talawas blog

Chuyên mục:

Trương Nhân Tuấn – Tìm hiểu sách lược mới của Việt Nam ở biển Đông

12/11/2009 | 1:15 chiều | 32 Comments

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Quan hệ Việt – Trung
Thẻ:

Trong một bài viết trên Tuần Việt Nam, đăng ngày 8-9-2009 có tựa đề: “Dân tộc hoá cuộc đấu tranh giữ chủ quyền biển đảo” của Hoàng Phương, ông Lưu Văn Lợi, nguyên Trưởng ban Biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng, có phát biểu rằng: “Cuộc đấu tranh về Hoàng Sa – Trường Sa chỉ có thể giải quyết trên cơ sở dân tộc hoá cuộc đấu tranh và quốc tế hoá vấn đề tranh chấp”. Ông Lưu Văn Lợi được nhiều người biết như là một học giả uy tín và là một nhà ngoại giao có kinh nghiệm.

Lời phát biểu của ông Lợi xảy ra vào đầu tháng 9 (và trước đó, qua một số bài phỏng vấn). Khoảng hai tháng sau, 29-10, người ta đã thấy Quốc hội có những động thái phù hợp với tuyên bố của ông Lưu Văn Lợi: các đại biểu bàn thảo về dự luật “dân quân tự vệ”, với sự lên tiếng trước công chúng của các đại biểu Nguyễn Đăng Trừng, Bế Xuân Trường và đặc biệt của tướng Lê Quang Bình, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội. Song song đó, cuối tháng này (tháng 11) trong nước cũng sẽ tổ chức Hội nghị Quốc tế về biển Đông.

Như thế lời phát biểu của ông Lợi có thể đang trở thành một sách lược chính thức của Việt Nam về biển Đông. Sách lược này, tạm gọi là sách lược Lưu Văn  Lợi, gồm hai bước song song: 1/ Dân tộc hóa cuộc đấu tranh và 2/ Quốc tế hóa vấn đề tranh chấp.

Ý nghĩa “dân tộc hóa cuộc đấu tranh” được thể hiện qua dự luật “dân quân tự vệ”. Theo báo chí trong nước thì dự luật này: nòng cốt được tổ chức thành các đơn vị gồm dân quân tự vệ cơ động, dân quân tự vệ tại chỗ, dân quân tự vệ binh chủng và cuối cùng mới đến dân quân tự vệ biển. Nhưng đại biển Nguyễn Đăng Trừng kiến nghị sắp xếp lại thứ tự, phải đưa dân quân tự vệ biển lên vị trí đầu tiên trong lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt.

Nội dung Dự Luật được báo chí ghi lại như sau: cho phép dân quân tự vệ, trong đó có dân quân tự vệ biển, được quyền nổ súng trong 3 trường hợp : 1/ có lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh quân khu và tương đương hoặc người chỉ huy các cấp được ủy quyền khi làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu. 2/ Trường hợp thứ hai, khi làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu, tuần tra bảo vệ biên giới, biển đảo phát hiện được địch ở mặt đất, trên biển hoặc trên không. 3/ Trường hợp thứ ba là đang thực hiện nhiệm vụ gìn giữ an ninh trật tự, an toàn xã hội và thực hiện quyền phòng vệ chính đáng.

Cũng theo báo chí trong nước thì Đa số ĐBQH đều tán thành việc nâng pháp lệnh về dân quân tự vệ lên thành luật và Dự án Luật sẽ được Quốc hội biểu quyết thông qua vào ngày 23/11 tới. Quốc hội cũng đề nghị tăng ngân sách cho bộ quốc phòng.

Ý nghĩa của “quốc tế hoá vấn đề tranh chấp”, theo ông Lợi thì Việt Nam cần “dựa vào pháp luật quốc tế và lợi dụng sự quan tâm hợp lý của các nước lớn với biển Đông để lôi kéo họ ủng hộ Việt Nam”, và “đưa vấn đề ra quốc tế, nhằm đạt được sự công nhận biển Đông… Nếu cần thiết, có thể đưa vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa ra toà án quốc tế”.

Việc đưa ra tòa án quốc tế để giải quyết tranh chấp thực ra là cốt lõi của sách lược Lưu Văn Lợi. Điều này ông đã ôm ấp từ lâu. Cuốn Cuộc tranh chấp Việt Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ông in năm 1995, với các tài liệu công phu, khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như những phản biện rất thuyết phục, phủ nhận các lý lẽ của Trung Quốc giành Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Lợi đã chuẩn bị kỹ lưỡng việc đưa tranh chấp ra một tòa án quốc tế.

Đáng tiếc là hơn 24 năm sau sách lược này mới bắt đầu đưa vào áp dụng. 24 năm đã hoang phí, mà thời gian là tài nguyên quí giá nhất. Vì trong thời gian này, phía Trung Quốc đã vận dụng sức mạnh kinh tế, nghệ thuật tuyên truyền để thuyết phục dư luận quốc tế về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa và phần lớn biển Đông. Đồng thời, khoảng thời gian đó, phe ngoại giao Việt Nam, nhóm phụ trách về biên giới, đã thể hiện một sự phá sản gần như toàn diện.

Nội dung một phần của bài viết “Hà Nội mất, Bắc Kinh được” cho thấy sự phá sản của ngoại giao Việt Nam. Sự phá sản này cần có nhiều giải thích, nhưng một phần tôi đã trình bày qua các bài viết trước đây: Phía ngoại giao Việt Nam đã thiếu một sách lược dài hạn đúng đắn, vì đã không có tư duy Việt Nam, mà chỉ có những chiến thuật tạm bợ, vay mượn xứ người. Tôi đã cảnh báo Việt Nam  bị Phi Luật Tân “đâm sau lưng” từ năm 2004. Tháng 8 năm 2009, công hàm của Phi phản đối hồ sơ Việt Nam nộp Ủy ban Thềm Lục địa của Liên hiệp quốc, là nhát dao trí mạng thứ hai mà Phi dành cho Việt Nam. Nhát dao thứ nhứt là Phi xé lẻ “đi đêm” với Trung Quốc để khai thác biển Đông, (vi phạm qui tắc ứng xử biển Đông và không thông qua Việt Nam) ngay trên vùng biển mà Việt Nam có thể có chủ quyền, năm 2004. Nguyên do vì phe ngoại giao Việt Nam đã vay mượn “sáng kiến” của người khác (ở đây là của Phi), dĩ nhiên không thể sử dụng được cho tình trạng cá biệt của Việt Nam, nhưng nếu khả dĩ áp dụng được, trước khi Việt Nam có lợi thì Phi đã có lợi trước. Việc cóp nhặt này nếu không (hay chưa) đem lại thiệt hại cho Việt Nam thì cũng đã đặt Việt Nam vào một tình trạng thật bi đát! Tôi đã viết nhiều bài viết cảnh báo việc này.

