8cjh8uWCh3vGfWfUg–/article?mid=1691
Ông Hải Dương viết: “Đảng Cần lao (CL) là đảng chính quyền… khi chính quyền tan rã, đại lãnh tụ bị thủ tiêu, thì còn quyền lợi gì nữa mà tiếp tục sinh hoạt??? Sự hiện diện (và vận động) của mấy người này chỉ nên gọi là “dư đảng CL” mà thôi”.
Thật ra, ông Ngô Đình Nhu, và vài bạn Công giáo đa số ở miền Bắc, đã lập ra một nhóm nhỏ vận động ủng hộ ông Ngô Đình Diệm từ khi ông Diệm qua Hongkong tìm gặp Bảo Đại năm 1947. Bảo Đại hiểu thế lực của ông Diệm nên mời ông làm thủ tướng năm 1948, nhưng ông Diệm từ chối. Đến năm 1954, ông Diệm được mời làm thủ tướng toàn quyền, nhờ vận động của các đồng chí và đồng đạo ở Pháp và Mỹ. Về nước trong tình thế rất khó khăn, ông Diệm vượt qua được cũng nhờ một đảng nhỏ do ông Nhu thành lập trước và sau này gọi là Cần Lao Nhân vị, trong đó có những nhân vật quan trọng như Trần Quốc Bửu (bạn của ông Nhu ở Sài Gòn), Công giáo, là chủ tịch Tổng công đoàn VN (miền Nam) cho đến 1975. Theo Trần Văn Đôn trong “Việt Nam Nhân Chứng”, Cần Lao Nhân vị chỉ chừng 35 ngàn đảng viên, nhưng kiểm soát hay theo dõi được quân đội, ngành kinh tế, các cơ quan chính phủ từ trung ương đến tỉnh, thị xã. Người ta nói nhiều về khả năng kinh tài của đảng này sau đảo chính 1963, cho nên có thể họ gắn bó chặt với nhau do lý tưởng chính trị, tôn giáo, quyền hành và quyền lợi. Có những người như Đỗ Mậu, Võ Hải tuy theo ông Diệm rất lâu, nhưng không ở trong CLNV, có thể vì khác chí hướng với ông Nhu, hay khác tôn giáo, hoặc không được tin cậy.
Những phong trào do chính quyền ông Diệm tổ chức như Phong trào Cách mạng Quốc gia (trong góp ý trước tôi viết phong trào công chức CMQG chỉ là một thành phần chính) gồm nam, phụ, lão, thiếu (niên) ở trong chính quyền hay ngoài dân chúng. Về sau thành phần trẻ của phong trào này lập thành đoàn thể riêng là Thanh niên, Thanh nữ Công Hoà, và Phụ nữ Liên Đới (bao gồm các bà mệnh phụ, vợ sĩ quan, công chức không còn trẻ). Những đoàn thể này tuy rất đông đảo, đoàn viên lên đến hàng triệu, cũng được huấn luyện quân sự, đã tan rã sau ngày 1-11-1963, và trừ thủ lĩnh Cao Xuân Vỹ không thấy ai bị bắt giữ hay thuyên chuyển. Nhưng nhiều người của CLNV bị quân đội đảo chính bắt giam, thậm chí đưa ra Côn Đảo một thời gian, như Trần Quốc Bửu (nhờ Mỹ can thiệp nên được thả sớm), Trần Kim Tuyến, Huỳnh Văn Lang (chủ nhiệm tạp chí Bách Khoa). Nhiều người bị mất chức, hay bị thuyên chuyển (nếu không tham gia đảo chính). Một số người vẫn tiếp tục cầm quyền trong chế độ mới, như Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính, Nguyễn Văn Thiệu, Huỳnh Văn Cao (tuy mất chức tư lệnh quân đoàn).
