talawas blog

Chuyên mục:

Dũng Vũ – Từ “ngụy”, “Việt kiều” cho tới “kiêu dân”

23/11/2009 | 3:26 chiều | 9 Comments

Tác giả: Dũng Vũ

Category: Chiến tranh Việt Nam, Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ:

Xưa nay khi viết về ngôn ngữ học, có một điều tôi thường hay phê phán là cách dụng ngữ theo chiều hướng tiêu cực, bất kể lạm dụng một cách vô tình hay cố ý [1].

Dĩ nhiên người không ưa sẽ chống. Chẳng hạn có lần tôi phê phán về hai tiếng “Việt kiều” [2] và bị chửi. Thậm chí có người còn tấn công tôi bằng email kèm theo virus. Những địa chỉ IP ấy đều xuất xứ từ Hà Nội.

Đó là chuyện hai tiếng “Việt kiều” trong quá khứ. Gần đây lại xuất hiện một trường hợp gần giống vậy là hai tiếng kiêu dân.

Thành thực mà nói, tôi chưa bao giờ nghe ai nói tới hai tiếng “kiêu dân” trước khi đọc bài viết Nạn kiêu dân của tác giả Đông A do talawas giới thiệu trong mục Thời sự/Spectrum [3].

Nhưng tôi cũng còn nhớ mang máng đã đọc được ở đâu trên talawas một hồi ý (feedback) của một độc giả cho biết đã thấy ông Tạ Chí Đại Trường dùng khái niệm “kiêu dân” trước đó; hình như ông Đông A chỉ là người dùng lại.

Gặp một từ lạ, tôi liền tra từ điển. Không thấy một cuốn từ điển Việt Nam nào (tôi có) có hai tiếng “kiêu dân”. Tra từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Thiều Chửu, … cũng không thấy. Vậy thì ai đã đẻ ra hai tiếng ấy? Giả sử có một người cũng đi làm công việc tra cứu lẩm cẩm như tôi và không thấy, chắc chắn anh chị ta sẽ suy đoán ông Tạ Chí Tạ Trường là tác giả.

Nhưng “kiêu dân” có nghĩa là gì? Ông Tạ Chí Đại Trường chỉ dùng nó chứ không định nghĩa.

Dù không tồn tại một định nghĩa hiển ngôn, người bình thường cũng có thể đoán ra ý nghĩa của từ “kiêu dân”. Nó na ná như từ “kiêu binh” quen thuộc, chỉ khác ở chỗ, một bên là binh lính, một bên là dân chúng.

Vậy có thể hiểu rằng: “kiêu dân” là một tập thể người dân kiêu căng, ngạo mạn, bất phục tùng. Ngữ nghĩa chung chung, không chỉ rõ ai, và mang một cực tính (polarity) khá tiêu cực giống như khái niệm “kiêu binh” vậy.

Vì thấy ông Trầm Lâm cũng thường sử dụng khái niệm “kiêu dân”, mà tôi chưa rõ cách hiểu của ông, nên tôi đã cẩn thận hỏi ông “Kiêu dân có nghĩa là gì?”

Và ông đã trả lời trong bài viết Kiêu dân Công giáo thời  Ngô Đình Diệm của mình [4]:

“Thời dòng họ Ngô Đình “dĩ đức vi chính” tại miền Nam Việt Nam, kiêu dân thường là những tín đồ Công giáo (di cư) dựa vào sự dung túng của kẻ có thế, có quyền để hống hách ngang ngược, xem thường luật pháp, vi phạm một cách trắng trợn nhân và dân quyền của người khác, thường là những Lương dân vô tội.”

Sự định nghĩa hay cắt nghĩa về hai tiếng “kiêu dân” như vậy rõ ràng đã vượt ra ngoài tính tổng quát trung dung của từ ngữ; nó bộc lộ rõ rệt tính chủ quan, cảm tính và thành kiến của ông Trần Lâm đối với “dòng họ Ngô Đình” (chữ của ông) và dân Công giáo. Từ “kiêu dân” hoàn toàn không có một phụ ngữ nào hàm chứa tính chất “công giáo”. Chỉ có ông là người đã gán cho từ ấy thêm cái nghĩa “thường là những tín đồ Công giáo”.