Trong một bài phỏng vấn, Giáo sư Carl Thayer có ý kiến  như sau về “Qui tắc ứng xử biển Đông”:

“Tôi không nghĩ là sẽ có chuẩn mực hành xử… Quan điểm của tôi là Trung Quốc ngày càng tự tin hơn và muốn ra tay trước và muốn chặn đứng mọi nỗ lực nhằm quốc tế hoá tranh chấp trên vùng biển Nam Hải. Tôi nghĩ là căng thẳng sẽ còn tiếp tục một thời gian nữa.” (RFA, 4-11-2009).

Theo ông này thì không có nguyên tắc hành xử nào cho biển Đông. Khối ASEAN đồng sàng nhưng dị mộng, nội bộ có nhiều xung đột. Việt Nam từ nay không thể dựa vào khối này để đối trọng với Trung Quốc về vấn đề tranh chấp biển Đông. Điều này rõ ràng là một thất bại bi đát của phe ngoại giao. Như thế Trung Quốc sẽ tiếp tục làm mưa làm gió, hành xử như hải tặc với ngư dân Việt Nam, cho đến khi không còn chiếc thuyền của Việt Nam nào dám đi đánh cá ở biển Đông. Biển Đông êm thắm trở thành của Trung Quốc. Việt Nam lâm vào tình trạng bế tắc!

Do đó phe quân đội nhập cuộc. Thực ra, “quân đội” dưới một hình thức khác, dân là quân và quân là dân. Nhiều dấu hiệu cho thấy thẩm quyền từ phe “văn” đang chia sớt cho phe “võ”. Tranh chấp biển Đông như thế (theo sách lược Lưu Văn Lợi) sẽ được giải quyết bằng hai vế: văn và võ, mục tiêu sẽ là đưa vấn đề ra một trọng tài quốc tế.

Tôi thấy đã có nhiều tiếng nói phê bình dự luật “dân quân tự vệ”. Trước hết luật này không hề mâu thuẫn với Hiến pháp và luật Quốc phòng của Việt Nam. Truyền thống Việt Nam luôn là “dân, quân quốc phòng”. Dự luật này do đó cũng không mâu thuẫn với truyền thống, lịch sử. Việc gì cũng cần thời gian. Nên để cho sách lược Lưu Văn Lợi được thử thách. Các phe phụ trách cần thời gian (và phương tiện) đầy đủ để thể hiện tài năng.

Tôi nghĩ rằng sách lược Lưu Văn Lợi có khả năng đột phá bế tắc của Việt Nam hiện nay. Vấn đề cần phải nghiên cứu là giá (máu) phải trả là bao nhiêu? Nhưng lịch sử giữ nước của Việt Nam luôn là các trang sử viết lên bằng máu. Việt Nam khó có phương cách nào khác (để đưa vấn đề tranh chấp ra tòa án quốc tế). Kéo dài tình trạng hôm nay là Việt Nam mất trắng.

Từ lâu tôi đã chống chủ trương của Việt Nam phân định hải phận biển Đông theo lối bỏ qua việc giải quyết chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thỏa thuận hợp tác với các nước khai thác chung trên vùng biển hiện đang tranh chấp. Thực ra đây là sáng kiến của các cố vấn của các nước Phi và Mã Lai mà phía Việt Nam mượn lại. Điều đáng buồn là nhiều “học giả” Việt Nam tỏ ra tâm đắc với lối tư duy tầm gởi này. Tôi đã nói nhiều lần rằng điều này hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam. Và thực tế cho thấy ngày hôm nay tôi đã nói đúng.

Tôi nghĩ rằng tôi và ông Lưu Văn Lợi có cùng lập trường về biển Đông. Do đó tôi không có lý do gì mà không ủng hộ “sách lược Lưu Văn Lợi”.

Để sách lược này có thêm yếu tố thành công, tôi đề nghị thêm các việc sau:

Điều quan trọng nhất cho việc đưa ra tòa án quốc tế là vấn đề tài liệu (và hóa giải các hứa hẹn của cộng sản Việt Nam trong quá khứ mà điều này tôi đã nói). Việt Nam phải chuẩn bị một hồ sơ thật chắc chắn. Trong bài về Liên minh Trung Quốc và Phi khai thác biển Đông năm 2004, tôi có viết như sau:

“Riêng thái-độ của người Việt hải-ngoại phải như thế nào để thích-ứng với hoàn-cảnh? Hàng trăm quyển sách hay bài viết về Trường-Sa đã xuất-bản, hàng chục luận-án cao-học, tiến-sĩ của nhiều đại-học trên thế-giới đã nghiên-cứu về Trường-Sa đã công-bố, nhưng rất tiếc, chỉ có 2 quyển sách mà tác-giả là Việt-Nam, số còn lại tác-giả là người ngoại-quốc. Trong đó có hàng chục quyển sách, hàng trăm bài viết mà tác-giả người Tàu. Nhưng trớ-trêu là hai quyển sách của Việt-Nam tìm không thấy ở hải-ngoại để tham-khảo. Không lẽ ta kết-luận rằng ‘người Việt-Nam’, trong cũng như ngoài nước, thờ-ơ với đất nước? Vấn-đề là phía cầm-quyền Việt Nam không có đưa ra một tài-liệu nào cho người dân tham-khảo. Không có tài-liệu, không biết diễn-tiến sự việc, muốn viết cũng không xong, vì biết cái gì mà viết? Tình-trạng vắng bóng người Việt viết về Trường-Sa (cũng như Hoàng-Sa) là hậu-quả của chính-sách bưng-bít thông-tin của CSViệt Nam. Chưa bao giờ việc bưng-bít nầy tác-hại đến đất-nước Việt-Nam như thế. ‘Việt-Nam-phải-thực-sự-đổi-mới’, nói như tựa-đề một quyển sách mới đây, là điều cực-kỳ cấp-bách. Thái-độ của chúng ta, qua những dữ-kiện góp-nhặt đây đó vừa trình-bày, tuy không đầy đủ nhưng tạm để chúng ta quyết-định là phải kịch-liệt phản-đối liên-minh giữa Trung-Trung-Hoa và Phi-Luật-Tân trong vấn-đề khai-thác Trường-Sa và yêu-cầu các nước liên-hệ nhanh-chóng đưa nội-vụ ra tòa án quốc-tế để xác-định chủ-quyền hải-đảo và lãnh-hải của các nước. Một khi vấn-đề chủ-quyền chưa giải-quyết thì việc khai-thác không có lý do nhắc tới.”

Tôi phải nhìn nhận rằng sau bài viết này, Việt Nam đã có công bố một số tài liệu khá quan trọng về biển Đông. Nhưng rất tiếc là phần nhiều tài liệu này đều cũ, đầy dẫy các điểm sai ấu trĩ (khiến cá nhân tôi khi trích dẫn các dữ kiện này, do không kiểm chứng lại, đã phải bị chỉ trích mạnh mẽ!). Nhưng dầu sao nó cũng mở đường cho việc “giao lưu” ngày càng mở rộng như hôm nay. Tuy nhiên, vấn đề “kênh thông tin” cũng là điều đáng nói. Tôi nghĩ là nhà nước nên đóng vai trò vô tư của nó, nên dành “ưu tiên” đăng tải tài liệu cho một hay vài tờ báo uy tín hoặc chuyên ngành, hơn là dành đặc quyền cho một “kênh thông tin” nào đó. Tôi nghĩ rằng “tư duy thần đồng” hay hiện tượng “Lê Văn Tám” cần chấm dứt. Học giả hay anh hùng không thể thổi lên bằng ống đu đủ, nó không còn thích hợp cho thời đại hôm nay.

Sau đó tôi có viết bài về “Chủ quyền của Việt Nam tại bãi Tu Chính-Vũng Mây” vào tháng 4 năm 2009, mục đích nhằm khích tướng để các học giả Việt Nam lên tiếng. Bài này cũng có tác dụng mạnh, nếu không nói là thành công lớn. Số lượng học giả Việt Nam “nhập cuộc” phải nhìn nhận là rất đông đảo. Chỉ từ tháng 4 năm 2009 đến nay đã thấy nhiều buổi hội thảo về biển Đông được tổ chức trong nước. Nhiều bài viết, hay các đặc san về biển Đông đã thấy xuất hiện trước công chúng. Điều này trước nay chưa hề có. Việc này rất quan trọng để thuyết phục dư luận (và lòng dân) trong thời đại @ (và phát triển quyền tự do ngôn luận). Việt Nam cần được dư luận quốc tế ủng hộ, dân trong nước phải chung một tấm lòng, mới có thể thắng.

Nhưng tôi cho rằng vẫn chưa đủ. Hầu hết các dữ kiện về biển Đông (cũng như Hoàng Sa và Trường Sa) mà các tác giả Việt Nam đã sử dụng tôi đều có đọc qua, ngoại trừ một vài tài liệu phía Trung Quốc. Các tài liệu này cũng đã phổ biến từ lâu, nhưng vì hàng rào ngôn ngữ tôi không đọc được.

Vì thế tôi đề nghị: cần hệ thống hóa và bổ túc thêm tài liệu của Việt Nam qua các việc 1/ nhà nước bảo trợ một số dự án nghiên cứu về biển Đông. 2/ Lập thư viện online lưu trữ các tài liệu về biển Đông để các học giả các nơi có thể tham khảo. 3/ Tạo sự dễ dàng cho các học giả, nhà nghiên cứu sống ở nước ngoài về nước nghiên cứu hay tổ chức hội thảo hoặc tham dự các buổi hội thảo trong nước.

Nếu luật “dân quân tự vệ” là phần xác của “Dân tộc hóa cuộc đấu tranh – Quốc tế hóa vấn đề tranh chấp” trong sách lược Lưu Văn Lợi, thì phần tài liệu chuẩn bị cho một tòa án quốc tế là phần hồn. Hồn không thể lìa khỏi xác được. Lâu nay phương pháp của Việt Nam, qua bộ Ngoại giao, là làm việc theo lối ốc mượn hồn, do đó thất bại là điều không thể tránh.