“Dư đảng” CLNV chắc chắn tồn tại sau khi chế độ ông Diệm sụp đổ. Trước là để tự bảo vệ trước những điều tra, tố cáo, bắt bớ (nhiều khi quá đáng, hay chỉ do tư thù), sau là để phục hồi lại chế độ cũ dù dưới dạng khác, để trở lại với quyền hành, quyền lợi đã có. Đây là hiện tượng chung thường thấy, và đã thực sự xảy ra. Ông Trần Quốc Bửu trở lại chức chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao công với 250 ngàn đoàn viên, đến cuối năm 1969 lập thành đảng Công Nông là chỗ dựa chính trị rất vững cho TT Thiệu. Trong khi đó đảng Dân Chủ do ông Thiệu thành lập theo hành chính chỉ có giá trị hình thức. Tại thượng nghị viện có 4 liên danh Công giáo ủng hộ ông Thiệu là Nguyễn Văn Huyền, Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Gia Hiến, và Trần Văn Lắm, mà có lẽ chỉ luật sư Nguyễn Văn Huyền là không dính dáng tới CLNV; nhiều người nằm trong các liên danh đó từng làm việc và có tiếng trung thành với chế độ ông Diệm. Hạ nghị viện người Công giáo cũng chiếm đa số (xin xem “Việt Nam Máu Lửa Quê hương tôi” của Đỗ Mậu trang 775-776).
Thời TT Thiệu, tuy tướng Cao Văn Viên là Tổng tham mưu trưởng, nhưng mọi quyết định hành quân lớn đều do TT Thiệu với bộ hành quân riêng đặt tại dinh Độc Lập, và phụ tá hay cố vấn quân sự là Đặng Văn Quang, Công giáo và Cần lao cũ có liên hệ với gia đình ông Diệm ở Huế. Lý do là trong hơn 9 năm nắm quyền chỉ huy quân đội VNCH, tướng Viên chỉ quen làm việc theo quyết định của Mỹ, tỏ ra không tha thiết lắm với nhiệm vụ (ghi tên học Đại học Văn Khoa để lấy bằng cử nhân văn chương Pháp), không hay ít khi đi đến các đơn vị quân đội. Chuyện rút quân ở Cao nguyên năm 1975 là do TT Thiệu, trong đó Viên không có tiếng nói gì. Việc bổ tướng Phạm Văn Phú làm tư lệnh quân đoàn 2 (cao nguyên) được cho là do ông Trần Văn Hương đề cử vì cảm tình riêng. Ông Phú rất ít kinh nghiệm chiến trường (từng là tù binh ở Điện Biên Phủ), không quen thuộc vùng Cao nguyên, nên đã suy đoán sai lầm quân miền Bắc sẽ tấn công Pleiku, trong khi tham mưu trưởng của ông là Lê Khắc Lý đoán đúng sẽ đánh ở Ban Mê Thuột (nhưng Phú không nghe theo để phòng bị). Miền Nam đã tan rã mau chóng do quyết định sai lầm của hai ông Cần lao cũ là Thiệu và Quang, chắc chắn không ai giỏi quân sự (Thiệu chỉ kinh nghiệm chỉ huy cấp sư đoàn). Nhưng xét công bằng hơn, theo “Việt Nam Nhân Chứng” của Trần Văn Đôn: “lúc đó pháo binh VNCH thay vì bắn 10 thì chỉ bắn 1 viên đạn, và trực thăng, xe tăng 10 chỉ sử dụng được 1 vì Mỹ cắt viện trợ đạn và xăng dầu” (trang 432).