Ông Đông A cũng có cùng tính cách ấy:

“Kiêu dân tồn tại dưới hai hình thức: một là một nhóm dân chúng được chính quyền ưu ái đặc biệt, và hai là một nhóm dân chúng cậy đông lấn lướt và bất chấp luật pháp. Hình thức đầu từng tồn tại trong lịch sử dưới dạng kiêu binh thời Lê – Trịnh. Dạng thứ hai đang tồn tại trong xã hội Việt Nam hiện nay, đó là nhóm Công giáo Việt Nam, và đang trở thành một vấn nạn trong xã hội Việt Nam, bởi vì nạn kiêu dân này còn tồn tại dưới hình thức dạng Chí Phèo”.

Mới chỉ làm một công việc quá nhỏ là đi làm rõ một khái niệm (chứ chưa viết thành bài), mà người viết đã biểu lộ tính chủ quan, cảm tính và thành kiến, thì người đọc không khỏi hoài nghi đến sự chững chạc, nghiêm chỉnh và trình độ của người viết.

Dẫu gì đi nữa, theo tôi, có một vấn đề đáng quan tâm hơn. Đó là ý thức dụng ngữ. Hành vi dụng ngữ tiêu cực vì ý đồ chính trị hoặc nhu cầu tự mãn cần phải tránh.

Kiêu dân là một từ nguy hiểm, phải tiêu hủy nó đi. Còn không một khi nó đã rơi vào tay kẻ có quyền lực bất lương hoặc đám người vô ý thức, nó sẽ chia cắt xã hội Việt Nam thành từng mảnh.

Hẳn người Việt Nam rất thấm thía và chưa quên tiếng “Ngụy”, một từ tiêu cực không khác “kiêu dân”. Nó đã sản sinh biết bao sản phẩm ngôn ngữ: ngụy quân, ngụy quyền, Mỹ-Ngụy, chế độ ngụy, lính ngụy, cán bộ ngụy, lý lịch ngụy, gia đình ngụy, văn hóa ngụy, bọn ngụy, v.v… và v.v… Chỉ vì một tiếng “ngụy”, toàn dân trong xã hội Việt Nam đã chia rẽ, thù hận nhau suốt mấy chục năm liền. Người bị gọi là “ngụy” thì mang mặc cảm, uất hận kẻ chiến thắng. Kẻ chiến thắng gọi người người khác là “ngụy” thì cảm thấy hả hê. Thật khó hiểu là tại sao người ta có thể tha hồ mắng nhiếc đồng bào mình bằng tiếng “ngụy”, nhưng gặp Trung Quốc thì không dám, mà phải ăn nói nhẹ nhàng, cẩn thận bằng tiếng “lạ”, v.d. như “tàu lạ”.

Hai tiếng Việt kiều cũng vậy. Rất nhiều người không thích. Riêng ở xứ Đức này, người Việt “lao động hợp tác” vẫn tự nhận mình là “Cộng” và gọi người Việt tị nạn là “Kiều”. Sự phân cách giữa hai bên vẫn còn dù bức tường Bá Linh đã sụp đổ 20 mươi năm nay để nước Đức thống nhất và người Việt Đông Âu được ở lại đây sinh sống[5].

Thế mới thấy cái tác hại ghê gớm của hành vi dụng ngữ tiêu cực. Tiếng “ngụy” tuy đã bỏ từ lâu nhưng vết thẹo mặc cảm uất ức vẫn nằm trong tiềm thức nạn nhân. Hai tiếng Việt kiều thì chưa bỏ và vẫn là một thứ tiếng chói tai đối với nhiều người.

Nếu hôm nay còn thêm hai tiếng “kiêu dân” nữa, chắc kho tàng tiếng Việt sẽ có thêm những từ ngữ mới mẻ, không chỉ “kiêu dân Công giáo” mà còn có “kiêu dân Phật giáo”, “kiêu dân Hòa Hảo”, “kiêu dân Cao Đài”, “kiêu dân Sài Gòn”, “kiêu dân Hà Nội”, “kiêu dân Việt kiều”, và đủ loại “kiêu” khác nữa.

Không biết ai là tác giả của mấy tiếng “Ngụy”, “Việt kiều”, nhưng lần này và cho tới giờ này, có lẽ người ta đã biết đến hai tiếng “kiêu dân” trước hết từ các ông: Tạ Chí Đại Trường, Đông A và Trần Lâm.