@ 2009 Trương Nhân Tuấn

@ 2009 talawas blog

Bình luận

32 Comments (bài “Trương Nhân Tuấn – Tìm hiểu sách lược mới của Việt Nam ở biển Đông”)

  1. Trương Nhân Tuấn viết:

    Góp ý với anh Lê Tuấn Huy.
    Tôi ghi nhận những góp ý rất thẳng của anh. Hy vọng sẽ sớm đọc được bài viết của anh để thấy mình « vừa hiểu ít về chính trị VN, vừa nhìn hơi bị ngắn về chiến lược, sách lược » như lời anh viết.
    Riêng tôi thì nhận thấy rằng mình đã có một sự hiểu biết khá chín chắn về chính trị VN. Do sự hiểu biết này mà tôi đã có quyết định (từ rất lâu) dấn thân « làm chính trị », với mục tiêu thay đổi « chính trị ở VN ». Ở điểm này, nếu không lầm, thì tôi thấy giữa tôi và anh có sự khác biệt khá lớn.
    Tôi cũng nghĩ là tôi có một sự hiểu biết nhứt định về « chiến lược, sách lược » giữ nước của VN ngày hôm nay. Vì hiểu biết, nên thấy rằng nguy cơ VN bị mất biển mất đảo là có thật, có thể xảy ra trong một thời gian rất ngắn sắp tới. Tôi cố gắng hết sức (trong khả năng của mình) để việc này không xảy ra. Và tôi hy vọng sẽ không xảy ra.
    Tôi cũng lấy làm tiếc là việc phân định lại biên giới và vịnh Bắc Việt đã xảy ra một các âm thầm giữa hai nước VN và TQ, tôi đã không biết sớm hơn. Tôi nghĩ rằng, nếu tôi biết sớm, lúc chưa ký lại hiệp định (năm 1999 và 2000), chưa chắc VN đã có những thiệt hại như đã thấy ở Nam Quan, Bản Giốc và Tục Lãm (cà ở các vùng khác hiện nay chưa được biết).
    Tôi đã bỏ ra một thời gian khá dài để tìm hiểu hồ sơ về biên giới Việt-Trung lưu trữ tại các văn khố hải ngoại, với hy vọng sẽ giúp những người có trách nhiệm về biên giới làm sáng tỏ ở một số điểm tranh chấp, giúp VN giữ được đất của mình. Nhưng đã quá trễ, hiệp định đã ký, bút sa thì gà chết. Mặc dầu hồ sơ về biên giới tôi đã đóng thành tập. Hiện nay tôi đang nghiên cứu về các hồ sơ lưu trữ tại các nước về chủ quyền HS&TS, hy vọng sẽ giúp ích cho VN sau này.
    Nói như thế để anh Lê Tuấn Huy biết là tôi không phải thuộc loại người « nói » khơi khơi mà không « làm » (như nhiều người khác trên đây). Mọi người đã thấy, tôi đã « làm » (theo khả năng của mình) và « nói » để VN không bị thiệt thòi. Để ý là tôi chỉ « nói » sau khi tôi « làm ».
    Lý ra tôi đã công bố một hồ sơ về biên giới giữa VN và Kampuchia, vì thấy có nhiều ngộ nhận, nhưng chưa có thời giờ (và sức khỏe cũng không cho phép). Có thể sẽ công bố trước năm nay. Đây cũng là công trình nghiên cứu (làm) của tôi (nhưng chưa nói).
    Tôi nghĩ các việc tôi làm (và nói) đều hữu ích cho VN, kể cả việc chỉ trích sự bất tài của phe ngoại giao. Tôi đã từng phê bình gay gắt ông Lê Văn Lợi (về hiệu lực của công hàm ông Phạm Văn Đồng) nhưng tôi sẵn sàng nói ông Lợi đúng và ủng hộ ông hết mình (trường hợp bài viết này).
    Do đó tôi rất mong được sự chỉ giáo của anh Lê Tuấn Huy, để biết anh « làm » được gì và « nói » trên căn bản của cái gì ?. Biết đâu, nhờ đó mà tôi mở rộng thêm tầm mắt.

  2. Trương Nhân Tuấn viết:

    Thưa anh Dương Danh Huy :
    Anh Huy có viết một điều mà tôi cố suy nghĩ nhưng không biết anh nói ai. Trích lại như sau : « 4. Dùng tên giả để viết về HSTS thì OK. Dùng tên giả mà khuyên người khác dùng tên thật đừng sợ (trong văn cảnh của chuyện đó) thì không OK lắm. »
    Nếu có thể thì xin anh nói rõ hơn việc ai dùng tên giả ? Ở đâu và lúc nào ?
    Anh Huy có nhắc lại bài tôi viết về « hồ sơ thềm lục địa VN », anh có nói rằng tôi viết sai. Điểm sai đó, theo anh Huy, « hồ sơ VN không tính hiệu lực ở HSTS ». Tôi có để ý việc này qua các góp ý của quí anh từ lâu nhưng không có dịp lên tiếng (vì phải chờ kết quả công bố từ phía VN và Phi). Hôm nay, kết quả một phần đã có, anh nhắc tới như thế cũng là một dịp để tôi trở lại vấn đề.
    Tôi có viết 2 bài tìm hiểu về « hồ sơ thềm lục địa của VN ». Bài 1, đăng trên trang thongluan.org, http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3753 tôi viết nguyên văn như sau :
    « Chiếu theo các dữ kiện từ bản đồ và bảng tọa độ các điểm, người viết nghĩ rằng các điểm « chân của bờ triền » thềm lục địa FOS 01, FOS 02, FOS 03, FOS 04… rất có thể tính từ các đảo Trường Sa của VN. Việc này chưa kiểm chứng được, nhưng nếu đúng như thế thì hiệu lực các đảo Trường Sa được tính trong vùng thềm lục địa mở rộng và không tính trong hải phận của các nước (ở đây là Phi Luật Tân). Như vậy vùng « thềm lục địa mở rộng » chưa xác định chủ quyền nói ở phần trên có thể thuộc về Việt Nam. »