Về từ Cần Lao Nhân Vị, ông Trần Văn Đôn viết vắn tắt ý nghĩa của “nhân vị”, xin ghi lại bằng từ ngữ ông dùng: “Nhân vị đề cao giá trị của con người, mỗi người được coi như một huyền nhiệm tối thượng không thể thay thế” (VNNC trang 141). Như vậy, “vị” ở đây là ngôi vị của con người trong muôn loài, trong vũ trụ nữa, rất gần với “con người là hình ảnh của Chúa” trong đạo Cơ Đốc. Chủ thuyết Nhân vị (Personalism) được ông Nhu và Linh mục Bửu Dưỡng (sau sáng lập đại học Công giáo Minh Đức) giới thiệu ở Việt Nam từ các triết gia Pháp như E. Mounier, mang nặng tính chất Thiên Chúa giáo, xác nhận con người có linh hồn, và có Thiên Chúa cá thể hay nhân tính, cho nên hẳn nhiên thuyết Nhân vị đối nghịch với chủ nghĩa duy vật vô thần của CS . Nhưng để người dân VN theo Tam giáo chấp nhận chủ thuyết Nhân vị là rất khó, trừ khi trước đó họ đã chấp nhận Thiên Chúa giáo hay tin theo thuyết duy tâm nhất thần.
http://en.wikipedia.org/wiki/Personalism
Xin góp ý với Dũng Vũ và Hòa Nguyễn về Đảng Cần lao Nhân vị.
Theo tôi biết, Đảng Cần lao của ông Nhu tan rã sau 1963, chỉ còn lại những nhân vật chủ chốt, có ảnh hưởng, sinh hoạt chính trị thời ông Thiệu và hàng năm tổ chức giỗ ông Diệm ở hải ngoại sau 1975 mà thôi (như ông Cao Xuân Vĩ thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa, ông Vũ Quang Ninh đặc trách truyền thanh). Điều này dễ hiểu, vì Đảng Cần lao (CL) là đảng chính quyền (thành lập sau khi có chính quyền, như đảng Dân chủ của ông Thiệu) chứ không phải đảng cách mạng (CM) như các đảng CS, Duy Dân, VNQDĐ, Đại Việt QDĐ, v.v… Cho nên khi chính quyền tan rã, đại lãnh tụ bị thủ tiêu, thì còn quyền lợi gì nữa mà tiếp tục sinh hoạt??? Sự hiện diện (và vận động) của mấy người này chỉ nên gọi là “dư đảng CL” mà thôi. Trái lại, các đảng Duy Dân, QDĐ, Đại Việt QDĐ, Cấp tiến (tân Đại Việt) thì vẫn tiếp tục hoạt động khá mạnh mẽ. Làm sao mà một đảng như đảng CL lại có thể so sánh chứ đừng nói đến mạnh hơn đảng CS được, dù đảng CS đã mất tính cách CM sau khi có chính quyền (như Lê Nin đã nói!), nhưng vẫn còn nắm chính quyền!!!
Tôi có thể đoán chắc rằng đảng CS sẽ tồn tại và hoạt động mạnh mẽ nếu như Miền Nam VN thống nhất đất nước, nhưng nếu bây giờ mà chính quyền Hà Nội sụp đổ thì đảng CS cũng đi đoong luôn.
Lại nữa, bảo rằng Nhân vị khó hiểu nên “hấp dẫn và huyền bí” thì cũng nên hiểu rằng thực tế thời đó nhiều người cũng chế giễu thuyết này vậy.
Ông Huy Tử nói:
“Phải chăng, đảng “Cần lao nhân vị” (tổ sư sáng lập: Ngô Đình Nhu) mạnh gấp trăm nghìn lần đảng CSVN?
Bằng chứng là ở hải ngoại, ĐCLNV chửi ra rả tất cả các quân nhân, công chức của chính quyền VNCH (1963-1975) không tiếc lời, không ngừng nghỉ,… khắp cả năm châu.”