Stuttgart, 11.2009

© 2009 Dũng Vũ

© 2009 talawas blog


[1] Có thể xem http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=4045&rb=06 hoặc các bài khác trên talawas cũ.

[2] Xem: http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=8927&rb=06

http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9087&rb=06

[3] Xem: http://www.talawas.org/?p=8709

[4] Thực ra tôi đã đặt ông Trần Lâm câu hỏi “Kiêu dân có nghĩa là gì?” trước đó (http://www.talawas.org/?p=9404&cpage=1#comment-5018), sau khi đọc một ý kiến của ông (cũng trong trang ấy). Ông có hồi ý tôi nhưng talawas không đăng (chiếu theo điều lệ 21) mà chỉ chuyển tới tôi. Ông Trần Lâm đề nghị tôi thông báo cho độc giả talawas về sự hồi ý của ông. Nhưng rất tiếc là tôi không có thẩm quyền, bởi vì tôi cũng chỉ là một người đọc/viết bình thường như ông, như mọi người khác.

[5] Có điều cần biết, khi nước Đức thống nhất, chủ trương của chính quyền Đức là muốn tống khứ người Việt “lao động hợp tác” về Việt Nam. Nhưng phần lớn họ đều muốn được ở lại và xin tị nạn chính trị. Nhiều người muốn chứng tỏ mình không phải “Cộng” mà là “chống cộng” bằng cách tham gia các dịp biểu tình chống chế độ cộng sản Việt Nam, v.d. biểu tình ngày 30 tháng 4. Họ chụp hình gửi cho luật sư để có cớ can thiệp với chính quyền Đức đừng trục xuất họ về nước.

Sau khi đã an cư lạc nghiệp tại Đức, những cuộc biểu tình sốt sắng như năm xưa biến mất. Mỗi người trở về cộng đồng riêng của mình. Cờ ai nhà nấy treo.

Bình luận

9 Comments (bài “Dũng Vũ – Từ “ngụy”, “Việt kiều” cho tới “kiêu dân””)

  1. Trần Lâm viết:

    Vì bề bộn công việc cuối năm và phải hồi đáp cho BS Tích trước, nên tôi lên tiếng hơi chậm về bài viết có liên quan đến tôi.

    Xin được trả lời ngắn gọn như sau.

    I) Khái niệm kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm được dùng để tìm hiểu sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm. Vấn đề quan trọng nhất do đó là câu hỏi: Khái niệm này có ăn khớp với những sử liệu khả tín, cho phép người tìm hiểu lịch sử

    (1) dùng nó để phản ảnh tệ trạng kỳ thị tôn giáo dưới chế độ nói trên và
    (2) xem nó như một yếu tố góp phần giải thích sự sụp đổ của chế độ đó hay không?

    Căn cứ vào những sử liệu đã thu thập được, tôi cho rằng tôi được phép làm hai việc nói trên.

    Những mối bận tâm của Dũng Vũ có thể rất chính đáng, nhưng chúng không phải là những gì tôi được phép quan tâm đến.

    Là người tìm hiểu lịch sử, dù chỉ là một amateur, tôi chỉ được phép tôn trọng tính khả tín của sử liệu và tính hợp lý trong sự kiến giải chúng. Vậy, nếu hai yếu tố này cho phép tôi dùng khái niệm KDCG thời NĐD, thì tôi sẽ tiếp tục dùng, không e ngại gì cả.

    Muốn tìm hiểu lịch sử mà lại né tránh những vấn đề nhạy cảm, thì thà không tìm hiểu còn hơn.

    Đó là lý do tại sao tôi có thể trả lời ĐG Nguyễn Văn Thà một cách bình thản, khi ĐG này hỏi tôi về kiêu dân Phật giáo thời Ngô Đình Diệm và thời hậu Đảo chánh:

    “A/ Tôi chưa đọc một sử gia nào hay thấy một tài liệu nào đề cập đến sự hiện hữu của kiêu dân Phật giáo thời Ngô Đình Diệm, nên không thể bàn đến việc này.

    B/ Vì sự xuất hiện của kiêu dân Phật giáo thời Hậu Đảo Chánh là một hậu quả của cuộc Đảo Chánh 1963, nên trước khi có thể bàn về nhóm người này tôi phải tìm hiểu một cách tường tận những nguyên nhân sâu xa trong xã hội miền Nam đã đưa đến cuộc đảo chánh nói trên. Sau đó mới có thể bàn đến KDPG thời Hậu Đảo Chánh. First things first.”