    Bài 2, đăng trên talawas, http://www.talawas.org/?p=4476 tôi viết nguyên văn như sau :
    « Như thế, việc ghi nhận đầu tiên là hiệu lực các đảo Trường Sa được tính trong vùng thềm lục địa mở rộng và không tính trong hải phận của các nước (ở đây là Phi Luật Tân va Mã Lai). Vùng « thềm lục địa mở rộng », khoanh màu đỏ theo bản đồ 3, có thể thuộc về Việt Nam (vì đến nay Phi không lên tiếng phản đối). Việc Phi không phản đối có thể do dàn xếp, trao đổi trước. Ở đây, trao đổi là các đảo Trường Sa của VN trong vùng ZEE 200 hải lý của Phi thì không tính hiệu lực. »
    Hồ sơ của VN (và Mã Lai), các điểm (xác định giới hạn bên ngoài thềm lục địa mở rộng) trong bảng thứ 2, điểm 1 đến điểm 78, được xác định bởi các điểm FOS 01, FOS 02, FOS 03, FOS 04 và FOS 07 mà các điểm này là chân của bờ triền thềm lục địa tính từ các đảo Trường Sa. Tham khảo tại : http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf
    Theo các điều ước của Luật Quốc Tế về Biển 1982 (điều 76, cũng như các qui tắc hướng dẫn về Khoa Học và Kỹ Thuật của Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (CLCS/11/Add. 1) và các Qui Định về Thủ Tục của Ủy ban này), giới hạn bên ngoài của lãnh hải 12 hải lý, vùng ZEE kinh tế độc quyền 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng (có thể đến 350 hải lý) của một quốc gia thì được tính từ đường cơ bản của quốc gia đó.
    Như thế, nối các điểm theo bảng 2, thành một đường giới hạn bên ngoài thềm lục địa mở rộng, có thể của VN và Mã Lai, hoặc của Mã Lai, hoặc của VN (vì đường này chỉ được tính từ đường cơ bản của quốc gia thiết lập hồ sơ). Xét hồ sơ thì chỉ có thể kết luận là đường này được thành lập trên các điểm FOS của các đảo Trường Sa thuộc VN.
    Tôi đã viết rõ ràng rằng : « Vùng « thềm lục địa mở rộng », khoanh màu đỏ theo bản đồ 3, có thể thuộc về Việt Nam (vì đến nay Phi không lên tiếng phản đối). Việc Phi không phản đối có thể do dàn xếp, trao đổi trước. Ở đây, trao đổi là các đảo Trường Sa của VN trong vùng ZEE 200 hải lý của Phi thì không tính hiệu lực. »
    Nhưng phía Phi đã lên tiếng phản đối các hồ sơ của VN qua công hàm tháng 8 năm 2009 gởi lên LHQ, chỉ vài ngày trước khi hết thời hạn phản đối.
    Trở lại phê bình của anh Huy (và vài người khác), anh Huy nói là VN đã lên tiếng về việc này và các đảo TS thì không có hiệu lực.
    Tôi giả sử là nếu Phi không lên tiếng phản đối, thái độ VN sẽ ra sao ? Sẽ không nhìn nhận vùng thềm lục địa được giới hạn do các điểm xác định ở bảng 2 ?
    Tôi có tham khảo một số « hồ sơ thềm lục địa mở rộng » của các quốc gia khác, không thấy nước nào vạch đường giới hạn xác định thềm lục địa mở rộng mà đường này không dùng để xác định chủ quyền (thềm lục địa) của nước mình. VN vạch « đường giới hạn » này để làm gì ? Nên hiểu « đường giới hạn » như là đường « biên giới quốc gia ».
    Hôm nay anh Huy trở lại việc này, cám ơn anh, tôi không mất công viết lại một bài khác. Chỉ muốn góp ý với anh rằng : vào rừng thấy cây hay thấy rừng là do khả năng nhận thức của mỗi người. Hai người cãi nhau về « rừng », một người chỉ nói về cây, một người lại nói về rừng, thì sẽ không hiểu nhau. Trường hợp thảo luận giữa tôi và anh (cùng vài người khác) đúng là như vậy. Tôi cũng muốn giới thiệu anh bài viết « Quĩ đạo của chó » của ông Nguyễn Gia Kiểng. http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4080 . Đọc thử đi, có nhiều điều thú vị.

  3. Lê Tuấn Huy viết:

    @ Phùng Tường Vân:

    Xin cám ơn anh vì một lần nữa cho ý kiến, tôi sẽ lưu ý. Chỉ mong anh nếu còn nói gì, đừng làm mất thời giờ quý báu của anh để gõ thêm các dòng về những người như Nguyễn Hiến Lê, Trần Đức Thảo, Đặng Thai Mai, Đỗ Minh Tuấn, vì họ đều là những cao nhân, còn tôi tuyệt chỉ là một “thấp nhân” (tôi tự thấy dùng từ kiểu này nghe “leng keng”). Do vậy, tôi chỉ làm những việc trong sức mình, và/dù cái sức đó chỉ đủ để “leng keng” thôi anh ạ. Trao đổi với anh vài hàng như vậy thôi, tuyệt đối không có ý tranh luận, hehe…

    Ps: kiểu viết này và cái cười đó, tôi tự thấy cái sự “leng keng” đến dzô dzuyên. Hôm nay là Chủ nhật, tôi tự cho phép mình chủ động “leng keng” để tự tạo thêm một nụ cười dzô dzuyên đó mà (hehe…). Mong anh lượng thứ. Đương nhiên tôi sẽ ngưng ở đây để không làm loãng (một cách nhảm nhí) nội dung của bài chính.

  4. Dương Danh Huy viết:

    Trong những nỗ lực cá nhân, không thể không kể tới ông Vũ Hữu San. Ông Vũ Hữu San có lẽ là một trong những nhà nghiên cứu độc lập đầu tiên và cho tới nay vẫn là một trong những người tham khảo tài liệu học thuật một cách nghiêm túc nhất.

    Cá nhân tôi luôn nhớ ơn ông Vũ Hữu San đã chỉ dẫn và gửi tài liệu cho tôi khi tôi bắt đầu theo đuổi vấn đề này và về những lời khuyến khích của ông ấy.

    Các hội nhóm thì có lẽ cũng phải nhắc tới nhóm biendong.info được thành lập sau vụ thảm sát Vịnh Bắc Bộ.

  5. Phùng Tường Vân viết:

    @Lê Tuấn Huy

    ” Nhưng có lẽ câu đó không đến mức khó hiểu nếu anh vẫn thường xuyên đọc các bản văn viết từ người Việt trong nước”.

    Tôi đọc nhiều người viết từ trong nước lắm anh à, ngày xửa ngày xưa thì đọc từ Đặng Thai Mai ngay từ lúc cụ dịch Lôi Vũ rồi đến những tên tuổi tiếp theo thì không thể nào kể xiết, gần gần đây người viết mà văn phong “leng keng” hơi hơi giống anh là Đỗ Minh Tuấn nhưng bản lãnh của ông ta thì lại có khác v…v…,trao đổi vớì anh vài hàng như vậy thôi, tuyệt dối không có ý tranh luận.

  6. Dương Danh Huy viết:

    Nếu không có những đề nghị “positive à la Trương Nhân Tuấn” của những người như bác Trương Nhân Tuấn, và những lời chửi bới ĐCSVN ra rả nhiều năm qua của những người Việt Tự do (có tên giả hay thật) ở nước ngoài thì 3 cái việc mà bác Huy hồ hỡi báo cáo trên đây đến Tết Maroc cũng không có.