Nhận xét trên đúng hai phần:
1/ Cần lao Nhân vị là do Ngô Đình Nhu sáng lập. Cần lao, gần với từ Lao động, chắc mang ý nghĩa chủ nghĩa xã hội. Còn Nhân vị là một từ và quan điểm triết học ít người hiểu nổi. Ông Nhu lại có tiếng là viết và nói rất khó hiểu, hay là tối nghĩa (ở phần tiếng Việt), cho nên tuy Nhân vị được GM Ngô Đình Thục mở lớp giảng dạy ở Vĩnh Long (cho công chức, quân nhân cấp cao), vẫn không mấy ai hiểu nổi. Từ hồi được nghe từ Nhân vị lúc còn là học sinh, khi áp dụng vào chính trị cho là chủ thuyết chống lại được chủ nghĩa CS, cho tới bây giờ, tôi chỉ hiểu loáng thoáng nghĩa của nó như Nhân phẩm, hay Nhân quyền, dù vẫn biết là khác nhau, khi nhân phẩm dùng trong luân lý, đạo đức, nhân quyền trong luật pháp, và nhân vị trong triết học. Nhưng cũng có thể do nhiều người không hiểu rõ nghĩa mà nhân vị trở thành hấp dẫn khi mang tính cách huyền bí, hay cao siêu.
Ngoài Đảng CLNV, là nồng cốt, quyết định những việc quan trọng, ông Nhu và bà Nhu còn lập ra Liên đoàn Công chức Cách mạng Quốc gia (gồm tất cả công chức, giáo chức trường công), Thanh niên Cộng hòa (số đoàn viên lên tới hàng triệu), và Phong trào Phụ nữ Liên đới (đoàn viên cũng hàng triệu), mô phỏng theo tổ chức ngoại vi của Đức quốc xã hay Ý phát-xit trước kia. Những tổ chức trên tỏ ra hữu hiệu trong việc bảo vệ chế độ, đàn áp đối lập. Thí dụ, CLNV đặt nằm trong quân đội là hệ thống tình báo, kiểm soát hữu hiệu các hoạt động của quân đội. Các phong trào Thanh niên, Phụ nữ được ông bà Nhu dùng để áp đảo tinh thần phe bất đồng chính kiến, các nhóm chống đối (như đảng phái, Phật giáo) khi có thể huy động để tổ chức meeting, biểu tình lên tới hàng trăm ngàn người ở Sài Gòn, và hàng triệu người nếu tính ở cả miền Nam lúc đó.
Sau 1-11-1963, các phong trào ngoại vi trên đều tan rã (ông Diệm từng hy vọng Thanh niên Cộng hoà đến cứu hai anh em ông trong đêm đảo chính, nhưng chuyện không xảy ra). Chỉ đảng Cần lao Nhân vị là tồn tại cho đến thời TT Nguyễn Văn thiệu, hay tới 30-4-1975 ở trong nước, và có thể ngày hôm nay còn ở hải ngoại, vì một số đảng viên rút vào bí mật sau đảo chính, và nhờ khả năng tài chính với tài sản của họ, không ai biết rõ được. Họ hoạt động nhưng có thể không ra mặt, dùng những gương mặt mới, hoặc những người mua chuộc được, hay cảm tình viên. Công việc của họ là đả kích những người tham dự cuộc lật đổ chế độ ông Diệm, gồm có quân nhân, và những người lãnh đạo trong Phật giáo. Tiêu biểu như tướng Dương Văn Minh, và TT Trí Quang, mà họ vẫn còn đả kích mạnh mẽ cho tới ngày nay. Mặt khác họ tìm cách biện minh cho chế độ ông Diệm, và có thể tìm cách phục hối chế độ đó, coi như một thời vàng son, hay mẫu mực. Khi bị đả kích lại, dễ thấy họ lý luận là đối phương muốn khơi lại mối hận thù cũ, gây chia rẽ dân tộc, có lợi cho CS, hay có lợi cho Tàu cộng đang mấp mé ở biển Đông! Cách làm của họ thật giống Đảng CS trong nước, vẫn thù hận và tìm cách trả thù những đối thủ của họ trước 1975, đồng thời lớn tiếng tố cáo kẻ khác vẫn nuôi dưỡng hận thù, gây chia rẽ dân tộc, phá hoại đoàn kết. Một thái độ rất giả đạo đức, mà có lẽ họ biết nhưng nghĩ người khác không nhận biết.