    II) Tôi xin ghi nhận lời chê trách cho rằng tôi có thành kiến với dòng họ Ngô Đình và dân Công giáo. Đây là lời chê trách thường được nghe thấy trong các cuộc tranh luận về những vấn đề lịch sử. Do đó nên người tìm hiểu lịch sử phải cố gắng tìm ra cách để hóa giải nó. Có dịp tôi sẽ trình bày cách của tôi với bạn đọc bốn phương trên DĐ talawas.

  2. […] Talawas có bài của ông Dũng Vũ thắc mắc về hai chữ “kiêu dân”. Bài viết này có liên quan tới tôi […]

  3. hoanglinhvuong viết:

    Ngôn từ và sự lẩm cẩm ngôn từ.

    1.
    “…Vậy có thể hiểu rằng: “kiêu dân” là một tập thể người dân kiêu căng, ngạo mạn, bất phục tùng. Ngữ nghĩa chung chung, không chỉ rõ ai, và mang một cực tính (polarity) khá tiêu cực giống như khái niệm “kiêu binh” vậy.”

    Mặc dù trong tự điển không có nhưng cả ông Dũng Vũ – và mọi người (?!) cũng như tô i- đều hiểu như thế. Còn ý kiến ý cò gì nữa?

    2.
    … Từ “kiêu dân” hoàn toàn không có một phụ ngữ nào hàm chứa tính chất “công giáo”. Chỉ có ông (ý nói ông Trần Lâm) là người đã gán cho từ ấy thêm cái nghĩa “thường là những tín đồ Công giáo”.

    Hiển nhiên ông Trần Lâm biết thế nên đã rất rõ ràng. Ngay từ tựa bài ông TL đã viết Kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm. Ông đã “phụ ngữ” (chữ của ông Dũng Vũ) Công giáo cho từ kiêu dân ở đây để “hàm chứa” (chữ của ông Dũng Vũ) nhóm người nào, xa hơn nữa là vào thời đại nào.

    Ông Dũng Vũ thật lẩm cẩm khi cho rằng: “Chỉ có ông (ý nói ông Trần Lâm) là người đã gán cho từ ấy thêm cái nghĩa “thường là những tín đồ Công giáo”.”

    3.
    “…Kiêu dân là một từ nguy hiểm, phải tiêu hủy nó đi…”

    Cái cốt lõi của văn học (văn xuôi, thơ…) là người viết phải truyền đạt được tư tưởng của mình đến người đọc bằng từ ngữ.
    Còn từ nào đơn giản hơn và rõ ràng hơn để diễn đạt “người dân kiêu ngạo” bằng cụm từ “kiêu dân”?
    Thế thì tại sao chúng ta phải tiêu hủy nó đi? Không có những từ ngữ tiêu cực thì lấy gì để diễn đạt những vấn đề tiêu cực?
    Không lẽ đất nước ta chỉ có giàu và đẹp như đang được nghe mà không có nghèo và nham nhở như đang được thấy hay sao?! Từ “nghèo” và “nham nhở” ở đây cũng nguy hiểm và phải tiêu hủy đi hay sao? (Còn việc “điêu dân” lại là chuyện khác!)

    4.
    Tôi cũng là người “được” quy vào thành phần “nguỵ” nhưng không vì thế mà “mặc cảm uất ức” giống như ông Dũng Vũ nói.

    Tôi cũng không có cảm giác là ngụy theo đúng nghĩa của nó vì biết rằng người anh em kia nói từ trong bụng mình nói ra và có tính chất chủ quan.

    Từ “ngụy” mà người anh em kia dùng với tôi nó giống như cái nhiệt kế đo lòng thù hận của người anh em ấy. Tới bây giờ từ “ngụy” ít được sử dụng hơn thì tôi biết rằng người anh em kia đang “hạ nhiệt”, vân vân.

    Nhưng ngay bây giờ, nhìn cách người anh em cư xử thì biết rằng người anh em còn đang… giống như sốt cúm lợn!

    Hoàng Linh Vương

  4. Dũng Vũ viết:

    Ông/Bà Dong nói:

    “Ngôn ngữ phát triển theo quy luật riêng của nó. Cái gì không phù hợp sẽ bị thải loại, các vị chẳng cần phải lo quá như thế.”