    1. Nếu nói 3 đề nghị bác TNT đưa ra trong bài này là à la TNT hay của những người như bác TNT thì tôi cho rằng hơi vô nghĩa nếu không muốn nói là sai.

    2. Tôi chẳng hồ hởi gì khi nói về 3 việc đó (nhưng rất trân trọng khi nói về đóng góp của hoangsa.org). Tôi cho rằng những nỗ lực ngày nay đáng lẽ phải có từ ít nhất là 10 năm rồi, và hiện nay vẫn còn quá ít.

    Tôi chỉ nói về chúng vì tôi thấy những câu như: Bài này cũng có tác dụng mạnh, nếu không nói là thành công lớn. Số lượng học giả Việt Nam “nhập cuộc” phải nhìn nhận là rất đông đảo. Chỉ từ tháng 4 năm 2009 đến nay đã thấy nhiều buổi hội thảo về biển Đông được tổ chức trong nước.

    kỳ cục quá và không chừng ngày nào có những câu như: bài “Trương Nhân Tuấn – Tìm hiểu sách lược mới của Việt Nam ở biển Đông” cũng dụng mạnh, nếu không nói là thành công lớn…

    4. Dùng tên giả để viết về HSTS thì OK. Dùng tên giả mà khuyên người khác dùng tên thật đừng sợ (trong văn cảnh của chuyện đó) thì không OK lắm.

    Còn đoạn thứ nhì của bác thì ý kiếc của tôi như sau:

    5. Bác nên kể nhóm VietWill (www.vietwill.org). Nhóm này đang làm một việc rất quan trọng: chống Trung Đế Quốc trên diễn đàn quốc tế (thay vì trên diễn đàn Việt).

    6. Chúng ta ai cũng biết CP có thể làm nhiều hơn và hỗ trợ nhiều hơn và ai cũng mong muốn như vậy. Tôi nghĩ những việc làm của những nhóm này không phải và không thể thay thế chính phủ, nhưng một phần là xuất phát từ, “Tôi phải làm gì đó. Tôi làm được gì thì tôi làm”, một phần là để chứng minh cho CP là những việc đó cần thiết, hữu ích và không có gì là “đáng sợ” cả.

    7. Trong bóng tối, có những người chửi bóng tối, có những người thắp lên những ngọn nến nhỏ, có những người làm cả hai, có một người nói “Lời chửi/ngọn nến của tôi cũng có tác dụng mạnh, nếu không nói là thành công lớn. Số lượng người thắp nến tăng hẳn lên. Anh đầy tớ tới bật một số đèn lên.”

  7. Lê Tuấn Huy viết:

    @ Phùng Tường Vân: cám ơn về ý kiến của anh, tôi sẽ lưu ý. Nhưng có lẽ câu đó không đến mức khó hiểu nếu anh vẫn thường xuyên đọc các bản văn viết từ người Việt trong nước.

    @ Trương Nhân Tuấn: sao phần anh viết cho Khiêm và tôi hơi bị lòng vòng vậy?

    Tôi có đọc comment trước của anh, như phần bổ sung thêm bài chủ. Tôi rút từ đó 2 ý chính:

    1. TQ đã sai lầm lớn khi dồn VN tới chân tường . Điều này đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Có dịp tôi sẽ nói rõ vì sao, dù lý do rất đơn giản.

    2. Dân quân tự vệ biển là bước đi “tuyệt vời” . Lý giải của anh về điều này (cả bài chính và phần comment) cho thấy anh vừa hiểu ít về chính trị VN, vừa nhìn hơi bị ngắn về chiến lược, sách lược. Tôi sẽ cho thấy điều này trong một bài ngắn gần đây, dù viết không phải để tranh luận với anh.

  8. Hoàng Trường Sa viết:

    “Việc 1 Việt Nam đã làm rồi, nhưng tất nhiên là chưa đủ.
    Việc 2 thì Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa (hoangsa.org) đã nói nhỏ làm nhiều trong 2 năm qua, và việc làm của họ đã là lời đề nghị và sự chứng minh lớn hơn 1000 lời đề nghị bằng chữ. Tôi thấy Việt Nam đã ủng hộ việc này.
    Việc 3 thì Việt Nam cũng đã làm rồi.”
    (Trích ý kiến bác Dương Danh Huy trả lời đề nghị của bác Trương Nhân Tuấn)

    Nếu không có những đề nghị “positive à la Trương Nhân Tuấn” của những người như bác Trương Nhân Tuấn, và những lời chửi bới ĐCSVN ra rả nhiều năm qua của những người Việt Tự do (có tên giả hay thật) ở nước ngoài thì 3 cái việc mà bác Huy hồ hỡi báo cáo trên đây đến Tết Maroc cũng không có.
    Theo tôi thì chính phủ và nhà nước CHXHCNVN đã tỏ ra quá Ô NHỤC khi quá sợ Tàu mà không dám đường đường chính chính đứng ra làm những việc trên (với tư cách một nước độc lập có chủ quyền) giống như TQ hay bất cứ nước nào khác (Phi Luật Tân chẳng hạn) đã làm, mà phải CHỜ cho những người dân thiếu hẳn mọi phương tiện, như nhóm hoangsa.org hay nhóm Quỹ Nghiên cứu Biển Đông hoặc các cá nhân tự phát (như Phạm Hoàng Quân, Nguyễn Nhã, Nguyễn Q. Thắng v.v…) LÀM THAY cho mình. Thử hỏi 3 việc trên kia thấm thía vào đâu khi đem so với những gì nhà nước làm được NẾU nhà nước DÁM LÀM? Thật hết nước nói.