2/ Họ tiếp tục tố cáo, mạt sát những tướng tá đã lật đổ ông Diệm, và phục vụ các chế độ kế tiếp, sau thời ông Diệm. Thí dụ có nhiều, nhưng kể ra rất vô vị. Chỉ nêu một trường hợp về Dương Văn Minh bị mạt sát là “hàng tướng”, trong khi chính họ để cho quân “Giải phóng” vào tới ngưỡng cửa Sài Gòn, và cho ông Minh lên cầm quyền chỉ trong 12 giờ vỉ họ cố giằng co mấy ngày liền không chịu trao cho ông Minh cái quyền mà lúc đó hầu như hữu danh vô thực, và sau khi đa số họ đều bỏ chạy được khỏi nước. Cách hành động của ông Minh (đầu hàng) tuy nhục nhã cho chế độ hay quân đội miền Nam, nhưng tránh được cuộc đổ máu rất vô ích cho hàng triệu dân Sài Gòn không có cơ hội chạy thoát. Nếu cuộc đổ máu ngày 30-4-75 xảy ra (chỉ do giao chiến) sẽ gây đau thương cho bao nhiêu triệu người (sống sót), và hận thù hay chia rẽ dân tộc sẽ lớn đến như thế nào. Nhưng với CLNV, miền Nam mất do ông Minh đầu hàng CS, không phải họ.
Cần tìm hiểu để rút được bài học tại sao chế độ ông Diệm sụp đổ, và tại sao quân đội dưới thời Nguyễn Văn Thiệu tan rã mau như vậy. Cả hai chế độ đó đều dựa vào sự ủng hộ của nhóm CLNV, công khai hay giấu mặt. Vì một số đông đảng viên CLNV là Công giáo, nên người ta ngại “đụng chạm”, nhưng CLNV không phải toàn người Công giáo. Có những sự thật lịch sử khách quan, cần phải tìm hiểu, nhận ra được. Không thể khoả lấp, hay khoác áo cao thượng. Chuyện mới đăng trên talawas: John Demjanjuk, 89 tuổi, vẫn bị tìm bắt và đưa ra xử trước toà. Có ai bảo đó là do lòng thù hận dai dẳng không, hay vì sự thật cần được sáng tỏ, công lý cần được thực hiện cho mọi người.
CẦN LAO NHÂN VỊ
Phải chăng, đảng “Cần lao nhân vị” (tổ sư sáng lập: Ngô Đình Nhu) mạnh gấp trăm nghìn lần đảng CSVN?
Bằng chứng là ở hải ngoại, ĐCLNV chửi ra rả tất cả các quân nhân, công chức của chính quyền VNCH (1963-1975) không tiếc lời, không ngừng nghỉ,… khắp cả năm châu. Thật ghê quá!
Chúng tôi sợ lắm!
Ông Trần Lâm thân mến,
để tránh hiểu nhầm, tôi xin được phép nói với ông vài lời sau đây:
Thứ nhất, những gì tôi viết là tôi muốn góp ý xây dựng với ông một cách thành thật.
Thứ hai, nếu ông muốn thảo luận nghiêm chỉnh với tôi, tôi đề nghị ông nên xem lại THẬT KỸ hai điểm 1) và 2) ông hồi ý và đọc THẬT KỸ bài viết của tôi: điểm chính, điểm phụ, từng văn mạch, từng ngữ đoạn, từng từ một.
Nếu không, rất tiếc là tôi không trao đổi được. Tôi không có nhiều thì giờ. Xin ông thông cảm.
Ông Trần Huy Bách viết:
“Ông Dũng Vũ viết: “Ví dụ, người Nam chê người Bắc toàn đẻ ra những chuyện hoang đường, đại loại như Lê Văn Tám, nhưng chính họ cũng đẻ ra những chuyện hoang đường, đại loại như khi rời bỏ nước, ông Nguyễn Văn Thiệu đã ôm theo mấy chục tấn vàng.””