    Không ai lo nó sẽ bị thải loại, người ta chỉ lo, từ lúc sinh ra cho đến chết, nó đã làm hại con người như thế nào.

  5. QuangSan viết:

    Qua đó nghiệm ra: chim quý thường hót tiếng hay. Những loài quái điểu chỉ phát ra âm thanh chói tai quỷ quái. May là khả năng thính âm của người đời quá bén nhạy. Nên những ngôn từ kỳ cục ấy sớm trở thành trò cười.

  6. Dong viết:

    Ngôn ngữ phát triển theo quy luật riêng của nó. Cái gì không phù hợp sẽ bị thải loại, các vị chẳng cần phải lo quá như thế.

  7. Trần Quốc Việt viết:

    Ngôn ngữ trong tay kẻ cầm quyền độc tài vô luơng tâm là một vũ khí rất nguy hiểm.
    Hãy xem một số từ được (bị) dùng ở Việt Nam sau năm 1975:
    – đi lính là “trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” .
    – đói là “thiếu một phần lương thực”.
    – phá thai là “điều hoà kinh nguyệt” .
    – thanh niên bị bắt buộc đi đào mương thuỷ lợi hay khai hoang là “thanh niên xung phong”
    – Lùa hàng ngàn người dân ở thành thị miền nam lên rừng dưới cái tên “đi kinh tế mới .”
    – đưa người qua Đông Âu làm việc tay chân là “hợp tác lao động”, kinh doanh người qua các nưóc tư bản là “xuất khẩu lao động” .
    – bắt hàng trăm ngàn người đi tù không án sau 1975 là “đi học tập cải tạo”.
    – hối lộ ở ngoài đường là “làm luật”, ở trong nhà là “quà biếu”, ở nhà hàng là “giao lưu trên mức tình cảm”

    …….còn biết bao nhiêu là ví dụ khác không kể ra hết. Hình như Khổng Tử (?) nói rằng trong cuọc tranh luận, ai đưa ra định nghĩa, người ấy sẽ thắng. Ở các nước độc tài cộng sản, tranh luận là không có, nhưng người cộng sản củng cố quyền lực sau chiến thắng vì một phần họ dùng ngôn ngữ như là một loại vũ khí được khai thác và vận dụng triệt để để phục vụ các ý đồ chính trị. Ngôn ngữ bị nhiễm độc sẽ gây tác hại rất nhiều cho môi trường đạo đức, văn hoá, chính trị cho nhiều thế hệ.

  8. Lê Diễn Đức viết:

    Theo tôi, nếu được gán bừa bãi tính từ hay phụ ngữ vào hai từ “kiêu binh”, thì tất cả những kẻ mũ ni che tai, cái đám có chút ít ăn học, ngậm miệng ăn tiền nhưng há miệng thật to để bao biện cho chế độ chuyên quyền, “ngụỵ” cộng sản Ba Đình hiện nay – đều thuộc giới kiêu binh Viêt Nam mới, có thể cắt nghĩa là thứ kiêu binh của thời thuyền thúng, bản lĩnh thì hèn nhát, mà đòi vươn ra biển lớn của tập đoàn CS Ba Đình.

  9. phamthientho viết:

    Từ ngữ tiêu cực dĩ nhiên là cũng xuất sinh từ những tiêu cực của xã hội, luôn dấy lên thêm những hoang mang chia rẽ. Nghe từ “kiêu dân” qủa thật tôi cũng nghe thấy chói tai, nhất là những ai có tư tưởng tự do, phóng khoáng thì mặc nhiên đã nhận cho mình chữ “kiêu” rồi. Chớ có phải cuối đầu tuân phục đảng và nhà nước, quen mãi với lối sống “xin cho” dưới mái trường XHCN đâu!

    Đừng giết chết tinh thần tự do khai phóng khi đẻ ra qúa nhiều từ ngữ để nhằm kết án người khác hơn là dụng ngữ để diễn đạt mọi hài hòa nhân bản. Đời phải có một chút gì “kiêu” như tâm hồn nghệ sĩ luôn có nhiều cái kiêu bạc, kiêu mạng, lập dị, thế mới còn ý nghĩa để sống, còn có những gì nên thơ, hài hòa đáng yêu phải không thưa các bạn?

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>