  9. Hoàng Trường Sa viết:

    Đã lâu lắm tôi mới nghe được một câu lọt tai từ một nhân vật có thẩm quyền của nước CHXHCNVN:

    “Quần đảo Hoàng Sa là của chúng ta nhưng ngư phủ không nên đến gần những quần đảo này vì hiện đảo đang bị Trung Quốc tạm chiếm. Nhưng họ có thể vào tránh bão ở những quần đảo này” ( Tư lệnh Hải quân Việt Nam, phó đô đốc Nguyễn Văn Hiền)

    Kính mời quý vị xem tin sau:
    Tư lệnh hải quân Việt Nam: “Cho ngư phủ tạm trú trốn bão là nghĩa vụ quốc tế”.

  10. Dương Danh Huy viết:

    Bác Trương Nhân Tuấn

    Bác làm tôi nhớ tới lần bác viết bài “Tìm hiểu đăng ký thềm lục địa của Việt Nam” gì đó trên Talawas, trong đó bác khen báo cáo thềm lục địa của, hiểu lầm là báo cáo có tính hiệu lực của các đảo TS, xong rồi ám chỉ gán công “la làng” của bác về hiệu lực của các đảo cho báo cáo đó.

    Thật ra báo cáo thềm lục địa của VN không hề tính hiệu lực của HSTS. Bác Phạm Quang Tuấn và tôi đã chỉ ra cho bác. Bây giờ ban biên giới VN cũng đã xác nhận là báo cáo thềm lục địa của VN không hề tính hiệu lực của HSTS.

    Chuện này cho thấy bác không những đã không hiểu về báo cáo thềm lục địa của Việt Nam mà còn gán công lầm cho việc “la làng” của bác.

    Phản đối của Phi, ít nhất là đối với báo cáo Bắc của Việt Nam (cách xa Trường Sa), là dựa trên cơ sở các đảo Trường Sa có nhiều hiệu lực EEZ, tức là giống quan điểm mà bác la làng. Ngược lại, các báo cáo của Việt Nam và Malaysia không tính HSTS và không lấy tranh chấp đảo làm cản trở việc xác định TLĐ mở rộng.

    So sánh động thái của Phi và Mã (động thái nào có lợI cho Việt Nam hơn?), có thể thấy la làng đó của bác là theo hướng có hại cho Việt Nam.

    Còn trong bài này của bác thì tôi thấy những câu như:

    Bài này cũng có tác dụng mạnh, nếu không nói là thành công lớn. Số lượng học giả Việt Nam “nhập cuộc” phải nhìn nhận là rất đông đảo. Chỉ từ tháng 4 năm 2009 đến nay đã thấy nhiều buổi hội thảo về biển Đông được tổ chức trong nước.

    và

    Tôi phải nhìn nhận rằng sau bài viết này, Việt Nam đã có công bố một số tài liệu khá quan trọng về biển Đông.

    giống như chuyện con gà trống nói, “Tiếng gáy của tôi có tác dụng mạnh, nếu không nói là thành công lớn. Trời sáng hẳn lên.”

    Với tinh thần của những câu trên, không biết nếu sau này bác biết về những việc mà Việt Nam làm bác có nói, “ Bài này cũng có tác dụng mạnh, nếu không nói là thành công lớn. NN VN tài trợ nghiên cứu, làm website, làm XYZ về hội thảo,…” không nhỉ?

  11. Trương Nhân Tuấn viết:

    @ Dương Danh Huy:
    Tôi không có « positive » theo hướng mà anh nghĩ đâu. Từ bấy lâu nay, những việc tôi làm tôi đều nghĩ là có lợi cho đất nước Việt Nam. Tôi cho rằng, nếu tôi không « la làng » từ nhiều năm nay về vấn đề biển Đông, thường xuyên đưa ra những lý cớ không thể (hay khó) phản biện về chủ quyền của VN, có lẽ vấn đề tranh chấp đã ngả ngũ, đúng theo hướng 16 chữ vàng và những cam kết của đảng và nhà nước VN do Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng cầm đầu với thiên triều Bắc Kinh. Nếu mà tôi không « positive » theo kiểu đó thì có thể VN không còn được vủng nước để rửa chân đó anh Huy !.
    @ Bác Khiêm và bác Lê Tuấn Huy :
    Ta có thể ví Hà Nội và Bắc Kinh về tranh chấp biển Đông như hai người đang đánh cờ. Dĩ nhiên chúng ta là những kẻ chầu rìa. Ở các nước tự do dân chủ thì người chơi cờ (hay ê kíp chơi cờ) được quốc dân chỉ định. Nếu người (hay ê kíp) này chơi quá tồi thì sẽ bị quốc dân hạ bệ xuống, cho ra thành kẻ chầu rìa, nhường chỗ cho những người có khả năng hơn vào chơi. Nhưng VN thì khác. Số phận chầu rìa thì phải chầu rìa, con sãi ở chùa phải quét lá đa thôi. Lớ ngớ mách nước thì sẽ bị bộp tai ngay.
    Trở lại bàn cờ biển Đông. Ta thấy việc tiến thoái của VN, việc ăn thua ván cờ có liên hệ đến quyền lợi chung của tất cả chúng ta. Vì thế, thấy tình trạng bế tắt của VN, do sự « chơi quá dở » của phe ngoại giao, tức người đang đánh ván cờ VN, đôi khi mình cũng muốn lên tiếng mách nước. Không phải mình thuơng tiếc gì họ, nhưng nếu để họ thua thì mình cũng mất theo. Do đó phải lên tiếng thôi.
    Bài này tôi lên tiếng vì thấy VN « xuất kỳ bất (?) ý » ra một chiêu đẹp. Nghiên cứu kỹ thì thấy giống nước « cờ thế » của Lưu Văn Lợi, có thể giúp VN thoát khỏi trùng vây của Bắc Kinh. Lên tiếng vì thế là một lối mách nước.
    Dĩ nhiên, từ « dân quân tự vệ » đi đến « dân tộc hóa cuộc đấu tranh » còn xa diệu vợi, bác Khiêm và bác Lê Tuấn Huy đã thấy việc này, nhưng rõ ràng nó là bước đầu. Hy vọng các bác, chầu rìa đôi khi sáng nước hơn người ngồi trong cuộc (nói vậy không có ý nói tôi sáng nước), thử lên tiếng chỉ vài chiêu (nếu không sợ nhà nước bộp tai !).
    Cám ơn các bác đã góp ý