Nếu đúng như ông nói thì tôi thành thật xin lỗi bạn đọc. Tôi cứ tưởng câu chuyện “khi rời bỏ nước, ông Thiệu đã ôm theo mấy chục tấn vàng” là của những người dân hoặc phe đối lập miền Nam thù ghét ông, muốn tố cáo ông.
Thế mới thấy ngôn từ không đứng đắn tai hại thế nào. Thế hệ già còn hiểu sai huống gì thế hệ trẻ. Hiểu sai dễ dẫn đến suy nghĩ sai, hành xử sai.
Ngày xưa người CSVN thường hô to khẩu hiệu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” và đã làm quần chúng phấn khởi. Qua mấy chục năm, không ai thấy xã hội chủ nghĩa ở đâu và chẳng biết đó là gì. Chán quá, họ bỏ. Bây giờ hô cái khác: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Cũng hô to mãi không biết bao năm. Nhưng họ không biết muốn vậy cần phải có con người công nghiệp, văn minh. Mà muốn xây dựng con người công nghiệp, văn minh, thì trước tiên phải dẹp sạch cái tính giả dối, không đàng hoàng. Phải dạy con người tính trung thực, minh bạch, có lương tâm. Tối thiểu là vậy.
1) Xin cảm tạ bài góp ý thứ hai của Dũng Vũ và xin được hồi đáp như sau: Nếu những gì do tôi viết có căn cứ thì chúng sẽ không trở nên vô căn cứ chỉ vì nhóm Giao Điểm, Giao Lưu hay Giao Thông gì đó lặp lại chúng.
2) Thấy Dũng Vũ có nói đến cách sinh viên sử ở Đức được giáo dục như thế nào, nên tôi có phóng ảnh và đưa lên mạng một số trang trong một quyển sách mang tên là “Historikerstreit” để những ĐG đọc tiếng Đức nói chung và DV nói riêng có được một khái niệm về cách các vị giáo sư (hàng đầu) của họ tranh luận với nhau trong truyền thông đại chúng.
Xem:
http://www.scribd.com/doc/23379602/HistorikerStreit
Su trùng hợp kỳ lạ
“Bạn đọc có cảm tưởng, ngay từ đầu ông đã bộc lộ rõ rệt thành kiến đối với chế độ Ngô Đình Diệm và dân Công giáo. Theo tôi đoán, hình như ông hoặc gia đình, người thân của ông đã có một kinh nghiệm xấu nào đó từ chế độ Ngô Đình Diệm và người dân Công giáo, khiến ông căm thù và biến nó thành động cơ để viết. (Dũng Vũ)
Nhân Dũng Vũ nói đến khía cạnh này trong thái độ bút mực của của ông Trần Lâm, tôi thì thấy không phải là cảm tưởng nữa mà có những bằng chứng rất khả tín rằng ông có những ân oán, hệ lụy cá nhân rất sâu nặng với chế độ – chính xác hơn thì phải nói là đối với một số thuộc viên – của chế độ NĐD, chẳng hạn một số thuộc viên ở Nha Động Viên, Bộ Quốc Phòng đã làm ông khốn khổ vì giải thích Luật Động Viên một cách quá bất công riêng đối với trường hợp của ông, một ông bạn – giang hồ lắm – của tôi có lần nói với tôi rằng : “Trong vụ của hắn, những người của cha Đạm làm ăn mất dậy quá”. Chuyện liên quan đến rất nhiều chi tiết cá nhân và tin cậy (confidential) không cho phép tôi tỉ mỉ hơn, nhưng dẫu sao thì cuối cùng ông cũng thoát khỏi nạn ấy, ông được xuất ngoại, du học, thành tài…trở thành nhiều “nhà” trong đó có nhà viết sử và những trang sử của ông hừng hực, mặn chát chất căm hờn nhà Ngô và Đạo Công Giáo. Tôi thì thấy rằng, dẫu sao ông cũng đã từ lâu “tấm thân rầy đã nhẹ nhàng” nhưng còn những ân oán xưa, sao nó cứ như một định mệnh oan nghiệt bám cứng lấy cuộc đòi ông mãi như vậy.