  12. Khiêm viết:

    Thưa ông Trương Nhân Tuấn

    Tôi cho rằng gọi Dự luật Dân quân Tự vệ là ý nghĩa của “dân tộc hóa cuộc đấu tranh” trong sách lược Lê Văn Lợi có phần gượng ép. Nó có lẽ chỉ là một thủ tục pháp lý để cho phép một số ngư dân quyền được mang vũ khí nếu họ được cơ cấu vào lực lượng dân quân tự vệ.
    Tôi cũng tự hỏi có cần phải đi một nước đi lộ liễu đến vậy không? Câu trả lời là có lẽ Việt Nam chỉ muốn bắn tiếng cho phía Trung Quốc tốt nhất là nhẹ tay một chút nếu muốn giữ nguyên trạng, đừng ép Việt Nam thái quá.
    Còn điều khoản số 3 trong cái dự luật đó cũng khiến cho ta phải lo xa trong trường hợp cái lực lượng dân quân tự vệ đó được dùng để đối phó với chính dân Việt.

  13. Dương Danh Huy viết:

    Vì thế tôi đề nghị: cần hệ thống hóa và bổ túc thêm tài liệu của Việt Nam qua các việc 1/ nhà nước bảo trợ một số dự án nghiên cứu về biển Đông. 2/ Lập thư viện online lưu trữ các tài liệu về biển Đông để các học giả các nơi có thể tham khảo. 3/ Tạo sự dễ dàng cho các học giả, nhà nghiên cứu sống ở nước ngoài về nước nghiên cứu hay tổ chức hội thảo hoặc tham dự các buổi hội thảo trong nước.

    Việc 1 Việt Nam đã làm rồi, nhưng tất nhiên là chưa đủ.
    Việc 2 thì Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa (hoangsa.org) đã nói nhỏ làm nhiều trong 2 năm qua, và việc làm của họ đã là lời đề nghị và sự chứng minh lớn hơn 1000 lời đề nghị bằng chữ. Tôi thấy Việt Nam đã ủng hộ việc này.
    Việc 3 thì Việt Nam cũng đã làm rồi.

    Dù sao đi nữa những đề nghị của bác Trương Nhân Tuấn cũng là đi theo chiều hướng positive.

  14. Trương Nhân Tuấn viết:

    Tôi nghĩ rằng phía TQ đã phạm một sai lầm mà những người có suy nghĩ ít khi phạm phải, đó là : dồn người vô chân tường.
    Họ đã đoán đúng rằng hải quân VN, với trang bị yếu kém hơn nhiều lần, chắc chắn không dám đụng độ với họ, vì lấy trứng chọi đá. Quân đội đụng với quân đội là sẽ xảy ra chiến tranh. Nếu có chiến tranh (hải chiến), VN chắc chắn thua (và chắc chắn mất nốt những đảo còn lại), vì thế VN mọi cách phải tránh chiến tranh.
    Được đằng chân lân đàng đầu, họ lạc quan tiếp tục cho hải quân đội lốt hải tặc, hành sử như hải tặc, bắn giết, bắt cóc đòi tiền chuộc, ăn cướp vật dụng đánh cá của ngư dân VN, trong khi những người này không có gì trong tay để bảo vệ. Họ tiếp tục lạc quan, đơn phương ra lệnh cấm biển, ngay trên những vùng biển của VN, họ làm như biển Đông đã thuộc về họ. Ngư dân VN sẽ phải làm gì để sống khi cha ông họ từ nhiều đời chỉ biết sống bằng nghề đánh cá ?
    Nếu phía VN án binh bất động, không có một kế sách nào để thoát ra khỏi tình trạng này, trong một thời gian ngắn nữa thì toàn biển Đông sẽ thuộc về TQ.
    VN lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan: đánh thì thua, thì mất hết. Không đánh thì cũng mất hết. Trong khi phe ngoại giao đã suất sắc chứng tỏ sự vô dụng của mình qua các thất bại nổi cộm !
    Về việc giải quyết tranh chấp bằng một tòa án quốc tế thì rõ ràng TQ đã tránh né nhiều lần đề nghị của thực dân Pháp trong quá khứ. Thời đó họ yếu mà họ còn nói không, ngày hôm nay họ mạnh, mỗi ngày qua lại thêm mạnh, không có hy vọng nào họ đồng ý với đè nghị (nếu có) của VN. Vả lại, khả năng của ngoại giao VN chỉ tới đó thì làm nên cơm cháo gì?
    Rõ ràng TQ đã dồn VN vào tận chân tường.
    VN phải làm gì ? Chắc chắn là không thể bó tay qui hàng, không người VN nào muốn vậy. Nhưng cũng không người VN nào muốn đổ máu. Lịch sử cận đại của VN là lịch sử viết bằng máu và nước mắt. Không người VN nào muốn máu chảy lần nữa!
    Do đó việc thành lập “dân quân tự vệ” là một hành động khôn ngoan, ít ra trong lúc này để vừa tránh chiến tranh vừa bảo vệ chủ quyền.
    Trong tương lai, một đụng độ lớn giữa dân đánh cá VN với hải quân TQ có thể xảy ra (điều này có xác suất cao), phía VN có thể vịn vào việc này để yêu cầu một trọng tài quốc tế giải quyết. Phía VN, là nạn nhân, có đầy đủ lý cớ để yêu cầu quốc tế can thiệp qua việc thành lập một tòa án phân giải. Việc này nằm trong sách lược mà tôi gọi là “sách lược Lưu Văn Lợi” (dĩ nhiên việc này chỉ có thể thành công với một đội ngũ ngoại giao khá hơn bây giờ và toàn dân đồng lòng với mục tiêu giữ nước).
    Phải nhìn nhận sách lưọc chiếm biển Đông của TQ đã dàn dựng rất xuất sắc, đã bắt đầu từ một thế kỷ nay. Từng nước cờ một, chậm mà chắc, họ thành công dồn VN vào lối bí.
    Nhưng TQ cũng đã bước vào cái thế tối kỵ trong binh thư đó là đừng bao giờ dồn người vào đường cùng. Cùng tất biến, biến tất thông.

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>