Ông Dũng Vũ viết: “Ví dụ, người Nam chê người Bắc toàn đẻ ra những chuyện hoang đường, đại loại như Lê Văn Tám, nhưng chính họ cũng đẻ ra những chuyện hoang đường, đại loại như khi rời bỏ nước, ông Nguyễn Văn Thiệu đã ôm theo mấy chục tấn vàng.”
Nếu tôi nhớ không lầm, chuyện bịa ông Nguyễn Văn Thiệu đã ôm theo mấy chục tấn vàng là “chuyện tuyên truyền” của chính những người cộng sản ở Hà Nội, chứ không phải người Nam, và cho tới bây giờ chính quyền cộng sản cũng chưa hề cho dân chúng biết là bao nhiêu tấn vàng đó đã đi đâu, sau khi được Ủy ban Quân quản TP Hồ Chí Minh tiếp nhận đầy đủ?
“Thiết nghĩ, mình là người có cuộc sống may mắn hơn nhiều người khác tại Việt Nam, thì nên góp ý cải thiện xã hội, còn hơn viết những đề tài thiếu thiết thực, phiến diện, chỉ khơi thêm chia rẽ, hận thù.”
Xin trân trọng cảm ơn tác giả Dũng Vũ.
Một độc giả
“Cuối cùng, tôi có một thắc mắc thế này. Đất nước và xã hội Việt Nam hiện tại có quá nhiều vấn đề thiết thực đáng quan tâm. Chúng quyết định sự phát triển và tồn tại của người dân trong nước. Làm sao giải quyết vấn đề Trung Quốc xâm lăng? Làm sao giải quyết vấn đề giáo dục, y tế yếu kém? Làm sao nâng cao dân trí? Làm sao cho giai cấp giàu nghèo bớt chênh lệch? Làm sao nâng đỡ người nghèo, bênh vực kẻ yếu đuối? Làm sao để người dân được tự do hơn, được đối xử công bình, nhân bản hơn? Làm sao thuyết phục nhà nước nên tôn trọng ý kiến của người dân? Làm sao giải quyết vấn đề công nghiệp hóa? Làm sao làm ra những sản phẩm trí tuệ, thay vì trồng lúa bán, nuôi tôm cá, đào mỏ bán, đào được gì bán đó, v.v… và v.v… Còn vô số việc làm cần sự góp sức của người có lương tâm, đặc biệt là giới trí thức. Thiết nghĩ, mình là người có cuộc sống may mắn hơn nhiều người khác tại Việt Nam, thì nên góp ý cải thiện xã hội, còn hơn viết những đề tài thiếu thiết thực, phiến diện, chỉ khơi thêm chia rẽ, hận thù.”(Dũng Vũ)
Hoàn toàn đồng ý với tác giả! Hiện nay trong nhóm bạn học cũ của tôi đang “choảng nhau” qua email về “tao thấy tên thằng này trong danh sách những người Việt ở hải ngoại về dự hội Dziệt kiều ở Hà Nội, hắn là VC mày ơi” v.v… dựa trên một danh sách không chính xác và chắc chắn không trung thực. Ai lại ác độc tung lên những hoả mù như thế? Có thể đến lúc, phải đưa những người chụp mũ đó ra trước công lý và nếu họ thua kiện họ sẽ phải đi tù và phải đền bù danh dự cho những người bị chụp mũ bằng một số tiền lớn lao.
Và người Việt ở hải ngoại phải biết đoàn kết hơn vì nhà cầm quyền CSVN còn mạnh và còn nhiều thủ đoạn lắm.